tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31258119
Tiểu thuyết
01.07.2015
Lê Khánh Căn
Huế ngày ấy


Lai nhìn tất cả anh em trong gian phòng một lừợt rồi xúc động nói:





  •  Tôi cũng như anh em, không biết rõ lắm. Nhưng chắc chắn là Hồ Chủ tịch vẫn khoẻ. Nghe đâu sau khi ở ta vỡ mặt trận thì Cụ có vào Thanh Hóa và có phê bình. Tôi lại nghe một đồng chí bên tỉnh ủy nói rằng có thể nay mai chúng ta được học tập thư Cụ gửi cho các đồng chí Trung Bộ. Đấy, tôi chỉ biết có thế. Ta ở đây xa quá, mà đường đi lại thì khó khăn.


    Kháng hỏi lớn:




  •  Thôi, không ai hỏi gì nữa, ta giải tán, các đồng chí hè?




  •  Đề nghị anh cho biết có phải Khu sắp phái bác sĩ vào cho trung đoàn không?


    Kháng cười hỏi lại:




  • Làm sao mà đồng chí lại biết? Phải, ông y sĩ Y Ngông, người Ra Đê, được điều về lại Khu 5 để làm việc cho căn cứ ở Tây Nguyên. Ông ấy sau cách mạng mới được học tiếp để đỗ y sĩ đấy nhé. Tỉnh lại mở thêm một bệnh xá nhỏ cho ba huyện miền nam. Vì thế Khu có điều vào cho ta một bác sĩ. Nhưng bác sĩ là chung cho cả bệnh viện quân dân y ở chiến khu 7, không phải riêng của trung đoàn ta đâu. Ngó bộ anh em hay sốt rét quá nên săn đón bác sĩ dữ nhỉ?




  •  Là tại đồng chí Thảo cứ băn khoăn rằng không biết bác sĩ kháng chiến có giỏi bằng bác sĩ ở Huế không...?


    Cả đám người ào ào kéo tỏa ra về các doanh trại rải rác khắp khu đất bằng của làng Hòa Mỹ, lòng vui phơi phới, cảm thấy bước chân nhẹ nhàng, cảm thấy mảnh trời chiến khu buổi sáng hôm ấy sao mà đẹp thế! Nhưng trong cả bọn cũng có một người nét mặt bần thần, vẻ không vui lắm, bước từng bước một khỏi gian phòng một cách chậm chạp, nặng nề. Thiện cũng quay về đại đội cũ của mình, chợt anh trông thấy Hồ, đại đội trưởng đại đội 2, bước lùi lại và như có vẻ muốn tránh mặt anh. Không hiểu vì lẽ gì, Thiện quay lại vỗ vai Hồ:




  •  Này cậu, về chứ. Nghe phổ biến tình hình cậu thấy thế nào?




  •  Phấn khởi chứ sao nữa. Xin có lời chào cấp trên của tôi.


    Cùng xuất phát điểm, Thiện thoáng hiểu ngay là Hồ có thắc mắc và đây chắc là thắc mắc tại sao mình không được đề bạt gì cả. Thiện và Hồ từ trước đến nay vẫn là hai người bạn chơi thân với nhau. Hồ là anh họ của Vân và đã từng dìu dắt Vân đi theo con đường cách mạng. Hồ là con một công chức nhỏ, anh cũng đã học đến hết tú tài phần một. Sau ngày Nhật đảo chính, anh vào trường Thanh niên tiền tuyến về Việt Minh và đã gia nhập Việt Minh khoảng ba bốn tháng trước cách mạng. Trong ba bốn tháng ấy, anh có đi rải truyền đơn bí mật độ ba, bốn lần, đi tuyên truyền rỉ tai được bốn, năm người bạn đồng học và tuyên truyền được Vân, em gái họ của anh. Hồ cho rằng như thế là mình cũng đã có công nhiều với cách mạng, anh nghĩ rằng con đường sự nghiệp của anh phải bắt đầu từ đây. Anh thường ngâm hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ: Đã mang tiếng đứng trong trời đất Phải có danh gì với núi sông để bộc lộc tâm tư của mình. Theo anh thì danh đây không phải là danh lợi tầm thường mà đúng là danh tiếng với núi sông, nghĩa là những hành động cứu nước anh hùng. Sau cách mạng anh xin vào ngay Vệ quốc quân, rồi do có trình độ văn hóa, lại là thanh niên tiền tuyến đã có học tập qua về quân sự, nên được đề bạt ngay làm đại đội phó rồi chẳng bao lâu làm đại đội trưởng. Khi mặt trận vỡ, đại đội của anh tan vỡ hết, chỉ còn một mình anh chạy lung tung vùng Hiền Sĩ, Cổ Bi, hoang mang, vô định. Nhưng rồi du kích Phong Điền đã chỉ đứờng cho anh lên chiến khu, ở đây lúc đầu anh vào làm việc ở ban chính trị trung đoàn, sau khi tiểu đoàn 16 thu thập được khá nhiều bộ đội chạy lạc, lập lại 3 đại đội, anh lại được làm đại đội trưởng đại đội 2. Tuy chơi thân  với Thiện vì Thiện thường hay săn đón tin của Vân nhưng Hồ vẫn thường tự so mình với Thiện. Anh cho rằng về văn hóa thì Thiện có cao hơn anh cũng chỉ chút ít, nhưng về trường đời thì nhất định không bằng và nhất là anh đã tham gia cách mạng từ thời bí mật trong lúc Thiện vẫn cắp sách đi học chưa biết gì. Ấy thế mà nay Thiện lên tiểu đoàn phó, cấp trên của anh rồi. Biết đâu đấy, nếu có sự gì xảy ra, Kháng... hy sinh chẳng hạn, Thiện lại chẳng lên làm tiểu đoàn trưởng. Một học sinh chay mới ra trường mà làm như thế, chính sách cán bộ lạ thật. Hồ nghĩ như thế và anh tự nhiên thấy ghen tức với Thiện, một nỗi ghen tức không sao lấy lý trí mà kìm hãm được. Vì vậy khi thấy Thiện đáp lại câu anh nói, bằng một cái vỗ vai và một câu nói: “Sao anh lại mỉa mai tôi thế. Cấp trên là gì, tôi còn phải học anh chán”, Hồ lại thấy đấy là một câu Thiện dùng để mỉa mai lại mình. Không nén được giận, anh quắc mắt nói: “Thôi, yêu cầu anh để cho tôi yên. Đừng có giả vờ khiêm tốn. Tôi xin nói rằng về phương diện tổ chức, tôi sẵn sàng phục tùng ban chỉ huy mới của tiểu đoàn. Nhưng anh không cần phải đả thông tư tưởng cho tôi”.


    Nói xong Hồ quay ngoắt ngưòi đi nhanh về phía đại đội của anh, với dáng điệu hầm hầm bực tức, để mặc Thiện đứng trơ-ra, bàng hoàng, sửng sốt.





II



Ngồi bên chiếc đèn hoa kỳ leo lét cháy, tỏa ra một khoảng ánh sáng vàng đục le lói trong ngôi nhà lá tối om, Thắng vừa lấy hai chân đập vào nhau để xua muỗi, vừa đọc lại đoạn nhật ký của mình. Anh vừa rời bệnh viện Bạch Ngọc của tĩnh Nghệ An và  đang trên đường đi vào chiến khu Thừa Thiên.



“Hôm nay nữa là ba ngày mình xa Hồng Ngọc và hai đứa Hồng, Loan. Ba hôm nay, em và các con làm gì, chắc nhớ bố lắm. Cũng hôm nay là trang mở đầu tập nhật ký hành trình của ta. Đường đi còn bao xa nữa? Những gì đang chờ đợi bước chân ta? Ôi, chắc là có nhiều điều kỳ thú! Hai ngày đầu đi ca nô trên sông Lam và đi thuyền trên sông Ngàn Sâu, không có gì đặc biệt. Hôm nay là buổi đi bộ đầu tiên xa nhất trong đời mình. Ai có thể ngờ được là ta đã vượt hơn 35 cây số bằng bước chân ngắn ngủi nhất. Ta sẽ còn vượt băng trên dãy Trường Sơn. Dãy núi dài nhất của Tổ quốc ta ơi, ta sẽ tới thăm người trong vài ngày nữa! Hôm nay mới là hết địa phận của huyện Hương Khê, huyện cuối cùng của Hà Tĩnh, bên kia sông đã là Tuyên Hóa, đất của Quảng Bình, vẫn còn là đất tự do. Lần đầu tiên ta đeo ba lô lên vai, như tất cả những người cán bộ kháng chiến khác. Gia tài của ta thu gọn trong đó, vả lại cũng không thể mang theo cái gì khác. Hồng Ngọc ơi, anh không thể mang cả ngôi nhà tranh xinh xắn ở cái làng có tên xinh đẹp là Bạch Ngọc có em và hai con vào trong ba lô mà vác đi được. Nhưng em và hai con nặng trĩu trong tim anh. Nếu có người ra, anh sẽ viết thư ngay cho em... Nếu không, em sẽ đọc lại tập nhật ký này... vài năm sau nữa. Biết đâu đấy, trường kỳ kháng chiến kia mà. Ta sẽ làm được gì trong cái đất Thừa Thiên mà quân Pháp đã chiếm đóng gần hết? Ta sẽ ở đâu, làm việc với ai, chữa bệnh bằng gì? Không, ta không hoang mang lo lắng. Cán bộ các ngành vào được thì bác sĩ cũng vào được, ủy ban Khu đã điều động ta vào, chắc là có lý. Hôm nay lúc đến bên bờ sông này, đã xảy ra một chuyện nhỏ thôi nhưng mà hay hay, đáng được ghi lại. Ông Khanh kêu đau chân và đề nghị nghỉ lại vài ngày để chữa. Ông giơ gan bàn chân, những bọng nước đã phồng rộp lên. Khổ thật, ông này có lẽ từ bé đến giờ chưa đi bộ bao giờ chăng. Trác, Nghi và Trọng, ba anh dân quân gánh thuốc vào Thừa Thiên, Quảng Trị thì cứ đi băng băng, tuy họ phải gánh trên vai những bồ thuốc nặng trĩu, mình chỉ nhấc lên không thôi cũng đủ thở rồi. Nghe ông Khanh đề nghị nghỉ vài ngày, họ đã phản đối, nhưng sau khi thấy bàn chân ông thì họ lại thương hại. Không biết rồi sẽ giải quyết sao đây. Chỉ thị của Khu là phải vào gấp cho đúng hẹn. Đường thì còn dài, còn phải đi bộ gần một tháng nữa. Chưa biết mình mai, ngày kia, chân mình có khổ sở như thế không? Thôi, hôm nay tạm ghi vài dòng, gọi là mở đầu cho tập hành trình nhật ký của ta”.



Gấp cuốn sổ tay lại, Thắng ngồi trầm ngâm suy nghĩ. Anh không ngờ mình lại có dịp được vào lại Thừa Thiên, nơi chôn rau cắt rốn của mình, trong một hoàn cảnh đặc biệt như thế này. Thắng chợt lẩm bẩm: Mới đấy mà mình đã xa Huế đã được gần hai năm rồi. Nhanh thật. Lúc ấy đã tưởng đâu đến chuyện sẽ xảy ra chiến tranh. Phải, lúc mới được điều ra Vinh, anh đã nghi ngờ rằng ngưòi ta muốn tách anh khỏi ảnh hưởng của Hanh, anh ra đi không lấy gì làm thích thú cho lắm. Thành phốVinh với những phố buôn bán đông đúc, ồn ào với ít cây cối ,với nhà máy Trường Thi đầy thợ, với một con sông đào hẹp và với một dãy thành cổ thấp lè tè và những con người cục mịch đã làm anh nhớ tới Huế với những sông Hương, núi Ngự, với những lăng tẩm cổ kính, im lặng mát mẻ, với những nhịp cầu Tràng Tiền duyên dáng, những con người thanh lịch. Và nhất là anh nhớ ngôi nhà mà anh đã sống từ thuở bé, ngôi nhà mà vợ chồng anh đã xây hạnh phúc, trừ một vài tháng lạnh nhạt với Hanh, người anh ruột nhưng khác tính tình của anh. Nhưng vốn tính ưa hoạt động, ưa giao thiệp, chẳng bao lâu anh và Hồng Ngọc đã làm quen được với hoàn cảnh mới. Hồng, đứa con trai lớn lên bảy tuổi của anh bắt đầu đi học lớp 1 ở trường tiểu học công của thành phố Vinh. Hồng Ngọc tham gia hoạt động phụ nữ tỉnh Nghệ An. Thắng giao thiệp với những cán bộ của tỉnh, của Khu, thỉnh thoảng anh viết một vài bài thơ hay bài bàn về công tác y tế đăng báo. Gần đến kháng chiến, anh xin nhập ngũ và chuyễn  sang quân y. Việc ta đánh tan ngay lực lượng mỏng manh của quân Pháp ở Vinh trong có vài hôm làm anh tin rằng kháng chiến cũng chẳng lâu gì cho lắm. Nhưng ngay sau đó, anh ngạc nhiên thấy người ta phá cả thành phố Vinh, phá đến cả bốn bức tường thành cổ đầv đá gạch. Cái ngôi nhà hai tầng mà vợ chồng anh thuê được ở gần cầu Rầm cũng bị phá. Rồi đến bệnh viện mà anh làm việc cũng bị phá nốt. Từ đó bệnh viện chuyển đi hết nơi này đến nơi khác, cuối cùng lên đóng tại làng Bạch Ngọc, cách thị trấn Đô Lương nổi tiếng chừng bảy tám cây số, ở đây là bệnh viện quân dân y của cả Nghệ An và cũng của cả Khu 4 nữa. Trong những ngày di chuyển, Thắng và Hồng Ngọc làm quen dần với hoàn cảnh sống ở nông thôn. Không biết từ lúc nào, anh đã xếp xó tất cả những bộ âu phục sang trọng của anh, để xuềnh xoàng bộ ka ki có hai túi trên ngực như những người cán bộ khác. Hơn nữa, để tỏ ra là mình có tham gia quân đội, anh cũng sắm một cái ba lô quân đội, có đính ngôi sao vàng tròn vành vạnh. Cũng không biết tự bao giờ, anh đã bỏ không đi những đôi giày da có mang bít tất nhiêu khê nữa mà đi đôi dép con hổ giản dị.



Cũng trong những ngày di chuyển ấy, anh được nghe tin mặt trận Thừa Thiên vỡ và quân Pháp đánh chiếm ra tận Đồng Hới, Quảng Bình chỉ còn có một huyện Tuyên Hóa là chưa bị chiếm đóng. Thắng đã đi tìm những người chạy từ Thừa Thiên ra Vinh để hỏi chuyện. Nhưng anh cũng vẫn giữ ý, đổi với cán bộ Thừa Thiên hay cán bộ xứ, anh không hỏi gì về Hanh cả, anh cho rằng mình vẫn phải giữ mình. Anh chỉ hỏi họ về tình hình đánh nhau, về tình hình thành phố và các huyện bị chiếm đóng ra sao, cầu Tràng Tiền và cầu Bạch Hổ có còn không, liệu quân Pháp có đánh ra đến tận Vinh không? Đối với những học sinh chạy ở Huế ra thì anh có dò hỏi về Hanh, trong thâm tâm, anh mong Hanh sẽ tản cư ra đây. Thắng vẫn nuôi hy vọng thuyết phục được Hanh theo kháng chiến. Anh vẫn tin Hanh không thể là người phản quốc, anh tin rằng Hanh chỉ vì bị người ta tuyên truyền và vì cố chấp về chính kiến nên đã có lúc lầm lạc theo Quốc dân Đảng. Nhưng tất cả những học sinh mà anh hỏi đều không ai biết Hanh hiện ở đâu, và đang làm gì cả? Có người nói rằng có thể Hanh đã hồi cư về Huế, cũng có người nói không chắc vì lúc mặt trận vỡ, chẳng  ai biết rõ số phận của những người chạy loạn ra sao? Dù sao thì Thắng cũng vẫn chưa hết nghi ngờ là cán bộ đã không muốn anh ở gần Hanh.



Thế rồi đến bây giờ anh được Khu điều động vào Thừa Thiên và sự điều động ấy đã làm tan mối nghi ngờ của Thắng. Anh tin là Khu đã tín nhiệm anh nên mới điều anh vào cái vùng xa xôi mà quân giặc đã chiếm đóng gần hết ấy. Phải, nếu trước đây ngưòi ta sợ mình bị ảnh hưởng của Hanh thì sao bây giờ lại điều mình vào Thừa Thiên. Không, rõ ràng là trước kia họ điều mình ra Vinh chỉ vì nhu cầu công tác. Nhắc tới Thừa Thiên, Thắng lại nhớ tới Thân, người cán bộ cách mạng đầu tiên mà anh được gặp. Không biết Thân bây giờ ở đâu? Quái thật, trong số cán bộ chạy ra đây hồi mặt trận vỡ, và trong số cán bộ đi ra đi vào từ trong ấy đến ngoài này từ bấy đến nay, mình chứa hề gặp anh ấy. Không hề thấy anh ấy ở các cơ quan của Khu. Chắc là anh ấy ở chiến khu Thừa Thiên, nơi mình sẽ vào công tác. Gặp lại nhau, chắc là thú vị lắm. Thắng nhớ lại buổi đi ăn cưới Thân. Không nhớ tên vợ Thân là gì nhỉ? Chắc là chị ta cũng ở trong ấy, hai ngưòi chắc đã có con rồi. Không biết nếu họ đẻ con mà vỡ mặt trận như thế thì rồi chạy giặc ra làm sao nhỉ? Nghĩ tới việc mình sắp phải đi vào nơi chiến trường xa xôi ấy, Thắng bỗng thấy lo lắng và hơi có phần sợ sệt. Trước hết là anh sợ cái nỗi phải đi bộ hàng tháng trên núi rừng heo hút. Nhưng Thắng còn có lòng hăng hái và óc lãng mạn, anh dẹp ngay nỗi sợ hãi và nghĩ tới việc được đi sâu trong lòng Trường Sơn bí mật, được công tác ở một chiến khu mà toàn tỉnh đã bị chiếm. Con cháu mình sau này sẽ hãnh diện biết bao khi nghe ông cha chúng đã làm một công việc lịch sử: Leo băng qua hàng trăm ngọn núi của dãy Trường Sơn và làm việc trong một bệnh viện lập ở trên rừng núi. Cũng là một dịp để được sống một cuộc đời mới lạ là một dịp để thử thách chí gan dạ và lòng yêu nước của mình, Thắng nghĩ như thế.



Ngày hôm sau, đoàn người phải nghỉ lại vì chân bác sĩ Khanh vẫn còn đau.



Hôm sau nữa, họ lại lên đưòng. Họ đã đến bên bờ sông Gianh lịch sử, họ đi theo tốc độ trung bình 35 cây số một ngày. Thế rồi đến ngày thứ tư, họ bắt đầu leo núi. Đây mới chỉ là một cái dốc bình thường thôi, nhưng đã là một sự thử thách đối với Thắng và nhất là đối với Khanh. Ông bác sĩ chưa quen xông pha này vừa leo vừa thở dốc. Ông đã nhờ người ta chặt cho một cái gậy, chống lần đi như một ông lão. Ấy thế mà đến lưng chừng dốc, Khanh không thể nào chịu nổí nữa, ông đề nghị dừng lại nghỉ, trời tuy rét nhưng mồ hôi ông đầm đìa. Cuối cùng anh dân quân Trọng vui lòng gánh thêm cho ông chiếc ba lô nặng trĩu, ông chỉ còn phải đeo có hai ống muối và thịt khô mà thôi. Thắng trông thấy Khanh đeo lủng lẳng hai cái ống tre hai bên mà không nhịn được cười. Anh nói: “Anh Khanh, anh có bao giờ tưởng tượng có lúc anh phải đeo hai cái ống ấy như thế và chông gậy mà đi không. Thật chỉ còn thiếu cái bị cói nữa nhé!”.



Khanh gượng cười ngượng nghịu có vẻ khổ sở: “Thì từ bé đến nay mình sướng quen có ai ngờ bây giờ làm bác sĩ mà phải đi như thế này”.



Khanh đã nói thật ý nghĩ của mình. Ông vốn là một bác sĩ tư có phòng khám bệnh riêng ở Vinh. Kháng chiến bùng nổ, thành phốVinh, trong đó có cái biệt thự hai tầng của ông bị phá, ông cho anh tài xế và con sen về quê, nhưng vẫn giữ anh bếp và bà vú. cả cái bộ sậu ấy chuyển về nông thôn, đi hết làng này qua làng khác, cuổì cùng cũng dọn về bên Bạch Ngọc như mọi người. Khanh đã cho sự chịu đựng gian khổ trong hơn một năm qua của gia đình mình là ghê gớm lắm, ông những tưởng mình đã từng đi bộ đến năm, sáu cây số liền là ghê lắm rồi. Ấy thế mà không ngờ hôm nay lại có cái việc leo núi như thế này. Ông không còn biết suy nghĩ về việc gì nữa, chỉ đưa đôi mắt lo lắng nhìn lên con đường mòn heo hút chạy ngược lên trên cao, chạy ngược lên mãi như mất hút đâu tận trên nền trời xa thẳm mà rùng mình, lo cho đôi chân gầy yếu của mình không biết có chịu nổi hay không?



Thắng cũng thấy mệt lả. Anh cũng không ngờ leo núi lại mệt đến thế, mệt hơn cả những buổi anh ham chơi quần vợt quá nhiều. Nhưng anh vẫn cảm thấy tự hào là mình đang vượt qua dãy Trường Sơn đầy bí hiểm. Tối hôm ấy, trong khi Khanh lấy dầu long não ra bóp chân, Thắng giở cuốn nhật ký ra hý hoáy viết. Anh cao hứng làm luôn bốn câu thơ:



Ta vượt dãy Trường Sơn vòi vọi



Núi ngất trời dẫm dưới chân trai



Nẻo đường đất nước dù dài



Say đời kháng chiến, còn người băng qua.



Thắng nhăn mặt nói: “Dở quá, không nói hết được ý ta. Sau này phải làm một bài trường thiên ghi lại chuyến đi này mới được”.



Thế rồi họ cũng tới được Troóc, một địa điểm quan trọng trên con đường giao thông nối liền Bình Trị Thiên với Khu 4. Ở đây, họ không ngờ là có hàng quán. Thắng, Khanh đã ghé vào ăn phở ngon lành, tuy phở chỉ là cái thứ miến khô to sợi và lèo tèo vài miếng thịt. Thắng vừa ăn vừa khen ngon.



Tối hôm ấy, đồng chí trưởng trạm liên lạc ở Troóc tới báo cho họ biết: “Ngày mai các đồng chí sẽ leo qua những chặng đường gian khổ nhất. Đó là dốc Liên và Ba Rền. Các đồng chí hãy chuẩn bị tinh thần. Đi con đường này, dù mệt cũng phải gắng đi cho tới đích vì không có trạm nghỉ nửa chừng đâu”.