tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24342182
Tiểu thuyết
07.07.2015
Ngũ Hà Miên
Bão


Nghĩ ngợi miên man như thế, chàng về đến cửa phòng lúc nào không hay. Thầy Hoà nói:



– Mày biết cái thằng hồi nãy không?



– Dạ, trông quen quen, tuồng như có gặp ở đâu rồi.



– Thằng Tài, Hiệu trưởng bán công, lưng khòm, mặt chuột, tướng Ngụy Diên. Nó tới mời tao với mày lát nữa đến nhà ông Kim Thành, hàng vàng ở đường Trần Hưng Đạo, bà con với nó, dùng cơm.



Chàng nghĩ thầm chắc có chuyện nhờ vả chi đây, tay đó lốt tri thức nhưng là dân áp phe có hạng ở cái đất truyền thống quan quyền này, bèn từ chối khéo:



Thầy là tôn sư của ổng thời xưa. Nay nghe thầy lai kinh khảo thí, chắc ổng muốn bày tỏ lòng nhớ ơn dày Công giáo huấn thuở nào, chớ em thì có ăn nhằm gì. Xin phép thầy cho em được đi thăm mấy người bạn cũ.



Thầy Hòa giãy nảy lên, đổi giọng ra toa, moa ra chừng thân mật ngang vai:



Không được đâu. Nó biết toa là em anh Diễn, ra làm Phó chủ khảo cho moa. Nó nhờ moa phải mời giùm toa cho kỳ được. Thôi, toa đi rửa mặt, cạo râu đi.



Chàng đưa tay sờ vào chiếc cằm luôn luôn nhẵn thín của mình và thèm thuồng ngắm hàm râu quai nón rậm rạp của thầy Hòa đang bị sát phạt không thương tiếc dưới lưỡi dao bén ngọt: Nam tu nữ nhũ, thầy đúng là bậc đại trượng phu.



Thầy cười đắc chí:



Cóc khô, moa vì cái hàm râu này mà hồi còn trẻ cứ bị mấy cô gái chê già luôn đó.



Kim Thành nhỏ tuổi hơn thầy Hoà, cỡ năm mươi, chủ hiệu vàng lá, trùng tên với một hãng lớn cùng ngành ở Sài Gòn. Con người anh ta lộ ra đầy đủ sự sung túc: cổ có ngấn như nọng heo, bụng bự đầy mỡ, môi dày, thâm đen, đàn ông mà cười hề hề, thật lẳng lơ dâm đãng.



Bữa cơm, theo lời anh ta, toàn món quyền quí, tám món bát bửu nấu cho ngự thiện ngày xưa, rượu là ngự tửu, trà là ngự tiến, tới chuối cũng chuối ngự:



– Hồi nhỏ em học Francais năm premièrre année với thầy ở Hồ Đắc Hàm rồi ông già em mất, em đi làm thợ bạc kiếm sống, lao đao lận đận mấy chục năm trời mới có được cái cửa hàng này. Đâu có dè ngày nay anh Tài mời được thầy tới đây…



Mải chuyện vãn, chủ nhân có dụng ý để cho ai cũng đói meo, lại cái miệng thật dẻo, dẫn thực khách trọn vẹn đi vào ảo mộng là mình đang thưởng thức những món vua chúa giữa Hoàng thành nhiều trăm năm trước, nên thấy ngon miệng lạ lùng, nhất là chàng, cái thằng nhà quê rặt. Xong bữa thì còn trăng hè mười tám vừa lên, sáng mông lung. Tài lấy cớ vợ bịnh, kiếu về trước.



Nhân thời tiết có phần nóng bức, Kim Thành mời thầy và chàng xuống ngủ đò một đêm cho mát. Cả ba ra bến Đông Ba, Thành hú một tiếng dài kinh dị trong đêm. Dường như đã được dặn sẵn, ba chiếc ghe từ giữa cồn khua chèo khuấy lên những lượn sóng vàng, chập choạng bơi sang, cho họ cùng bước xuống. Thầy được bố trí vào chiếc to và sang nhất, đặc biệt cả ba cô lái đều còn rất trẻ và thật đẹp. Trong khoang thuyền của thầy, ngạc nhiên làm sao, có cả bộ bàn đèn dọc tẩu và một ông lão đang nằm khum như một con tôm chực sẵn. Chuếnh choáng hơi men, thầy cười sảng khoái:



– Lại có cả phù dung tiên tửu nữa ư? Hồi nhỏ moa có thử một vài lần. Lâu lắm rồi.



Từ đó, không có tiếng nói nữa. Chỉ có tiếng vo vo thánh thót của dọc tẩu, tiếng nhựa cháy êm ả trên cánh bấc, tiếng ho nhè nhẹ của ông lão. Con đò ra giữa sông, tiếng một con gà siêng năng nào đó ngỡ trời đã sáng eo óc cất tiếng gáy khuya từ khu xóm nhỏ đang mê ngủ dưới ánh trăng vẳng lại. Khói thuốc phiện thơm phức khiến chàng nhớ lại hồi nhỏ ở nhà, thỉnh thoảng cha lại thết đãi bạn bè món này. Chàng thường nằm ở dưới chân cha, nghe người lớn nói chuyện văn chương chữ nghĩa trong tiếng ru êm đềm của dọc tẩu đượm ngát mùi khói thuốc phả ra khắp nhà. Cho nên, lần đầu tiên đến lượt mình, chàng cũng ra vẻ ta đây thành thạo. Nhưng lạ quá, khi cố phình bụng ra kéo, thì chàng thấy cay nồng làm sao, không có gì đáng thích thú cả và không hiểu tại sao vô số những ông bác, chú trong dòng họ nhà mình đã tiêu tan bao sản nghiệp vào cái ngọn đèn dầu lạc yếu ớt đó. Và sau vài bận hùng dũng tự khẳng định mình, chàng vờ ngủ ngáy khò khò.



Quá nửa đêm, qua tiệc rượu, tiệc thuốc thì đến tiệc người. Người ta đánh thức chàng dậy để về con đò của mình với người vợ gái Kinh kì trong một đêm. Đây mới chính là đất dụng võ của chàng, những ông Napoléon, Hạng Vũ mà người ta thường đem ra dẫn chứng, rằng thì là, càng có khả năng hoạt động bao nhiêu thì sinh lý càng mạnh bấy nhiêu. Cô gái Huế đó mình dây, bắp thịt săn giòn, trường túc, đa mi, hồng diện... đã giúp chàng thỏa thuê hạnh phúc, dù trần tục, tầm thường và ngắn ngủi, nhưng cũng đã nghiệm đúng những chân lý mà phải hàng tỉ người trải bao thế hệ của cái dân tộc to lớn, lâu dài từ Hoàng đế nội kinh, Tố nữ kinh mới tìm ra.



Kiệt lực giữa đống gối chăn bị giày xéo nhầy nhụa, chàng miên man tự nghĩ không biết mình có thực sự phạm tội không, khi một người bị xã hội bóc lột hết mọi thứ từ cha mẹ, anh em, nghề nghiệp và người đó tự không chết được và phải sống bằng bán thân nuôi miệng. Vậy mà gái mại dâm thì bị bắt trong khi những thằng tham thực, phung phí tới hiệu ăn kêu hàng chục thùng bia, hàng tá món ăn, tha hồ tống vào mồm, bội thực bội ẩm, tới nỗi phải vào cầu tiêu cào họng cho ói ra, rồi vào ăn uống tiếp thì không sao. Nó chà đạp công lao động trồng tỉa, chăn nuôi, đánh bắt cực khổ và hiểm nguy của biết bao kẻ thì chẳng hề gì, lại còn được mọi kiểu nhà nước khuyến khích để thu thuế.



Còn nỗi hoan lạc của chàng, liệu nó có được thừa nhận như một kiểu hạnh phúc không, khi về vật chất, nó là sự sung sướng rõ ràng của xác thịt, còn về tinh thần, không chối cãi là nó cũng đã làm chàng mê ly đi, nói theo một cách khác, thăng hoa khỏi thực tại, tha hóa, vô ngã hóa đi trong ít nhất là rất nhiều sát na Niết bàn khỏi những bộn bề của đời sống mà nhiệm vụ đối với vợ con, anh em, đồng bào, đất nước khiến chàng quanh năm đầu tắt mặt tối, vừa nám phổi gần năm mươi giờ dạy học mỗi tuần, vừa chạy xe Honda tới sém cháy cả da những trưa hè nắng hực lửa hay run lập cập với manh áo mỏng trong sương đêm giá lạnh? Chàng có tội không, về việc đi chơi gái với thầy Hòa nhân chấm thi ở đây, hỡi những chân lý ở phía bên kia dãy núi Pyrrénées?



Người duy nhất đang ngồi ở công đường nhìn chàng trên vành móng ngựa phải là cô gái đang nằm kia, trắng muốt lõa lồ, vô nhiễm như một nữ thánh, cánh tay khỏe như con rắn trong thần thoại vừa quấn lấy thân mình chàng, siết chặt làm chàng như chết đi với tất cả nhục dục và lòng từ tâm. Giờ đây chàng đã phục sinh.



Thầy Hòa đã ra ngồi ở mũi thuyền, ngắm ánh trăng tà yên tĩnh vây xung quanh thuyền mà trầm ngâm hút thuốc lá. Thầy ngâm:



Thuyền không đậu bến mặc ai



Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi lạnh lùng.



Chàng nghĩ bụng, nguyên văn hai câu đó của Bạch Cư Dị là:



Khứ lai giang khẩu thủ không thuyền



Nhiễu thuyền minh nguyệt, giang thủy hàn.



Thật là tuyệt, ai dè cái ông thầy Hòa này, cứ tưởng là một con người luôn nguyên tắc, sắt máu, vậy mà cũng lãng mạn ra phết, cảm được cái hồn thơ Đường. Cho nên, thập văn bất như nhất kiến, có những con người ta chỉ nghe một lời nói không hay nào đó về họ mà suốt đời mang định kiến là rất bậy.



Thầy có cái xe con cóc (deux chevaux) thường tự lái lấy đi làm. Mấy tháng trước, xăng hơi khó mua, bèn bán đi, tính đổi cái khác. Nào ngờ sau khi bán được trăm ngàn, giá xế hộp lên vùn vụt. Hụt tiền, ông phải tậu tạm một chiếc mobillette xanh của Pháp, hàng ngày xè xè xuống Bộ, ở 70 Lê Thánh Tông, để trước garage.



Làm đổng lý, thầy thấy đám tài xế rỗi rảnh xúm nhau vào sòng bạc, bèn la rầy. Vậy mà có đứa sinh tâm oán hận, chiều thứ Bảy nọ, chiếc Mobillette không cánh mà bay. Hỏi chẳng ai chịu. Từ đó thầy đi làm bằng cyclo.



Bây giờ, ông ngồi đây, trời nước mênh mông, mình trần, bận quần xà lỏn của kẻ mới lâm trận. Mai kia về Sài Gòn, ông lại đường đường trở thành quan tham tri, thị lang gì đó của Bộ Lễ thời xưa, họ là Dr Jekyll và Mr Hyde? Điếu thuốc đã cháy gần hết, chứng tỏ ông đương cự với cô gái chẳng bao lâu. Chàng hỏi: – Sao thầy ra sớm thế?



Ông bình thản:  Moa ham hố thế, chứ chơi thì như con gà, tao bữa nay thì gặp con bé mới vài mươi mập ú, lại nghèo nữa, đúng là xui vô đơn chí.



Chàng không nhịn được cười:



– Thầy ở Sài Gòn suốt ngày giam hãm trong chốn công đường, nói toàn việc mô phạm đạo lý nghiêm trang. Hôm nay, trên con thuyền đậu bến Tầm Dương xứ Huế, xung quanh chỉ có trời mây non nước, nói cho đã miệng, chẳng sướng sao?



– Mày khá thông cảm cho tao đó. Nội cái việc ấy cũng đủ cho tao nâng mày lên bậc tri ngộ. Cuộc đời nó ràng buộc chúng ta quá nhiều, bằng đủ thứ thuần phong mỹ tục giả dối. Tao vùng vẫy cố thoát nhưng như con cá lỡ sa vào lưới, càng giãy giụa càng bị trói chặt.



Xong, ông thở dài, tiếp tục rít thuốc.



Mọi con người, sản phẩm ưu ái của Thượng đế khoan dung mà bạn gọi bằng tên gì cũng được, đều dễ thương như vậy hết. Bạn ơi, bạn hãy đến với họ, trong bối cảnh của đời thường, đời rất thường đi. Bạn sẽ hiểu nhau và từ đây, sẽ không có mảnh đất nào cho hoài nghi, hận thù nữa hết. Vì ta và tha nhân chỉ là một. Cái ông thầy Hòa đó, ai cũng ghét ổng. Đi trễ một lần: cảnh cáo, lần nhì: trừ lương, lần chót: đuổi. Vậy mà giờ đây, ổng ngồi trên dải sông nổi tiếng hiền hòa quê ta, như một nhà hiền triết, một ông Bụt, ngắm thành phố đang ngủ yên, thỉnh thoảng như trở mình ầm ì khi có một chiếc xe qua cầu. Cả hai ngáp, lặng thinh nhìn nhau, rồi trở vào khoang…



Sáng ra, hai người lại com lê cà vạt nghiêm nghị như sắp đi xử án. Thành trả tiền cho hai cô gái, còn buốc boa thật hậu hĩ rồi cung kính thỉnh nhị vị về nhà điểm tâm. Xong kêu tài xế lái xe, đích thân anh ta hộ tống thầy Hòa tới trường thi. Thầy kêu chàng ghé tai nói nhỏ:



– Toa coi thử điểm của con gái nó giùm, số kí danh... phòng 15, ban A, trung tâm Đồng Khánh nhé.



Hú vía, ba hôm sau chàng dọ thấy con bé đỗ, cả hai mừng hết lớn. Lỡ ăn chơi của người ta, rủi nó rớt thì cái loa đó chẳng vừa gì, nhất là thầy tính sắp ra ứng cử.



Hội đồng thi Huế hết việc, thầy Hòa vào Quảng Nam. Chàng gửi thư cho Thượng tọa Long Trí, Hội An, người hay vô Sài Gòn họp hành ở Ấn Quang nhờ giúp đỡ. Chàng về Quảng Ngãi thăm mẹ.



Vô tới nhà, mẹ ốm nhom, gầy trơ xương, đôi mắt trắng xác, vẫn chiếc áo bà ba bằng vải tám trắng, cái khăn len quấn cổ, chiếc quần lĩnh đen, đang ngồi ngoáy trầu bên cửa sổ. Ôi, mẹ của ngàn đời, đất nước ta chỉ mỗi mẫu bà mẹ đó, tự Bắc chí Nam, cuối bãi đầu nguồn. Mẹ ơi! Mẹ ơi! Dầu mẹ đã mất rồi, nhưng đã là mẹ thì không bao giờ chết trong lòng con, vẫn ngồi bên cửa sổ nhìn cái bóng nắng chiều hôm trên quê ta, cho tới ngày con cũng ra đi về với mẹ ở thế giới bên kia.



Nhưng trong nhà chú Út, nơi mẹ đang ở với lại quá đông người. Đứa con gái thứ nhì của chú vừa chết đêm qua. Bé Cẩm Hạnh, nó đang nằm trên chiếc chiếu kia, như thiên thần đang ngủ, một la belle au bois dormante. Đúng ba chục năm sau khi viết tới những dòng này, chàng vẫn còn giữ bức hình đó mà chàng đã ghi lại bằng cái máy Canon thường mang theo bên mình. Cái bàn này đến nay đã mất đi, phải mua cái mới đã mấy đời rồi, ví như đồ vật cũng có thân trung ấm, thì nó cũng đã phải đi bao kiếp luân hồi. Chàng tự nghĩ, cái số mình vậy, đi đâu cũng gặp chuyện buồn. Nghiệp đoạn trường đeo bám lấy thân, như ông Tản Đà, ngồi nhìn lá rụng mà sầu, đem thơ ngâm vịnh mà sầu... cớ sao sinh lão bệnh tử là cái tất nhiên mà mẹ già đau, đứa cháu mất lại làm cho lòng mình hiu hắt thế. Trí óc bảo vậy trong khi con tim cứ vẫn một mối u hoài.



Mượn xe Honda, chàng chạy xẹt vô Thi Phổ, thấy đồng lúa nắng cháy, ngọn núi Dàng bị thuốc khai quang đốt đỏ cạch, sông Vệ khô nước thiếu điều cởi quần lội qua chỉ tới háng. Bà con quê mình bỏ ruộng ra tỉnh, tù túng trong các trại định cư. Bấy giờ, cô Cicely Bagen, một giáo sư Luân Đôn trước hay đến Trung tâm Văn Bút Việt Nam. Cô vừa sang thăm Sài Gòn, được biết chàng đang ở Quảng Ngãi, đã đánh bạo bay ra. Họ mừng rỡ gặp nhau. Chàng mượn xe đưa cô vào thăm Đức Phổ, quan sát một trại tạm cư. Nhìn cảnh một số phụ nữ Việt Nam sống trong những chiếc hầm tròn trên phủ miếng nilon, chàng nói:



– Đấy, nhà ở của những người chị, em gái tôi. Cô nghĩ gì, hỡi Cicely, người phụ nữ xinh đẹp, học cao đến từ ánh sáng văn minh kiêu ngạo của phương Tây?



Nàng lắc đầu:



– It’s a dog’s lair(1)



Người làm giàu bằng những xác chết của cuộc chiến thì nứt đố đổ vách. Kẻ nghèo như anh Cả chẳng hạn, không có mảnh đất cắm dùi, hoàn toàn ngơ ngác trước một tương lai vô định. Còn anh Sáu Diễn của chàng? Sau khi suýt chết bởi tay đồng chí năm ngoái, anh đã hoảng hốt mang vợ con về quê, nay cũng đang đi chấm thi Nha Trang, viết thư về báo là đã có giấy đổi về trường nữ trung học Quảng Ngãi vào niên khóa tới.



Một hôm, Bình mời chàng và anh Tùng ăn cơm. Tùng bị đau chân, do phải ở tù lâu ngày trong nhà lao Diệm, thường phải nhờ người em họ là Phạm Viết Cẩn, một tay sành nấu thịt chó cỡ anh xã Thọ thồ đi. Cẩn chưa học hết lớp nhất, đang làm chủ quán, dĩ nhiên mang hiệu cờ tây. Anh ta thích bàn luận việc chính trị nên hay theo Tùng để thỉnh thoảng được chõ vào một vấn đề gì đấy. Có khi anh ta thừa hứng leo cao nói bậy, anh Tùng đe:



– Mày giết nhiều chó quá, coi chừng bị loài ma đó nhập vào, không biết giữ miệng, có ngày mang vạ.



Chàng đến nhà Bình sớm nhất. Con Vện nhà Bình nhe răng nhọn hoắt đe dọa. Chàng sợ hãi, đứng ngoài cổng tru tréo. Bình chạy ra đùa:



– Mày với nó, cùng một thứ, gì mà quýnh lên thế?



Chàng cũng không vừa:



– Ta là vua Nghiêu, chỉ sợ chó nhà người sủa thôi.



Chàng xài điển tích Đạo chích chi khuyển phệ Nghiêu: chó ngươi đạo chích (kẻ trộm) sủa vua Nghiêu, là bậc Hiền đức. Câu này trong sách Hán văn luyện thi Tú tài ban D của Bình, để chọc chơi.



Bình cười:



– Đúng là mày miệng mồm hết chỗ chê. Biện bác giỏi vậy, tháng Chín này về đây ứng cử Quốc hội, tao hoàn toàn ủng hộ.



Họ cùng uống trà, một lát thì hai vị thực khách kia tới. Bốn người, một anh chàng thịt chó, một chính khách bất đắc dĩ, một công chức luôn luôn bất mãn nhưng rất khôn ngoan, một anh giáo nhép tham sân si nhưng ảo tưởng muốn làm một cái gì đó cao hơn tấm bảng đen trong lớp học.



Bắt đầu là câu chuyện của Tùng, anh ta lớn tuổi hơn hết:



Tao quen thằng Tổng Lãnh sự Mỹ ở Đà Nẵng Thompson. Hôm trước nó có vô đây. Các cố vấn đến uống rượu chơi với tỉnh trưởng Lê Bá Khiếu biết tao từng quan hệ với nó, bèn mời tao tới. Tao hỏi nó:



Ông sang Việt Nam, tính dạy dỗ khai hóa dân tui những gì?



Cái thằng nói tiếng Pháp thiệt hay. Nó đáp:



Có dân ông khai hóa người Mỹ tôi thì có. Này nhé: mãi thế kỉ mười tám chúng tôi mới lập quốc, còn ông, nếu Aurousseau đúng, thì từ thế kỉ thứ năm trước Công nguyên, Việt Vương Câu Tiễn nhà ông đã quá khôn ngoan trong khi hồi bấy giờ Tân Thế Giới còn vô cùng mông muội. Một ngàn bảy trăm năm trước đây, Đông phương đã có Gia Cát Khổng Minh trong Tam Quốc Chí, một bộ óc hoàn hảo đã chế ra phi tiễn và xe có động cơ (mộc ngưu lưu mã).



Đấy, ai học ai? Ai đang cố vấn cho ai? Người Mỹ đóng thuế máu gần một triệu quân sang đây chết chóc và bị thương. Tôi là công chức, không có quyền chỉ trích Chính phủ tôi, nhưng Đảng Dân chủ đã làm ra cớ sự đó Rồi nó cười hề hề: Nhưng thôi, mình uống rượu chơi vui đi, tôi không làm chính trị. Vả, mọi việc cũng sắp yên rồi.



Trong số mấy người này, anh hàng thịt chó là có quyền lợi thiết tha với cuộc chiến hơn cả. Vì không đánh nhau, thì không hăng máu, ai sẽ tiêu thụ hàng vò rượu lậu và hàng chục con cún mỗi ngày cho anh? Vậy nên, chủ quán cờ tây (cầy tơ)? Hỏi dồn: Vậy là làm sao?



Bình tham gia giải đáp:



– Đang giết nhau như ngóe, mà nói là sắp yên, thì chắc cuộc dàn xếp hậu trường đã chuẩn bị.



Tùng phấn chí đứng dậy, áo quần vẫn thật xốc xếch, cáu bẩn như hàng tháng chưa thay, miệng chu ra nhọn làm sao, tay phải đưa lên gãi đầu tóc bù xù đã điểm bạc, chỉ có đôi mắt thì bao giờ cũng thật tinh anh:



Đứa nào nói thằng Bình dốt, tao phải cốc đầu cho lủng sọ nó. Đúng là như vậy. Tụi bây không biết rằng chiến tranh Triều Tiên kết thúc từ năm ba (1953), thì Mỹ và chư hầu phải tiếp tục be bờ thằng Trung Cộng bằng mảnh đất bé nhỏ Việt Nam chúng ta ư? Vừa đánh vừa đàm, vốn là cái sách lược cũ như trái đất. Chúng mở ra Hội nghị Varsovie mà mới đây, sau mười bốn năm họp thành, Harriman và Vương Bình Nham đã tươi cười siết tay nhau thân mật xuất hiện bên nhau trước báo chí.



Chàng thầm nhớ Chương và cái guerre périphérique của anh ta. Quả les grands esprits se rencontrent. Nhìn lại vẻ dơ dáy, cẩu thả trong cách ăn mặc nói năng, Chương thật giống anh Tùng như đúc, mà cũng thật là cao kiến. Hai đấng kỳ nhân này mà gặp nhau chắc là cãi vã nhau to, vì dù đối phương có nói đúng và hợp với điều mình nghĩ, thì nhất định cũng phải công khai phủ định, cho tức chơi.



Chàng hỏi anh: Nhưng ai sẽ là nhân vật lịch sử của câu chuyện đó? Cả ba nhìn nhau ngơ ngác. Anh cười khoái trá: Ôi, ba ông Khổng Minh. Hãy ra khỏi cái giấc ngủ triền miên trong đỉnh Ngọa Long Cương của đất Nam Dương đi mà xuống núi bàn với Lưu Bị cặn kẽ để thấy rõ thế tam phân đã đến hồi qui nhất thống. Lâu nay tao chỉ là con cháu ông từ, lo thắp hương trên bài vị đấy thôi. Tao đâu có dại mà khóc hoài như thằng Diễn?



Cụ Phan mất năm bốn mươi thì năm năm sau, Nhật đầu hàng vô điều kiện, chủ nghĩa đế quốc kiểu phương Đông của Thiên Hoàng mục nhân cũng không thọ. Bảo Đại, như tụi bay hằng biết, thuộc về một dòng họ lớn có công thống nhất đất nước vào năm 1802. Nhà Nguyễn cũng đã có những ông vua tâm huyết, nhưng mẫu quốc Pháp của chúng ta chỉ còn cái vỏ trong ngũ cường. Đức Kim thượng của thứ phi Mộng Điệp(1) nếu không ăn chơi săn bắn thì cũng không còn làm gì được hơn.



Ngô Đình Diệm và đám con nuôi Thiệu – Kỳ – Có của ông đã và đang được chơi như những quân bài trên chiếu bạc, không còn con xì tẩy nào. Bây giờ cứ theo phương pháp loại suy như trong cái bài Triết bắt buộc mà thằng Bình phải học thi thì biết, còn lại nhân vật nào?



Cẩn, cái anh chàng ít học nhất, háo thắng nhất, nhanh nhảu cướp lấy cơ hội góp ý, rằng là ta đây không chỉ đơn giản là tên bán thịt chó, chuyên làm thằng xe thồ cho đại ca: Cụ Hồ!



Bình vừa ngạc nhiên lo lắng: Vậy sao?



Tùng điềm nhiên chậm rãi, như một triết nhân:



Mày không thấy sao. Tao nghĩ: trong các nhân vật xuất hiện trên chính trường Việt Nam,... rồi ra cả thế giới  cũng sẽ công nhận Cụ Hồ và những người kế thừa thôi. Tao thấy cũng đáng: gia đình Nho học, thông thạo ngôn ngữ và văn minh Âu, Á, Phi, Mỹ... lại từng trải năm châu bốn bể, còn tài hóm hỉnh và làm thơ nữa chứ.



Rồi… sẽ tới lúc nào đó, một sự kiện đặc biệt hiện ra, người ta làm hòa với nhau hết. Tao lấy một ví dụ cụ thể: ngay trong gia đình tao hiện giờ. Mấy anh em đang giành nhau mấy cái nền nhà cha mẹ để lại trên đường Quang Trung đang lên giá này. Bây giờ mà Nhà nước tuyên bố: thôi, quốc hữu hóa hết để lấy mặt bằng xây công sở. Thế là, chỉ trong một giây, mọi thù hận muốn đâm chém nhau sẽ xẹp xuống như bong bóng xì hơi.



Rồi anh nói thêm: Tao thì ít học[1], nhưng bây coi trong đông tây kim cổ bao giờ cái đứa réfractaire (ngoan cố) cũng thắng. Điều mà sách Luân lý giáo khoa thư lớp ba hồi xưa gọi là có chí thì nên đó.



Chàng ngồi nghe, có vẻ như thật bình thản mà trong lòng tự khẳng định thêm về những gì mình nghĩ lâu nay.



Sương khuya đã ướt áo, Bình đưa khách ra cổng.



Chàng về nhà, mẹ còn thức. Mẹ ngáp, giọng có vẻ không vui:



Đi đâu mà giờ mới về? Mày vẫn cái tật lông bông không bỏ. Liệu mà thu xếp công việc, đặng về trỏng sớm với lũ thằng Quới, thằng Kem. Mẹ còn khỏe, không sao đâu.



Nhưng chàng thấy được nét thâm quầng quanh hố mắt của mẹ, chỉ biết dạ một tiếng rồi lẳng lặng chui vào mùng để suốt đêm đó thao thức tới sáng. Mấy hôm sau, chàng vác hành lý lên sân bay.



Mẹ và anh Cả ngồi uống nước trà nhìn chàng xì xụp húp tô don nóng, đặc sản của thị xã Quảng Ngãi, một loại hến nhỏ có ở đáy sông Trà Khúc, nước ngọt làm sao, trên mặt lều bều nổi những chiếc lá hẹ li ti xanh lục và cay thơm chính gốc Thi Phổ, nơi chôn nhau cắt rốn của chàng.



Chàng làm bộ nhìn quanh quất để ếm giấu dòng nước mắt vào trong, nín chờ đến khi ra tới ngoài đường mới ép mặt vào thành xe mà tha hồ khóc. Lấy khăn tay lau, chàng nói dối với bác tài, một cách tự nhiên: Hôm qua đi Thiên Ấn, chắc là bị bụi vô rồi. Chiếc DC4 vừa rời đường băng sân bay Thi Phổ nghiêng cánh xuống dòng Trà Giang với bao mây bạc trong đáy nước.



Nước sông trưa, tương phản với màu cây cối xanh biếc và mỏm đá núi đỏ hồng Long đầu hí thủy. Đẹp làm sao, khi một góc phố, một bức tường xiêu vẹo đều ghi lại những kỉ niệm khó quên từ thuở thiếu thời cho đến khi lớn khôn phải lao đao vật lộn mưu sinh.



Sài Gòn bấy giờ đang sống trong trăm thứ bát nháo của chuyện bầu cử Quốc hội. Thầy Trí Quang vẫn âm thầm tiếp khách trong căn lầu nhỏ hẹp bên trái chùa Ấn Quang. Năm ngoái, thầy đòi phải có chế độ dân cử thực sự, tự do dân chủ ở miền Nam. Và vì thế có binh đoàn Trần Hưng Đạo ở Quảng Ngãi, rồi bàn thờ xuống đường. Đám tướng tá và đảng phái nào Quốc dân đảng, Đại Việt, Cần lao tái sinh... cho rằng xáo trộn chỉ lợi cho bên kia bèn tố cáo thầy là Cộng sản nằm vùng. Ngược lại, hai tờ báo Mỹ lớn Newsweek và Times đăng hình thầy thật to ngoài bìa với hàng tít: Người làm rung động nước Mỹ.



Mấy ông chính khách trung lập trùm chăn lại nói thầy hành động rất trúng ý của CIA đang muốn Việt Nam Cộng hòa có nhãn hiệu dân chủ để danh chính ngôn thuận mà chống độc tài tam vô. Đúng là cảnh thời Xuân Thu Chiến Quốc bên Tàu theo lời Mạnh Tử: Chư hầu phong tứ, xử sĩ hoành nghị(1) chẳng biết đâu mà lường.



Sau khi bén mùi hấp dẫn của quyền lực, Kỳ và Thiệu như hai con cọp dữ đang tranh nhau chí chết trong cuộc đua làm chủ dinh Độc Lập.



Các chính khách Phan Khắc Sửu, Trần Văn Hương, Phạm Huy Cơ, Lý Quốc Sỉnh... và bảy, tám người khác cùng đưa đón, ai cũng tự cho rằng mình là Hớn Cao Tổ, nắm được lòng người trong thiên hạ. Bấy giờ Thiệu đang cố kéo về cánh mình những người được xem vốn là của Kỳ, trong số này có Phan Trọng Chinh, đại úy nhảy dù từng theo Nguyễn Chánh Thi chống Diệm năm 1960. Thất bại, Chinh chạy không kịp, phải giam ở Côn Đảo. Sau đảo chánh 1963, Chinh được ra tù, phục chức, lên dần đến Trung tá, ra Quảng Ngãi chỉ huy Trung đoàn 51 biệt lập. Chinh có lý tưởng sống trong sạch, thích chơi với giới trí thức, văn nghệ tỉnh lẻ. Bây giờ Chinh đã đeo lon Đại tá Tư lệnh sư 25 đóng ở Đồng Dù, Củ Chi. Thiệu muốn phong Chinh lên thiếu tướng để lấy lòng. Nhưng khi Thiệu lên gắn lon thì Chinh lấy cớ đi hành quân tránh mặt. Chàng nghe được câu chuyện, nhân ngày nghỉ, mượn xe Jeep của một cậu học trò đang làm sĩ quan thăm Chinh. Tới nơi, Chinh không có nhà, chàng phải nhờ máy bộ đàm liên lạc giùm. Chinh nghe bạn tới, mừng lắm, nói sẽ về ngay. Chàng ngồi ngắm nghía cái bản doanh của Chinh: giường sắt tây, bàn và salon cẩm lai, mấy cuốn thơ và rất nhiều sách bói toán, một bộ quân phục ủi sẵn phẳng lì treo bên vách. Chàng nghĩ: Ông Tư lệnh này, nên là một sinh viên Văn khoa thì hơn. Đáng lẽ ông phải ở về phía người chú ông, Tướng Phan Trọng Tuệ người Bắc mới phải.



Gần trưa, Chinh mới về, niềm nở lắm, không quên hỏi thăm anh Sáu Diễn và cụ bá Đạt, hai người bạn vong niên của anh ở Quảng Ngãi, một cao học tiến sĩ văn chương Pháp và một nhà Nho di cư hốt thuốc Bắc, sống thanh đạm với người con trai qua ngày. Cơm dã chiến của Chinh có món cá lóc nấu măng tươi mà Chinh nhất định đó là con cá quả ở miền Bắc, ăn với cà pháo. Anh mang cặp kính cận thị dày cộm, mặt và cổ không chút mỡ, khắc khổ quá. Mượn ly bia, chàng đánh bạo hỏi:



– Nghe nói anh từ chối cái lon thiếu tướng, tiếc quá.



Chinh cười: – Is anything the best issue from Gallilea? (Có điều gì tốt đẹp nhất mà xuất phát từ Gallilée đâu?)(1)



Chàng vỗ vai ông Đại tá:



– Biết là anh không thích ông Thiệu đấy. Nhưng ngày xưa Hàn Tín còn phải lòn trôn thằng ăn mày ở chợ Hoài Âm để nuôi cái chí lớn của mình. Giả sử thời cuộc cần người cử sự, chỉ với cái lon chưa có sao[2], ai nghe?



Chinh không nói gì, nhưng ra chiều suy nghĩ. Họ quay qua nói chuyện với nhau về Kinh Dịch. Chàng giới thiệu cho Chinh thầy Canh, một ông thầy bói mù ở đường Nguyễn Thiện Thuật. Từ ấy, Chinh về Sài Gòn hay đưa vợ tới đó coi quẻ, nhân tiện ghé nhà chàng chơi rồi giới thiệu chàng với bạn bè riêng của mình, như Phạm Văn Liễu, Đàm Quang Yêu, Lê Nguyên Khang. Hóa ra tình bạn của họ thân thiết hơn, không phải vì cái lý tưởng cao siêu, mà chính là do tính bất trắc của thời cuộc đã khiến cho những anh có đôi mắt sáng nhưng thường trực sống trong lo âu, lại trở thành mê tín, phải luôn luôn đi hỏi việc cát hung từ những nhà tiên tri chẳng may khiếm thị từ thuở sơ sinh. Ít lâu sau, chàng được tin Thiệu lên gắn lon thiếu tướng cho Chinh. Và lần này, Chinh lẳng lặng nhậm chức.



Với một rắp tâm trong bụng, chàng rủ Đàm Quang Yêu[3] tới Liễu chơi. Cả hai đều đại tá, người Bắc, bây giờ thuộc phe Kỳ. Yêu vừa ra khỏi nhà giam sau vụ Đà Nẵng, Liễu thì đương chức Tổng giám đốc Nha Cảnh sát.



Cũng mượn hơi rượu, chàng nói với Liễu:



– Anh mang tiếng cầm quân mà như tướng không quân, bộ hạ ở dưới người ta nắm hết.



Liễu buồn rầu:



– Thì cũng chịu vậy chớ biết làm sao.



Chàng gật gù chia sẻ nỗi ẩn tình thất chí của Liễu:



– Hớn Cao Tổ sau khi bắt được con nai nhà Tần, lúc mới lên ngôi, kỉ cương chưa có. Ngồi trên ngai, đám võ biền theo ông từ thuở hàn vi vốn thất học vây quanh, có khi chọc ghẹo chẳng ra cái thể thống gì.



Thấy thế, Trương Lương bèn bày cho ông thiết lập triều nghi, văn võ bá quan đội mũ cánh chuồn, mình bận áo bào, tay cầm hốt bạc quỳ lạy, tung hô vạn tuế. Cờ đến tay, có phất thì mới thành gió lớn. Bây giờ nên chăng là anh cũng mượn cớ trị an nội đô mà chiêu binh mãi mã để có lực lượng riêng? Liễu liếc nhìn Yêu đang chú ý coi bức tranh tùng hạc thủy mạc treo trên vách. Chàng hiểu ý cáo từ ra về.



Mấy hôm sau, đi dạy về, chàng tạt vào gợi ý cho Liễu tổ chức một lực lượng cảnh sát đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của mình. Gộp hai cánh quân dưới trướng của Chinh, Liễu đã hơn mười ngàn, nếu có Lê Nguyên Khang, thủy quân lục chiến và một tay ở Không quân theo phe, thì một cuộc binh biến kiểu Phạm Ngọc Thảo không hoàn toàn chỉ là mong ước suông, chàng nghĩ. Trong khi đó, các chính khách đi lại ngựa xe như mắc cửi. Trước hết, Lý Đại Nguyên, chồng Mai Tuyết An, người nữ sinh can đảm đã cứa cổ tay mình lấy máu viết thư chống Trần Văn Hương ba năm trước, thường ghé chàng chơi.



Lý Đại Nguyên, người cao gầy như cây sậy, đầu húi cua kiểu chính khách, anh chàng Bắc kỳ này là lý thuyết gia của đảng Đại Việt Duy dân, không ngớt tuyên truyền cho chủ nghĩa dân tộc sinh tồn bằng toàn những chuyện đao to búa lớn.



Có lẽ trên đời chỉ có chàng, với cái bản tính hiếu khách đặc biệt của dân Quảng Ngãi, mới kiên nhẫn chịu đựng hàng giờ để ngồi nghe hết những thứ viển vông đó. Tất nhiên cái lưỡi cỡ Trương Nghi, Tô Tần của Lý Đại Nguyên đã không hợp thời: Hàn sĩ đói meo, ở tận trong hẻm gần chùa Quan Thế Âm, chỉ có nước lã đón xuân. Tết Đinh mùi, chàng phải mang cả bánh chưng nhà mình sang cho. Vậy mà trong cơn bịnh dịch thần kinh lúc đó, ai cũng muốn ra trị nước: Lý Đại Nguyên đứng ra làm ứng cử viên Phó tổng thống cho liên danh Lý Quốc Sỉnh, cũng như thẩm phán Trần Tấn Thái, cựu chính án ở Quảng Ngãi, cho liên danh bác sĩ Phạm Huy Cơ cùng ra tranh cử với Thiệu, Kỳ.



Cửu nguyệt thu thâm hề, tứ dã phi sương...



Dịch: Tháng Chín, mùa thu già rồi, trên ruộng đồng bốn phía sương bay... Đây là câu mở đầu bài Xuy tiêu tán Sở của Trương Lương.



Một hôm, Chinh ghé rủ chàng đến cụ Phan Khắc Sửu chơi, nhà ở 630 Phan Đình Phùng[4]. Cụ đang nằm võng. Thấy có khách, cụ toan nhổm dậy thì Chinh chạy xồ tới:



– Xin bác cứ tự nhiên, con cháu cả. Anh H. đây là bạn cháu, giáo sư Chu Văn An, Tổng thư ký các Hội đoàn Phật tử Ấn Quang.



 



(còn tiếp)



Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.



www.trieuxuan.info



 



 









(1) Đấy là một cái ổ chó.





(1) tức Bảo Đại





[1] Anh đậu Thành chung thời Pháp.





(1) Chư hầu thì mỗi ông cát cứ một nơi, kẻ sĩ thì cậy mình hiểu biết, tha hồ nói ngang.





(1) Một câu tục ngữ Anh, ý Chinh muốn nói phe Thiệu xấu, không chơi được.





[2] Ý nói chưa lên cấp tướng thì làm sao đảo chính chống Thiệu được?





[3] Đại tá ở Đà Nẵng, chống Thiệu – Kỳ bị lột lon.



 





[4] Tức đường Nguyễn Đình Chiểu, quận 3, TPHCM.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »