tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29497834
Tiểu thuyết
09.04.2015
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrook


PHẦN 9. Chương I



Ông nghị Bútđenbrúc đi sau bác sĩ Gơrabô và ông Lănghanxơ, một bác sĩ trẻ. Ông này có họ hàng với ông Lănghanxơ ở thành phố này, mới hành nghề chưa quá một năm, từ phòng ngủ của bà cụ tham bước vào ăn sáng. Ông tiện tay khép cửa lại.



- Xin lỗi hai vị, xin quấy rầy hai vị một lát nữa – Nói rồi ông dẫn họ lên gác đi qua hành lang và gian phòng lớn cột tròn, bước vào phòng phong cảnh. Khí hậu mùa thu giá lạnh ẩm ướt nên đã đốt lò sưởi – Chắc là các vị biết ruột gan tôi bây giờ rối bời… Xin mời hai vị ngồi xuống đây! Nếu có thể, xin hai vị tìm cách làm cho tôi yên tâm hơn một chút.



- Nói gì thế hả, ông nghị thân mến! –Bác sĩ Gơrabô trả lời. Cụ ngả lưng ra sau một cách thoải mái, cổ rụt vào trong cổ áo, hai tay ôm mũ, vành mũ sát vào ngực. Bác sĩ Lănghanxơ, nước da ngăm đen, người thô và lùn, để chiếc mũ phớt xuống tấm thảm trải dưới đất cạnh người, chăm chú nhìn vào đôi tay nhỏ bé đến kỳ lạ mọc đầy lông lá của ông ta. Ông ta để bộ râu nhọn hoắt, tóc húi cua, đôi mắt rất đẹp, nét mặt có vẻ hào hoa – Bây giờ cũng chưa đến nỗi phải lo đâu, ông cứ yên tâm… Thể chất cụ nhà có sức đề kháng khá lắm… Quả thực như vậy. Bao nhiêu năm nay làm cố vấn về vấn đề thuốc men cho gia đình ta, tôi biết rõ lắm. Kể so với tuổi tác thì sức đề kháng của cụ nhà quả thật kinh người… Tôi dám nói với ông như vậy…



- Đúng thế, tuổi tác như mẹ tôi thật là… - Ông nghị nói, giọng lo lắng, tay mân mê bộ râu dài của mình.



- Tất nhiên là tôi không nói ngày mai cụ nhà có thể dậy đi lại được – Bác sĩ Gơrabô vẫn tiếp tục nói giọng dịu ngọt – Tôi chắc rằng, ông cũng không thể nghĩ như thế. Phải không, ông nghị thân mến? Chúng tôi không phủ nhận trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ gần đây, bệnh viêm niêm mạc của cụ nhà có phần nặng hơn. Tối hôm qua tôi cho là cơn sốt của cụ nhà không phải là hiện tượng tốt: quả nhiên hôm nay chuyển sang đau lưng, thở dồn dập. Ngoài ra, nhiệt độ vẫn tăng. Tất nhiên không nghiêm trọng lắm, nhưng chưa hạ xuống. Cuối cùng xin nói thêm một câu, ông nghị thân mến ạ! Chúng tôi cũng dự liệu những triệu chứng khác, phổi của cụ nhà cũng bị nhiễm đấy…



- Viêm phổi hay sao? – Ông nghị hỏi hết nhìn mặt bác sĩ này lại quay sang nhìn mặt bác sĩ kia.



- Vâng, phổi bị viêm. – Bác sị Lănghanxơ nói rồi nghiêm nghị cúi người xuống phía trước.



- Chỉ một lá phổi bên trái hơi viêm thôi, - ông bác sĩ cố vấn của gia đình cướp lời – nhất định chúng tôi phải cố hết sức tìm cách không cho lan rộng ra.



- Như vậy thì vẫn còn có lý do để lo ư? - Ông nghị ngồi đờ ra nhìn chằm chằm vào mặt các vị bác sĩ.



- Lo à? Vâng, phải lo chứ! Như tôi vừa nói, không để cho bệnh tật phát triển, bớt ho và tìm cách hạ nhiệt độ xuống. Cái đó, kíninh rất có hiệu nghiệm… Ngoài ra còn một điều nữa, ông nghị thân mến ạ… Ông không nên sợ hãi về những hiện tượng khác, đúng không? Nếu rồi đây cụ nhà thở khó khăn hơn bây giờ, hoặc giả ban đêm nói mê, hoặc giả ngày mai có nôn ọe tí chút, như ông đã biết, tức là sẽ nôn ra nước vàng, cố nhiên, những hiện tượng bình thường, chúng tôi đã lường trước. Ông cũng nên chuẩn bị tinh thần đi. Lại còn bà Tôny nữa, bà ta hết lòng hầu hạ cụ nhà, làm cho người ta phải khâm phục, bà ta cũng nên được chuẩn bị… Luôn tiện, xin hỏi một tí, bà Tôny có được khỏe không? Tôi quên hỏi bệnh dạ dày của bà ta gần đây như thế nào rồi nhỉ?



- Vẫn như trước. Tôi không nghe nói gì thay đổi. Tất nhiên việc lo cho sức khỏe cô ấy bây giờ xuống hàng thứ hai rồi…



- Tất nhiên, tất nhiên! Ồ, tôi nhớ ra rồi, bà ấy cần phải nghỉ ngơi, nhất là đêm hôm. Nhưng một mình chị Sêvơrin thì chắc là bận lắm. Mời một người hộ lý đến có được không, ông nghị thân mến? Các cô ở đằng nhà thờ dạo xưa nay rất được ông quan tâm, họ nghe nói giúp đỡ ông, chắc là họ vui lòng lắm đấy.



- Ông thấy cần như vậy sao?



- Đó là tôi đề nghị thế thôi. Những người hộ lý đó được việc lắm, hiếm có những người như vậy. Vừa có kinh nghiệm, vừa biết chăm sóc người bệnh. Nhất là chứng bệnh này. Như tôi vừa nói, có nhiều triệu chứng nhỏ nhặt cũng phải đề phòng…Vâng, tôi xin nhắc lại: Ông cứ yên tâm, có đúng không ông nghị? Chúng ta chờ xem bệnh tình phát triển nhu thế nào rồi hẵng hay. Tối nay chúng ta sẽ bàn thêm…



- Cứ làm như thế. - Bác sĩ Lănghanxơ nói rồi cầm lấy chiếc mũ phớt cùng theo bác sĩ Gơrabô đứng dậy. Nhưng ông nghị vẫn ngồi yên. Ông chưa định kết thúc câu chuyện ở đây, ông còn thắc mắc và muốn hỏi thêm chút nữa…



- Hai vị ạ, cho tôi nói thêm một câu nữa thôi… Thần kinh chú em tôi không được bình thường, chắc chú ấy, không chịu nổi khi nghe tin một cách đột ngột. Theo ý các vị, liệu tôi có nên báo cho chú ấy biết bệnh tình của bà cụ tôi không? Hay chưa nên cho chú ấy biết vội? Có lẽ gọi chú ấy về trước đi nhỉ?



- Ông Cơrítxtian không ở nhà à?



- Không, chú ấy đi Hămbuốc vắng một thời gian ngắn. Theo tôi biết thì chú ấy phải giải quyết một vấn đề buôn bán gì đó.



Bác sĩ Gơrabô đưa mắt nhìn ông bạn đồng nghiệp của mình rồi mỉm cười, lắc tay ông nghị nói:



- Như vậy thì cứ để ông ấy yên tâm lo công việc thôi. Sao lại phải làm ông ấy hoảng hốt vô ích nhỉ? Nếu tình hình biến chuyển, mới gọi ông ấy về, ví dụ để cụ nhà yên tâm chẳng hạn, hoặc để cụ nhà dễ chịu hơn… Dù sao vẫn còn có thì giờ…



Chủ và khách trở ra qua căn phòng lớn cột tròn, đi hết hành lang lại đứng ở chỗ rẽ cầu thang. Họ còn trao đổi với nhau một số chuyện khác nữa như chuyện chính trị, chuyện những biến động mà cuộc chiến tranh vừa kết thúc mang lại…



- Hay lắm, đến lúc có thể làm ăn dễ dàng rồi đấy, phải không, ông nghị? Đâu đâu cũng vàng, cũng bạc. Ai cũng phấn khởi…



Ông nghị trả lời ậm ừ qua quýt. Ông thừa nhận chiến tranh làm cho việc buôn bán lương thực với Nga trở nên phát đạt. Ông nói đến chuyện vì phải cung cấp lương thực cho quân đội mà khối lượng yến mạch nhập khẩu tăng lên rất nhiều, nhưng ông cũng nói việc phân chia lợi nhuận cũng không được đồng đều.



Hai ông bác sĩ chào ra về. Ông nghị Bútđenbrúc quay người lại, định trở về phòng bà cụ xem xem. Ông nghĩ đến những lời ông Gơrabô nói lúc nãy. Ông ta chỉ úp úp mở mở làm cho người ta tưởng là ông ta không dám khẳng định điều gì cả, chỉ có từ “viêm phổi” là rõ ràng nhất. Từ này bác sị Lănghanxơ đã chuyển thành thuật ngữ khoa học, nhưng không thể làm người ta yên tâm hơn. Tuổi tác như bà cụ tham mà viêm phổi!... Chỉ một việc thấy hai vị bác sĩ sóng đôi đi ra rồi lại đi vào, cũng biết là nghiêm trọng lắm. Tóm lại, do một mình bác sĩ Gơrabô sắp đặt hết, ông sắp đặt rất tự nhiên, hầu như làm cho người ta không để ý. Ông nói, ít lâu nữa ông sẽ về hưu, ông định để bác sĩ Lănghanxơ làm thầy thuốc gia đình cho những người chủ cũ, nên bây giờ ông thường đưa ông ta đi khắp nơi. Và ông coi đó là một điều thú vị.



Khi ông nghị bước vào phòng ngủ mờ mờ ánh đèn, mặt ông cũng tươi hẳn ra, bước đi cũng nhẹ nhàng hơn. Ông có thói quen làm ra bộ trấn tĩnh và tự tin để che giấu vẻ buồn rầu và mệt mỏi. Thành ra, lúc ông mở cửa phòng, cái vẻ giả dối đó hầu như chỉ cần nhận được hiệu lệnh của ý chí là tự động hiện lên mặt ông ngay.



Bà Tôny ngồi ở mép giường lớn đã buông màn, cầm tay mẹ. Bà cụ nằm tựa lưng vào gối, nghe thấy tiếng người đi vào, liền quay đầu ra, đưa đôi mắt màu xanh nhạt nhìn ông nghị chằm chằm. Ánh mắt bà cụ bình tĩnh một cách gượng gạo nhưng vẫn sáng long lanh. Vì bà nhìn nghiêng nên trông như ẩn giấu điều gì xảo trá. Không kể màu da nhợt nhạt và hai gò má ửng đỏ vì lên cơn sốt, thì nét mặt bà cụ không có vẻ gì tiều tụy mệt nhọc cả. Bà cụ lưu tâm đến bệnh tình của mình hơn bất cứ người nào xung quanh, nhưng bà lại phải nói rằng, người ốm không phải ai khác là bà cụ. Lần này lâm bệnh, bà cụ lo lắm nên không chịu nằm yên mặc cho bệnh tình phát triển.



- Họ nói thế nào, hả anh Tômát? – Bà cụ hỏi, giọng rắn rỏi mà có vẻ cảm động, tiếp đó nổi lên một cơn ho kịch liệt. Bà cụ định mím chặt môi, nén xuống nhưng không nén nổi, đánh lấy tay ép vào phía nửa người bên phải.



Chờ bà cụ ho xong, ông nghị vừa sờ tay mẹ vừa nói:



- Họ nói vài ngày nữa mẹ có thể dậy đi lại được. Bây giờ mẹ chưa thể dậy là vì mẹ còn ho, phổi mẹ bị tổn thương… chứ chưa thể nói viêm phổi. Đáng ghét quá! – Ông thấy bà cụ nhìn mình chằm chặp, vội nói thêm một câu… - Dù viêm phổi cũng không có gì nghiêm trọng. Có bệnh còn đáng sợ hơn là viêm phổi! Nói tóm lại, phổi hơi bị kích thích, cả hai vị đều nói như vậy. Có lẽ họ nói đúng, chị Sêvơrin đi đâu rồi nhỉ?



- Đến hiệu thuốc – Bà Tôny nói.



Mẹ và cô xem, lại ra hiệu thuốc! Còn cô thì lúc nào cũng giống như đang thiếp đi. Không được, không thể thế được, dù chỉ hai ba ngày cũng vậy… Chúng ta phải mời một cô hộ lý, mẹ và cô thấy thế nào? Thôi, thế nhé! Con sẽ cho người đến đoàn hộ lý của Hội nữ tu sĩ ngay, xem họ có thừa người không…



- Anh Tômát, - Bà cụ tham lại sợ nổi ho nên lần này nói rất giữ gìn – để tôi nói anh nghe, lần nào anh cũng thiên về các cô nữ tu sĩ đạo Thiên chúa mà không đoái hoài đến các cô nữ tu sĩ đạo Cơ đốc. Anh làm thế thì chúng tôi không phải với nhiều người lắm đấy! Anh làm nhiều điều có lợi cho đạo Thiên chúa mà không làm gì cho những người theo đạo Cơ đốc cả. Tôi nói để anh biết, gần đây mục sư Prinhem phàn nàn với tôi về chuyện đó không chút giấu diếm gì cả…



- Ông ấy oán trách thì oán trách, có sao đâu! Xưa nay con vẫn cho là nữ tu sĩ đạo Thiên chúa vẫn trung thành, nhiệt tình, giàu hy sinh hơn nữ tu sĩ đạo Cơ đốc. Nữ tu sĩ đạo Cơ đốc quả thật không được như vậy đâu… Nói một cách vắn tắt, họ trần tục, tự tư tự lợi, tầm thường. Các nữ tu sĩ đạo Thiên chúa thì không bận tâm đến trần tục nữa, cho nên con tin là họ gần thiên đàng hơn. Vả lại họ có chịu ơn con, chưa có dịp đền đáp, nên tốt nhất là ta mời họ. Cháu Hannô lên kinh giật, may mà nữ tu sĩ Lêăngđờra chăm sóc cho, con mong lần này cô ấy rỗi…



Quả nhiên, nữ tu sĩ Lêăngđờra được cử đến. Sau khi lặng lẽ bỏ túi xách, áo khoác và tấm mạng che màu xanh ở ngoài cái mũ trắng, cô liền bắt tay vào công việc. Lời ăn tiếng nói, cử chỉ của cô dịu dàng thân thiết. Ở thắt lưng cô treo một chuỗi tràng hạt, hễ bước đi thì nghe kêu lách cách. Cô hết lòng chăm sóc người bệnh vẫn được quen hầu hạ và tính hay nôn nóng, không kể gì ngày đêm. Khi có người khác đến thay phiên để cô về ngủ, thì hầu như cô cho sự nghỉ ngơi cần thiết đó là một thiếu sót của mình, cô lặng lẽ ra về, cảm thấy mình có lỗi.



Không một phút nào vắng người bên giường bà cụ tham. Thấy bệnh tình không thuyên giảm, bà cụ để hết tâm trí vào đó. Bà cụ vừa sợ, vừa bực, không giấu giếm tâm trạng trẻ con đó của bà. Rút cuộc, nguyên nhân nào đã làm cho người đàn bà giàu sang, giao thiệp rộng, từng quen hưởng thụ, mà về cuối đời thì dốc lòng theo đạo, ra sức làm điều từ thiện? Có lẽ không chỉ vì trung thành với người chồng quá cố, mà có một thứ bản năng mơ hồ nào đó buộc phải cầu Chúa tha thứ cho sức sống quá ư mãnh liệt của mình, để trước khi chết, được giảm phần nào đau khổ chăng? Nhưng bà cụ không thể chết không đau khổ chút nào. Tuy đã trải qua nhiều điều phiền muộn day dứt, nhưng bà cụ chưa còng, mắt vẫn sáng. Bà cụ thích những bữa ăn thịnh soạn, những bộ quần áo đẹp, màu sắc sặc sỡ. Những chuyện không vui xảy ra chung quanh, bà cụ vờ như không trông thấy, nếu không thì cũng cố ý che giấu đi. Bà cụ chỉ muốn hưởng những điều vẻ vang và uy danh của ông con cả mang lại. Ấy thế mà lần này, bỗng chứng viêm phổi đột nhập vào cơ thể khỏe mạnh của bà cụ, không cho bà cụ chuẩn bị tinh thần trước chút nào may ra phần nào giảm bớt thế hung dữ của con ma bệnh tật… Nó không đục khoét sinh lực con người ta, không làm cho người ta dần dần cảm thấy mệt mỏi đối với cuộc sống, chán ghét cái hoàn cảnh sinh ra đau khổ mà hướng về một thế giới khác, một hoàn cảnh khác và về nơi an nghỉ vĩnh viễn… Bà cụ tuy tin ở tôn giáo, song trước sau bà cụ không có ý muốn từ giã cõi đời. Bà cụ nghĩ một cách mơ hồ rằng, nếu trận ốm này là trận ốm cuối cùng trong đời bà cụ, thì đến giờ phút chót nó sẽ làm cho sức sống của bà cụ tiêu hao một cách nhanh chóng như một tiếng sét không kịp bịt tai, nó giày vò thể xác bà cụ, buộc bà cụ phải thành thật thừa nhận mình là kẻ chiến bại. Nghĩ tới đó, bà cụ không rét mà run cầm cập.



Bà cụ luôn miệng cầu nguyện, nhưng lại xem xét bệnh tình của mình nhiều hơn. Hễ đầu óc tỉnh táo, là bà cụ không bắt mạch, đo nhiệt độ thì cũng vật lộn với những cơn ho… Nhưng mạch của bà cụ vẫn đập không đều, cơn sốt hạ xuống rất nhiều nhưng sau đó lại tăng lên rất cao, làm cho bà cụ đang rét lại chuyển sang sốt cao, mê sảng, ngoài ra bà cụ ngày càng ho nặng, lục phủ ngũ tạng đau đớn vô cùng. Hơn nữa, trong đờm có máu và khó thở vô cùng. Sở dĩ như thế là vì chỗ viêm phía cuối phổi bên phải đã lan ra khắp cả lá rồi. Phổi bên trái cũng có hiện tượng bị nhiễm. Bác sĩ Lănghanxơ nhìn vào móng tay mình nói, đó là bệnh “gan biến dạng”. Bác sĩ Gơrabô thì im lặng không nói gì… Cơn sốt cao kéo dài, không bao lâu dạ dày mất cơ năng, sức khỏe bà cụ ngày càng suy sút, mặc dù rất chậm nhưng không sao cứu vãn được.



Bà cụ hết sức chú ý đến chuyện đó, hễ ăn được là cố hết sức ăn hết những thức ăn nhiều chất bổ người nhà mang đến. Bà cụ nhớ giờ uống thuốc hơn cả cô hộ lý. Bà cụ để cả tâm trí vào bệnh tật của bà cụ, đến nỗi ngoài bác sĩ ra bà cụ hầu như không muốn nói chuyện với ai khác hay ít nhất cũng có thể nói bà cụ chỉ thích nói chuyện với bác sĩ mà thôi. Lúc đầu, bác sĩ còn cho một số người quen đến thăm, ví dụ như các người trong “Dạ hội Giêrudalem”, mấy bà có tuổi thường hay đi lại với bà cụ, vợ ông mục sư, vân vân. Nhưng đối với những người ấy bà cụ tỏ ra lạnh nhạt hay bề ngoài tỏ ra thân thiết nhưng cũng có thể thấy trong lòng thì không để ý gì đến họ, hơn nữa, bà cụ còn đuổi khéo họ. Người trong gia đình thấy thế lấy làm đau khổ. Có lúc bà cụ lạnh nhạt đến mức họ hỏi bà cụ không thèm trả lời, ý muốn nói: “Các người chẳng đỡ đần cho ta được gì đâu!”. Ngay cả khi thấy bà cụ đỡ được phần nào, Hannô tới thăm, bà cụ cũng chỉ vuốt má chú bé qua loa một cái rồi quay mặt đi. Nhìn điệu bộ, người ta cũng có thể  biết bà cụ đang nghĩ gì. Bà cụ nghĩ: “Cháu ơi, cháu bà ngoan lắm! Nhưng chắc bà không sống được bao lâu nữa!”. Đối với hai vị bác sĩ thì bà cụ tiếp rất niềm nở, nhiệt tình chứ không có vẻ gì là chán cả…



Một hôm, hai cụ bà họ Kéchác, tức là hai cụ con cháu cụ cố Pao Kéchác đến. Họ vẫn khoác áo choàng đội mũ bèn bẹt như chiếc nấm và tay xách túi lương thực. Họ vừa đi bố thí cho kẻ nghèo khó về. Người nhà không tiện ngăn hai cụ vào thăm bà bạn đang ốm. Khi vào, không có ai đứng đấy cả, chỉ có trời mới biết họ đứng bên giường thì thầm những gì với bà cụ tham. Có điều, khi họ đi ra, ánh mắt và vẻ mặt họ có vẻ tươi tỉnh, dịu dàng và thần bí khác hẳn với ngày thường nhiều, mà bà cụ cũng thế, bà cụ nằm ở đấy, khí sắc hồng hào hơn bất cứ lúc nào hết. Tuy quãng cách giữa hai hơi thở của bà cụ khá lâu, nhưng lại rất đều đặn, có vẻ như suy yếu dần. Bà Tôny đi theo sau hai cụ họ Kéchác, cằn nhằn điều gì rồi cho người đi mời bác sĩ đến ngay. Hai người bác sĩ vừa ló mặt vào thì bà cụ tham bỗng thay đổi một cách ghê gớm, khiến người ta phải kinh ngạc. Bà cụ như vừa tỉnh khỏi một giấc mơ, rồi vật vã như người muốn bật trở dậy. Thoáng nhìn thấy hai vị bác sĩ không lấy gì làm cao tay cho lắm, có lẽ bà cụ lập tức từ trên thiên đàng rơi xuống trần gian. Cụ dang hai cánh tay về phía hai vị, vội vàng nói:



- Xin chào hai ông! Bây giờ tôi như thế đấy, suốt ngày hôm nay…



Nhưng chuyện hai lá phổi của bà cụ bị viêm không làm sao che giấu nổi nữa rồi!



- Vâng, ông nghị thân mến – Bác sĩ Gơrabô cầm chặt hai tay ông Tômát Bútđenbrúc nói. Chúng tôi không thể chặn nổi, bây giờ đã lan sang cả hai lá phổi rồi. Việc này ông cũng biết như chúng tôi, tình hình nghiêm trọng đấy. Tôi không biết lựa lời che giấu ông, xét về bệnh tật, thì dù bệnh nhân hai mươi hay bẩy mươi tuổi cũng đáng lo. Giá hôm nay ông hỏi tôi có cần phải viết thư hay đánh điện cho ông Cơrítxtian không, thì tôi nghĩ tôi không ngăn cản ông nữa… Luôn tiện xin hỏi thăm một tý, tình hình ông ấy gần đây thế nào? Ông ấy là người vui tính, dí dỏm lắm, tôi rất thích ông ấy… Nhưng mà, ông nghị thân mến ạ, có Thượng đế chứng giám cho, xin ông chớ có hiểu nhầm những điều tôi vừa nói,rồi suy nghĩ tận đẩu tận đâu! Không nên nghĩ rằng sẽ xẩy ra chuyện gì hiểm nghèo ngay lập tức. Chao ôi, tôi thật là vớ vẩn, chẳng ý tứ gì, làm sao lại có thể nói như thế nhỉ? Có điều, nói thì nói vậy, trong trường hợp này cũng nên dè chừng, chuyện bất trắc có thể xảy ra… Chúng tôi rất lấy làm hài lòng có một bệnh nhân như cụ nhà. Cụ nhà hợp tác với chúng tôi rất chặt chẽ, chưa lúc nào khiến chúng tôi cảm thấy lúng túng… Dứt khoát không phải chúng tôi nói nịnh đâu, thật tình hiếm có những bệnh nhân ôn tồn hòa nhã như thế! Cho nên còn nhiều hy vọng lắm, ông nghị thân mến ạ! Chúng tôi cố xoay xở cho mọi việc trở nên tốt lành!



Mấy ngày sau, tuy người trong gia đình vẫn còn hy vọng, một thứ hy vọng đầy giả tạo, không hẳn là đã thật tâm. Vẻ mặt của bà cụ tham cũng thay đổi rất nhiều, trông lạ hẳn, chẳng giống ngày thường chút nào. Bà cụ thường thốt ra những lời kỳ quặc; chẳng ai biết trả lời ra sao cả. Dường như mấy câu nói đó đã cắt đứt con đường trở về cuộc sống của bà cụ và đưa bà cụ sang thế giới bên kia. Dù bà cụ là người thân nhất của họ, họ cũng không làm sao cho bà cụ đừng dậy rồi trở về với họ. Ví dù cho họ có tài cải tử hoàn sinh thì bà cụ cũng chỉ có thể như người ở trong quan tài chui ra, mang theo âm khí nặng nề khủng khiếp.



Tuy tay chân bà cụ bị ý chí ngoan cường của bà cụ chi phối nên vẫn còn cử động được, nhưng những triệu chứng khủng khiếp báo hiệu thể xác bà cụ sắp sửa tê dại rã rời đã lần lượt xuất hiện. Kể từ ngày bà cụ bị cảm nằm không dậy được cho đến nay đã mấy tuần lễ rồi, mụn nhọt nổi đầy người, vỡ ra rồi chảy nước càng ngày càng trầm trọng. Bà cụ không ngủ được tí nào vì mụn nhọt, ho hen, ngạt thở, hai là vì bản thân bà cụ không muốn ngủ, lúc nào cũng cố giữ cho thật tỉnh táo. Chỉ có những lúc sốt cao, bà cụ mới mê đi mấy phút, nhưng dù tỉnh bà cụ cũng luôn luôn lớn tiếng trò chuyện với những người đã từ giã cõi đời từ lâu. Một hôm, vào lúc chập tối, bỗng bà cụ nói to: “Vâng, anh Giăng thân mến, em đây!”. Giọng bà cụ hơi run run nhưng lại rất niềm nở, vả lại hình như bà cụ đang trả lời một người đứng sát trước mặt bà cụ. Nghe bà cụ trả lời như vậy, hầu như bà cụ cũng muốn tin là mình cũng nghe giọng cụ tham ông qua đời từ lâu đang gọi cụ tham bà.



Ông Cơrítxtian đã về. Theo ông nói, ông đi Hămbuốc có chút việc. Ông chỉ ở trong phòng bệnh một lát rồi đi ra ngay, vừa đảo mắt, vừa lau trán nói:



- Sợ quá… sợ quá… tôi không chịu nổi!



Mục sư Prinhem cũng tới. Ông ta lạnh lùng nhìn nữ tu sĩ Lêăngđờra một cái rồi đứng trước giường bà cụ cầu nguyện, giọng lên bổng xuống trầm.



Mấy ngày sau đó, bà cụ đỡ được ít nhiều, đó là hồi quang của luồng ánh sáng sắp tắt. Nhiệt độ giảm xuống sức lực như hồi phục, đỡ đau nhiều, đồng thời bà cụ cũng nói được vài ba câu tỉnh táo, làm cho mọi người chứa chan hy vọng, nước mắt trào ra vui sướng…



-  Này, này, chúng ta có thể giữ bà ở lại được, chúng ta có thể giữ bà ở lại được, - Ông Tômát Bútđenbrúc nói – Năm nay chúng ta còn được ăn tết Nôen với bà, nhưng nhất định không để bà phấn khởi như năm ngoái…



Nhưng đêm hôm sau, bà Ghécđa và chồng vừa lên giường ngủ thì bà Tôny cho người tới mời cả hai vợ chồng tới phố Manh ngay. Bà cụ tham đang vật vã sắp chết. Bên ngoài gió rít từng cơn, những giọt mưa lạnh đập vào cửa kính kêu lách tách.



Khi hai vợ chồng ông nghị vừa bước vào phòng, hai vị bác sĩ đã tới rồi. Trên bàn đặt hai cọc nến hình cành cây. Ông Cơrítxtian ở trên phòng ngủ cũng có người mời xuống, đang ngồi lom khom quay lưng về phía giường, hai tay chống trán. Mọi người chờ ông anh ruột bà cụ – cụ Giúttút Cơruêgơ. Đã có người đi mời rồi. Bà Tôny và cô Êrica Vaisen ngồi dưới chân giường khóc thảm thiết. Nữ tu sĩ và chị Sêvơrin không có việc gì làm, rầu rĩ nhìn người bệnh.



Bà cụ tham nằm ngửa trên giường, phía sau lưng kê một chồng gối, hai bàn tay run lẩy bẩy, quờ quạng cái chăn đắp trên người. Hai bàn tay này trước đây đẹp là thế, dưới làn da trắng mịn nổi lên từng đường gân xanh, bây giờ thì khô đét như que củi. Đầu bà cụ đội cái mũ ngủ màu trắng, chốc chốc lại trở qua trở lại trên gối, người nhà trông thấy ruột gan cứ rối lên. Bà cụ thở rất vất vả, khổ sở, hai làn môi đã co rúm lại, mím vào như đang nuốt một thứ gì. Hai con mắt lõm xuống, hốt hoảng nhìn hết nơi này lại nhìn nơi nọ, có lúc nhìn chằm chằm những người bên cạnh như ghét lắm. Những người này quần áo gọn gàng, hít thở tự do, được làm chủ tính mạng họ, nhưng bó tay trước người sắp chết. Sự hy sinh duy nhất của họ chỉ là giương mắt nhìn cảnh thê thảm này mà thôi. Đêm dần dần trôi qua, người bệnh vẫn không có gì thay đổi.



- Ông xem có thể được bao lâu nữa?



Nhân lúc bác sĩ Lănghanxơ đang tiêm cho bà cụ tham một ống thuốc gì đó, ông Tômát Bútđenbrúc kéo bác sĩ Gơrabô ra sau nhà, hỏi khẽ. Bà Tôny lấy mùi xoa che miệng cũng bước tới.



- Khó nói lắm, ông nghị ạ – Bác sĩ Gơrabô trả lời – có thể năm phút nữa cụ nhà tắt thở, cũng có thể mấy tiếng đồng hồ nữa… Tôi không muốn khẳng định. Hiện giờ phổi cụ nhà chứa đầy nước… Chúng tôi gọi là bệnh “tràn dịch phổi”.



- Tôi biết rồi – Bà Tôny vừa cướp lời vừa gật gật đầu sau chiếc khăn mùi xoa, nước mắt chảy xuống gò má - Thường là do viêm phổi gây nên… lá phổi dần dần chứa đầy nước, tình hình nghiêm trọng thì người bệnh sẽ tắt thở. Đúng, tôi biết rồi…



Ông nghị khoanh tay đặt bàn tay lên ngực, mắt nhìn sang giường mẹ.



- Chao ôi, đau đớn quá! – Ông nói khẽ.



- Không đâu! – Bác sĩ Gơrabô cũng nói khẽ, nhưng giọng nói của ông có nhiều uy quyền đồng thời trên khuôn mặt dài của ông đồng thời cũng nổi lên rất nhiều nếp nhăn làm cho vẻ cương quyết trong giọng nói tăng lên. Đó là ta tưởng tượng đấy thôi, xin các vị tin ở lời tôi, các ông bạn thân mến ạ, đó là ta tưởng tượng…  Cụ nhà không còn tỉnh táo nữa…  Các vị trông thấy đấy, hầu hết là những động tác do phản xạ… Xin các vị tin ở lời tôi nói…



Ông Tômát trả lời:



- Chỉ mong như vậy!



Nhưng dù là một đứa trẻ nhìn ánh mắt của bà cụ tham cũng thấy rõ, bà cụ không hề mất đi một chút tri giác nào, và cái gì bà cụ cũng biết hết…



  Mọi người đang ngồi an vị, cụ tham Cơruêgơ cũng đã tới. Cụ ngồi cạnh mép giường, mắt đỏ ngầu, người tựa vào chiếc ba toong.



 Cử chỉ của bà cụ tham càng rối loạn. Bà cụ đã vào tay thần chết rồi. Từ đỉnh đầu đến gót chân bà cụ đau khủng khiếp. Lại có cảm giác cô đơn tuyệt vọng không sao thoát khỏi. Hai con mắt theo cái đầu quay đi quay lại như đang kể lể nỗi khổ đau và cầu xin người khác thương tâm, có khi nhắm tịt lại, có lúc trợn ngược lên thấy rõ cả những tia đỏ trong con ngươi. Nhưng người bệnh vẫn chưa mất hết tri giác.



- Tôi không chịu nổi!



Đồng hồ gõ ba tiếng. Ông Cơrítxtian đứng dậy rồi vịn vào bàn ghế khập khiễng bước ra khỏi cửa phòng. Lúc này Êrica Vaisen và chị Sêvơrin đang bị tiếng rên đều đều của bà tham thôi miên đã ngủ say sưa trên ghế, mặt người nào cũng đỏ ửng.



Khoảng bốn giờ, bệnh tình bà cụ nguy kịch, người nhà đỡ bà cụ dậy, liên tục lau mồ hôi trán cho bà cụ. Hầu như lúc này bà cụ không thể thở được nữa, và mỗi lúc một tỏ ra khiếp sợ hơn.



- Tôi muốn… ngủ một lúc…! – Bà cụ rán sức nói – Cho tôi viên thuốc… - Nhưng họ lại không muốn cho bà cụ uống thuốc ngủ.



Bỗng bà cụ lại nói mê sảng như vừa nãy, hình như bà cụ trả lời một câu hỏi mà mọi người chẳng ai nghe thấy.



- Ồ, anh Giăng, em sẽ đến ngay bây giờ…! – Tiếp đó lại nói – Này, Cơlara, con, mẹ sẽ đến…!



Sau đó, bà cụ lại giãy giụa… Bà cụ vật lộn với Tử thần chăng? Không phải, bà cụ đang vật lộn với sự sống để mà được chết đi.



- Tôi muốn… - bà cụ thở hổn hển – tôi không thể… ngủ được!… Bác sĩ ơi, thương tôi với! Cho tôi ngủ một lát…!



Câu “thương tôi với” làm cho bà Tôny khóc òa lên, ông Tômát cũng đưa hai tay ôm lấy đầu, khẽ rên rỉ. Nhưng các bác sĩ biết trách nhiệm của mình. Bất cứ trường hợp nào, họ cũng cố hết sức làm cho người bệnh rốn lại ở trần gian càng lâu càng hay, tuy lúc đó chỉ cần một ít thuốc mê là có thể làm cho linh hồn người bệnh thoát ra khỏi thể xác không phải cầm cự. Chức trách của người thầy thuốc ở trên thế gian này không phải là thôi thúc cho người ta chết nhanh, mà phải giữ gìn tính mạng người bệnh bằng bất cứ giá nào. Ngoài ra, họ làm như vậy cũng có những căn cứ về tôn giáo và đạo đức. Rất có thể họ đã nghe những luận điệu đó ở trường đại học, mặc dù trước mắt chưa chắc họ đã nghĩ đến. Không những họ không làm theo lời người bệnh, trái lại họ tiêm các thứ thuốc cho tim người bệnh đập hơn. Với lại, đã mấy lần họ dùng biện pháp làm cho người bệnh nôn cho đỡ đau.



Đến năm giờ, cơn đau đã đến mức không thể đau hơn được nữa. Người bà cụ tham giật giật rồi ngay đơ ra, mắt trợn ngược, tay duỗi thẳng, sờ mó hết cái này đến cái nọ, hình như muốn nắm lấy vật gì, muốn kéo tay người nào đó đang chìa về phía mình. Bà cụ ngước lên nhìn không trung và bốn chung quanh, luôn miệng trả lời những tiếng kêu gọi chỉ một mình bà cụ nghe thấy. Dường như lúc này những tiếng kêu gọi đó mỗi lúc một dồn dập, cấp bách. Cảm giác của những người xung quanh là hình như không riêng gì người chồng và cô con gái đã quá cố mà còn có cả cha mẹ, ông bà và không biết bao nhiêu người từ giã cõi đời trước bà cụ cùng đến đón bà cụ đi. Bà cụ gọi một số tên nghe lạ lắm, thậm chí người trong nhà cũng không thể biết được người nào đã qua đời có tên như thế.



- Ôi, - Bà cụ vừa gọi vừa lắc đầu về bốn chung quanh… - Tôi… đến… đến ngay… đến ngay… một lát nữa thôi… Chao ôi!… Tôi không thể… Cho tôi xin ít viên thuốc… các ông bác sĩ ơi!



Sáu giờ rưỡi, bà cụ tham nằm yên được một chút. Nhưng chỉ một lát sau, bộ mặt già nua, bệnh tật giày vò làm cho khác hẳn, bỗng run lên rồi lộ vẻ vừa vui sướng, vừa sợ hãi. Khí sắc thì vừa ôn hòa, vừa ảm đạm, trông mà khiếp. Bà cụ vội duỗi tay ra thật nhanh đồng thời hét to lên một tiếng, vừa có phần sợ hãi vừa có phần thân thiết, ngoan ngoãn tuân theo. Tiếng thét của bà cụ hốt hoảng, cấp bách khiến người ta cảm thấy giữa tiếng ai đó kêu gọi và tiếng bà cụ tham trả lời chỉ cách nhau một tích tắc đồng hồ – “Tôi đến đây!”, và thế là bà cụ từ giã cõi đời.



Ai nấy sợ run. Cái gì thế nhỉ? Ai gọi bà cụ khiến bà cụ đi ngay không chần chừ một phút thế nhỉ?



Có người mở rèm cửa và tắt nến. Bác sĩ Gơrabô vẻ mặt dịu dàng vuốt mắt cho bà cụ.



Anh nắng thu nhàn nhạt yếu ớt dọi khắp gian phòng, người nào cũng run lên. Nữ tu sĩ Lêăngđờra lấy một miếng vải che tấm gương thường soi khi mặc quần áo.



 



Chương II



Qua cánh cửa mở rộng có thể nhìn thấy bà Tôny đang ngồi cầu nguyện trong gian phòng bà cụ tham đã từ trần. Một mình bà quỳ trước cái ghế để cạnh giường, áo tang quét đất, hai tay nắm chặt để trên mặt ghế, đầu cúi xuống, miệng rì rầm… Rõ ràng là bà nghe tiếng anh trai và chị dâu bước vào phòng ăn sáng, nghe tiếng hai anh chị chần chừ đứng lại, chờ bà cầu nguyện xong, nhưng không vì thế mà bà đọc nhanh hơn. Mãi đến khi đọc xong bài kinh, bà còn ho khan mấy tiếng mới thong thả sửa lại quần áo, cử chỉ hết sức trang nghiêm, rồi đứng dậy, đi về phía vợ chồng ông nghị. Bà bước nhẹ nhàng uyển chuyển, không có vẻ gì là vội vàng hấp tấp cả.



- Anh Tômát – Bà nói, giọng nghiêm nghị – Em thấy mẹ nuôi con Sêvơrin đúng là nuôi ong tay áo!



- Làm sao?



- Nó làm em giận chết đi được. Đứt gan đứt ruột đi với nó. Ai đời người ta đang đau khổ như thế mà nó lại làm một việc bỉ ổi vô cùng, phá cả sự đau khổ của người khác. Anh thử nói xem, tại sao nó lại làm như thế?



- Là chuyện gì cơ chứ?



- Trước hết, nó tham lam quá thể, đến mức không chịu nổi. Nó mở tủ áo lấy những bộ quần áo lụa và sa tanh của mẹ, kẹp vào nách rồi định chuồn. “Sêvơrin” – Em gọi nó lại. “Mày mang quần áo đi đâu đấy hả?”. “Cụ hứa cho con những bộ quần áo này!”. “Sêvơrin này!”. Em nén giận, dùng những lời ngọt ngào nói cho nó hiểu rằng, hành động hấp tấp đó của nó quả thật chẳng ra thể thống gì. Anh đoán xem lời nói của em có hiệu nghiệm gì không? Không những nó lấy quần áo lụa và sa tanh, mà còn lấy cả một bọc quần áo lót nữa. Em không thể giằng xé với nó được, có phải không? Mà không riêng gì một mình nó, bọn đầy tớ gái cũng mang từng giỏ quần áo của mẹ đi… Chúng nó cả gan chia của trước mặt em, vì Sêvơrin giữ chìa khoá tủ quần áo. Em hỏi: “Chị Sêvơrin, chị cho tôi xin chùm chìa khóa!”. Anh biết nó trả lời em như thế nào không? Không ngờ nó câng câng cái mặt nói là em không có quyền sai bảo nó, nó không phải là kẻ hầu hạ em, không phải em thuê mướn nó, nó phải giữ chìa khóa cho đến ngày nó đi khỏi nhà này mới thôi!



- Chìa khóa tủ đựng đồ bạc ở trong tay cô phải không! Thế là được rồi, những cái khác kệ thây nó. Gia đình này tan nát cũng không tránh khỏi những chuyện đó. Đặc biệt là hai năm gần đây, trong gia đình này không còn gì là thể thống nữa. Bây giờ anh không muốn làm to chuyện này ra, vả lại những bộ quần áo đó cũng hết cả rồi… Chúng ta thử lục xem còn sót những thứ gì. Em có sổ kê tài sản không? Ở trên bàn ấy à? Thôi chúng ta xem đi…



Họ vào phòng ngủ. Bà Tôny lật mảnh vải trắng đắp trên mặt mẹ. Họ đứng im trước giường một lúc lâu. Bà cụ tham đã được liệm bằng vải đoạn, chiều hôm nay sẽ nhập quan trong gian phòng lớn. Từ khi bà cụ tắt thở đến lúc này đã hai mươi tám tiếng đồng hồ rồi. Vì không có bộ răng giả nên miệng và hai bên má bà cụ hóp xuống, trông già khọm, còn cằm thì nhô ra. Khi cả ba người buồn rầu nhìn vào đôi mắt nhắm nghiền của người chết, hầu như họ không nhận ra đó là khuôn mặt của mẹ họ nữa. Nhưng dưới cái mũ bà cụ thường đội ngày lễ, vẫn là bộ tóc giả vàng hoe, bóng mượt chẳng khác gì lúc sinh thời. Đó chính là bộ tóc giả mà ba cô tiểu thư ở phố Brêten thường hay chế giễu… Trên tấm chăn đắp cho người chết rắc đầy hoa.



Vòng hoa đẹp nhất đã mang tới rồi – Bà Tôny nói khẽ – Nhà nào cũng mang vòng hoa đến viếng… Chao ôi, giống như trên đời này ai cũng có phần cả. Em xếp cả ở hành lang. Thế nào lát nữa anh chị cũng thấy. Chị Ghécđa và anh Tom ạ, nhìn những vòng hoa ấy trông vừa đẹp vừa thương tâm. Có những giải sa tanh rộng thế này cơ!



Ông nghị hỏi:



- Trong phòng lớn bày biện thế nào rồi?



- Sắp xong rồi, anh Tom ạ! Bây giờ gần đâu vào đấy rồi. Ông Giacốp, họa sĩ trang trí nội thất, bận luôn tay luôn chân. Lại còn – Bà thút thít khóc một lúc – cỗ áo quan cũng vừa mang đến. Bây giờ anh chị có thể cởi áo ngoài ra được rồi đấy. – Bà vừa nói vừa thận trọng kéo mảnh vải trắng phủ mặt như cũ – Ở đây rất lạnh, nhưng trong phòng ăn sáng có phần ấm hơn… Để em giúp chị một tay. Chị Ghécđa này, cái áo khoác đẹp thế này phải cẩn thận đấy… Em hôn chị một cái được không? Tuy chị lúc nào cũng ghét em, nhưng em thích chị lắm, chị có biết không? Không được, để em cởi mũ cho, nhất định không thể để cho mái tóc chị rối tung lên. Mái tóc chị đẹp lắm. Lúc mẹ còn trẻ, mái tóc mẹ cũng giống như tóc chị. Tất nhiên là xưa nay chưa bao giờ mẹ đẹp như chị, nhưng có một dạo, lúc đó mẹ đã đẻ em rồi, mẹ đẹp lắm! Nhưng bây giờ thì như Grôbleben thường nói: “Rốt cuộc rồi người nào cũng xuống đất cả!”. Không phải hay sao? Câu đó là của kẻ đầu óc đơn giản như anh ta nói đấy! À, anh Tom này, ở đây có mấy quyển sổ quan trọng…



Lúc này họ đã trở về gian phòng bên cạnh, ngồi quanh cái bàn tròn. Ông nghị cầm lấy cuốn sổ ghi đồ đạc, những thứ này sẽ chia cho mấy người con và mấy người thân thuộc. Mắt bà Tôny không rời khỏi mặt anh trai một phút nào, thần sắc bà vừa nghiêm nghị vừa vui mừng. Bà đang ấp ủ trong lòng một điều khó nói ra, nhưng rồi lát nữa cũng phải nói ra để bàn bạc.



- Tôi nghĩ – ông nghị nói – chúng ta nên làm theo tục lệ xưa nay, lễ vật của ai trở về nguyên chủ. Như vậy…



Bà nghị cắt lời chồng:



- Cho em nói xen một câu, anh Tômát. Em thấy… chú Cơrítxtian bây giờ ở đâu nhỉ?



- Trời ơi! Anh Cơrítxtian… - Bà Tôny kêu lên – Chúng ta quên mất anh ấy!



- Phải đấy! – Ông nghị bỏ cuốn sổ trong tay xuống – Chưa ai đi gọi chú ấy à?



Bà Tôny liền chạy đến kéo chuông. Nhưng ngay lúc đó ông Cơrítxtian tự tay mở cửa ra, đi vào. Ông bước vội vàng, đóng sầm cửa lại, rồi chau mày đứng giữa nhà, đôi mắt bé tí, tròn xoay và sâu hoắm, hết đảo sang trái rồi đảo sang phải chứ không nhìn ai cả. Cái miệng dưới chòm râu dày khít hung hung đỏ lại mím chặt, vẻ bồn chồn. Hình như ông ta đang bực mình chuyện gì, đang tìm cớ sinh sự với ai.



- Nghe nói anh chị và cô Tôny ở đây – Ông ta nói, giọng hơi bực bội – Nếu anh chị và cô bàn chuyện ấy thì ít ra cũng phải bảo tôi một tiếng với chứ!



- Chúng tôi đang định tìm chú – Ông nghị lạnh lùng nói – Ngồi xuống đây!



Khi nói chuyện, ông nghị nhìn đăm đăm vào cái cổ áo giả màu trắng của ông Cơrítxtian. Bộ đồ tang ông mặc trên người không ai có thể tìm ra chỗ nào không hợp quy cách: áo khoác ngoài vải đen, sơmi trắng tinh, nơ đen to tướng, cái khuy đen trên ngực thay cái khuy bằng vàng ngày thường của ông. Chắc ông Cơrítxtian thấy ánh mắt của ông anh, vì khi kéo cài ghế tới để ngồi, ông đưa tay sờ lên ngực nói:



- Tôi biết là tôi đeo cổ áo giả màu trắng, tôi chưa có thì giờ đi mua cái khác màu đen, hay nói thẳng ra là tôi cố tình bỏ qua. Mấy năm gần đây, tôi thường phải đi vay năm siling để mua thuốc đánh răng. Khi đi ngủ phải dùng diêm soi đường… Tôi không hiểu có phải mình sai hoàn toàn không? Với lại, điều quan trọng nhất trên đời này không phải là cái cổ áo giả màu đen. Tôi không để ý bề ngoài. Xưa nay tôi cho bề ngoài chẳng quan trọng gì cả.



Khi ông ta nói, bà Ghécđa cứ nhìn ông ta mãi, nghe tới đây, bất giác bà cười khẽ. Nhưng ông nghị thì lại nói:



- Để tôi xem, liệu chú thực hiện câu nói cuối cùng của chú được bao lâu.



- Thế ư? Chắc anh biết rõ lắm rồi, anh Tômát! Tôi chỉ nói là tôi không coi trọng chuyện ấy. Trước đây, tôi từng trải nhiều lắm rồi, đã giao du với đủ các hạng người, cũng đã biết được phong tục tập quán các nơi. Tôi không thể… Với lại tôi cũng là người đứng tuổi rồi – Ông ta cất cao giọng – Tôi đã bốn mươi ba tuổi, tôi làm chủ thân tôi và không cho phép ai can thiệp vào chuyện riêng của tôi.



- Tôi thấy hình như chú có chuyện gì trong lòng thì phải – Ông nghị giật mình nói – Về cái cổ áo giả, nếu tôi không nhớ sai thì tôi chẳng nói gì hết. Chú thích mặc thế nào tùy chú, chỉ mong chú đừng cho là có thể lay chuyển được tôi bằng chuyện phóng túng vặt vãnh đó…!



- Tôi không định lay chuyển anh tí nào cả!



- Anh Tom! Anh Cơrítxtian! Bà Tôny nói xen vào – Chúng ta ôn tồn nói chuyện với nhau có hơn không?… Hôm nay… ở đây… phòng bên cạnh, à… anh nói tiếp đi, anh Tômát. Đồ phúng của nhà ai trả nhà nấy, phải không? Như thế phải lắm…



Thế là ông Tômát tiếp tục nói. Ông bắt đầu từ những thứ đồ đạc to tát, những thứ nhà ông dùng được thì về phần ông như cái đèn treo to ở phòng ăn, tủ áo chạm để ở hành lang, vân vân… Về chuyện này, bà Tôny tỏ ra nhiệt tình. Chỉ cần người chủ tương lai tỏ ra chần chừ trước một thứ đồ vật nào đó là bà nói với điệu bộ không sao bắt chước được:



- Được, để em lấy cho…



Nhìn vẻ mặt bà tưởng chừng như tất cả nên cảm ơn lòng khẳng khái hy sinh của bà. Phần lớn đồ đạc trong nhà được bà giành về phần bà, cho con gái và cho cháu ngoại.



Ông Cơrítxtian được chia mấy thứ: cái đồng hồ và chiếc đàn phong cầm. Ông ta có vẻ hả hê lắm. Nhưng khi chia đồ đạc, khăn trải giường và bát đĩa thì ông ta hăng hái quá, gần như là tham lam khiến người ta phải kinh ngạc.



- Còn tôi, còn tôi? – Ông dõng dạc hỏi – Chớ quên đấy nhé!



- Ai quên chú! Tôi đã chia cho chú… chú nghe đây này, tôi đã chia cho chú cả bộ đồ trà và cái khay bạc, còn bộ đồ ăn mạ vàng, dùng ngày lễ ngày tết, chỉ nhà tôi mới dùng được…



- Em thích bộ đồ ăn có đường viền màu thạch lựu nhà thường dùng ấy – Bà Tôny nói.



- Thế còn tôi? – Ông Cơrítxtian giận dữ gào lên. Bình thường cũng có lúc ông ta nổi nóng như thế, lúc đó má ông ta thường lõm sâu xuống, vẻ mặt ông ta khó mà tả được… Tôi cũng muốn được chia một phần bộ đồ ăn đó! Được bao nhiêu thìa, bao nhiêu nĩa nhỉ? Tôi thấy hình như tôi chưa được chia gì cả!



- Chú lấy những thứ ấy làm gì? Chú chẳng dùng vào việc gì cả… nên để cho người nào có gia đình thì hơn.



- Để làm kỷ niệm, để cho tôi nhớ mẹ luôn, - Ông Cơrítxtian nói, vẻ không phục.



- Anh bạn thân mến này! – Ông nghị hơi bực – Bây giờ tôi không còn bụng dạ nào đùa cợt nữa… Nhưng nghe lời chú vừa nói thì dường như chú muốn bảy cái bát múc canh ở tủ chè để nhớ tới mẹ phải không? Chú không nên nghĩ rằng bây giờ chúng tôi cố tình bịp chú. Nếu chú lấy những thứ dùng hằng ngày ít đi thì chú sẽ được những cái khác bù đắp vào. Chăn, đệm, khăn trải giường kia cũng vậy…



- Tôi không cần tiền, tôi cần chăn đệm và bộ đồ ăn.



- Chú lấy những thứ ấy làm gì?



Ông Cơrítxtian trả lời một câu, câu ấy khiến bà Ghécđa quay ngay đầu lại, nhìn ông ta từ đầu xuống chân, ngạc nhiên hết sức và cũng làm cho ông nghị bỏ nhanh cái kính cặp ở trên mũi xuống, nhìn chằm chằm vào mặt ông em. Còn bà Tôny thì ngồi bắt chéo tay lại. Câu ông nói đó là: “Ồ, nói qua mà nghe, tôi sẽ lấy vợ nay mai thôi!”.



Ông ta nói rất nhanh, rất khẽ, lại khoát tay một cái như đứng bên này bàn ném vật gì đó sang phía anh trai, rồi ngả người, tựa vào lưng ghế, vẻ mặt rầu rĩ như vừa bị ai sỉ nhục, tâm thần bứt rứt, ánh mắt cũng bàng hoàng, bất định. Mọi người im lặng một lúc lâu, cuối cùng ông nghị nói:



- Chú Cơrítxtian này, thật tình mà nói, ý định đó của chú e muộn rồi. Tất nhiên giả thử đó là ý định có thể thực hiện được, chứ không giống ý định hão huyền trước đây chú từng thưa với mẹ…



- Tôi vẫn suy nghĩ như trước kia – Ông Cơrítxtian nói, mắt vẫn không nhìn bất cứ người nào, vẻ mặt cũng không có gì thay đổi.



- Không thể thế được! Chẳng nhẽ chú chờ mẹ qua đời rồi mới…



- Quả thực tôi đã tính như vậy. Hình như anh cho rằng, mọi sự tròn trĩnh trên đời này anh giành hết về phần mình anh cả.



- Tôi không hiểu tại sao chú lại nói những lời như vậy. Nhưng dụng ý và sự sắp đặt của chú quả thật làm cho người ta phải khâm phục. Mẹ vừa nằm xuống được một hôm, chú đã ngang nhiên bộc lộ hành vi phản nghịch của chú…



- Là bởi vì chúng ta đã nói tới chuyện đó. Nhưng cái chính là, tôi làm như thế thì mẹ không phải bực tức, ngày hôm nay hay sau một năm nữa cũng vậy!… Chao ôi, lạy Chúa, ý nghĩ của mẹ trước kia chưa hẳn đã đúng đâu. Chỉ vì mẹ nhìn sự việc theo ý của mẹ thôi, anh Tômát ạ! Mẹ sống ngày nào, tôi tôn trọng ý của mẹ ngày ấy. Mẹ già rồi, mẹ là người thế hệ trước, cái nhìn không giống như chúng ta đâu…



- Tôi nói cho chú biết, về chuyện ấy, ý tôi và ý mẹ hoàn toàn giống nhau.



- Cái đó, tôi mặc!



- Chú không thể mặc được!



Ông Cơrítxtian nhìn vào mắt anh trai.



- Không – Ông ta gào lên – Tôi mặc! Tôi xin nói với anh, tôi không thể nghe theo được… Tôi nên làm thế nào, tôi phải biết. Tôi là người lớn rồi…



- Ui dào! Chú nói chú là người lớn, chẳng qua là bề ngoài như thế thôi! Chú nên làm thế nào, chú chẳng biết mảy may!



- Biết chứ! Một là, hành động của tôi là hành động của người đứng đắn… Anh không biết rõ sự thật về việc này đâu, anh Tômát ạ! Có cô Tôny và chị Ghécđa ngồi ở đây, chúng ta không tiện bàn sâu nữa. Nhưng tôi đã nói với anh rồi, tôi có bổn phận làm như vậy. Đứa con bé nhất, bé…



- Tôi không biết bé nào cả, mà cũng không muốn biết. Tôi chỉ biết là chú đang bị người ta xỏ chân vào mũi. Dù nói thế nào đi chăng nữa, với con người ấy, đối với người đàn bà mà chú yêu thương đó, ngoài cái nghĩa vụ trước đây chú chấp hành, thì không còn nghĩa vụ nào khác nữa cả…



- “Người đàn bà” hả anh Tômát? “Người đàn bà” hả? Anh nghĩ sai về người ta rồi! Alina?



- Im mồm! Ông Bútđenbrúc gào to. Hai anh em đứng cách nhau cái bàn, đang  giận giữ nhìn nhau chằm chằm. Ông Tômát mặt tái xanh, người run lẩy bẩy. Hai con mắt ti hí sâu lõm của ông Cơrítxtian thì trợn tròn, đỏ ngầu, miệng cũng há to, má lõm xuống hơn ngày thường, lưỡng quyền thì nổi lên những nốt đỏ… Bà Ghécđa hết nhìn người này đến người nọ, vẻ giễu cợt. Còn bà Tôny thì chắp hai tay lại, van xin:



- Anh Tom!…! Anh Cơrítxtian! Mẹ còn nằm đấy, chưa khâm liệm kia mà!



- Quả thật, chú không còn chút liêm sỉ nào nữa – Ông nghị nói tiếp – Làm sao chú có thể… hừ, chú chẳng còn chút lương tri nào nữa, làm sao ở chỗ này, trong hoàn cảnh này, chú lại còn nhắc đến cái tên ấy nữa! Sự ngu xuẩn của chú đã đến mức độ khác thường, đúng là đã thành bệnh rồi.



- Tôi không hiểu tại sao tôi không thể nhắc đến cái tên Alina được? – Ông Cơrítxtian giận sôi lên, làm cho bà Ghécđa mỗi lúc một chăm chú nhìn ông ta – Tôi muốn nhắc đến cái tên đó để cho anh nghe đấy, anh Tômát ạ! Tôi định lấy cô ấy, vì tôi muốn có gia đình, tôi muốn nhìn cảnh êm ấm và được yên tĩnh. Với lại, tôi không cho phép… Anh nghe tôi nói không nào? Tôi không cho phép anh can thiệp vào chuyện này! Tôi có quyền tự do của tôi, tôi làm chủ thân tôi!



- Chú là đồ ngốc! Chờ ngày đọc di chúc, chú sẽ biết chủ làm chủ bản thân chú như thế nào! Đã sắp đặt đâu vào đấy rồi. Hãy nghe tôi nói, hãy nghe tôi nói, tài sản của mẹ để lại không thể đưa cho chú để chú phá tán như chú đã phá tán ba vạn mác trước đây. Tài sản của chú còn lại sẽ do tôi trông nom, ngoài số tiền ăn tiêu hàng tháng, chú không còn được lấy thêm một đồng nào nữa… Tôi xin thề với chú…



- Hừ, bản thân anh biết rõ, kẻ nào đã xui mẹ quyết định như thế. Nhưng tôi lấy làm lạ là mẹ không giao trách nhiệm đó cho ai khác, giao cho người nào có tình anh em thân thiết với tôi hơn anh…



Lúc này, ông Cơrítxtian giận hết chỗ nói, ông ta tuôn ra những lời xưa nay chưa hề nói với ai. Ông ta nằm phục trên mặt bàn, co ngón tay trỏ lại gõ lên mặt bàn liên tiếp, râu ông ta xồm xoàm, mắt ông ta đỏ hoe, nhìn anh trai chằm chằm. Còn ông Tômát thì ngồi thẳng người ở đấy, mặt ông tái xanh, mắt lim dim nhìn lại chú em.



- Anh chỉ lạnh lùng, oán giận và khinh tôi – Ông Cơrítxtian nói tiếp, giọng ồ ồ khản đặc – Trong ký ức tôi, tôi chỉ nhớ là đối với tôi, bao giờ anh cũng lạnh lùng khiến tôi thoáng thấy anh là đã tê tái cả ruột gan… Ừ, có lẽ anh thấy tôi nói thế thì cho là kỳ quặc, nhưng cảm giác thực của tôi là như vậy đấy!… Anh ruồng rẫy tôi, hễ nhìn thấy tôi là ghét ra mặt. Hơn nữa, rất ít khi anh nhìn thẳng vào mặt tôi. Anh có quyền gì làm như thế? Anh cũng là người, anh cũng có những thiếu sót của anh! Ừ, trong con mắt của ba mẹ, anh là người con cưng, được chiều chuộng. Nhưng anh có hiếu với ba mẹ như tôi, thì anh phải học ở ba mẹ một ít tinh thần xử thế của tín đồ đạo Cơ đốc chứ! Dù không còn tình máu mủ nữa, ít ra anh cũng có chút ít lòng bác ái của tín đồ đạo Cơ đốc. Nhưng trái tim anh như sắt đá, anh không nhìn tôi một lần nào. Hồi ở Hămbuốc, tôi bị thấp khớp nằm liệt giường, anh cũng không đến bệnh viện thăm.



- Tôi còn phải lo những việc quan trọng hơn là đi thăm chú! Vả lại sức khoẻ của tôi…



Anh đau ốm gì, anh Tômát? Anh khỏe như vâm! Nếu sức khỏe của anh cũng như tôi, dứt khoát bây giờ anh không thể ngồi như thế kia được!



- Có lẽ bệnh của tôi còn nặng hơn bệnh của chú.



- Anh ấy à?… Anh nói quá lời đấy! Cô Tôny, chị Ghécđa! Anh ấy bảo bệnh của anh ấy nặng hơn tôi! Sao? Anh cũng chết đi sống lại ở Hămbuốc vì bệnh thấp khớp phải không?! Anh cũng vì cơ thể chệch choạc mà đau đến nỗi không thể chịu đựng được phải không? Giây thần kinh nửa người bên trái của anh cũng ngắn quá phải không? Các bác sĩ có uy tín chẩn đoán cho tôi như vậy đấy! Vào lúc hoàng hôn, anh trở về nhà cũng trông thấy một người ngồi trên ghế xôpha gật đầu chào anh hẳn hoi, nhưng thực tế thì không có người đó phải không?



- Anh Cơrítxtian! – Bà Tôny gào lên, giọng khản đặc – Anh nói cái gì vậy? Trời ơi! Tại sao hai anh lại cãi nhau như thế? Nghe các anh nói thì hình như ai bệnh nặng thì kẻ đó lấy làm vinh hạnh! Vậy thì chị Ghécđa và em phải nói ra… Mẹ còn chưa khâm liệm kia kìa!



Chả nhẽ chú không hiểu, hả, cái đồ lẩm cẩm kia? Ông Tômát Bútđenbrúc xúc động gào lên – Những chuyện nghe mà buồn nôn ấy là kết quả của sự trụy lạc của chú phải không? Là kết quả của việc ăn không ngồi rồi thành ra suy nghĩ bậy bạ phải không? Làm việc đi! Đừng lười biếng nữa! Đừng bồi đắp thêm cho cái bệnh bất bệnh ấy nữa, đừng ca cẩm cho về bệnh tật của chú nữa! Xin nói thực với chú, nếu chú trở thành một thằng điên – không phải không thể xảy ra chuyện đó đâu – thì tôi không chảy một giọt nước mắt nào đâu, bởi vì đó là sai lầm của chú, sai lầm của một mình chú…



- Đúng như thế, tôi có chết đi anh cũng chẳng rơi nước mắt!



- Chú chưa chết được đâu! Ông nghị mỉa mai cay đắng.



- Tôi chưa chết được à? Ừ, cứ cho là tôi chưa chết được! Chúng ta xem ai chết trước nhé!… Làm việc! Nếu tôi không làm việc được? Nếu mãi mãi tôi không thể làm việc được! Tôi chán ngấy! Nếu trước đây anh có thể như thế, bây giờ anh vẫn có thể như thế, vậy thì anh cứ vui mừng cho bản thân anh, nhưng xin anh chớ có phán xét người khác, cái đó không có gì là hay ho đâu!… Thượng đế cho người này sức khỏe nhưng lại không cho người kia… Anh là người như thế! Anh Tômát – ông ta nói tiếp, mặt càng méo xệch và người mỗi lúc một chồm về phía trước ngón tay gõ xuống bàn mỗi lúc một gấp – Anh thường tự cho anh là phải… À, xem tôi nói đến đâu rồi… Không phải là tôi muốn nói như thế, không phải tôi muốn dùng những lời lẽ này để trách anh… nhưng quả thực, tôi không biết bắt đầu từ đâu, đây chẳng qua mới chỉ là một phần nghìn, một phần vạn điều oan ức ở trong bụng tôi! Anh có địa vị ở đời, một địa vị được mọi người tôn kính, thế là anh hơn người. Đối với tất cả những gì làm cho tinh thần anh rối loạn, làm cho tâm tư anh không được yên tĩnh, dù chỉ trong chốc lát, anh cũng đều lạnh lùng gạt đi, bởi vì đối với anh, điều quan trọng nhất là tâm tư được yên tĩnh. Nhưng cho phép tôi nói với anh, đấy không phải là điều quan trọng nhất, anh Tômát ạ, có trời chứng giám, đó không phải là cái chủ yếu nhất. Anh là người tự tư tự lợi, đúng, anh là hạng người như thế! Anh chửi bới, cáu gắt, giận dữ, tôi còn thích anh được. Tệ nhất là khi anh im lặng. Khi người khác nói với anh chuyện gì, bỗng anh không nói một lời nào, lặng lẽ rút lui, vừa ngạo nghễ, vừa xa xôi, rũ hết mọi trách nhiệm khỏi thân anh để người khác ngượng nghịu, xấu hổ về lời nói của họ… Anh không biết thương ai, khiêm tốn với ai cả! Hừ! – Bỗng ông ta gào lên một tiếng, hai tay để phía sau đầu, đưa đi đưa lại một hồi, rồi lại đưa ra phía trước như muốn đẩy lùi mọi thứ ra… - Tôi chán ngấy rồi, nào là chu tất, tròn trĩnh, tâm tư yên tĩnh, nào là trang nghiêm, thể thống… chán ngấy tất!… - Tiếng gào cuối cùng ấy hết sức chân tình, là tiếng thét tự đáy lòng, bao hàm một sự bực tức, mệt mỏi ghê gớm, bởi vậy nó có ít nhiều sức mạnh lay động người khác. Ông Tômát rụt lại, không nói được một câu nào rồi cúi xuống nhìn phía trước, dáng mệt mỏi.



- Bây giờ tôi đã trở thành một người như thế này – Cuối cùng, ông Tômát nói, giọng xúc động – Bởi vì tôi không muốn trở thành người như chú. Giá như trong thâm tâm, tôi trở thành người trốn tránh chú, đó là bởi vì tôi cần đề phòng chú, bởi vì tính tình và hành vi của chú nguy hiểm cho tôi… Tôi nói thực đấy!



Ngừng một lát ông lại nói tiếp, giọng đanh lại:



- Chúng ta đi xa quá rồi! Chú đã đọc một bài diễn thuyết về tình cảnh của tôi, tuy có phần lộn xộn nhưng chắc có ít nhiều sự thật. Nhưng bây giờ không phải là lúc chúng ta nói về tôi, mà là về chú kia! Chú có ý định lấy vợ, thì hãy bỏ ý định đó đi! Ý định của chú không thành được đâu. Trước tiên là số lợi tức sau này tôi đưa cho chú không nhiều lắm, nhất định sẽ làm cho chú chán nản…



- Alina dành dụm được một ít.



Ông nghị nuốt nước bọt, cố nén không để tình cảm của mình bộc lộ ra.



- Hừ, dành dụm được một ít! Chú định gộp di sản của mẹ với số tiền người đàn bà ấy dành dụm được à?



- Đúng như thế! Tôi mong có gia đình, mong có người an ủi trong cơn bệnh hoạn. Với lại, hai chúng tôi cân xứng với nhau. Cả hai đều là người có ít nhiều nhược điểm.



- Chú còn định nuôi mấy đứa con riêng của chị ta ư?… Có nghĩa là, để cho chúng nó hưởng quyền thừa kế chứ gì?



- Tất nhiên!



- Như vậy thì sau khi chú chết, tài sản của chú rơi vào tay chúng nó chứ gì?



Khi ông nghị nói câu đó, bà Tôny khẽ để tay lên vai ông, van xin:



- Anh Tômát, mẹ còn chưa khâm liệm kia kìa…



- Đúng thế – Ông Cơrítxtian trả lời – Tất nhiên là như vậy.



- Ấy, chú không thể làm thế được!



Ông nghị gào to, đứng phắt dậy. Ông Cơrítxtian cũng đứng phắt dậy, một tay cầm ghế, cằm tỳ vào ngực, nhìn anh trai chằm chằm, vừa lo sợ, vừa giận dữ.



- Chú không thể làm thế được – Ông Tômát Bútđenbrúc gào lên. Ông như người lên cơn điên, mặt tái mét, toàn thân co rúm, run lẩy bẩy – Hễ tôi còn sống thì chuyện đó không thể xảy ra được. Tôi thề với chú!… Chú phải thận trọng một tý, phải thận trọng một tý. Chúng ta gặp chuyện rủi ro, làm việc không thực tế, bị người ta giở những mánh khóe bỉ ổi ra lừa bịp, tổn thất nhiều lắm rồi, nên chú không được phép đem một phần tư tài sản của mẹ dùng cho người đàn bà ấy và mấy đứa con của chị ta!… Nhất là Tibuốctiút đã lừa lấy đi một phần… Chú đã làm cho gia đình ta mất mặt nhiều rồi, chú không thể đem một con đĩ về làm dâu nhà này, không thể để cho mấy đứa con nó lấy họ nhà này. Tôi không thể để chú làm như thế được, chú nghe ra chưa? Tôi không cho phép chú! – Giọng ông oang oang khắp nhà. Bà Tôny nức nở ngồi co ro trong một góc xôpha – Với lại, tôi bảo cho chú biết, chú đừng hòng làm trái lệnh tôi! Cho đến bây giờ, tôi vẫn xem thường chú… Nhưng nếu chú làm cho tôi không thể nhìn chú được nữa, thì chúng ta sẽ xem kẻ nào sẽ thiệt! Tôi nói với chú một lần nữa, chú phải thận trọng, tôi không ngần ngại gì cả! Tôi sẽ cho người tuyên bố rằng thần kinh của chú suy nhược rồi nhốt chú lại. Tôi sẽ làm cho chú bị tiêu diệt! Chú có hiểu không?



- Tôi cũng nói cho anh biết…



Ông Cơrítxtian ăn miếng trả miếng, thế là anh một câu, em một câu, cuộc cãi vã ầm ĩ lộn xộn đến là thảm hại, đã không có nội dung nhất định lại không có mục đích gì! Người nào cũng nghĩ cách làm cho người đang cãi nhau với mình xấu mặt, đả kích vào chỗ đau khổ của đối phương. Ông Cơrítxtian lại nói về tính cách của anh trai, tìm một số chuyện không lấy gì làm hay ho từ thời xa xưa để chứng minh tính tự tư tự lợi của ông Tômát. Những chuyện vụn vặt đó, ông Cơrítxtian không bao giờ quên, trái lại, ông thường nhớ đến và trong lòng hết sức bực bội. Mặt khác, ông nghị cũng cố tình dùng những lời lẽ khinh miệt và dọa nạt quá đáng để trả lời chú em. Khoảng mươi phút sau khi nói ra, ông cũng có phần hồi hận. Bà Ghécđa khẽ đưa tay lên chống đầu, nhìn hai anh em, vẻ mơ màng. Qua nét mặt bà, hoàn toàn không thể đoán được tình cảm của bà lúc đó như thế nào. Bà Tôny thì luôn miệng nói, giọng đau khổ tuyệt vọng:



- Mẹ nằm xuống chưa liệm kia kìa! Mẹ nằm xuống chưa liệm kia kìa!



Khi trả lời ông anh mấy câu cuối cùng, ông Cơrítxtian bắt đầu đi đi lại lại trong phòng, cuối cùng ông ta rút lui khỏi “chiến trường”.



- Chúng ta hãy chờ xem! – Ông ta nói to, rồi giận dữ đi ra cửa. Râu rối bời, mắt đỏ hoe, áo khoác ngoài phanh ra, tay cầm mùi xoa, ông vừa bước ra khỏi cửa liền đóng sầm lại một cái. Ông nghị đứng một lúc nữa. Trong phòng im ắng trở lại. Rồi ông nhìn về phía chú em vừa bước ra. Sau đó, ông lại lặng lẽ ngồi xuống, kéo mạnh quyển sổ, cầm lên, tiếp tục chia phần, giọng khô khốc. Làm xong chuyện đó, ông ngả người ra ghế, mân mê râu, đăm chiêu.



Bà Tôny sợ quá, tim đập thùm thụp. Chuyện ấy, cái chuyện to tát ấy không thể trì hoãn được nữa. Phải nói ra, nhất định phải để anh ấy trả lời… Nhưng cứ như tâm trạng anh ấy bây giờ thì anh ấy còn nghĩ gì đến lòng nhân nghĩa và hiếu thảo nữa không!



- À, anh Tom…  - Bà nhìn xuống bụng bà trước rồi sợ hãi nhìn lên sắc mặt của anh mới bắt đầu nói – những đồ dùng gia đình, tất nhiên anh đã lo chu tất cả… Những thứ chia cho chúng em, em nói những thứ chia cho Êrica, cháu bé và em… đều ở đây… ở trong tay chúng em… nhưng ngôi nhà, ngôi nhà này thì thế nào? – Bà vừa hỏi vừa len lén xoa tay.



Ông nghị không trả lời ngay. Ông tiếp tục vê râu, buồn bã suy nghĩ một lúc. Tiếp đó, ông thở dài rồi ngồi thẳng người lên.



- Nhà ấy à? – Ông nói – Nhà tất nhiên là của chúng ta, của cô, của chú Cơrítxtian và tôi… Thật là không phải, mục sư Tibuốctiút cũng có một phần. Chú ấy nhận phần của cô Cơrala. Một mình tôi không thể quyết định gì cả, à, phải được các cô chú đồng ý. Nhưng rõ ràng lắm rồi, càng bán nhà càng tốt. – Khi nói câu cuối cùng, ông nhún vai một cái. Nhưng rồi sắc mặt ông thay đổi hầu như chính ông cũng hoảng sợ về lời nói của mình.



Bà Tôny gục đầu xuống, không xoa tay nữa. Tay chân bà mềm nhũn.



- Được, chúng em đồng ý. – Im lặng một lúc, bà lặp lại, giọng thê thảm, thậm chí có phần cay đắng – Lạy Chúa, anh Tom, anh biết đấy, anh cho là phải thì anh cứ làm, chúng em đồng ý cả thôi… Nhưng nếu cho phép em được nói xen vào vài lời cầu xin anh, - Giọng bà nhỏ dần hầu như không nghe rõ nữa, môi trên cũng bắt đầu run run – Ngôi nhà! Ngôi nhà của mẹ! Tài sản của tổ tiên chúng ta để lại! Anh em chúng ta đã sống hạnh phúc ở trong ngôi nhà này! Vậy mà nay lại bán đi…!



Ông nghị nhún vai:



- Cô hãy tin lời tôi. Tất cả những điều cô nói cũng là những điều lương tâm tôi áy náy… Nhưng đó không phải là lý do cản trở việc này của chúng ta, đó chẳng qua chỉ là tình cảm của chúng ta thôi. Nên làm như thế nào thì phải làm thế ấy. Chúng ta có một khoảnh đất rộng lớn ngần ấy, để làm gì? Bao nhiêu năm nay, kể từ ngày ba qua đời, cả dãy nhà sau đã bắt đầu dổ rồi, phòng đánh bia chuột đã làm tổ, bước vào sợ nền nhà sụp xuống. Phải, giá như tôi không có ngôi nhà mới ở phố Hàng Cá… Nhưng đã làm rồi, cô bảo nên giải quyết như thế nào? Chả nhẽ bán đi hay sao? Cô thử nói bán cho ai? Bán đi, thì số tiền bỏ ra đại khái mất đi một nửa. Chao ôi, cô Tôny này, đất đai của chúng ta nhiều lắm, nhiều đến nỗi không thể dùng hết được! Dãy nhà kho, hai ngôi nhà lớn! Giá trị đất đai và số vốn lưu động thường tạo thành một tỉ lệ nhất định! Không, phải bán đi, bán quách đi…!



Nhưng những lời ông nói, bà Tôny không thể nghe lọt tai được nữa. Bà ngồi co ro trên ghế, suy nghĩ mông lung, mắt đang nhìn mơ màng về phía trước, nước mắt nhòe ra.



- Gia đình chúng ta… - Bà ấp úng – em còn nhớ người ta đến chúc mừng gia đình ta dọn về nhà mới, chúng ta mới chỉ cao bằng ngần này. Lúc đó, cả nhà đông đủ. Bác Hốptếch đọc một bài thơ… Bài thơ ấy ở trong cặp giấy tờ… Em còn thuộc lòng… Phòng phong cảnh, phòng ăn… hàng loạt khách đến mừng!



- Đúng thế đấy, cô Tôny ạ! Khi ông nội tậu cái cơ ngiệp này, nhất định những người bỏ ra đi cũng nghĩ như thế. Họ hết tiền, phải dọn đi. Bây giờ chết cả rồi, xương cốt đã thành đất bụi. Trong đời không có yến tiệc nào không tan. Gia đình ta chưa đến nỗi sa sút như gia đình Ratencăm. Khi từ biệt ngôi nhà này đi, tình cảnh ta còn khá hơn họ nhiều. Chúng ta nên coi đó là hạnh phúc, cần phải cảm tạ Thượng đế…



Những tiếng nức nở đau khổ cắt lời nói của ông. Bà Tôny để mặc cho nỗi đau khổ bộc lộ ra ngoài, thậm chí nước mắt chảy xuống gò má bà cũng không buồn lau, bà chồm người về phía trước, rồi co rúm lại, từng giọt nước mắt nóng hổi rơi lã chã xuống bàn tay mềm nhũn để trên đầu gối, bà cũng mặc.



- Anh Tom! – Cuối cùng bà nói, giọng bà lúc này nghẹn ngào, có vẻ kiên quyết, khiến người ta phải xúc động – anh không hiểu được tâm trạng của em bây giờ như thế nào, anh không hiểu được. Em gái anh suốt đời không được sống ưng ý một ngày nào cả. Số phận cứ giày vò mãi, tất cả những gì hẩm hiu không tưởng tượng nổi trên đời đều đổ vào đầu em. Thật em không hiểu em có tiền oan nghiệp chướng gì. Nhưng tất cả những chuyện đó em chịu đựng được. Anh Tom, em chưa hề nản lòng bao giờ, dù là chuyện Gơruynlích, chuyện Pécmanêdơ hay là chuyện Vaisen cũng vậy thôi. Bởi vì mỗi lần ông trời muốn vùi dập em, em vẫn không chịu cùng đường. Trong lòng em, trước sau vẫn có một chỗ, một cái cảng tránh gió, có thể nói như vậy. Em sinh ra ở đâu, lớn lên ở đâu thì em vẫn có thể về đó trốn tránh tai nạn… Thậm chí lần này không còn hy vọng gì nữa, người ta bỏ tù Vaisen, em vẫn nói với mẹ: “Thưa mẹ, chúng con có thể dọn về nhà ta ở được không mẹ?”. “Được, con ạ! Con cứ dọn về ở đây!”. Anh Tom này, khi chúng ta còn bé, chơi trò đánh trận, chúng ta thường có một “cái nhà”. Chúng ta thường vẽ ra một khoảng trống nhỏ, khi nguy cấp có thể chạy vào đó nghỉ một lúc cho khỏe đã. Không ai được tấn công vào nơi đó. Ngôi nhà của mẹ, ngôi nhà này tức là “cái nhà” ấy trong cuộc đời em, anh Tom ạ…! Vậy mà… vậy mà giờ đây sắp bán mất…



Bà ngửa người ra phía sau, lấy mùi xoa che mặt khóc òa lên.



Ông nghị cầm một bàn tay bà kéo lại, nắm trong tay mình.



- Cô Tôny thân mến, những lời cô thốt ra tự đáy lòng, anh rất hiểu! Nhưng bây giờ chúng ta hãy lý trí một chút có được không? Người mẹ hiền hậu của chúng ta đã mất rồi, chúng ta không thể gọi mẹ sống lại được nữa. Bây giờ làm thế nào? Giữ tòa nhà này coi như là cái vốn không thể quay vòng được, thì thật không thể tưởng tượng nổi. Bằng không thì chia nhỏ ra, cho thuê ư? Anh biết, để người khác vào ở, em rất đau lòng. Thà mắt em không nhìn thấy còn hơn. Gia đình em có thể thuê một căn nhà nhỏ xinh hơn, hoặc là, em còn muốn ở trong ngôi nhà có nhiều phòng khách? Vả chăng, nhà thì em có rồi đấy chứ, nhà của anh chị ở phố Brêten kia kìa, nhà của cậu Cơruêgơ, của bà Vaisơbrốt… Anh không nhắc tới Cơlốthinđơ, vì không hiểu cô ấy lui tới gia đình ta có tiện không. Cô ấy đã đi tu rồi, chắc cũng phải xa lánh người đời ra.



Bà thở dài một tiếng, nhưng tiếng thở dài đó hàm ý vui vui. Bà quay phắt đầu lại, lấy mùi xoa che kín mắt. Môi bà bĩu ra, vẻ giận dữ trông giống đứa trẻ đang nổi cáu bị người lớn cù cho bật cười. Nhưng một lúc sau, bà bỏ mùi xoa xuống và ngồi thẳng người như đã quyết tâm rồi. Chẳng khác gì những lúc tỏ ra mình là người đoan trang, cứng cỏi, bà vừa ngả đầu ra phía sau, vừa ra sức tì cằm vào ngực.



- Phải đấy, anh Tom ạ! – Bà vừa nói, vừa nhấp nháy đôi mắt ướt, rồi nhìn ra cửa sổ, vẻ kiên quyết, nghiêm túc – Em cũng muốn xử sự theo lý trí hơn… Bây giờ thì em biết điều lắm rồi, nhất định anh phải bỏ qua cho em… và chị cũng nên bỏ qua cho em, chị Ghécđa ạ! Vừa rồi em khóc ghê quá, em thường như vậy… Tình cảm quá mềm yếu, nhưng đó chỉ là bề ngoài, anh chị hãy tin ở em. Anh chị biết đấy, cuộc sống đã thử thách em… Đúng thế, anh Tom ạ! Em rất biết cái vốn cố định anh nói là như thế nào. Em vẫn còn chút ít thường thức đó. Em chỉ có thể nhắc lại câu này: phàm cái gì anh cho là đúng thì anh cứ việc làm. Nhất định anh phải tính toán thay cho chúng em. Chị Ghécđa và em đều là phụ nữ, còn anh Cơrítxtian thì… ôi, cầu Thượng đế phù hộ cho anh ấy! Chúng em không thể phản đối anh được. Những điều chúng em nêu ra không phải là để phản đối, đó chỉ là tâm tình của chúng em, ai cũng thấy rõ như thế cả, anh định bán tòa nhà này cho ai hả anh Tom? Liệu có bán nhanh được không?



- Ồ, cái đó thì khó nói lắm! Sớm muộn rồi cũng bán được thôi. Sáng hôm nay anh đã nói qua với cụ Gốtxơ, cụ Gốtxơ làm nghề môi giới chào hàng ấy mà, hình như cụ cũng có ý định làm hộ ta việc này…



- Nếu cụ cáng đáng cho thì tốt quá đi rồi. Tất nhiên không phải cụ Digitmen Gốtxơ hoàn toàn tốt đâu. Nghe người ta kháo nhau rằng, cụ ta dịch sách tiếng Tây Ban Nha cơ đấy! - Em không nhớ rõ nhà thơ ấy tên gì. Thật là một con người kỳ quặc, anh bảo có đúng không, anh Tom? Nhưng trước kia cụ cũng là bạn của ba. Cụ thành thực lắm, hơn nữa lại rất hiểu nhân tình thế thái, cái đó ai cũng biết. Chắc chắn cụ ấy cũng rõ, đây không phải là chuyện mua bán bình thường. Không phải là chúng ta tùy tiện bán một tòa nhà… Anh đánh giá bao nhiêu, hả anh Tom? Ít nhất cũng phải tới mười vạn mác, phải không?



- Mười vạn là rẻ lắm rồi, anh Tom ạ!



Khi anh trai và chị dâu bước xuống bậc tam cấp, bà đang cầm quả đấm cửa còn nói thêm một câu. Sau đó còn lại một mình bà. Bà đứng giữa nhà, im lặng, vai thõng xuống, hai tay bắt chéo trước ngực, lòng bàn tay úp sấp. Bà giương mắt nhìn bốn chung quanh một lúc trông như người mất hồn. Vì phải suy nghĩ nhiều, cái đầu đội mũ mềm viền xa tanh khẽ lắc lắc và nghiêng mãi sang một bên.



 



(còn tiếp)



Nguồn: Gia đình Buddenbrook. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »