tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24366301
Tiểu thuyết
08.06.2015
Ngũ Hà Miên
Bão


Chàng rủ Tấn cùng tham gia, đến nỗi bà chị Tấn thương em tìm cách ngăn:



Cậu với cậu Một như hai vợ chồng, coi chừng có ngày chửa hoang đấy. – Giọng chị đặc Quảng Nam.



Đám quân đội năm ngoái đã nhượng bộ cho bầu cử Hội đồng Nhân dân tỉnh. Năm nay, họ xài lá bài này làm đối trọng trước yêu sách của nhân dân, một mặt cho quân từ Sài Gòn ra đàn áp Huế, Đà Nẵng, một mặt triệu tập Đại hội các Chủ tịch Hội đồng toàn quốc, đạo diễn cho ra một nghị quyết đòi có biện pháp mạnh với tình hình miền Trung. Đám Quốc dân đảng đã nhân cơ hội này mà ăn có, vừa nhận tiền của Chính phủ để bắt bớ Phật tử, miệng hô khẩu hiệu chống Cộng ầm ĩ, tay bỏ thầu các dịch vụ chiến tranh, lũ cán bộ phất giàu lên nhanh chóng. Tình thế dẫn đến sự đối đầu giữa anh Sáu của chàng và Lê Nguyên Long. Đều là Quốc dân đảng, Long to béo, mua được miếng đất gần chùa Tỉnh hội Quảng Ngãi kinh doanh lò bánh mì kiêm Chủ tịch Hội đồng tỉnh, đi máy bay quân sự Mĩ vào Thủ đô quyết sách tố Cộng, vinh hạnh được Thủ tướng đãi cơm. Trong khi anh Sáu, vẫn là ông giáo nghèo bị đày ra trường Trần Quý Cáp, Hội An cực lực phản kháng áp phe của Quốc dân đảng.



Giữa không khí đầy nghi hoặc và hừng hực khói lửa của hai phe dàn trận đang chống nhau, một chiều anh Sáu nhận được thư của Tỉnh Đảng bộ Quốc dân đảng Quảng Nam mời đồng chí đến bàn việc hưng vong của đất nước. Vợ anh, với cái năng khiếu thầm lặng của người phụ nữ, khuyên anh đừng đi, nhưng anh khăng khăng: – Tôi phải tới nói cho bọn nó biết...



Bận quần áo chững chạc, thắt cà vạt đàng hoàng, anh tính dắt xe đạp đến chỗ họp, sào huyệt của Quốc dân đảng bên bờ sông Hội An. Bỗng một cơn đau bụng thất thần vật anh xuống ghế, rồi tiếp theo là một màn nôn ói. Anh nằm bệnh mất gần tuần lễ. Trong khi đó, quân Sài Gòn ra thanh toán quân Đàm Quang Yêu, bắt ông Đại tá phản loạn này và vị bác sĩ Công giáo, tỉnh trưởng Nguyễn Văn Mẫn dẫn độ về Sài Gòn, tống vào nhà giam.



Bốn phương phẳng lặng hai kinh(1) vững vàng. May mắn quá, anh Sáu được nghe kể lại là, trước khi cùng quân Triều tiến công, Quốc dân đảng Quảng Nam tính nhổ cỏ tận gốc những người Quốc dân đảng dân tộc theo phong trào Phật giáo. Kế hoạch của họ là mời anh Sáu Diễn (tức đồng chí Duy Chính của họ) đến, gợi cho anh lớn tiếng phản đối. Không cần đập chén rượu làm hiệu như trong Tam Quốc Chí, võ sĩ của họ cứ việc nhanh như cắt, tóm cái thân thể yếu ớt trói gà không chặt đó, cho vào bao tải, đang lúc trời tối, thả tõm xuống dòng sông hiền lành êm ả này, sông Hoài phố Hội. Tội nghiệp anh Sáu, người em họ của cha chàng, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa 1945, trong say sưa quyền lực, lại đa nghi như Tào Tháo vào những ngày đầu khởi nghĩa đã đối xử quá tàn nhẫn với ông bạn xã Thanh đã làm mất đi hình ảnh đẹp của lính Cụ Hồ nơi anh. Bằng không, chắc chắn anh sẵn sàng là người chiến sĩ Vô sản không mệt mỏi suốt dặm đường gian lao ba mươi năm với bà con đồng bào từ ấy về sau. Có lẽ anh sẽ đi tập kết và trở về với mái tóc bạc và tất cả lẩm cẩm như người đồng nghiệp cùng tuổi, cùng lớp: cô Lê Thị Bồng(1).



Anh say sưa lý tưởng, mơ một thế giới đại đồng thiên hạ vi quân từ thời còn thanh niên. Lý tưởng của anh, một mớ tập hợp mơ hồ, kì diệu giữa những gì cha dạy về kinh sách của Khổng Thánh và chủ nghĩa Lý Ninh mà anh lén lút đọc từ tổ chức cấp tiến của thầy học Võ Nguyên Giáp ở Huế. Vị giáo sư này giờ đây chia hai giới tuyến với anh, nhưng mỗi lần nhắc lại, anh không tiếc lời ca ngợi tài hùng biện trong các cuộc bút chiến trước 1942.



Anh sùng bái cái tinh thần không thành công thì thành nhân của người trí thức trẻ mới hăm bảy xuân đời Nguyễn Thái Học. Ánh lửa Cổ Am cháy rực trong tâm hồn anh. Anh yêu Nguyễn Tường Tam mà cái chết được anh ví với Ngô Tùng Châu chén tân khổ nhấp ngon mùi chính khí. Theo gương họ, anh tình nguyện phục vụ hết mình cho đồng bào, chống Ngô Đình Diệm cho tới cùng, dưới lá cờ không phải nền đỏ sao vàng mà trời xanh sao trắng Quốc dân đảng. Anh đã suýt nổi cơn thịnh nộ, đòi từ nhau, không còn anh em với chàng, khi chàng không nghe lời anh mà từ chối vô Quốc dân đảng. Ai dè, chỉ mấy năm sau đó, nói như lời cha xưa kia cao điểu tận, lương cung tàn; địch quốc phá, mưu thần vong, nhà Ngô đổ rồi, những người Quốc dân đảng tại các nơi chiếm được quyền hành, họ đã thoái hóa thành những tên đâm thuê chém mướn, không còn lý tưởng cao đẹp như Nguyễn Thái Học ngày xưa nữa. Vì cái ghế Tỉnh trưởng, vì cái chức dân biểu, họ đã nhân danh lá cờ sao trắng đó, quyết đem anh làm mồi cho những con cá niên cá quả sông Hội An rỉa rói. Trận đau bụng bất ngờ đã cứu sống anh. Từ đó, một mặt anh kín đáo làm đơn xin đổi về dạy trường nữ Trung học Quảng Ngãi, mặt khác anh vô cùng cẩn thận, tuyệt giao với những đồng chí cũ, tuyên bố: Gác kiếm! Từ nay tôi xin tuyệt tích trên chốn giang hồ. Và anh tu, tại gia.



Đạo của anh là đạo Lý Thái Bạch. Anh nhờ một người bạn thân, họa sĩ Khổng Đức Đinh Tấn Dung coi theo sách cũ, vẽ cho anh chân dung lớn của vị trích tiên này. Bầu rượu túi thơ đàng hoàng, treo trên vách, hương đăng bất tận, cúng vái một lòng kính tín. Mỗi tối rằm mùng một, anh thắp hương lạy, dùng cây thước dạy học gõ vào bệ thờ làm nhịp mõ mà tụng kinh, thật không giống ai: tụng kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh của thầy Nhất Hạnh in ở Pháp với tên Sinh một tuệ giác siêu việt do Thái Sơn gửi cho chàng, chàng lại biếu anh. Lão không ra Lão, Thiền chẳng đặng Thiền, nhưng đấy là cốt cách đặc trưng của anh. Suốt ngày anh bán cháo phổi, khi ở trường, khi ở nhà, để nuôi một đàn con quá đông đảo như thường thấy ở miền Nam bấy giờ: hơn một lố (13 đứa).



Vợ anh, cô nữ sinh hoa khôi ngày nào, nay đã nạ dòng, chân thật không biết buôn bán gì, áo quần xốc xếch, đứa này chưa biết bò, đứa khác đã chui ra nheo nhóc. Nhiều bữa, mâm cơm chỉ có mấy quả trứng vịt luộc, dằm ra với mắm nêm chấm rau muống. Lâu lâu, có bạn từ Sài Gòn ra, hay gặp kì hè vào đó chấm thi, anh cùng bạn ra vỉa hè chia đôi một chai lade. Cảm khái cảnh đời, anh làm thơ, có một bài khá hay nhan đề Cho người cho ta-  tặng Đinh Tấn Dung.



Một hôm, Bình mượn cớ đi công tác, đưa con vào đại học, ghé chơi. Được trò chuyện với anh chàng này là một trong những sinh thú của đời chàng. Chàng biết Bình đang soạn thi tú tài ban Sinh ngữ, nhưng có tài Hán văn, bèn chọc Bình, nhại Luận ngữ:



Hữu bằng hữu tự cố hương lai, bất diệc lạc hồ.[1] Có tin tức gì mới ngoài đó không?



Bình thả chiếc túi xuống ghế, mệt mỏi:



Có. Việt cộng về vùng quê vợ mày rồi. Tao làm cán bộ hành chính cốt giữ an toàn cái đại lý gạo cho bà xã tao mà thằng Phiên chơi ác, tâu với tỉnh trưởng bắt tao đi Minh Long. Qua đèo Eo Gió, đến cầu Cộng hòa, không giỏi tam thập lục kế như tao chắc toi mạng rồi.



Chàng nhớ hồi kháng chiến đi dạy học có lần lên công tác chống mù chữ cho người Thượng đã đến Minh Long, giữa vùng núi non trùng điệp. Người dân tộc địu con đến lớp, mái lá, đèn dầu mù u, nhưng đôi vú căng trên vòng ngực trần, dù sẫm màu nhưng nhìn lén rất mê. Ngày đó chàng còn trẻ, được bà con đãi một bữa chè nấu thịt trâu với đường đen, ăn thấy kì quái thế nào. Hết đợt công tác, chàng nghe nói dân Gia Rai nổi loạn, vùng lên chém giết cán bộ và đám buôn bán người Kinh, xác quăng xuống trôi lều bều đầy sông Trà Khúc, kéo theo hàng đàn đông nghịt những diều quạ bay lượn thê thiết kêu mồi, ai cũng khiếp.



Vẻ tư lự, chàng nhìn Bình chậm rãi:



Cảm ơn anh, bà xã tôi nói hôm đám ông nhạc tôi, anh có tới viếng. Sau đó, lại cho ít tiền, miếng khi đói bằng đọi khi no. Bả ca ngợi mãi là trong cơn hoạn nạn mới biết lòng người.



Bình nhìn ngôi cổ tự Huê Nghiêm:



Ơn với nghĩa gì. Cũng nhờ đó mà tao rõ hơn cảnh bên vợ mày. Ôi! Nghèo sao là nghèo, chỉ có mái lá xiêu vẹo, vách đất nhồi rơm nham nhở khói, tao tới thắp hương mà mỗi lần gió mạnh lại hết hồn vì sợ nhà sập đè chết.



Lời của bạn càng làm chàng thấm thía nỗi cơ cực của bao nhiêu bà con mình bắt đầu từ những người thân nhất, bị chiến tranh thổi dạt đi, như bông cỏ may mùa thu trong bão loạn. Rất cảm động, chàng chớp chớp với ngấn lệ trong khóe mắt:



Cũng mới cái khía cạnh vật chất thôi anh ạ. Bà mẹ vợ tôi cũng như chị dâu Cả tôi, không biết chữ. Vợ tôi con út, hồi mới về nhà chồng ở Thi Phổ, bà nhạc nhớ con, cứ ít hôm lại lấy cớ đi chợ miệt biển mua mắm cơm mà lội bộ cả hơn chục cây số để ghé thăm. Có lần mẹ tôi qua hàng xóm, bà nhạc ngồi xề xuống đất, giúp con gái xắt chuối cây, quấy cám cho lợn như ở nhà mình. Mẹ tôi, vị tiểu thư con quan lớn hồi xưa, trở về trông thấy, hối hả trải chiếu hoa và pha trà, bà nhạc nói: Tui quen ngồi chồm hổm dưới đất rồi. Thấy chị thương dâu, tui sung sướng lắm. Hai sui gia hỉ hả với nhau ở ngoài hè, chẳng cần nghi thức lễ lạt gì. Ôi! Còn đâu cái thời xưa ấy?



Bình thong thả bình luận theo bài bản mà anh mới học thi, vừa nghiêm trang, vừa vẫn cái tính hài hước cố hữu:



Úi da... chơn thật là chơn hạnh phúc đấy. Như ông nhạc tao thì khác. Tao chơi với cô con gái Chung Vô Diệm của ổng. Lý ra ổng phải cảm ơn tao chứ. Đằng này hồi đó ổng làm tao đến khổ.



Cái kiểu anh nói, dường như lúc nào cũng sẵn sàng đem chuyện gia đình bên vợ ra giễu cợt, nhưng thâm tâm anh rất quí trọng chị, người đàn bà không đẹp, có cái giọng rất nhà quê, léo nhéo một cách thật khó nghe của dân vạn chài Dung Quất, Quảng Ngãi. Chị chứa đựng nơi con người xuề xòa, da ngăm đen đó một quả tim đầy lòng tốt, chàng rất mến phục. Nhất là chị cực kì đảm đang. Bình nheo hàng ria mép tỉa gọt thật khéo như Nguyễn Cao Kỳ của mình, bắt chước hề Charlot, cắt đứt dòng suy tư của chàng:



Lão Tử nói Cổ chi nhân hình tợ thú nhi tâm thị nhân. Bên vợ mày sống như thời sơ khai vậy mà hiền đức. Tao tin rồi con cái mày về sau sẽ khá.



Bình an ủi chàng vậy thôi. Chứ chính con cái anh sau này, đứa nào cũng đỗ tiến sĩ, kỹ sư ở nước ngoài.



Quay về tình hình trong tỉnh, Bình cho biết bây giờ từ cụ già ở nhà quê cho chí những thanh niên đều bị dồn vào trại định cư mọc như nấm xung quanh thị xã. Trong hàng rào kẽm gai ấp chiến lược, tất cả được phát không: gạo, cá hộp, nước tương, thịt hộp, bột CSM (corn – suggar – milk), áo quần, chăn màn, chiếu gối, thậm chí thuốc bổ Pharmaton và cả dầu hôi để nấu nướng. Bột CSM ăn riết cũng ngán, họ phải đem bán cho những người nuôi heo, lấy tiền mua thuốc Basto đen, phì phà suốt ngày mà mài khu trên những chiếc bạc. Mùa nắng, dưới những mái tôn nóng như lửa, đàn bà cứ vài ba giờ lại phải xối nước tắm, những chiếc quần đen cẩu thả phơi tơi tả như bầy quạ đói dưới bóng xế chang chang và oi bức. Con trai có chút học thì đi cán bộ, hành chính, công dân vụ và xây dựng nông thôn.



Tận dân giai thọ kì chính phủ chi vũ lộ. Toàn dân đều được ơn mưa móc của nhà nước - Bình xổ Nho chế giễu: Tất cả từ viện trợ Mỹ. Tỉnh trưởng, quận trưởng nhờ đó no cứng diều, có ngày bội thực vỡ bụng mà chết. Cả đám đấu thầu giặt đồ, cung cấp nước đá, rau tươi và gái điếm nữa.



Chàng thầm nghĩ tới Chương, nhà tiên tri sinh bất phùng thời, nay không biết trôi dạt nơi đâu. Bình rít một hơi Ruby, mắt mơ màng:



Như thằng Thạnh, học lớp với tao, làm công chức tòa Tỉnh, có con vợ da trắng mũm mĩm đẹp như gái hăm lăm, cũng vô đạo Tin lành để làm quen với Mỹ, trúng thầu cung cấp nước đá ở Chu Lai chẳng mấy chốc trở thành tay giàu sụ trong tỉnh, ngang hàng với Lê Thi, chủ mấy cây xăng. Con cái nhà ai đi lính chết thì mặc, nhưng bọn chúng cứ mua đất xây nhà mới, đi xe hơi láng cóng, thỉnh thoảng được vợ các quan lớn ghé thăm, mượn vài triệu, xem ra chẳng nhằm nhò gì, bánh đúc đưa đi, bánh dì trả lại, quan sẽ có dịp giúp cho cái áp phe vài trăm triệu, lời chán. Và mỗi Chủ nhật, lại đi nhà thờ, quỳ xuống nguyện cầu, xin cứu rỗi để được sinh vào nước Chúa Thiên đàng. - Bình vuốt râu cười ha hả: Ai dại như vị đại huynh uyên bác cử nhân Văn chương Pháp của mày, cứ ôm hình ông Nhất Linh mà khóc trong khi tụi Quốc dân đảng ra sức dựa lưng Mỹ mà kiếm tiền. Còn ổng, suýt mất mạng.



Thằng Lâu, học trò cũ của mày, nó kêu ông Trần Khuy, tức Trần Nam Trung bằng chú ruột. Hồi nó học Trần Quốc Tuấn, tao có giúp nó làm gia sư ở nhà để đỡ tiền trọ. Sau nó đi học y tá. Vậy mà mới rồi, nó về Thi Phổ ăn giỗ, bên kia dò biết, bị xử tử, tước luôn bộ ống tiêm mà nó có thói quen đi đâu cũng mang theo.



Mẹ nó chỉ nhận được trong túi áo trong còn treo trên giường: anh chàng bí mật giấu kĩ một bức ảnh nhỏ hình Cụ Hồ mà cuối năm năm tư, giữa bao hối hả của thời cuộc, trước khi đi tập kết, anh Tám Khuy ghé về thắp hương cáo biệt gia tiên đã gọi là một kỉ vật tặng nó, bấy giờ mới lên mười.



Chàng nhớ rõ mồn một hình ảnh Lâu, cậu học sinh trắng trẻo dù là con nhà nông, mới ngoài hai mươi đã ra người thiên cổ, thở dài:



Thế còn phe Quốc gia?



Bình đưa tay ngoáy tai, như ông Hứa Do trong cổ tích Trung Quốc, khi lỡ nghe vua Thuấn muốn truyền ngôi, toan đi rửa:



– Cũng không kém. Bạn của mày, thằng Thục người Long Phụng, năm sáu mươi ở Sài Gòn giành nhau để tên vào Tuyên cáo hoan hô đảo chính của Nguyễn Chánh Thi(1) bị Diệm bắt tù tới sáu ba.



Nay nó kể công làm sao mà được ông Thi cho làm Quận trưởng. Nó chủ trương phải chống tham nhũng để làm trong sạch guồng máy Quốc gia mà chống Cộng. Nó hoành hành dữ dội, dám cho bộ hạ tới nhà bắt một công chức Tòa hành chính tỉnh cạo đầu ổng trọc lóc như ông sư rồi áp giải diễu hành qua thị xã, với một tấm bảng có mấy dòng chữ đeo trước ngực: tham nhũng ác ôn. Ông này quá uất ức, lâm trọng bệnh, mạng như sợi chỉ mành, chắc chỉ còn trong nay mai.



Nghe tự sự, chàng cũng bắt tức theo:



– Thế không ai làm gì chúng nó sao?



– Chuyện. Thời buổi nhiễu nhương. Vả, đám Quốc dân đảng này đang là kiêu binh mà. Chúng tự xưng có công sát Cộng phục quốc, ai thấp cổ bé miệng mà không theo chúng, cả đám Phật giáo nhà mày, thì đều là Việt cộng hết. Nó bắn có đến hàng trăm xác, cắm cọc bêu đầu bên đường nhan nhản, có cái lưỡi thè ra đỏ hỏn. Mày cứ về Thi Phổ quê cha đất tổ của mày là khắc biết: đốt nhà, ủi sạch bao nhiêu làng mạc ven quốc lộ cả hai ba cây số, trống hoang như bãi sa mạc Gobi để hằng ngày quan quân người hùng đi xe Jeep từ tỉnh vô huyện đường Đồng Cát bảo đảm an ninh, không bị du kích bắn tỉa. Đó, đệ nhất công thần sát Cộng, sau này sử sách sẽ ghi.



Thái độ và câu nói của Bình làm chàng không nhịn nổi cười:



– Ủa, làm gì mà anh hằn học nó dữ thế?



Bình như chưa nguôi giận: – Mày ngây thơ cụ à? Bà vợ tao có cái đại lý gạo. Tụi đó biết mà vẫn thậm thụt tới vòi tiền. Chịu hết nổi, bả từ chối. Nó đánh tiếng là sẽ mang tao ra tế thần tham nhũng như với thằng thừa Nhung đấy.



Nói một hơi dài, Bình mệt, quơ lấy ấm nước, uống luôn mấy chén giống như thầy Cung ngày nào ở Quảng Trị, luôn có cảm giác chết khát.



Chàng thừ người ra suy nghĩ: Ôi, sao mình mau quên thế? Mới năm ngoái đây, còn dạy ở quê nhà, nhưng giữa đường thấy việc bất bình mà tha, mình đã tham gia vào Mặt trận Nhân dân Cứu quốc Huế, vừa đòi chính quyền thực hiện dân sinh dân chủ, vừa chống sự bạo hành của đám Quốc dân đảng tay sai này, mình đã bị chúng cho người vô Sài Gòn mướn kí giả tờ Chính Luận của ông Đặng Văn Sung, công khai viết báo lên án đích danh mình là một Việt cộng nằm vùng. Có những buổi, tan họp ở đâu về, ngang qua ngôi nhà nhỏ của chàng ở Cống Kiểu, chúng cố giơ những lá cờ sao trắng, gào to những khẩu hiệu đả đảo Cộng sản uy hiếp tinh thần chàng.



Chàng hỏi Bình: – Ngang ngược quá, chắc ô dù bự nhỉ?



Bình chậc lưỡi: – Cóc khô, chỉ cần dựa vào một tên tướng, tá gốc đánh giặc thuê nào đấy đang làm ở vùng hay tỉnh trưởng và chịu đóng hụi chết, thì có tội ác tày trời cũng chẳng ai làm gì.



– Anh muốn nói ai đấy?- Chàng hỏi.



– Mày làm bộ. Thì thằng Thi chớ ai. Ở Quảng Ngãi, ai cũng cho mày thân Cộng hết. Tao thì tao thông cảm. Thế hệ mày có học, lớn lên gặp ngay cuộc kháng chiến chống Pháp mà cán bộ ai cũng như ai, túi vải dép râu, cơm nắm muối mè. Hiệp định Genève được kí kết, kháng chiến rút đi, ông Diệm về. Một ông thượng thơ Nam triều lẩm cẩm độc đoán và một bầy lính tẩy làm trời, bây không chịu nổi là phải. Tao nghe nói cái thằng Nguyễn Chánh Thi này vốn là tên chèo đò mướn ở làng Dương Nổ, Thừa Thiên. Năm ngoái, Bộ trưởng Xây dựng Nông thôn người Đại Việt do Phật giáo đưa vào Nội các Chiến tranh của Nguyễn Cao Kỳ rớt máy bay chết, ở Quảng Ngãi, xác đem về Tòa tỉnh. Thi được tin từ Đà Nẵng bay vào, hình như viên Phó tỉnh mới tốt nghiệp Học viện Hành chính ra, chưa quen lễ nghi quân cách, Thi giận lắm. Y cầm ba ton vừa rượt đánh Phó tỉnh, vừa luôn mồm la chửi. Tới đây, anh giả giọng Huế:



– Đ. mẹ mụ nội mi, mi làm ăn rứa, tao đánh chết cha mi.



Đó, một trong những nhà lãnh đạo Quốc gia của chúng ta. Gặp nó, đám Quốc dân đảng Võ Thục gãi đầu gãi tai, một điều thưa trung tướng, hai điều thưa trung tướng, rồi chúng lấy một phần số tiền bán máu của các đội dân vệ mà chúng thầu tổ chức đưa cho thằng tỉnh lòn cửa sau, luồn váy vợ con nhà quê một phút nên quan của Thi, mà dâng cúng đều đặn. Mười ông thừa Nhung chúng còn cạo đầu được nữa là một. Bữa đó, chính tao thật xốn xang khi buộc phải đứng nghiêm mà chào nó.



Chàng nghĩ tới cái hình ảnh của Thi - một tên đã đứng tuổi đang cầm hèo đuổi theo một bạch diện thư sinh, vừa văng tục liên hồi, xổ thoải mái cái ngôn ngữ của một thằng nhãi từng quét chợ Đông Ba(1). Cũng cái thằng đó, vài chục phút sau có thể đường đường dưới bóng quân kì, tuyên đọc một nhật lệnh sặc mùi cách mạng. Ý nghĩ về sự trái khoáy ngộ nghĩnh đó khiến chàng bật cười.



Bình ngạc nhiên: – Chuyện vậy mà mày còn cười được à?



Chàng đáp: – Mình thấy hình như anh chất chứa nỗi nhịn nhục đã lâu lắm rồi, nên hôm nay mới có dịp vừa du ngoạn Sài Gòn, vừa tự do xổ bầu tâm sự nhiều thế.



– Phải. Tao, một vợ tám con, tao phải giữ lấy nồi cơm và cái cửa hàng gạo. Cũng như thằng Phó tỉnh non choẹt, phúc bảy đời mới được làm chút quan, tự biết mình hèn hạ. Số phận nó bắt ta thê thằng tử phược và do đó, ta chấp nhận chịu nhục, làm con trâu, con chó. Tao cảm thông cho ông Tôn Thọ Tường:



Trâu ngựa dầu kêu chi cũng mặc



Thân còn chẳng kể, kể chi danh.



Chàng an ủi Bình:



– Anh ơi! Karma cả. Anh vì mấy cháu mà ép mình, còn đám tướng tá hồi xưa đi lính cho Tây. Tây thua, họ thờ Mỹ. Muốn lên tới đại tá, thiếu tướng, bọn chúng khỏi sao phải khổ nhục như Câu Tiễn nếm phân, giặt đồ dơ cho vợ chồng Ngô Đình Nhu và cố vấn Mỹ?



– Nhưng Câu Tiễn vì nước Việt, còn bọn đó thì để có tiền, có quyền mà xây nhà lầu, sắm ô tô, uống rượu, chơi đĩ... và đánh đập, chửi bới kẻ khác dưới tay.



Chàng chậm rãi: – Vậy tại sao các anh hay phê phán Việt minh khi họ chủ trương La fin justifie le moyen? Cứu cánh biện minh cho phương tiện, thực không có gì sai. Chỉ e cái tâm tốt của mình có lúc lung lạc mà hại tới kẻ khác thôi. Cha mình hay kể câu chuyện này:



Xưa có ông lang nọ rất giỏi. Người đàn bà kia nhan sắc mặn mà, đã có chồng nhưng dâm dật, muốn sớm được tự do vui thú mây mưa với người tình. Bà ta đến xin thầy bốc cho mấy thang thuốc nhằm sớm kết liễu cuộc sống của đức lang quân. Thầy nghĩ, nếu mình theo ý thị thì thật thất đức. Nhưng nếu mình từ chối, chắc thị và tình nhân sẽ có kế khác. Thầy bèn kê một toa thuốc bổ với vị hoài sơn làm chủ, mục đích muốn ông chồng bất hạnh kia ngày một mạnh khỏe trường thọ. Nào ngờ, ngoài sự suy đoán của thầy, người đàn ông ấy tì hư. Thay vì khỏe mạnh, người ấy qua đời. Khi người đàn bà lăng loàn tràn trề hạnh phúc tới báo tin, thầy than: Vận ta hết rồi. Ta muốn dùng hoài sơn cứu người, nào ngờ nó lại giết người ấy chết. Thôi, ta không làm thuốc nữa. Nói xong ông quăng chiếc chìa khóa kho thuốc xuống chiếc đầm sâu bên cạnh nhà, đóng cửa phòng mạch.



Ít lâu sau, ở một làng xa có một thanh niên đang đau khổ vì vợ chuyển bụng con so đã mấy ngày mà không sanh được. Anh ta chạy đến thầy một sáng tinh mơ, nhằm lúc thầy vừa ngủ dậy bước ra hè vén quần đái và ra lệnh cho con gái: Múc thau nước rửa mặt!



Đang khi bối rối, anh tưởng thầy nói với anh, liền quày quả vụt về, tức tốc làm theo(1). Màu nhiệm thay, người sản phụ nhờ nước lã vã vào mặt, như được tiếp sức, đã lâm bồn, mẹ tròn con vuông.



Anh thanh niên bèn mua con cá chép to, đến kể lại sự việc, tạ ân thầy. Người nhà mổ ruột con cá ra, thấy có chiếc chìa khóa, đem lên dâng thầy. Thầy kinh ngạc nhìn: chính chiếc chìa khóa kho thuốc mà thầy đã lia xuống hồ hai năm trước.



Trầm tư bên án thư, thầy lấy cây bút lông, viết hai câu thơ:



Vận khứ hoài sơn năng trí tử



Thời lai thanh thủy khả thôi sinh



Chúng ta chưa bao giờ là những người theo Định mệnh Chủ nghĩa. Nhưng chúng ta tin có số phận con người. Thời vận là gì nếu không là nỗi thăng trầm theo số phận? Thôi, xin mời anh đi tắm cho mát mẻ, ngủ một chút cho khỏe mà chờ anh Xung về cùng dùng cơm. Trong khi đó, tôi chấm nốt mấy bài thi.



Bình ngả người trên bộ salon bằng gỗ bằng lăng kiểu ăn chắc mặc bền của anh Bảy, chỉ chốc lát đã thiu thiu ngủ. Chàng uể oải đọc những bài nghị luận dày cộm của các học sinh tú tài, với đầu đề: Bình luận thơ Cao Bá Quát:



Trói chân kỳ, ký tra vào rọ



Rút ruột tang bồng trả nợ cơm mà tâm trí như vẫn để đâu đâu. Phải rồi, mới năm ngoái, quê chàng trải qua những biến động lớn. Trước nhất là cái chết của đại úy Phó tỉnh trưởng an ninh Hà Quốc Ân, một người được mô tả là trong sạch, bị bắn tỉa trên đường từ Ba Tơ về. Người vợ trẻ của ông tất tưởi dắt đứa con nhỏ từ Sài Gòn ra. Nghe nói gia tài của ông, ngoài bộ bà ba đen và bộ quân phục tươm tất trong ba lô, chỉ còn một tập nhật kí viết dở, kể chuyện hành quân, cảnh Ba Tơ non xanh nước biếc, thỉnh thoảng xen vào những câu Kiều thương cha nhớ mẹ, nét chữ thật nắn nót. Cũng có đoạn ông nhắc lại từng chi tiết nhỏ những kỉ niệm đẹp đẽ của mối tình đầu, ghi chép vào lúc quá nửa đêm bên khói thuốc, trong đó ông tự hỏi mình đang hành động như thế để làm gì, đi lính và chết cho ai?



Chàng tự thấy thương cảm mọi người, bắt đầu từ vợ mình, cô gái quê nhà nghèo, đến những đứa con chàng còn quá bé để biết rằng cha chúng phải bán cháo phổi hàng ngày, thương cảm anh Sáu mau nước mắt khi nhớ tới Nhất Linh, và thương cảm những bầu bạn, Bình, Lâu, và Hà Quốc Ân và bao đồng bào còn dầm chân trong bùn đất quê hương. Còn anh Mười Nha nữa, đi Bắc từ 1948 mịt mù trong lửa khói? Bây giờ đi đâu, về đâu? Hỡi cô hàng xóm tay dắt con, áo phất phơ chiều gió. Cô hàng xóm ma quái của thân phận nhược tiểu?



Chuyện thứ hai là tàu bay rớt ở Quảng Ngãi. Có cái chết tang ma linh đình của Tổng trưởng Nguyễn Tất Ứng để Nguyễn Chánh Thi có dịp bộc lộ tất cả thô lỗ võ biền của một anh gốc lính tẩy thì cũng có cái chết của một thằng cháu bên vợ chàng, người duy nhất của bao thế hệ trải mấy trăm năm di cư vào thung lũng Vạn Xuân đã đỗ được cái tú tài.



Nó vô Sài Gòn để lên đại học, một vinh dự lớn lao. Vậy mà trong chuyến lai kinh của giấc mơ khoa danh đó, cũng tử nạn phi cơ. Cha mẹ nó, anh em nó, cháu kêu nó bằng chú ruột đã khóc hết nước mắt, chôn nó như chôn cả niềm hi vọng và tương lai của một dòng họ. Nhưng sự đời đã xảy ra không ai ngờ. Món tiền mấy chục ngàn đô của AirVietnam bảo hiểm nhân mạng đã giúp anh nó mua được xe khách chạy đường Quảng Ngãi – Tam Kỳ. Chỉ một năm sau tai biến, cái gia đình từng khóc than cho bất hạnh của mình đó, đã xây được nhà, sắm radio và Mobillette. Yên tri vi phúc, yên tri vi họa, biết sao là may, biết sao là rủi. Cái chết của một người mang lại no đủ cho cả nhà, khắc nghiệt và cay đắng làm sao với những bữa giỗ nó mâm cao cỗ đầy.



Chàng xếp xấp bài thi lại và ngủ gục bên bàn viết. Mỉa mai thay, lại chính Bình kêu chàng dậy ăn trưa, nói đùa với vợ chàng:



Thím nó coi chừng đấy, chàng ta mê mệt cô nào mà thiếp đi rồi.



Chàng vẫn làm việc cực lực nhằm có tiền đầy đủ cho mấy đứa con: thằng Văn mới năm cuối tiểu học đã ghi tên cùng lúc vào hai khóa Anh văn ở Hội Việt Mỹ, Pháp văn tại Trung tâm Văn hóa Pháp. Cũng phải kể tới món chi tiêu mỗi tuần vài lần gần như thành thói quen với Thanh Quan, người khi trên chiếc Honda đen 67 mới mua của chàng, khi nàng chở chàng trên chiếc Vélo Solex nhỏ bé của mình. Họ dạo chơi khắp hang cùng ngõ hẻm của cái Hòn ngọc Viễn Đông mà mới non một năm trước, với chàng còn vô cùng xa lạ: phở 79 Nguyễn Trãi và cơm gà Hải Nam, cơm tấm Thuận Kiều, bánh xèo Tân Định. Từ một anh giáo hò lơ thời kháng chiến tới vị giáo sư cử nhân chân chỉ hạt bột, chàng đã biết tới mùi vị mê mẩn một cuộc tình táo bạo của cô gái tân học đợt sóng mới và đã dám bỏ chút tiền mồ hôi nước mắt của mình cho những món ăn tuy bình dân nhưng trước đây từng bị chàng lên án là xa xỉ. Có những chiều họ đưa nhau lên con đò nhỏ qua Thủ Thiêm, men theo con lộ còn mịt mù bụi đỏ chạy ven lạch An Khánh, dưới bóng những cây dừa êm đềm thả tóc soi bóng xuống dòng nước lười biếng không buồn trôi để thấy thời gian đã rộng lượng ngừng lại cho riêng họ. Họ đưa tay chỉ vầng trăng mười sáu vừa rựng lên khỏi chân trời, áp chặt lồng ngực cho hai chiếc bóng chập làm một, hôn nhau mê đắm, thề non hẹn biển.



Một hôm, chàng mang theo máy hình, cùng người tình đi Hóc Môn. Họ đến vùng nghĩa địa Quang Trung, nơi đây cơ man là người đã chết đang nằm yên trong lòng đất. Bấy giờ mặt trời sắp lặn. Nàng phát hiện thấy một con mèo hoang đang ngủ trên một bia mộ đá màu trắng mốc, giữa bao nhiêu là hoa trinh nữ lá bắt đầu ủ ê. Ánh nắng yếu ớt cuối cùng của ngày càng làm cho phong cảnh cực kì rực rỡ, sự rực rỡ của cái chết. Nàng rỉ vào tai chàng thì thầm: Anh! Hãy ghi giùm em, em với con mèo hoang trên nghĩa địa. Ước gì được cùng anh trong giấc ngủ vĩnh cửu như vậy.



Sa ngã vào vòng tình lụy, nhưng đặc biệt chàng không bao giờ xao lãng công tác. Đại đức Huyền Diệu đã sang Anh quốc du học. May mắn thay, Thượng tọa Pháp Lan, một người chủ trương trung lập thân Cộng đã thay thế chức vụ Vụ trưởng các Hội đoàn Phật tử. Thế là chàng được mời làm Tổng thư ký. Ban đầu những tưởng chỉ tạm thời phụ tá thời gian ngắn thôi, nào ngờ Karma đã dẫn dắt chàng vào nghiệp này mãi đến sau giải phóng: mười năm, mười năm ấy đá tan rừng biển động. Chàng tổ chức lại các đoàn thể Phật tử từ xích lô, taxi, tới phụ nữ ba mươi sáu chợ Đô thành, Đông y, Ngân hàng. Đặc biệt, đoàn Văn nghệ sĩ Phật tử mà chính chàng là thành viên đắc lực và Tổng đoàn Giáo chức Phật tử với những tên tuổi danh tiếng như Trần Thị Tỵ (Hiệu trưởng Gia Long), cựu Tổng trưởng Giáo sư Trần Ngọc Ninh, Trương Văn Chôm mà anh em buộc chàng phải đích thân kiêm làm chủ tịch. Tập hợp lao động để có lực lượng đi biểu tình và trí thức văn nghệ để lên mặt báo thì công cuộc chống chiến tranh của quân phiệt tay sai mới hòng kết quả. Chàng nghĩ vậy.



Nhiều đêm, trăn trở vì cuộc tình với cô gái trẻ, chàng xót xa cho mình và cho nàng. Nàng có học, biết chia sẻ với mình những tư duy về đời sống, tiếc sao lại không gặp nhau thuở trai chưa vợ gái chưa chồng? Cái ông Trời hay ông Karma này oái oăm quá. Ngồi một mình, chàng thừ người ra nhớ nhung như cậu thanh niên mười tám trong mối tình đầu, một Kim Trọng bây giờ rõ mặt đôi ta, biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao, chàng viết vào nhật ký, sau một lần truy hoan trở về, bánh xe Honda của chàng đã cắt đứt một vạt áo dài màu xanh hi vọng của nàng:



Em đi, khói bụi đô thành



Mênh mông thương nhớ không đành về đâu



Chiều nay khói tỏa bụi mù



Con đò sớm thác, biết đâu đợi chờ



Người yêu trong cõi mộng mơ



Đời chia đôi ngả thì chờ kiếp sau



Ân tình rồi giã biệt nhau



Trắng trang nhật ký, nát nhàu tờ thư?



Thuốc thời gian, nghiệp đổi dời



Nát màu áo cũ nhớ người ngày xưa



Người xưa rồi cũng xưa thôi



Mộ người lá chết lặng rơi ngập lòng.



Ngày hôm sau, không dằn được đau khổ dối trá, chàng đến trường Hồ Ngọc Cẩn tìm nàng và đưa mảnh giấy nhỏ, vẽ rõ con đường vào cái tiểu gia đình đang êm ấm của mình: đầu hẻm Hàng Keo, Gia Định theo mũi tên ngoằn ngoèo vào tận cổng chùa Tàu Huê Nghiêm, ngôi nhà tole gác gỗ mang số 187/1B Trần Kế Xương.



Ngày nọ, ông bác sĩ Hoàng Bá từ Phan Thiết vào thăm chàng. Ông nói:



Có một vị linh mục mới từ Pháp về, un prêtre ouvrier – bác sĩ chêm tiếng Tây – tôi có giới thiệu anh với ổng. Ổng nói bữa nào anh rảnh qua ổng ăn cơm chơi. Anh định ngày đi, tôi chỉ còn ở đây vài hôm.



Chàng mừng quá: – Năm giờ chiều mai được không?



Ông Bá rất toại lòng, cười rổn rảng:



– D'accord. Moa chỉ muốn cho Les grands esprits se rencontrent thôi.



Chàng đùa: – Ai chớ tôi thì chỉ là tiểu nhân vì chỉ cao một mét năm chín, không người nhỏ là gì.



– Toa lúc nào cũng tự châm biếm mình.- Ông quay đi, với lòng hạnh phúc vô biên.



Ôi cái con người tốt bụng làm sao. Hôm sau chàng cho học trò nghỉ tiết học chót, về sớm một chút tắm rửa, tính lấy xe Honda phóng lên Cầu Sơn thì thấy có bác xích lô quần áo bà ba đen, nón lá cời đã rách đang đứng trước cửa. Bác thi lễ hỏi:



– Đây có phải là nhà giáo sư H. không? Chàng đáp: Phải.



Bác nói: – Chiều nay cha Bích mời giáo sư ăn cơm, tôi tới đón đây. Chàng khoát tay:  Anh về làm ơn thưa giùm cha là tôi tự túc tới bằng Honda. Cảm ơn anh.



Chạy lên Bình Hòa, chàng vào hẻm 520 loay hoay một hồi mới tìm ra nhà. Ngồi chờ trên bộ salon gỗ tạp, chàng giết thì giờ bằng cách ngắm nghía bức tranh Tiệc ly treo trên vách. Tất cả những gì trong phòng hình như đều được chủ nhân tự tay làm lấy, chắc chắn, nhưng không giấu nổi vụng về, non tay nghề. Đây là cảnh Chúa dùng cơm với tùy tùng trước khi ra đi tuẫn nạn, một bữa cơm tử biệt, mỗi nét mặt một tâm tư. Bỗng nhiên chàng cũng cảm thấy mình rất gần với đạo Chúa. Ngài đã bị đóng đinh trên cây thập tự giá với ý nghĩa tuyệt mĩ cao thượng là cứu rỗi cho tội lỗi bẩm sinh của loài người. Hỡi loài người đầy ham muốn, trong số đó có chính chàng.



Mải mê nhìn ngắm chàng không để ý đến tiếng dép râu từ trong buồng ra đang đến gần: Chào giáo sư. Chàng giật mình quay lại, áo quần linh mục, nhưng khuôn mặt thì chính là người phu xe khi nãy. Biết ông khách của mình bối rối, cha giải thích:



– Chúng tôi là những cha thợ. Ban ngày đi làm đủ các nghề từ hốt rác, phụ hồ, xích lô, ba gác, khuân vác... tối đến mới bận áo chùng giảng đạo. Đến đón, giáo sư không chịu đi, tôi cũng vội về tự lo cơm nước rồi tắm rửa tiếp khách quý, xin lỗi đã để giáo sư đợi hơi lâu.



Chàng hơi áy náy về từ khách quý mà cha chỉ mình, nhưng không để chàng kịp nhép miệng trả lời, cha nói thêm:



Bác sĩ Bá vừa cáo lỗi phải về Phan Thiết có việc gấp. Vậy là chỉ còn tôi với giáo sư, chúng ta... song thực.



Chàng tự thấy dù không có nhân vật trung gian giới thiệu nhưng không khí đã thông cảm thoải mái từ đầu. Chàng cười:



– Cha học ở Pháp lâu năm mà cũng còn nhớ danh từ Hán Việt thế kia à? Xin cha gọi tôi bằng anh cho thân mật.



Họ đàm đạo với nhau về sự tàn phá của cuộc chiến. Cha cho biết những linh mục tiến bộ không tán thành quan điểm chống Cộng cực đoan của cha Hoàng Quỳnh và ông Nguyễn Gia Hiến, Chủ tịch Lực lượng đoàn kết.



Bữa cơm thật đơn giản, chỉ có thịt lợn ba rọi xắt mỏng, hai quả trứng tráng, tô canh chua cá lóc và dĩa rau xà lách, nhưng bụng đói và chủ khách tâm đầu ý hiệp, nên chàng thấy ngon miệng vô cùng. Chàng thầm nghĩ ông cha di cư này đã Nam kỳ hóa rồi, ít nhất là về phương diện ẩm thực.



Vừa gắp bỏ thức ăn cho chàng một cách thật lễ nghĩa kiểu Bắc kỳ, cha nói:



– Giáo hội Thiên Chúa trước tiên là giáo hội của người nghèo. Đấng Cứu thế đã đến, chịu chết trên cây thập giá vì cớ tội lỗi và bất công của thế gian.



Theo Kinh Thánh, trước sau Chúa chỉ vào đền có mấy lần. Lần nọ, Chúa cầm một cành tre đi vào thì trong đền đã đầy nghịt những quan quyền và các thầy tư tế. Chúa phán: – Chỗ của các ông không phải ở đây. Trí thức Việt Nam và những người Phật tử như các anh nên nghĩ rằng triều đình những người Công giáo giàu sang, thậm chí xa hoa phung phí và đầy thế lực, thật khác xa với một giáo hội Thiên Chúa đích thực.



– Thưa cha chàng hỏiNhư vậy cha có thọ lệnh của Vatican không?



– Có. Theo đúng tinh thần của Cộng đồng hai. Nghĩa là hòa nhập vào đời sống thực tại, giúp đỡ và truyền bá thánh linh tới cho tất cả những nô lệ trên khắp thế gian, sinh ra là đã đầy tội lỗi này, tùy hoàn cảnh, tập tục, ngôn ngữ của mỗi nơi.



Chàng có cảm tưởng cha là một cán bộ Cộng sản đang hát bài Quốc tế ca. Do đó, cha tiếp: Những prêtre ouvrier như chúng tôi sống bằng mồ hôi lao động của chính mình.



Câu chuyện tới đó đủ cho hai bên hiểu nhau. Cha cho biết: Nhà này có bảy, tám linh mục, phần lớn tốt nghiệp tiến sĩ ở Sorbonne về, kẻ trước người sau, nhưng gọi nhau bằng anh em, ai lớn tuổi hơn là anh, anh Hai, anh Ba... tôi là anh Năm. Lâu lâu, lại có một người mới về gia nhập nên nếu gọi theo thứ tự thì mấy vị trẻ thỉnh thoảng lại bị xáo trộn, buồn cười. Chuyện vãn tới khuya, chàng ra về, dưới một bầu trời sao lấp lánh. Chàng lẩm nhẩm đọc một câu của Socrate để tự khuyến khích mình: Au dessus de moi, le ciel étoilé. Au de dans de moi, la conscience humaine.



Phụ trách mục Vườn thơ trên tạp chí An Lạc, chàng bắc một nhịp cầu với những bạn đọc trẻ, có học, phần lớn là Phật tử khắp miền Nam. Họ liên tục gửi những sáng tác mới nhất, đắc ý nhất của mình cho chàng. Chàng dành nhiều đêm trắng để sống với tâm hồn họ, phát hiện ra những kẻ mang mểnh một tình tự dân tộc, một tình yêu đối với quê hương. Tuyển lựa và cho đăng trên mặt báo những bài thơ kèm lời bình ngắn nhằm tạo sẵn một không khí, khi buồn bã dịu dàng, khi tươi vui lạc quan để độc giả cùng cảm thông, rung cảm với những trăn trở, hi vọng và niềm yêu thương của người viết, chàng đã giúp số ấn hành tăng dần hàng tháng và hình thành một mối giao lưu đặc biệt âm thầm nhưng đậm đà với một số trí thức miệt tỉnh rải rác các thị xã và thành phố, từ ven biển tới tận núi rừng, từ Bến Hải đến Cà Mau. Có những bài thơ tuổi học trò đã làm chàng thực sự cảm động. Như mấy câu sau đây của một nữ sinh đệ ngũ (lớp 8) trường Đồng Khánh, Huế năm 1966:



Tôi bảo tôi hoài mà tôi chẳng nhớ



Đừng đi chơi khuya, về ngủ rồi buồn



Đừng ham bạn bè, mai sau khổ sở



Đừng ra công viên thấy mình cô đơn.



Hoặc như của Phan Trần, một nhà thơ trẻ ở Phan Thiết:



Tôi ru người, ru người không thôi



Này bước hoang sơ, buổi mới vào đời



Này giọt mồ hôi, anh em khốn khổ



Tay che ngang mày, tuổi đã già nua.



Một tối chàng đang ngồi chấm bài thì thằng Văn vào báo là có một nhà sư tới thăm. Chàng bỏ bút, bận áo quần tề chỉnh ra tiếp. Trời đã khuya mà nhà sư còn mang kính đen, gọng to bản như Bảo Đại ngày xưa, đầu chụp mũ ni, y quan nâu sòng nghiêm túc. Nhìn một chặp, chàng ồ lên kinh ngạc:



– Ôi... bác Xuân.



Phải, đó chính là người bạn của chàng, Thượng sĩ Quân bưu Nguyễn Duy Xuân, Phật tử, người chỉ huy Binh đoàn Tự nguyện từ Quảng Ngãi ra Đà Nẵng chống Chính phủ năm ngoái 1965. Nhà sư bỏ kiếng, mũ lộ nguyên hình đôi mắt sáng và chiếc đầu tóc cạo nhẵn mới lên lún phún.



Chàng hỏi ngay: – Quảng Ngãi ra sao? Sao phải cải trang thế này?



Xuân đáp: – Thua rồi, chạy hết. Phe Thiệu – Kỳ và Quốc dân đảng đang truy lùng cánh Phật tử đấu tranh, tôi vừa từ Đà Nẵng trốn vào đây.



Chàng vừa quay lại dặn vợ, vừa nhìn Xuân: – Cơm nước gì chưa? Mình dọn gấp cho bác cái gì lót dạ đi.



Xuân xua tay: – Cảm ơn thầy cô, khỏi. Tôi ở chùa Ấn Quang, ngay trong phòng thầy Trí Quang, ăn uống no đủ rồi mới xuống đây.



Xuân năm ấy ngoài bốn mươi, đi lính ngành Quân bưu từ thời Liên hiệp Pháp, sống lâu lên lão làng, bấy giờ đã mang lon thượng sĩ nhất, phụ trách phát thư từ cho đám nhà binh ở Quảng Ngãi. Anh chỉ đậu cỡ tiểu học, người Cổ Anh, chắc cha chú hồi xưa có quan hệ với Quốc dân đảng nên sau đảo chính Diệm hay đi lại với anh Sáu. Người anh ta cao lớn, miệng hô, trán thật ngang ngạnh, có hai con, đều học với chàng ở Trường Trần Quốc Tuấn nên gọi chàng bằng thầy.



Ngược lại, chàng theo lối Bắc kỳ của anh ta mà gọi: bác Xuân. Trong người Xuân, chất Phật giáo nhiều hơn hẳn chất Quốc dân đảng. Anh ít học nhưng rất thông minh, rất có uy tín trong hàng ngũ lính tráng theo đạo Phật bấy giờ ở cái thị xã bé nhỏ đó. Hồi còn ở Quảng Ngãi, mỗi lần chàng đến chơi, Xuân có thói quen rót nước trà liền tù tì. Ai nể lòng chủ nhân, không để chén không, thì bao giờ cũng phình bụng khi ra về. Chàng hỏi Xuân: Cớ sự ra sao, bác hãy kể cho nghe nào.



Xuân xoa xoa cái đầu trọc lóc lạ lẫm của mình:



– Binh đoàn Trần Hưng Đạo của đám quân nhân và gia đình Phật tử chúng tôi, chỉ một tiếng hô đã có ngay dưới cờ ba ngàn người. Binh lính thì mang theo vũ khí đã được trang bị sẵn: lựu đạn, súng trường, liên thanh. Còn thanh niên gia đình Phật tử thì gậy gộc, giáo mác.



Lại châm trà vào chén của bác, theo đúng kiểu truyền thống của anh ta, chàng bình phẩm: – Chắc là ô hợp lắm.



– Hẳn đi rồi. Được cái thằng trung úy Chóng làm Tư lệnh binh đoàn, còn tôi, Tham mưu trưởng. Tụi tôi quân phục tề chỉnh, gia đình Phật tử thì soóc xanh, sơ mi dết lam có cầu vai, đám mặc xơvin thì áo quần bát nháo, hò hét trên quốc lộ, bằng đủ thứ xe cộ, xe Jeep, xe nhà binh, xe hàng, Lambetta ba bánh, xe gắn máy... vừa đi vừa hát bài Phật giáo Việt Nam thống nhất Bắc, Nam, Trung từ nay... như đi ăn cỗ.



Chàng ngạc nhiên hỏi:



– Tôi nhớ bên kia cầu Tam Kỳ có một thiết đoàn xe tăng đóng, làm sao qua được?



Xuân cười khoái chí:



Ấy, mới ló cái tài dùng mưu của tôi ra chứ? Tôi chỉ có ba cánh gà[2] thôi, mà tham mưu cho cả một binh đoàn.



Chàng nôn nóng: Bác làm sao?



– Gần đến cầu, tôi xuống xe, đi bộ tiến lên phía trước. Quân Chính phủ có chín xe thiết giáp án ngữ đầu cầu phía Bắc. Nếu khinh suất cứ tiến qua tất cả sẽ làm mồi cho hàng vài chục trung, đại liên trên đó tha hồ khạc lửa.



Tôi ra lệnh mọi người lùi lại khoảng năm chục bước chỉnh đốn hàng ngũ. Tôi dùng máy bộ đàm liên lạc với Thiếu tướng Hoàng Xuân Lãm, Tư lệnh Sư đoàn 2 đang đóng ở Quảng Nam. Biết ông ấy cũng người Phật giáo, cha là ông giáo Hoàng Xuân Thuần, hồi Pháp thuộc có tham gia Quốc dân đảng. Tôi trình với ông tướng là có một số nhỏ anh em quân đội Phật tử từ Quảng Ngãi ra có nguyện vọng muốn đạo đạt thiếu tướng.



Ông cũng tưởng tụi tôi chỉ có mấy người, bèn lệnh cho Chỉ huy trưởng thiết đoàn cho vài chục trong số anh em chúng tôi qua cầu. Tôi dặn kĩ anh em dừng lại bên này, theo dõi cuộc nói chuyện giữa tôi với đám thiết giáp. Khi tôi khoát tay, tất cả giữ nguyên hàng chạy ùa sang vừa hô Hoan hô thiết đoàn, ủng hộ chính nghĩa! Y kế thi hành.



Tôi mang theo vài chục lính bộ gan góc, mỗi người giấu lựu đạn tháo kíp sẵn trong ngực. Tôi đi trước, đến mỗi xe thiết giáp, tôi để lại hai người, áp sát vào cửa xe. Tôi nói với chỉ huy trưởng của họ:



– Chúng tôi là những quân nhân Phật tử cũng như anh em. Nay ông Thiệu – Kỳ độc tài quân phiệt, không chịu bầu cử và thẳng thắn thảo luận với bên kia để chấm dứt chiến tranh. Chúng tôi ra Đà Nẵng dâng lên các vị Tư lệnh Sư và Quân đoàn về nguyện vọng này. Chúng ta đều là những người bị bắt đi lính, không vì cớ gì mà chúng ta giết nhau. Anh em hãy để chúng tôi qua cầu. Bằng không, nếu anh em bắn chúng tôi, cảm tử sẽ tung lựu đạn tháo chốt sẵn, chúng ta sẽ chết hết. Nên nhớ, chúng ta đã được Tướng Tư lệnh Sư đoàn cho ra gặp nhau.



Thiết đoàn trưởng cũng người Phật giáo, trong bụng ngầm ủng hộ phong trào, thấy chẳng đặng đừng, đắn đo giây lâu. Tôi rút lựu đạn cá nhân ra cương quyết: – Thì chúng ta cùng hi sinh. Ông ta đành gật đầu. Thế là tôi vừa Hoan hô Thiếu tá Thiết đoàn trưởng vừa khoát tay cho anh em chạy ùa qua cầu. Quân đi như nước, cờ xí rợp trời, như binh Tào sang sông Xích Bích.



Cặp mắt Xuân sáng lên rực rỡ, tỏ rọi một quá khứ, mới đây thôi, thật hào hùng, đáng kiêu hãnh tự hào. Tiếc, nó như ánh sao đêm, xẹt một cái rồi tan biến ngay. Xuân thốt nhiên thở dài:



– Đám Đàm Quang Yêu và Nguyễn Văn Mẫn dở quá, bị Thiệu – Kỳ phỉnh theo cái sách của ông Diệm đối với Thi hồi 1960, hứa sẽ giải quyết trong tình huynh đệ chi binh, hạ khí giới tuốt, bị bắt nhốt hết. Trung úy Chóng và tôi kiên quyết chống tới cùng, anh ta đã tuẫn nạn, bao nhiêu người chết và bị thương, trong số có Lập, học trò của thầy, cùng lớp với thằng Phụng, con tôi.



Chàng giật mình. Lập người Quảng Nam, em ruột Nguyễn Ngọc Báu, bạn chàng, nay đang ở miền Bắc, tức nhà văn Nguyên Ngọc. Gia đình Nguyên Ngọc ở Cống Kiểu, có người chị là Quí đang mở hiệu may, rất thuần thành Phật tử. Lập học giỏi, tính tình rất tốt, lại khá Việt văn, chàng rất thương.



Xuân xắn tay áo rộng thầy chùa, giơ thẳng, cao lên: đang băng bột. Anh buồn rầu:



– Tui cũng bị bắt làm tù binh. Tôi dặn người thăm nuôi mang cho bộ áo đà(1), lựa lúc chạng vạng, khi các ni cô vào thăm tù binh ra về, tôi khoác bộ đồ này, giả làm một sư nữ cùng lẩn ra. Bám xe đò miễn phí từng chặng, bốn ngày mới vào tới Ấn Quang, thầy Trí Quang còn ngạc nhiên nữa là. Bây giờ đóng vai thị giả của thầy.



– Tôi xuống đây cho thầy hay. Có ai người tin cẩn về Quảng Ngãi, thầy nhắn giùm với nhà tôi là tôi còn sống. Kẻo bả ngỡ tôi đã chết trong đám loạn quân mà làm ma, cúng giỗ tội nghiệp.



Có Xuân ở Ấn Quang, chàng lại càng hay đến chơi, kết cả mối thâm tình với thầy Thiện Hoa và Thiện Hòa, những vị mà về sau đã hết lòng cưu mang chàng trong công cuộc vận động hòa bình. Chính vợ chàng và hai đứa con trai đầu đã được thầy Thiện Hoa quy y cho và ban pháp danh: Diệu Dung, Minh Văn và Minh Hoa.



Gần Tết, lãnh được ít tiền dạy giờ phụ trội, chàng và Thanh Quan rủ nhau lên Chợ Lớn dạo chơi. Đây là địa bàn an toàn của họ, vì chỉ toàn người Tàu nói xí xô. Chàng ngại đụng hàng! Họ như đôi chim, ríu rít, nhanh nhẹn lách qua dòng chảy cuồn cuộn của đông đảo bao người. Nàng tặng chàng một chiếc găm cà vạt đính một mặt ngọc nhỏ hình quả tim xanh biếc hi vọng. Cảm thấy tràn trề hạnh phúc, dù ngay giữa chốn thị tứ ban ngày, chàng siết chặt vai nàng khiến cô gái bán hàng cũng nhìn theo mơ ước.



Chàng lựa một cội mai già lấm tấm nụ xanh trong chiếc chậu sứ cho căn phòng khách nhỏ nhắn, đơn giản nhà nàng, đặt ngay trước bàn thờ mẹ nàng, với bức chân dung một thiếu phụ mà khi quá cố chỉ ngoài ba mươi, dựa vào một tấm tranh thủy mặc vẽ một tảng núi lớn xanh thẫm mà từ đỉnh bạc trắng đổ xuống là một con suối hiền hòa như êm ả tuôn ra bất tận. Dưới cùng, nhà họa sĩ không chịu để tên tuổi đó đã trân trọng nắn nót, đề hai câu ca dao:



Công cha như núi Thái Sơn



Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.



 



(còn tiếp)



Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info









(1) Sài Gòn và Huế.





(1) Cô giáo lớp nhì đệ nhất Tiểu học thời Pháp của chàng.





[1] Luận ngữ: hữu bằng hữu tự viễn phương lai, bất duyệt lạc hồ.



 





(1) Tướng Tư lệnh vùng Một, năm 1965.





(1) Ngôi chợ lớn nhất ở Huế.





(1) Nghĩa là múc nước cho người sản phụ rửa mặt.





[2] Ba cánh gà: hình lon hạ sĩ quan thượng sĩ bấy giờ.



 





(1) Áo của tu sĩ Phật giáo.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trả giá - Triệu Xuân 23.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »