tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29455086
Tiểu thuyết
05.01.2009
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

VII


Sau tất cả những điều Napôlêông đã nói với ông ta, sau những cơn giận dữ và sau cái câu rất xẵng nói lúc từ biệt: "Thôi xin chào các tướng quân, tướng quân sẽ nhận được bức thư của tôi gửi hoàng đế", Balasốp đinh ninh rằng Napôlêông bây giờ không những không muốn gặp ông ta, mà sẽ còn cố gắng tránh mặt ông ta, một sứ giả vừa bị lăng nhục và hơn nữa đã chứng kiến cơn nóng nảy khiếm nhã của mình. Nhưng Balasốp rất lấy làm lạ vì ngay hôm ấy Đuyarốc đã chuyển lời mời ông đến dự bữa ăn của Hoàng đế.


Bữa ăn này có Bêxie, Côlanhcua và Bécchiê dự. Napôlêông tiếp Balasốp vui vẻ nhã nhặn, không những ông không có vẻ gì ngượng nghịu hay ân hận về cơn giận sáng nay, mà trái lại còn ra sức tìm cách khích lệ Balasốp nữa là khác. Có thể thấy rõ là đã từ lâu, Napôlêông tin chắc rằng mình không thể làm điều gì sai lầm và trong quan niệm của ông ta thì mọi việc ông ta làm đều hay, không phải là vì những việc đó phù hợp với khái niệm tốt xấu, mà là vì chính ông ta đã làm những điều đó.


Hoàng đế lúc bấy giờ rất vui vẻ vì vừa đi dạo trong thành phố Vinna trở về: trong cuộc du lãm này, những đám đông dân chúng đã nô nức ra đón chào và đi theo ông ta, ở các phố mà ông ta đi qua, tất cả các cửa sổ đều có treo thảm, cờ, phù hiệu của ông ta, và phụ nữ Ba Lan đã vẫy khăn tay chào mừng ông.


Đến bữa ăn, ông ta cho Balasốp ngồi bên cạnh, và không những nói năng với viên sứ thần Nga một cách ôn tồn thân mật, mà lại còn đối xử như thể Balasốp cũng là một triều thần của mình, cũng là một trong số những người tán thưởng các kế hoạch của mình và chắc chắn phải lấy làm mừng về những thành công của mình. Sau khi nói chuyện này chuyện nọ một lúc, Napôlêông quay ra nói chuyện về Mátxcơva và hỏi Balasốp về thủ đô nước Nga, không phải như một người du lịch tò mò hỏi về một địa phương mới lạ mà mình định đến thăm, mà lại có vẻ tin chắc rằng Balasốp là người Nga tất phải lấy làm vinh hạnh khi được hỏi han như vậy.


- Ở Mátxcơva có bao nhiêu cư dân, có bao nhiêu nhà? Có đúng là người ta gọi Mốtscu[1] là Mốtscu thần thánh[2] không? Có bao nhiêu nhà thờ ở Mốtscu? - Napôlêông hỏi.


Nghe nói là có hơn hai trăm ngôi nhà thờ, Napôlêông nói:


- Sao lại lắm nhà thờ như thế?


- Người Nga rất mộ đạo, - Balasốp đáp.


- Vả chăng, có nhiều tu viện và nhà thờ bao giờ cũng là một dấu hiệu chứng tỏ rằng một dân tộc còn lạc hậu, - Napôlêông vừa nói vừa đưa mắt nhìn Côlanhcua, đợi ông này tán thưởng.


Balasốp kính cẩn tỏ ý không tán thành ý kiến của hoàng đế Pháp.


- Mỗi nước có phong tục riêng, - ông ta nói.


- Nhưng hiện nay ở châu Âu không còn một nước nào như vậy cả, - Napôlêông nói.


- Xin hoàng thượng xá lỗi cho - Balasốp nói. - Ngoài nước Nga ra còn có nước Tây Ban Nha: ở đây tu viện và nhà thờ cũng nhiều không kém.


Câu trả lời của Balasốp nhằm ám chỉ cuộc thất trận gần đây của quân đội Pháp ở Tây Ban Nha, và về sau, khi ông ta đem ra kể lại ở triều đình hoàng đế Alếchxanđrơ, nó đã được đánh giá rất cao; còn bây giờ, trong bữa tiệc của Napôlêông thì câu trả lời đó lại ít được thưởng thức và chẳng ai chú ý đến.


Cứ trông vẻ mặt hững hờ và ngơ ngác của các vị nguyên soái cũng có vẻ thấy rằng họ không hiểu câu nói đó có ý vị gì mà Balasốp lại phải nói bằng cái giọng đặc biệt như vậy. Vẻ mặt của họ như muốn nói "Cho là có ngụ ý gì đi chăng nữa, thì chúng tôi cũng chẳng hiểu, hoặc giả nó chẳng có gì là hóm hỉnh hết". Câu trả lời ít được thưởng thức đến nỗi Napôlêông chẳng hề mảy may để ý đến và ra vẻ ngây thơ hỏi Balasốp xem từ đây đi đường thẳng đến Mátxcơva thì phải đi qua những thành phố nào. Balasốp suốt bữa tiệc không lúc nào ngừng giữ miếng, đáp lại rằng cũng như mọi nẻo đường dẫn đến La Mã, thì mọi nẻo đường cùng đều dẫn đến Mátxcơva[3], nghĩa là có rất nhiều đường, và trong số những con đường đó có con đường đi qua Pôntava[4], con đường mà Caclơ XII đã chọn, Balasốp nói, bất giác đỏ mặt lên vì đắc ý với câu đối đáp sắc sảo của mình. Balasốp chưa kịp nói hết chữ "Poltava"[5], thì Côlanhcua đã quay ra nói về những sự bất tiện trên con đường từ Pêtécbua đến Mátxcơva và nhắc nhở những kỷ niệm ở Pêtécbua của mình.


Sau bữa ăn, họ sang uống cà phê trong phòng giấy của Napôlêông, căn phòng mà bốn ngày trước đây còn được dùng làm phòng giấy của hoàng đế Alếchxanđrơ. Napôlêông ngồi xuống, lấy thìa khuấy cà phê trong cái tách bằng xứ Xeprơ[6] và chỉ cho Balasốp một chiếc ghế ở bên cạnh mình.


Sau bữa tiệc, người ta vẫn thường có khuynh hướng hài lòng với bản thân và xem mọi người như bạn, mặc dù không có lý do gì chính đáng hơn để làm như vậy. Napôlêông bấy giờ đang ở trong trạng thái đó. Ông cứ có cảm tưởng là chung quanh mình toàn những người sùng bái mình cả. Ông cứ yên trí rằng Balasốp, sau bữa ăn với ông, cũng là người bạn và là một người sùng bái mình như thế. Napôlêông nói chuyện với Balasốp, trên môi nở một nụ cười thân mật và hơi nhuốm vẻ giễu cợt.


- Nghe nói phòng này trước kia chính là phòng của hoàng đế Alếchxanđrơ. Kể cũng lạ, có phải không tướng quân?- Napôlêông nói, hẳn là tin rằng những lời này không thể làm cho người đối thoại với mình thích thú, vì nó chứng tỏ rằng ông ta, Napôlêông, hơn hẳn Alếchxanđrơ.


Balasốp không biết trả lời ra sao, chỉ im lặng cúi đầu.


- Phải, trong căn phòng này, bốn ngày trước đây Vintxingơrốt và Stainơ đã hội bàn với nhau, - Napôlêông nói tiếp, vẫn với nụ cười giễu cợt và tự tin trên môi. - Có một điều mà tôi không hiểu được, là hoàng đế Alếchxanđrơ đã dung nạp tất cả những kẻ thù riêng của tôi. Điều đó... tôi không sao hiểu được. Thế hoàng đế không nghĩ rằng tôi cũng có thể làm như vậy hay sao? - Ông ta hỏi Balasốp, và hình như hồi ức này gợi lên những dấu vết của cơn giận ban sáng, hãy còn tươi rói trong tâm trí ông ta.- Và hoàng đế Alếchxanđrơ cũng nên biết rằng tôi sẽ làm như vậy, - Napôlêông vừa nói vừa đứng dậy và gạt chén cà phê ra. - Tôi sẽ đuổi ra khỏi nước Đức tất cả những người thân thuộc với ông ta, những Vuyêctembéc, những Bađen, những Vaima[7]... phải, tôi sẽ đuổi tất cả. Ông ta hãy liệu mà sắp sẵn chỗ trú thân cho họ ở nước Nga đi!


Balasốp cúi đầu, vẻ như muốn ngụ ý rằng mình cũng muốn lui ra và có nghe chăng cũng chỉ vì không thể nào không nghe được mà thôi. Napôlêông không để ý thấy vẻ mặt của Balasốp, ông nói năng với Balavôp không phải như một sứ thần của kẻ địch, mà như với một người hoàn toàn phục tùng ông ta và tất phải lấy làm vui mừng khi thấy ông chủ cũ của mình bị khuất phục.


- Thế tại sao vua Alếchxanđrơ lại nắm quyền chỉ huy quân đội? Như thế để làm gì? Chiến tranh là nghề nghiệp của tôi, còn việc của ông ta là làm vua, chứ không phải chỉ huy quân đội. Tại sao ông ta lại lĩnh lấy một trách nhiệm như thế?


Napôlêông lại rút hộp thuốc lá ra, im lặng đi đi lại lại mấy lượt trong phòng và bỗng đến gần Balasốp rồi nói với một cử chỉ nhanh nhẹn, quả quyết, như đang làm một việc gì không có tầm quan trọng mà lại còn làm cho Balasốp hài lòng nữa. Ông ta đột nhiên giơ tay lên nắm lấy tai viên tướng Nga đã ngoại tứ tuần ấy, khẽ kéo một cái, vừa kéo vừa mỉm cười, nhưng chỉ mỉm cười bằng môi thôi.


Được hoàngđế kéotai[8] là một điều ở triều đình nước Pháp người ta xem là vinh dự tối cao và là ân sủng lớn nhất.


- Thế nào, sao ông không nói gì cả, ông triều thần ngưỡng mộ hoàng đế Alếchxanđrơ kia? [9]- Napôlêông nói, tựa hồ lấy làm buồn cười rằng sao trước mặt ông ta mà lại còn có thể ngưỡng mộ[10] một người nào khác ngoài ông ta, Napôlêông.


- Ngựa của tướng quân đã thắng xong chưa? - Ông ta nói thêm, khẽ nghiêng đầu đáp lại cái chào của Balasốp.


- Đưa ngựa của ta cho tướng quân dùng nhé, tướng quân phải đi xa lắm đấy...


Bức thư do Balasốp mang về là bức thư cuối cùng của Napôlêông gửi Alếchxanđrơ. Tất cả các chi tiết trong cuộc nói chuyện này đều được truyền đạt cho hoàng đế Nga, và chiến tranh bắt đầu.


VIII


Sau khi gặp Pie ở Mátxcơva, công tước Anđrây đi Pêtécbua, công tước nói với người nhà là giải quyết công việc, nhưng thật ra là đi tìm công tước Anatôn Curaghin vì chàng cho là thế nào cũng phải tìm hắn cho kỳ được. Đến Pêtécbua, chàng hỏi thăm thì được biết rằng Curaghin không còn ở đây nữa. Pie đã đánh tiếng cho em vợ biết rằng công tước Anđrây đi tìm hắn ta. Anatôn lập tức xin được tổng trưởng bộ chiến tranh cử đi công cán và lên đường đến quân đoàn Mônđavi. Trong khi đó, ở Pêtécbua, công tước Anđrây gặp Cutudốp, vị chủ tướng cũ, người bao giờ cũng có thiện cảm đối với chàng, và Cutudốp bàn với chàng cùng đi đến quân đoàn Mônđavi với ông ta, vì vị lão tướng vừa được nhận chức tùy viên ở bộ tham mưu tổng hành dinh và được phái đi Thổ Nhĩ Kỳ.


Công tước Anđrây cho rằng viết thư cho Curaghin và thách hắn đấu súng thì không tiện. Nếu không tìm được một cớ gì khác thì việc đó sẽ tổn thương đến danh giá của bá tước tiểu thư Rôstôva, công tước Anđrây nghĩ như vậy, cho nên chàng tìm cơ hội gặp riêng Curaghin và nhân đấy tìm ra một lý do mới để thách hắn đấu súng. Nhưng ở quân đoàn Thổ Nhĩ Kỳ, chàng vẫn không gặp được Curaghin, vì công tước Anđrây vừa đến quân đoàn Thổ Nhĩ Kỳ được mấy hôm thì hắn ta trở về Nga rồi. Sống ở một xứ lạ và trong những hoàn cảnh sinh hoạt mới mẻ, công tước Anđrây thấy dễ chịu hơn trước. Từ khi người vợ chưa cưới đã bội nghĩa với chàng, nỗi đau đớn mà chàng muốn giấu không cho ai biết lại càng thấm thía hơn nhiều. Những điều kiện sinh hoạt đã từng làm cho chàng đã cảm thấy hạnh phúc, và nhất là cuộc sống tự do và độc lập mà trước kia chàng rất quý thì nay lại càng trở thành nỗi khổ đối với chàng. Lòng chàng không còn buông theo những ý nghĩ trước kia đã đến với chàng lần đầu tiên khi chàng nhìn lên bầu trời ở chiến trường Aostéclích, những ý nghĩ mà chàng thích đem bày tỏ với Pie, những ý nghĩ đã theo chàng trong cảnh cô quạnh ở Bôgútsarôvô, rồi sau đó ở Thụy Sĩ và ở La Mã; không những thế, thậm chí chàng lại còn sợ nhớ đến những ý nghĩ ấy, những ý nghĩ xưa kia đã mở ra những chân trời vô biên và sáng sủa. Bây giờ chàng chú ý đến những điều thực tiễn trước mắt không có liên hệ với những vấn đề trước kia, và những vấn đề trước kia càng bị che khuất đi bao nhiêu thì chàng lại càng bám lấy những vấn đề thực tiễn hiện tại một cách hăm hở bấy nhiêu. Có thể tưởng chừng như bầu trời vô tận trước kia đã từng mở rộng ra trên đầu chàng, nay bỗng biến thành một cái vòng thấp hẹp, cụ thể, đang đè lên chàng, trong đó cái gì cũng rõ ràng, nhưng không có gì vĩnh viễn và bí ẩn hơn nữa.


Trong những hoạt động bày ra trước mắt chàng thì việc nhập ngũ là đơn giản và quen thuộc hơn cả. Giữ chức sĩ quan trực tinh trong bộ tham mưu của Cutudốp, chàng làm việc rất sốt sắng và chuyên cần, khiến cho Cutudốp phải ngạc nhiên vì cách làm việc say sưa và chu đáo của chàng. Không tìm thấy Curaghin ở Thổ Nhĩ Kỳ, công tước Anđrây thấy không cần phải trở về Nga để đuổi theo hắn, tuy nhiên chàng biết rằng, dù có trải qua thời gian dài đến bao nhiêu chăng nữa, dù chàng hết sức khinh miệt Curaghin, dù chàng đã viện đủ các thứ lý lẽ để chứng minh cho bản thân mình thấy không việc gì phải hạ mình xuống gây gổ với hắn, chàng vẫn biết rằng, nếu gặp Curaghin chàng cũng sẽ không thể nào không thách đấu súng như một người đang đói không thể nào không vồ lấy thức ăn. Mối nhục chưa được rửa, mối căm hờn chưa được hả, điều đó vẫn còn đè nặng trong lòng chàng, luôn luôn đến quấy phá cái yên tĩnh giả tạo mà công tước Anđrây đã cố tạo cho mình trong thời gian ở Thổ Nhĩ Kỳ, bằng một cuộc sống hoạt động say sưa và ít nhiều có tính chất tiến thân và sĩ diện.


Năm 1812, khi tin chiến tranh ở Napôlêông thấu đến Bucarét (Cutudốp đã sống ở đây từ hai tháng nay, suốt ngày đêm ở lại nhà người tình nhân Valakhi của ông ta), công tước Anđrây xin Cutudốp cho chàng thuyên chuyển sang quân đoàn miền Tây. Cutudốp bấy giờ đã chán cái sức lao động của công tước Anđrây, vì nó cứ như một lời trách móc đối với cảnh sống nhàn hạ của ông ta, nên rất sẵn lòng để cho chàng đi và giao cho chàng một nhiệm vụ bên cạnh Bácclai đơ Tôli.


Đến tháng năm, trước khi trở về quân đội bấy giờ đang đóng ở trại Đrixa, công tước Anđrây ghé về thăm nhà, vì Lưxy Gôrư nằm ngay trên đường đi của chàng, cách đường cái Xmôlen ba dặm. Ba năm gần đây, trong cuộc đời của công tước Anđrây có rất nhiều biến đổi, chàng đã suy nghĩ, đã cảm xúc, đã chứng kiến rất nhiều (chàng đã đi đây đó khắp nơi từ Đông sang Tây) nên chàng rất bỡ ngỡ và kinh ngạc khi thấy ở Lưxy Gôrư tất cả đều y nguyên như cũ, cho đến những chi tiết nhỏ nhặt nhất - vẫn nếp sống xưa kia, không hề thay đổi. Khi xe rẽ vào con đường dẫn đến trang viên và vượt qua cái cổng bằng đá của tòa dinh thự, chàng như bước vào một tòa lâu đài đang ngủ say dưới tác dụng của phép thần thông. Trong tòa nhà, mọi vật cũng vẫn nghiêm trang, sạch sẽ và im lặng như xưa, cũng vẫn những bộ bàn ghế ấy, và vẫn những khuôn mặt rụt rè ấy, duy chỉ có già đi đôi chút mà thôi. Công tước tiểu thư Maria là người con gái e lệ, không nhan sắc, đang già cỗi dần trong cảnh lo sợ trong những nỗi đau khổ tinh thần bất tận, sống qua những tháng năm tốt đẹp nhất cuộc đời mình một cách vô bổ và không chút vui thú. Buariên cũng vẫn là cô gái đỏm dáng, tự mãn, luôn luôn vui vẻ tận hưởng từng phút của đời mình và vẫn tràn đầy những niềm hy vọng tươi sáng nhất. Chỉ có điều là nay công tước Anđrây thấy cô ta có vẻ tự tin hơn trước. Đêxan, người gia sư mà chàng đưa từ Thụy Sĩ về, bấy giờ mặc một chiếc áo đuôi tôm, may theo kiểu Nga, trọ trẹ nói tiếng Nga với các gia đinh, nhưng cũng vẫn là một nhà giáo thông minh một cách thiển cận, có học thức, có đức độ và ưa phô trương trí thức. Lão công tước thì thể chất chỉ khác xưa ở chỗ mới rụng một cái răng cửa ở bên miệng, điều này có thể trông thấy khá rõ; về tinh thần thì ông cụ vẫn như trước, chỉ có điều là thái độ hằn học và hoài nghi đối với việc xảy ra trên thế giới có phần tăng thêm. Chỉ có một mình Nicôluska là lớn lên, thay đổi đi, da dẻ hồng hào thêm, mớ tóc quăn màu nâu thẫm mọc rậm hơn, và mỗi khi reo cười vui vẻ, cái môi trên xinh xắn của cậu lại cong lên giống hệt như công tước phu nhân nhỏ nhắn lúc sinh thời. Chỉ có mình cậu bé là không tuân theo các quy luật bất biến trong lâu đài đang chìm trong giấc ngủ thần thông này. Nhưng tuy bề ngoài mọi vật đều vẫn như cũ, song những quan hệ bên trong giữa tất cả các nhân vật kia kể từ khi công tước Anđrây ra đi cho đến nay, đều đã đổi khác. Người trong gia đình chia làm hai phe, xa lạ và đối địch nhau; bây giờ chỉ vì có chàng về, họ mới tụ họp lại, thay đổi nếp sống thường lệ vì chàng. Phe thứ nhất gồm có lão công tước, cô Buariên và viên kiến trúc sư, còn phe kia gồm Maria, Đêxan, Nicôluska cùng tất cả các bà vú em và các chị giữ trẻ.


Trong thời gian công tước Anđrây ghé lại Lưxy Gôrư, mọi người trong nhà đều ngồi ăn chung bàn, nhưng ai nấy đều thấy ngượng nghịu, và công tước Anđrây cảm thấy mình là một người khác: người ta bỏ nếp sống thường ngày vì chàng và chàng làm cho mọi người mất tự nhiên. Trong bữa ăn trưa hôm mới về, công tước Anđrây đã bất giác cảm thấy điều đó nên rất ít nói, và lão công tước cũng nhận thấy vẻ gượng gạo của chàng nên cũng lầm lì lặng thinh, và sau bữa ăn lập tức trở về phòng riêng. Đến tối, khi công tước Anđrây đến phòng ông cụ và bắt đầu kể chuyện về cuộc hành quân của tiểu bá tước Camenski, mong làm cho lão công tước vui lên, ông cụ bỗng nhiên quay ra nói chuyện với chàng về nữ công tước Maria, chê trách nàng đã mê tín, là thiếu thiện ý đối với cô Buariên, người duy nhất - theo lời lão công tước - thật sự trung thành tận tụy với ông.


Lão công tước nói rằng, ông ốm chẳng qua cũng vì nữ công tước Maria; rằng nàng cố tình làm khổ và trêu tức ông, rằng nàng nuông chiều và nói những chuyện nhảm nhí làm hư hỏng tiểu công tước Nicôlai. Lão công tước biết rất rõ rằng ông hành hạ con gái, rằng nàng sống rất khổ sở, nhưng ông cũng biết rằng, mình không thể nào không làm khổ con gái được, và như vậy cũng đáng đời cô ta: "Tại sao công tước Anđrây tuy thấy rất rõ như vậy lại không bao giờ nói gì với ta về em gái cả? - Lão công tước ngẫm nghĩ. - Thế thì anh chàng nghĩ thế nào, chắc lại cho ta là một kẻ tàn bạo hay một lão già ngu ngốc, bỗng dưng vô cớ xa rời con gái và đi kết thân với cô Buariên kia chứ gì? Anh chàng không hiểu, cho nên phải cắt nghĩa cho anh ta rõ, anh ta phải nghe cho ra mới được", - lão công tước thầm nghĩ. Và ông bắt đầu giải bày những nguyên do khiến ông không tài nào chịu nổi cái tính nết vô lý của cô con gái.


- Nếu cha hỏi con, - công tước Anđrây nói, mắt không nhìn cha (đây là lần đầu tiên trong đời, chàng trách móc công tước) - trước đây con không muốn nói, nhưng nếu cha đã hỏi thì con xin nói thẳng ý của con về việc này. Nếu có sự hiểu lầm và xích mích giữa cha với Maria, thì con không thể nào buộc tội em con được: con biết rõ nó thương yêu và tôn kính cha đến thế nào. Cha đã hỏi con, - công tước Anđrây nói tiếp, mỗi lúc một thêm cáu kỉnh, vì gần đây lúc nào chàng cũng sẵn sàng nổi cáu, - thì con có thể nói được một điều, là nếu quả có sự hiểu lầm thì đó cũng chỉ vì một người đàn bà chả ra gì, đáng lẽ không thể làm bạn với em con được.


 Lúc đầu ông già nhìn con trân trân và mỉm cười gượng gạo để lộ cái lỗ hổng ở chỗ chiếc răng mới rụng mà công tước Anđrây không tài nào nhìn quen được.


- Bạn nào thế hở, anh bạn? Thế các người đã bàn với nhau rồi hả?


-Thưa cha, con không muốn phê phán làm gì, - công tước Anđrây nói, giọng bực bội và gay gắt. - Nhưng cha đã gợi chuyện ra, thì con sẽ nói và bao giờ cũng vẫn sẽ xin nói rằng, công tước tiểu thư không phải là người có lỗi, ngưòi có lỗi là cái...là người đàn bàn Pháp kia...


- À! Thế ra mày xét xử... mày xét xử đấy phỏng! - Ông già nói khẽ, và công tước Anđrây có cảm tưởng ông cụ luống cuống! Nhưng bỗng nhiên ông nhảy chồm lên quát: - Xéo! Xéo ngay! Đừng có bao giờ vác mặt về đây nữa!


Công tước Anđrây muốn lên đường đi ngay, nhưng nữ công tước Maria xin chàng ở lại thêm một ngày nữa. Ngày hôm ấy, công tước Anđrây không gặp cha. Bây giờ lão công tước không ra khỏi phòng và cũng không cho ai vào phòng mình, ngoài cô Buariên và Tikhôn, và mấy lần hỏi xem con trai đã đi chưa. Ngày hôm sau, trước khi ra đi, công tước Anđrây đến phòng con. Đứa bé khỏe mạnh, tóc quăn giống mẹ, ngồi lên đùi chàng. Công tước Anđrây bắt đầu kể cho nó nghe chuyện lão Râu Xanh[11], nhưng đang kể dở chừng chàng bỗng dừng lại, trầm ngâm suy nghĩ. Chàng không nghĩ đến đứa con trai kháu khỉnh trong khi bế nó ngồi lên đùi, mà lại nghĩ đến mình. Chàng kinh hãi muốn tìm nhưng không hề thấy ở mình hối hận chút nào về việc mình đã làm cho cha tức giận, mà cũng không thấy chút luyến tiếc nào khi phải rời xa cha (lần này là lần đầu tiên chàng xích mích với cha đến nỗi phải bỏ đi như vậy). Nhưng điều quan trọng hơn cả là chàng cố tìm mà vẫn không thấy tình thương yêu đằm thắm trước kia đối với đứa con, tình thương yêu mà chàng hy vọng nhen lại trong lòng mình khi ve vuốt đứa bé và đặt nó ngồi lên đùi.


- Kìa bố kể đi chứ, - đứa bé nói. Công tước Anđrây không đáp, đặt nó xuống đất và ra khỏi phòng.


Ngay khi công tước Anđrây vừa rời bỏ những công việc thường ngày của chàng, và nhất là khi lại về với hoàn cảnh sinh hoạt cũ hồi còn hạnh phúc, nỗi chán đời lại tràn vào lòng chàng mạnh mẽ chẳng kém gì trước kia, và chàng hối hả cố sao thoát cho nhanh ra khỏi những kỷ niệm ấy và tìm một công việc gì mà làm.


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình. L. Tônxtoi. Tập 2. Bộ mới ba tập. NXB Văn học, 6 - 2007. In theo lần xuất bản đầu tiên năm 1961.







[1] Moscou.




[2] Moscou la sainte.




[3] Comme tout chemin mène à Rome, tout chemin mène à Moscou.




[4] Trn đánh ln thế k XVII, trong đó Pit đi đế đánh tan quân Thy Đin do vua Cáclơ XII ch huy.




[5] “Poltawa”.




[6] Loại sứ quý do thủ công xưởng nổi tiếng từ xưa ở Xevrơ (thị trấn gần Pari) sản xuất.




[7] Tên những công quốc ở Đức và cũng là tên những dòng họ vương công quan hệ thân thuộc với Alếchxanđrơ.




[8] Avoir l’oreille tirée par l’Empereur.




[9] Eh bien, vous ne dites rien, admirateur et courtisan de l’Empereur Alexandre?




[10] Admirateur.




[11] Chuyện cổ tích của Pêrô (Perrault Charles, 1628-1703).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »