tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27711256
Tiểu thuyết
23.04.2015
Nguyễn Trần Thiết
Ông tướng tình báo và hai bà vợ


21. Hai Lâm ngày càng có địa vị cao, vững chắc tại Tổng nha An ninh quốc gia. Anh được viên tướng rất tin cậy. Không một ai nghi ngờ anh, theo dõi anh. Anh có rất nhiều bảo bối. Ngoài Cẩm Nhung anh còn may mắn là có con chó King. Hôm nhận con King do Nguyễn Cao Kỳ tặng, anh đâu ngờ con chó lại khôn đến như thế, giúp ích cho anh nhiều như thế. Nhờ có quyền, có tiền thuê mướn, anh gửi con King vào trường Quân Khuyển, nhờ những tên lính có kinh nghiệm nhất trong nghề nuôi dạy chó King. King được nhiều huấn luyện viên ưa thích vì nó quá tinh khôn. Sau ngày King "tốt nghiệp", giám đốc trường tặng anh "cái bút máy". Khi anh gài ở túi áo ngực và khi rút ra khỏi túi, "cái bút máy" không một ai ngờ đó là cái còi riêng để ra lệnh cho chó. Bé Nguyễn Thanh - bạn thân thiết của King - sử dụng rất thành thạo cái còi này. Chả hiểu ai là người đã sáng tạo ra cái còi chỉ phát ra loại âm thanh dành riêng cho đôi tai thính nhậy của chó. Khi bé Thanh dùng còi sai khiến chó, không một ai ở cạnh bé nghe được tiếng động lạ tai nào. Nhận lệnh, King sẽ đi sau chủ ba thước, đi ngang hàng với chủ về bên phải, nằm im tại chỗ hoặc nhảy chồm lên cắn ai đó mà chủ nó ra lệnh. Những nhân vật tai to mặt lớn của chế độ Sài Gòn đưa chó đến để thi tài với King song con nào cũng thua. Cách thi cũng rất đa dạng. Hai người chủ của hai con chó là trọng tài chính, có hai trọng tài phụ. Trọng tài phụ của con chó A cho con chó B ngửi cái khăn mùi xoa rồi sau đó mang mùi xoa đi bộ xa một ki-lô-mét rồi giấu trong chiếc hố đào sâu hai mươi cen-ti-mét và phủ đất kín lên trên. Khi hai trọng tài chính thả chó ra. Con chó nào tìm được mùi xoa và quay về trao cho chủ trước là thắng cuộc. Hai Lâm cho King đua tài không vì háo danh, muốn nhận giải thưởng mà vì muốn tô vẽ thêm những lời đồn đại nữa về con King và để anh mở rộng mối quan hệ với những kẻ quyền cao, chức trọng và để qua họ, anh thu được những tài liệu quý báu gửi về Trung tâm.



 



Còn nhớ một lần anh đang dạo phố với bé Thanh cùng chó King chợt bắt gặp một phụ nữ người Âu trạc 20 tuổi đang dắt theo một con chó cảnh. Cô này là người nước nào? Nếu cô là nhân viên sứ quán nước mà ta đang cần theo dõi thì phải làm quen với cô. Làm quen bằng cách nào? Xui bé Thanh chào khách lạ bằng tiếng Anh mới học truyền miệng ư? Hay anh đường đột đến chìa bàn tay trước mặt cô gái, tự giới thiệu tên, họ? Không ổn. Cần phải sử dụng King. Anh rút "bút máy" đưa lên miệng. Con King chồm tới con chó cảnh. Cô gái sợ tai họa đến với con chó yêu đã hét toáng lên. Con King được lệnh dừng lại. Hai Lâm đến bên cô gái:



 



- Xin lỗi cô, cháu bé con tôi đã đùa không đúng lúc.



 



Cô gái dùng tiếng Anh trả lời:



 



- Con Lu Lu của tôi đã được bảo hiểm ba ngàn đô – Chó của ông hung dữ quá!



 



Hai Lâm lại gần con Lu Lu. Anh ngắm con chó. Cho đến hôm nay, anh đã là dân chơi có hạng, anh phân biệt rất sành sỏi đặc điểm từng giống chó. Anh khen:



 



- Cô có con chó nòi Bắc Kinh đẹp tuyệt vời.



 



- Ông nhầm rồi. Đây là chó Nhật.



 



- Thưa cô, chó Nhật nhỏ hơn, lông trắng như tuyết nhưng không sánh nổi con Lu Lu. Con này thuần chủng, không lai tạp. Triều đình Mãn Thanh giữ độc quyền cho gia đình hoàng tộc mới được nuôi loại chó này.



 



Để gây tín nhiệm với người cần làm quen, Hai Lâm thuyết trình:



 



- Đây là loài chó trong nhiều thế kỷ chỉ sống trong triều của hoàng đế Trung Hoa và trong các vườn ngự uyển ở Bắc Kinh. Người ta không cho phép đưa chó ra khỏi nơi thâm cung ấy. Chỉ có ai có họ với Hoàng đế Trung Hoa mới có quyền nuôi chó Bắc Kinh. Đối với những người khác nếu nuôi chó Bắc Kinh sẽ bị kết án tử hình.



 



Chó Bắc Kinh được đưa vào nước Anh lần đầu tiên vào năm 1896. Lúc ấy 5 con chó đã được cứu thoát sau khi người Âu chiếm hoàng cung. Vào lúc mà theo lệnh của Từ hi Thái Hậu phải giết hết giống chó Bắc Kinh không để một con chó nào rơi vào tay người Anh. Năm con chó này đã đặt nền móng cho việc nuôi chó Bắc Kinh ở châu Âu. Thật hiếm có loài chó nào có thể tự hào về lịch sử lâu dài và vinh quang chừng ấy về dòng dõi như chó Bắc Kinh. Ngoại hình: nhỏ, linh lợi, bộ lông dày, thể trạng khỏe và lùn một cách kỳ dị. Hình dạng và cứ chỉ kỳ dị của nó, trí thông minh, dũng cảm và lòng trung thành của nó trong thời gian ngắn nhất đã chiếm cảm tình của tất cả những ai có dịp tiếp xúc với nó.



 



Cô gái xúc động, sung sướng thổ lộ:



 



- Tôi không thể nói dối ông được, ba tôi mua tặng tôi nhân dịp tôi vào đại học. Phái nữ chúng tôi thích chó cảnh hơn chó béc-giê.



 



- Thưa cô, King là con chó rất hiền, rất ngoan, cháu Thanh sẽ sai con King biểu diễn cho cô xem.



 



Cô gái trợn tròn mắt trước vẻ tinh khôn xuất chúng của con King. Con chó cảnh của cô chỉ có vẻ đẹp bề ngoài do cô nuôi dưỡng, dậy dỗ nên không dễ sai bảo như con King đã tốt nghiệp đoạt giải nhất của trường Quân Khuyển. Cô gái ngạc nhiên về "cái bút máy" do bé Thanh sử dụng. Cô quên hẳn nỗi sợ hãi ban đầu, thích thú về vẻ ngộ nghĩnh của cậu bé sáu tuổi và mê mẩn trước trò tinh khôn của con King nên trò chuyện với Hai Lâm hết sức cởi mở, thân tình. Cô đề nghị được xem "cái bút". Trước khi trao bửu bối cho người lạ, bé Thanh gọi con King đến gần, ra lệnh cho nó nằm im, không được nhúc nhích dưới chân mình. Con chó cảnh ngơ ngác. Tội thân con chó. Nó có được dậy dỗ đâu nên không sao hiểu hiệu lệnh từ cái còi phát ra. Cô gái đành trả còi cho Thanh. Bé Nguyễn Thanh - bạn thân thiết của King - sứ dụng rất thành thạo cái còi này. Khi bé Nguyễn Thanh dùng còn sai khiến chó không một tiếng động lạ tai nào. Nhận lệnh, King đi sau chủ ba bước, đi ngang hàng với chủ về phía bên phải, nằm im tại chỗ, rồi nhảy chồm lên.



 



Cô gái thích thú, vỗ tay, cười luôn miệng. Cô nghĩ ra nhiều ý yêu cầu King thực hiện, bé Thanh đều đáp ứng được. Hai Lâm đưa ra đề nghị:



 



- Nếu cô không phản đối, xin mời cô ghé khách sạn nào mà cô ưa thích. Cháu Thanh sẽ biểu diễn tiết mục "King dự tiệc chiêu đãi" để cô thưởng thức.



 



Con gái viên đại sứ nhận lời không phải vì bữa tiệc mà vì tiết mục hấp dẫn của King. King nem nép chui vào gầm ghế. Cô gái bê cả đĩa bít tết thơm phức đặt trước mặt King. King ngoảnh mặt đi làm ngơ. Cô đãi con chó chiếc đùi gà rán. King không để ý tới. Cô gái đưa mắt cho bé Thanh. Thanh ra lệnh. King nhẩy lên chiếc ghế cạnh chủ, ngồi chồm hỗm. Chỉ khi có ý kiến của chủ, King mới thực sự vào cuộc. King ngốn gọn mọi đĩa thức ăn được khách lạ "mời".



Sau lần gặp thứ tư, cô gái nài nỉ:



- Tôi kể chuyện King cho ba má nghe. Các cụ rất thích. Chủ nhật này mời anh và bé Thanh đến nhà tôi chơi.



 



- King không được mời à thưa cô?



 



Con gái viên đại sứ cười:



 



- Em đang phân vân vì chưa chọn được bạn cho King. Ba em định mời tướng Nguyễn Cao Kỳ và con Waking.



 



Không muốn Nguyễn Cao Kỳ biết chuyện anh đi cửa sau lọt vào tư dinh viên đại sứ nên anh gạt đi:



 



- Waking không được huấn luyện ở trường Quân Khuyển. Nếu thấy Waking thua kém King, tướng Nguyễn Cao Kỳ sẽ phật ý.



 



Sau lần gặp gỡ, mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình viên đại sứ cùng ngài chuyên viên ở Tổng nha An ninh quốc gia càng thêm khăng khít. Cho đến hôm nay, Hai Lâm không tài nào nhớ nổi là mình đã thu thập được bao nhiêu tin tức vô giá từ miệng viên đại sứ thốt ra và bao nhiêu tài liệu mật mà cô con gái của gia đình này đã cho anh mượn. Con King đã góp phần đắc lực trong chiến công tình báo của anh. Anh biết sử dụng King thế mà anh để phòng ảnh của anh có nhiều sơ suất quá. Cẩm Nhung đã giúp anh thiết kế lại và từ ngày có Cẩm Nhung không vào phòng ảnh của anh trên gác. Anh không giấu giếm các bạn đồng nghiệp thú chơi ảnh của mình, thậm chí, theo lời khuyên của vợ, anh còn mời họ xem buồng tối, cùng với anh tráng phim, in ảnh, phóng những tấm ảnh chụp khi đi nghỉ mát ở Vũng Tàu, Đà Lạt. Tuy tên của anh chưa nằm trong sổ đen, không hề bị mật vụ nghi ngờ theo dõi, song Hai Lâm vẫn cảnh giác đề phòng ở mức độ cao nhất. Trong phòng ảnh, anh để chiếc cát-sét nhỏ không phải vì thói quen thích nghe nhạc trong khi làm việc mà là anh tạo ra loại tiếng động át hẳn tiếng lên phim, tiếng bấm máy, nếu có kẻ nào đó chủ tâm để máy ghi âm trong phòng. Anh cũng tạo nên chỗ giấu phim, cất tài liệu kín đáo, nhanh chóng. Mồi lần làm việc, anh độc quyền chiếm giữ King. Con King tinh khôn nằm đúng vị trí ở ngoài cửa và ngay lập tức báo cho chủ khi có khách đến nhà, trước khi những người này bấm chuông gọi cửa.



 



Một đêm tối trời vào lúc 23 giờ, anh đang chụp ảnh thì con King cắn quần chủ nhà ra hiệu anh đi theo nó. Con chó rón rén dẫn đường. Anh bí mật bám theo sau quan sát. Anh đã nhận ra bóng người trên sân thượng. Anh đưa "cái bút máy" lên miệng và chỉ trong nháy mắt, con King đã lao tới kẻ lạ mặt, đè nó xuống, há cái mõm to ngoạm ngay cổ kẻ gian.



 



Cẩm Nhung, anh bồi, chị vú, cô sen đều đã dậy. Tên gian mặt cắt không còn hạt máu, chắp tay xin Hai Lâm ra lệnh con King tha cho hắn. Anh lắc đầu. Phải xác minh xem kẻ đột nhập chính là kẻ trộm hay nó được phái đến để theo dõi anh. Anh chủ trương khuếch đại chuyện xảy ra. Anh cho bật đèn sáng trưng trên sân thượng rồi gọi điện thoại đến đồn cảnh sát:



 



- Tôi bắt quả tang một tên trộm đang tìm cách đột nhập vào nhà theo sân thượng.



 



- Phiền gia chủ giữ nguyên hiện trường, chúng tôi sẽ cử cảnh sát tới ngay.



 



Nghe tiếng ồn ào, những người hàng xóm đều thức giấc. Anh mở rộng cánh cổng mời khách quen và cả khách bộ hành lạ mặt vào nhà. Trông thấy cảnh lạ, người nọ chạy về gọi người kia đến xem con King bắt trộm, khoái trá hơn xem tiết mục xiếc hấp dẫn. Ở trên sân thượng, King to như con bê vẫn há to mồm, ngậm ngang cổ tên trộm. Khách tham quan đều lè lưỡi sợ hãi vì ai cũng đoán ra được cái cuống họng bị đứt ngay tức khắc nếu con King được lệnh chủ phải cắn thật sự.



 



Xe cảnh sát tới. Tên trung uý đội trưởng đề nghị:



 



- Xin ông ra lệnh cho con chó lui ra để chúng tôi làm phận sự.



 



Hai Lâm chưa vội làm việc đó. Anh kể:



 



- Tôi đang ngủ say. Con King chui vào màn, kéo áo tôi. Tôi ngạc nhiên quá. Từ ngày nuôi chó, chưa bao giờ nó dám đánh thức tôi vào lúc nửa đêm. Tôi choàng tỉnh. Nó đi trước dẫn đường. Thấy tên trộm này đang lom khom tìm cách lọt vào nhà, tôi ra lệnh cho con King xông tới.



 



Tên trung úy nhắc lại đề nghị:



 



- Xin ông bảo con chó tha cho nó. Chúng tôi mang theo còng số tám nên nó không chạy thoát nổi đâu.



 



Hai Lâm dẫn bé Thanh đến bên mình, nói để đề cao con King và để dọa mọi người:



 



- Con King rất hiền với người lương thiện và vô cùng dữ tợn trước kẻ gian. King rất dễ bảo, biết nghe lời. Thanh! Con bảo King tha cho nó.



 



Chỉ cần cái ngoắc tay của cậu bé sáu tuổi, con King đã đến bên cậu. Nó ngồi cạnh cậu, đầu nó cao hơn đầu cậu bé. Bé Thanh vuốt ve nó. Con King vui mừng ngoe nguẩy cái đuôi hình lưỡi kiếm. Tên trộm lén nhìn nó, lóp ngóp bò dậy và chả rõ vô tình hay cố ý đưa tay sờ cổ. Khán giả cười ồ như chế giễu, như thông cảm với kẻ vừa thoát nạn. Tên trung úy lấy lời khai của bị can rồi áp giải nó về bốt.



Sau chuyện này, "uy tín" của con King tăng vọt. Có đến bốn tờ báo ở Sài Gòn đăng tường thuật vụ: "Chó King bắt trộm", có kèm theo ảnh của tác giả Hai Lâm chụp lúc con chó đang ngoạm cổ tên gian. Với dòng máu tình báo của người cha đang chảy trong huyết quản, Cẩm Nhung lộ vẻ lo lắng:



 



- Anh nên bám vụ này để xác minh xem tên trộm đó có đúng là kẻ trộm thật không?



 



Cẩm Nhung rất có lý. Nếu kẻ gian chỉ vì của cải trong gia đình anh sẽ không đáng lo ngại bằng nó đến rình mò anh theo lệnh của ai đó, để theo dõi giờ giấc làm việc của anh, để đánh cắp những cuốn phim mà anh thường xuyên gửi chị Ba chuyển về trung tâm. Anh nói với vợ:



 



- Tuy nó là tên trộm thật nhưng nó đã giúp anh thêm cảnh giác. Nếu anh sơ hở để kẻ trộm cuỗm mất tài liệu mà khi lấy nó tưởng là vàng, bạc hay đồ nữ trang, sẽ rất nguy hiểm, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình ta.



 



- Cứ nghĩ đến việc em mất anh, bé Thanh và Cẩm Phượngmất cha, em sợ quá. Em chỉ khóc thầm cho vơi nỗi khổ!



 



- Tội nghiệp! Em an tâm đi. Anh đâu dễ phải xa em, xa các con.



 



Từ ngày đó, anh càng quý mến con King, đi đâu cũng đem theo con King và bé Thanh. King to quá rồi. Nó không thể ngồi chung một ghế với bé Thanh nên thường phải ngồi xuống sàn, thò đầu ra ngoài cửa. Người Sài Gòn chỉ con King, kể cho nhau nghe nhiều huyền thoại về lý lịch cũng như chiến tích của nó. Tuy vậy không một ai rõ về công của con King với chiến sĩ tình báo Hai Lâm. Không có King, anh không sao tìm ra chị Ba đang bán đồ nữ trang giả tại chợ nào. Thực ra, nếu anh ra lệnh cho King tìm chỗ ở của chị Ba, nó sẽ làm được việc đó, song anh tự biết mình phải dừng lại ở đâu.



 



Hai Lâm biết là bọn cảnh sát ngụy có hình thức truy cộng sản rất độc đáo. Đúng giờ đã định trước, chiếc xe GMC chở loại dây kẽm gai bùng nhùng đến điểm tập kết. Chỉ trong vòng 15 phút, cả một khu vực rộng lớn được quây kín bằng hàng rào kẽm gai và tất cả những ai ở trong cái vòng tròn đó đều bị kiểm tra, bị khám người, khám hành lý, xét giấy tờ. Chả hiểu vì sao chị Ba lại rơi vào cái vòng vây đó. Hai Lâm không thấy chị nhưng con King đã báo động cho anh và cháu Thanh nhìn thấy bác Ba trước anh, thoáng một giây phút phân vân vì không biết cứu chị Ba bằng cách nào? Anh có giấy đặc biệt của Tổng nha An ninh nên dễ dàng buộc bọn cảnh sát phải mở một cái cửa hàng rào kẽm gai để anh đi thoát, chả lẽ anh xuất trình giấy tờ này để xin với chúng bảo lãnh cho chị Ba. Không nên thế vì sẽ tạo ra một sơ hở để chúng nghi vấn. A, phải rồi, anh sẽ sử dụng con King. Anh đưa "bút máy" lên miệng. Con King nhảy xuống xe. Nó to và rất khỏe, đủ sức cõng bé Thanh trên lưng nên mọi con mắt đều đổ dồn về phía nó, kể cả những tên cảnh sát. Khán giả lại xầm xì về chuyện con King. King và bé Thanh đến gần chị Ba. Chị không đội theo thúng hàng mà đang xách cái giỏ nên anh lên giọng ông chủ quát con ở:



 



- Tại sao lại ở đây?



 



Chị Ba nhập vai kịch rất... mùi:



 



- Thưa cậu, con đang đi chợ thì bị kẹt ở đây.



 



Chị trao cái giỏ cho con King. King ngậm giỏ vào miệng đi về phía ô tô. Tên đại úy cảnh sát đã xem giấy ủy nhiệm của anh nên sai đàn em mở lối ra. Anh bỏ cháu Thanh cùng bác Ba ngồi ghế trước và mở cửa sau ra lệnh cho con King leo lên. Con chó ngồi chồm hổm, đầu cao đụng nóc ô tô, miệng ngậm giỏ "tài liệu Việt Cộng" đã lôi cuốn sự chú ý của mọi người nên không ai để ý tới "con ở" của anh nữa.



22. Thoa cởi áo xô, khăn tang gấp lại, định đặt lên bàn thờ mẹ nhưng không đủ chỗ, chị lại lấy xuống. Mẹ mất là một tổn thất vô cùng to lớn đối với chị, song nỗi đau lớn nhất mà chị đón nhận là những nghi vấn chính thức của tổ chức về chị, về chồng chị. Chị định làm đám ma trọng thể cho mẹ có vòng hoa, có nghi thức đọc điếu văn nhưng những điều đó không thể được. Tại sao? Chị cay đắng quá! Sự việc có lẽ bắt đầu từ ngày bé Hạnh trở lại nông trường. Đây đó những tiếng xì xào rộ lên, người này cho là Hạnh thiếu sức khoẻ, người khác đoán là hồ sơ chưa hoàn chỉnh nhưng không ít người khẳng định là cháu Hạnh không có tiêu chuẩn, làm sao dám bén mảng vào trường miền Nam. Chị không cải chính. Ngay cả việc chị có ở trong diện gia đình chính sách không, chị vẫn phân vân. Bà tổ trưởng trao cho chị ba mẫu kê khai, dặn:



 



- Chị điền vào những chỗ để trống này rồi trao lại cho tôi.



 



Chị lấy bút mực. Chị sẽ khai như thế nào?



 



Mục: Họ tên chồng, chị nắn nót viết ba từ Nguyễn Thanh Bình. Những mục tiếp theo như: Nhập ngũ ngày nào? Ở đâu? Đơn vị công tác trước khi vào chiến trường? Cấp bậc của chồng chị trước ngày đi B?



 



Chị đọc những đề mục tiếp theo. Chị dễ dàng điền vào chỗ bỏ trống nhưng rồi chị không dám hạ bút viết thêm chi tiết nào về chồng chị. Nếu chị không khai báo, chị sẽ không được hưởng chính sách "Có chồng đi B”. Đành vậy thôi. Chị không dám khai sự thật về anh. Chả nhẽ chị khai ngày đi B của anh trước khi Chính phủ ta về tiếp quản thủ đô? Ai chứng nhận điều này cho chị? Chị không có bất cứ giấy tờ nào để trình với chính quyền hoặc để trình bầy trước ai nghi ngờ chồng chị song đó không phải lý do cản trở chị. Chị thiếu gì cách để Đảng ủy nông trường Vân Lĩnh tin chị, kết luận chị là người ủng hộ cách mạng, chị không phải là vợ tên Việt gian, vợ tên gián điệp. Làm cách nào ư? Chị sẽ tìm anh Nguyễn Tạo và các đồng chí của chị ở Nha Công an Việt Nam cũ yêu cầu chứng nhận về anh. Chị sẽ gặp cô Tuyết Mai, cán bộ Cục Tình báo thuộc Bộ Quốc phòng, đưa cô đến gặp bí thư đảng ủy nông trường. Chị sẽ kể về nàng quận chúa Cẩm Nhung nào đó hiện đang là "tấm bình phong" của anh. Chị rùng mình. Tại sao chị lại định làm chuyện dại dột như thế? Không có ai hoạt động trong lòng địch và bằng mọi giá lo bảo đảm bí mật cho anh. Nếu chị để lộ tung tích về anh, anh sẽ phải trả giá bằng tính mạng mình, anh sẽ không làm tròn nhiệm vụ với Tổ quốc. 17 năm qua, tính từ ngày chị tiễn anh ở Thanh Hóa, chị đã nếm đủ mùi vị đắng cay không chút nề hà nào để bảo vệ anh, lẽ nào chị dại dột khai ra tất cả? Chị trả lại bà tổ trường những tờ giấy. Bà ngạc nhiên:



 



- Bố mấy đứa nhỏ không vào chiến đấu ở miền Nam à?



 



- Không ạ.



 



- Nếu vậy cô không ở trong diện "gia đình chính sách" nữa.



 



- Tùy các chị muốn hiểu sao cũng được...



 



- Ơ hay, cái cô này? Tôi không đặt điều nói xấu hoặc vu oan giá họa cho cô. Cô hiểu về chồng mình hơn chúng tôi, sao cô lại khoác tội lên đầu chúng tôi: "Tùy các chị?". Này, chỗ chị em, tôi hỏi thật: "Có phải cậu ấy theo địch không?”



 



- Em rất yêu anh ấy.



 



- Cô đừng đánh trống lảng. Tình yêu và lập trường giai cấp biết phân biệt bạn - thù - đó là hai khái niệm không thể song song tồn tại trong một con người.



 



Chị Thoa biết điều đó hơn ai hết. Điều khổ tâm nhất là chị không nói hết sự thật được. Chị phải cắn chặt răng, cố nén mình để không gào to trước những kẻ khinh rẻ chị: Các ông, các bà nhầm rồi. Chồng tôi là đảng viên cộng sản, là cán bộ tình báo đang hoạt động trong lòng địch. Tôi im lặng không phải tôi phản bội Tổ quốc mà chính vì tôi bảo vệ lợi ích cách mạng, vì an toàn của chồng tôi.



 



Tám tháng trước đây chị về Hà Nội. Chị Loan rủ "em dâu":



 



- Vở kịch Ni-na hay lắm. Chị mua vé rồi, em có đi với chị không?



 



- Em thích lắm, chị ạ!



 



Lần đầu tiên chị đặt chân vào Nhà hát Lớn. Màn mở. Chị quên hết vẻ choáng ngợp, quá ư hào nhoáng của nhà hát mà dưới quê thời thuộc Pháp, chị chỉ dám đứng từ xa chiêm ngưỡng và gần 14 năm (1954 - 1968) kể từ ngày Chính phủ ta về tiếp quản thủ đô. Chị gần như sống xa Hà Nội chả nghĩ đến thú vui giải trí. Chị hồi hộp theo dõi số phận nhân vật chính trên sân khấu. Ni-na là đoàn viên thanh niên cộng sản, là tình báo viên của Liên Xô lọt vào hàng ngũ địch làm thư ký kiêm thông ngôn cho tên tướng phát xít Đức ở ngay quê hương của cô. Mọi người đều phỉ nhổ cô, khinh miệt cô, lên án cô và không ít lần cô suýt bị các đồng chí của cô hạ sát. Từ em bé đến các cụ già đều gọi cô bằng đủ thứ tên xấu xa nhất: con điếm Ni-na; con Nga gian; con chó săn bỉ ổi, tên liếm gót giày cho giặc... Ni-na chịu đựng tất cả. Cô tuyệt đối tin vào lý tưởng của mình. Cô tự hào, hãnh diện trước những tài liệu hoặc mọi tin tức cô thu được qua viên tướng và bạn bè của hắn. Trung tâm luôn biểu dương, ca ngợi cô. Kẻ địch cũng nghi ngờ Ni-na. Chúng thử thách cô, buộc cô nhảy khỏa thân trước bọn đầu trâu, mặt ngựa và một tù binh Nga là người yêu của cô, Ni-na đã vượt lên tất cả, đã chiến thắng tất cả.



 



Ni-na chỉ đáng tuổi con chị, sao cô gan dạ, mưu trí, bình tĩnh và giỏi chịu đựng như thế? Ni-na là thần tượng của chị. Ni-na được hạnh phúc như chị? Chị có biết bao thuận lợi vì bố chồng và mẹ đẻ thông cảm với chị. Những người lên án chị chưa dám dùng những lời lẽ nặng nề với chị. Người ta chỉ xì xào, bàn tán, nghi ngờ chồng chị là Việt gian. Chị chịu đựng được, chị bỏ qua tất cả vì sứ mạng nặng nề của anh. Tuy vậy, chị nhớ rất rõ lần chị cãi lại bí thư đảng ủy nông trường. Chị vốn điềm đạm, chưa bao giờ to tiếng với ai, nhưng chị đã không chịu được khi nhận lệnh điều động về làm nhân viên trạm xá. Chị hỏi:



 



- Tại sao lại là em? Các anh luôn nói là em có kinh nghiệm nuôi dạy trẻ. Mười ba nhà trẻ do em phụ trách đều phát triển tốt.



 



- Trạm xá mới thành lập nên rất cần những người tích cực như cô...



 



- Anh đừng quanh co nữa. Sao anh không nói thẳng ra là các anh cách chức em, đuổi em ra khỏi nông trường bộ.



 



- Chính cô đã nói ra điều này.



 



- Vâng. Anh biết là em sống không độc thân. Em còn mẹ em và hai cháu. Mỗi lần di chuyển, em phải bỏ nhà cũ, lo chỗ ở mới. Em phải bỏ cả vườn rau, nương sắn. Anh nói thật với em đi, có phải không ai đến trạm xá thích hợp hơn em không? Các anh hạ lệnh điều động vì công tâm hay vì trù úm em.



 



Bí thư đảng ủy sẵng giọng:



 



- Chủ tịch nông trường và tôi đã quyết định. Không bàn bạc nữa, cuối tuần sau cô phải có mặt ở trạm xá.



Chị nhớ lời chị Loan đã kể. Đúng là chị bị đẩy khỏi cương vị lãnh đạo 13 nhà trẻ để về trạm xá. Chị sẽ nhận công tác gì? Mẹ an ủi chị:



 



- Một sự nhịn là chín sự lành. Cứ nghĩ đến an toàn của chồng con là ta bỏ qua được mọi nỗi bực dọc con ạ.



 



Bốn mẹ con, bà cháu rỡ nhà cũ và dựng lên túp lều mới ở gần trạm xá. Cuộc sống của gia đình chị chả có gì gọi là xáo trộn. Mẹ chị, các con chị và chị điều có phiếu thực phẩm, có sổ gạo.



 



Chị Thoa thực sự buồn vì việc được giao ở trạm xá. Chị chả rõ mình là thủ kho hay hộ lý. Mỗi nông trường viên vào nằm trạm xá đều phải tìm đến chị để mượn quần áo, chăn, màn, chậu, bát. Khi khỏi bệnh, họ trả lại mọi thứ cho chị. Chị lo giặt sạch, phơi khô. Ngày nào phải giặt quá nhiều, mẹ cùng phụ giúp chị. Công việc đơn giản song vô cùng nặng nhọc. Không một cán bộ lãnh đạo ở nông trường nào đặt chân tới nhà hoặc nơi làm việc của chị. Chị cũng chả đòi hỏi gì hơn. Ở trạm xá, chị yên thân hơn vì không ai quấy rầy, hạch sách và cái "tội” Việt gian cũng ít được nhắc tới. Chả ai cảnh giác đề phòng với một nhân viên quèn, chả có chút địa vị nào trong xã hội như chị.



 



Năm 1968, mẹ chị nằm xuống. Nghĩa tử là nghĩa tận, phải làm sao cho mẹ mát mặt nơi suối vàng. Mẹ chị không tham gia công tác, không phải là cán bộ nhà nước song cụ đã là dâu hiền, vợ thảo, mẹ đảm đang. Sau ngày bố chết, mẹ chị ở vậy gánh vác công việc nhà chồng, nuôi dạy ba con gái nên người. Chị cả Phạm Thị Ngọc cùng với chồng là công nhân nhà máy Ba Son, Sài Gòn. Chồng và con đầu chị theo cách mạng, bị địch bắt và kết án tử hình. Chị thứ hai Phạm Thị Túy cùng chồng là cán bộ nhà máy Giấy Nghệ An. Con gái đầu lòng của chị là đại biểu Quốc hội, được tuyên dương Anh hùng lao động và chị cũng công tác liên tục từ 1954 tới 1968. Làm cách nào nói lên được điều này trong đám tang của mẹ chị? Chị trực tiếp năn nỉ các đồng chí phụ trách nông trường:



 



- Anh làm ơn, làm phước giúp em. Anh đọc điếu văn cho mẹ em. Em và hai cháu Hạnh - Thanh sẽ suốt đời không quên ơn bác.



 



Ông Nguyễn Thắng trầm ngâm:



 



- Tôi sẽ bàn với anh Trọng về đề nghị của cô.



 



Tiễn chị về, chủ tịch nông trường hội ý riêng với bí thư đảng ủy và trạm xá trưởng về nguyện vọng của người con gái mất mẹ. Trạm xá trưởng phản đối gay gắt:



 



- Chúng ta cần giữ vững lập trường giai cấp, không nên hữu khuynh. Cô Thoa "có vấn đề", lãnh đạo khá rõ. Trong đám tang, cô ấy dự định để khăn tang của chồng sau linh cữu mẹ. Thằng cha đó là địch. Tôi đề nghị một nguyên tắc: nếu cô Thoa bỏ khăn tang của chồng, tôi sẽ cử trạm phó đọc điếu văn.



 



- Ý kiến anh Trọng thế nào?



 



- Tôi đang phân vân. Ta dựa vào cơ sở nào để tin những điều cô Thoa nói về hai bà chị ruột?



 



- Cô ấy đã khai trong lý lịch.



 



- Ai bảo đảm cô ấy khai đúng? Các anh biết gì về chồng cô Thoa. Cô ấy khai là chồng bị địch bắt nhưng trưởng phòng tổ chức nhà máy in Tiến Bộ viết trên giấy trắng, mực đen chứng nhận là chồng cô ấy theo địch. Chị Loan cũng khẳng định là chồng cô Thoa làm việc cho nhà binh Pháp. Cô Thoa biết rõ điều này vẫn cố ý để khăn tang chồng là khiêu khích chúng ta. Ý kiến của đồng chí trạm trưởng có thể chấp thuận được. Ai sẽ thảo nội dung, duyệt và đọc điếu văn, ta sẽ bàn sau.



 



Ông Nguyễn Thắng không dám phản bác ý kiến chỉ đạo sắc sảo của bí thư đảng ủy. Ông bàn:



 



- Anh Trọng nên gặp và trao đổi thẳng thắn với cô Thoa.



 



Trạm xá trưởng nhanh nhảu:



 



- Các anh giao việc này cho tôi.



 



Chủ tịch nông trường tỏ ra ái ngại. Với lối nói bỗ bã, mất mặn, mất nhạt; chỉ thiên về lý, không nghĩ đến tình sẽ khoét thêm nỗi đau cho gia đình có tang. Ông đề nghị:



 



- Cô Thoa đã công tác từ ngày đầu xây dựng nông trường, đã có công làm việc ở nông trường bộ nhiều năm nên tôi nghĩ là anh Trọng gặp sẽ tốt hơn.



 



Bí thư đảng ủy đắn đo giây lát. Ông không thể đá trái banh ngược lại về phía Chủ tịch nông trường. Ông cũng không có quyền trưng nhận xét của nhà máy in Tiến Bộ hoặc lời khai của chị Loan ra cho cô Thoa xem. Nếu không đưa dẫn chứng ra, làm sao ông khẳng định chồng cô Thoa là địch được. Ông bàn lùi:



 



- Việc đám tang mẹ cô Thoa nên chia làm hai bước. Bước 1: trạm trưởng gặp riêng cô nhân viên của mình. Nếu cô Thoa chấp nhận bỏ khăn tang của chồng sau linh cữu mẹ, ta sẽ chuyển sang bước hai. Lúc đó tôi trực tiếp gặp cô Thoa bàn về chương trình lễ tang và nội dung điếu văn.



 



Bí thư đảng ủy đã gạt được phần việc gay cấn nhất cho anh chàng trạm xá trưởng đang hăng hái biểu lộ lập trường.



 



Thoa được lệnh lên gặp trạm trưởng. Chị đang chờ đón cuộc gặp mặt này. Chắc rằng cái yêu cầu nhỏ nhoi làm mát mặt người mẹ ở suối vàng sẽ được thực hiện. Nghe điều kiện của trạm trưởng đề ra, chị bần thần, sững sờ. Hàng loạt câu hỏi lóe lên trong chị: "Tại sao các anh giám khẳng định chồng tôi là phản động? Ai để tang cho mẹ tôi là việc riêng của giạ đình tôi, vì sao các anh lại can thiệp vào?" Chị muốn đứng dậy, tay trái chống nạnh, tay phải xỉa vào trán trạm trưởng song chị đã ghìm được mình, chỉ gằn giọng:



 



- Cám ơn lãnh đạo. Việc tang của mẹ em, em lo được. Em không dám làm phiền đến các anh nữa. Chào anh.



 



Trạm trưởng bị bất ngờ thực sự. Ông tưởng là nhân viên của ông phải xuống nước, cầu xin ông hoặc ít nhất cũng thương lượng với ông điều này, khoản nọ. Ông đưa ra câu hỏi mà ông đã biết nội dung:



 



- Bao giờ mai táng cụ? Cô có xem giờ hạ huyệt không?



 



- Em đã lo chu đáo rồi. Xin phép anh.



 



Chị đã lo cho mẹ mồ yên mả đẹp, song trong lòng chị trống trải quá. Từ hôm nay, chị không chỉ mất người thân nhất trên đời mà còn mất đi người bạn tối lửa, tắt đèn có nhau, người mà chị có thể dốc bầu tâm sự về việc riêng, về chồng chị. Chị buồn da diết. ông Hòa ở xa. Dù ông rất thông cảm với chị nhưng dù sao ông cũng là đàn ông, là bố chồng nên quan hệ giữa hai bố con vẫn còn khoảng cách nhất định. Mẹ chị hiểu chị đến từng chân tơ, kẽ tóc. Mẹ bênh vực chị. Mẹ san sẻ nỗi đau của chị. Giờ đây, chị phải đương đầu với mọi người, mọi việc chắc chắn sẽ rắc rối hơn, gay cấn hơn. Ông trạm xá trưởng chính thức tuyên bố chồng chị là địch, chắc không phải ông hồ đồ. Những ngày sắp tới của chị và các con chị sẽ gay go lắm. Làm cách nào để chứng minh được anh không phải là gián điệp? Sao anh không chọn nghề gì lại chọn nghề tình báo? Đã mười bốn năm kể từ ngày chia tay, anh có biết mẹ con chị sống ra sao, cực khổ, nhục nhã ê chề đến mức nào không?



23. Hai Lâm và Cẩm Nhung quyết định nghỉ phép một tuần, đưa hai con về Huế. Ông bà ngoại Ưng Toàn, Cẩm Loan và các dì, các cậu ra sức chiều hai cháu. Nguyễn Thanh đã là chàng trai khôi ngô, cao lớn, có nhiều nét giống ba và Cẩm Phượng mang dáng dấp của bà ngoại Cẩm Loan hơn của mẹ. Nhờ được Cẩm Nhung dành cho mọi giờ nghỉ để chăm sóc, dậy giỗ nên Nguyễn Thanh, Cẩm Phượng được lòng bên ngoại vì cả hai đều lễ phép, thông minh, học giỏi. Hai Lâm dành hầu hết thời giờ rảnh rỗi đưa các con xem cảnh đẹp của sông Hương, núi Ngự, thăm cố cung, lăng vua Tự Đức, Khải Định và nếm các món ăn đặc sản của Huế. Hai Lâm hỏi vợ:



 



- Em có định kể với mẹ về chuyện đôi hoa tai không?



 



- Chưa nên anh ạ!



 



Cô có lý riêng của mình:



 



- Bao giờ nước nhà thống nhất, không thể giấu nổi má, em mới lựa chiều thưa với má về chị Thoa.



 



Cô cười:



 



- Chắc còn lâu Việt Nam mới là một nước thống nhất, phải không ông Việt Cộng?



 



Anh trả lời lấp lừng:



 



- Anh và cả em đều mong ngày đó mau tới gần.



 



Từ Huế về, Hai Lâm đưa King đến địa điểm đặt hòm thư chết. King đánh hơi. Không có gì lạ xảy ra. King tha về cho anh hòn đất. Anh bẻ đôi, giữ lấy ruột và ném vỏ ra xa để King chạy đuổi. King lại cắn cái vỏ đưa về cho chủ. Hai Lâm lại ném ra xa về hướng khác rồi gọi chó lên ô tô. Ngồi ôm tay lái, lái đi đến phố đông người, Hai Lâm dừng xe, ung dung giải mã nội dung chỉ thị của bác Ba Sơn: "Bằng mọi giá phải có được danh sách điệp viên”.



 



Từ nhiều tháng qua Hai Lâm không chỉ linh cảm mà còn thu thập được những bằng chứng về một mạng lưới điệp viên địch đã gài vào trong hàng ngũ chúng ta. Anh không rõ tên họ thật của chúng, chúng đang giữ cương vị gì, chúng tự nguyện đầu hàng địch hay địch đã "mua" được chúng. Anh ý thức được những tác hại do chúng gây ra. Đọc được báo cáo của một kẻ nào đó mang bí số S15 ở Bạc Liêu, anh quyết định phải tìm ra tên này. Không thể sục tới Bạc Liêu ngay mà anh phải đi công cán qua hai tỉnh khác. Ngày thứ ba đến Bạc Liêu, với cương vị là đặc phái viên của Tổng nha An ninh quốc gia, anh đã tiếp xúc với hồ sơ S15. Hắn ba mốt tuổi là cán bộ kinh tài của tỉnh, tên thường gọi là Chín Đào. Căn cứ những điều ghi chép trong hồ sơ thì tên thật S15 là Huỳnh Phước, đã tham gia du kích, vào Đảng, là cán bộ xã, huyện từ hơn một năm trước đây được điều lên làm kinh tế của tỉnh. S15 tự chọn cho mình tên Chín Đào vì hắn thường khoe là có số đào hoa, được nhiều cô gái tìm đến. S15 có căn cước và đủ loại giấy tờ hợp pháp do tỉnh lo để hắn dễ dàng ra vào vùng địch hậu. Do một tên chiêu hồi chỉ điểm, mật vụ Bạc Liêu đã bám sát từng bước đi của Chín Đào. Với những bức ảnh bí mật chụp được lúc Chín Đào đang làm tình với bốn con điếm khác nhau, đang say sưa nhậu nhẹt tại khách sạn, mật vụ Bạc Liêu đã khống chế và hắn bị đuổi ngay trong lần tiếp xúc đầu tiên. Sợ những bí mật sẽ được công bố và vì hám gái, ham nhậu và khoản tiền lương, tiền thưởng hào phóng mà hắn sẽ nhận được mỗi tháng, hắn đã tự bán mình. Hai Lâm báo cáo về trung tâm vụ Chín Đào với đề nghị chưa vội bắt hắn. Hãy khoan dứt dây động rừng để anh tiện theo dõi xem cái mạng lưới gián điệp này có rộng lớn không? Qua những ngày đầu tìm hiểu, Hai Lâm phát hiện ra khá nhiều tên. Nhận được chỉ thị của Trung tâm là phải xác minh họ, tên và địa chỉ của những tên gián điệp này, anh lo lắng trước việc làm rất gay go.



 



Trong nghề tình báo ta và địch đều có nguyên tắc bảo mật khắt khe. Với chức tước và quyền hạn mà kẻ địch giao cho, Hai Lâm chỉ có thể cung cấp về Trung tâm những báo cáo như: "Tên phản bội mang bí danh T.9 hoạt động ở Cần Thơ, có khả năng nó là cán bộ tài chính của tỉnh, hoặc: Tại Sóc Trăng có kẻ mang bí danh T.14. Dự đoán: hắn là huyện ủy viên phụ trách tổ chức"...



 



Lần này để lần ra manh mối bọn chúng, Hai Lâm có thể dựa vào quyền hạn của mình đặt ra những câu hỏi, và qua những câu trả lời lần ra địa chỉ thật của chúng. Thời gian không cho phép anh như thế. Hay là anh đi thị sát các tỉnh, gọi những điệp viên này lên báo cáo? Cũng không ổn. Một là anh phải gác mọi việc đang làm (vì không ai có thể bàn giao), bỏ bẵng việc giao du tiếp xúc với những tên tai to mặt lớn trong một thời gian dài. Hai là, do 16 tên tay sai (chủ yếu là cán bộ ta bị thái hóa) hoạt động ở 16 địa bàn khác nhau, anh không thể chỉ mò thẳng đến 16 nơi ấy, mà để ngụy trang, ít ra cũng phải có mặt ở 30 khu vực. Như vậy, công cuộc điều tra có thật thuận buồm, xuôi gió cũng mất đứt 150 ngày. Trong khoảng thời gian đó, bọn điệp viên ngầm này gây biết bao tác nại? Và ai sẽ thay thế anh rời khỏi Tổng nha An ninh quốc gia?



 



Kinh nghiệm chuyến đi Bạc Liêu đã chỉ rõ là làm được việc này không phải dễ dàng. Muốn có bản danh sách điệp viên nhanh nhất, đầy đủ nhất, anh chỉ có con đường: lọt vào phòng đại tá Hổ, kẻ giữ những hồ sơ mật. Tên đại tá còn có nữ thư ký riêng. Cả hai đứa đều mặt sắt đen sì, sống cô độc, không ưa tiếp xúc với người xung quanh. Anh "đánh" vào tên đại tá bằng cách nào? Tiền ư? Ta có rất ít, không đủ mãnh lực để cám dỗ hắn. Rượu chè, cờ bạc ư? Không ổn...



 



"Đánh" vào con thư ký càng khó. Con này mặt choắt, người nhỏ con như mắm, nặng không quá 35 kg nên không thể thả tình yêu với nó. Không phải anh thiếu khả năng tán tỉnh mà do nhiều lý do khác. Trở ngại thứ nhất là Cẩm Nhung. Hãy gác sang một bên chuyện Cẩm Nhung đẹp hơn, anh yêu Cẩm Nhung tha thiết vì thiếu gì anh chồng có vợ trẻ, đẹp vẫn thích lông bông với người con gái già hơn, xấu hơn vợ mình. Là người chồng, anh phải tính đến tâm lý Cầm Nhung. Cẩm Nhung sẵn sàng gác bỏ địa vị quận chúa sang một bên, rồi rời bỏ Pa-ri hoa lệ và giữ im lặng khi có bằng chứng chắc chắn khẳng định anh là cán bộ Việt Cộng vì nàng yêu anh, tình yêu của nàng vượt lên tất cả. Nếu Cẩm Nhung phát hiện ra anh có tình ý gì đó với cô nữ thư ký thì do cái nguy cơ sợ mất chồng, do máu ghen của đàn bà bốc lên, nàng sẽ tố cáo anh ngay. Cẩm Nhung không giống Thoa cũng không phải là Thoa. Thoa và anh cùng chung lý tưởng. Thoa yêu anh, dám hy sinh cả quyền lợi bản thân vì anh để anh hoàn thành nhiệm vụ. Cẩm Nhung khác hẳn. Cô yêu anh vì quyền lợi của bản thân cô, vì các con cô. Không thể đưa chuyện lý tưởng ra thuyết phục cô. Anh không thể có gan thú nhận:



 



- Em! Từ ngày mai anh sẽ chài cô thư ký. Xin thề là anh không thích cô ta nhưng anh cần có tài liệu mà cô ta đang giữ.



 



Cẩm Nhung, nếu không gạt phắt ngay, không giận dỗi cũng đưa ra hàng loạt câu hỏi mà anh không giải đáp nổi. Anh làm sao đo được máu ghen của một quận chúa. Tốt hơn hết là hãy loại bỏ ngay phương án này.



 



Nguyên nhân thứ hai càng không kém phần quan trọng là vai kịch anh đã đóng, đang đóng. Từ năm 1954, khi lọt vào hàng ngũ địch, anh đã tạo cho mình nếp sống mẫu mực. Nếu bỗng nhiên anh trở chứng, phá giới mà đối tượng lại là cô thư ký bảo mật của đại tá Phi Hổ, sẽ có dư luận không hay hoặc những nghi vấn. Anh là bạn của đại tá Phi Hổ. Lấy cớ sưu tầm hồ sơ mật thuộc phạm vi mình phụ trách, anh biết ngăn để hồ sơ của các điệp viên. Trong một lần đi dạo chơi với Phi Hổ, anh đã in được mẫu chìa khóa, đã có trong tay chìa khóa ngăn này nhưng không thể lọt vào đây ban đêm, vì hệ thống báo động rất tinh vi và luôn có lính gác xung quanh. Anh làm cách nào lọt vào phòng viên đại tá trong khoảng mười phút? Anh chỉ cần dùng chìa khóa riêng mở ngăn kéo và chụp vài tấm ảnh là xong. Nhưng làm cách nào "đuổi" được tên đại tá ra khỏi phòng của nó mà nó không nghi vấn mình? Anh tính toán, vạch ra hàng chục phương án và dừng lại ở tên tướng tình báo. Phải rồi, những tên mặt sắt đen sì thường rất sợ cấp trên và hám danh. Anh sẽ đi theo con đường từ trên dội xuống.



(còn tiếp)



Nguồn: Ông tướng tình báo và hai bà vợ. Truyện của Nguyễn Trần Thiết. NXB Quân đội Nhân dân, 2003.


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 20.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
xem thêm »