tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29456878
Tiểu thuyết
22.01.2015
Nguyễn Đình Chính
Đêm thánh nhân

Sau khi được xoa dầu gió Trường Sơn được đỏ rượu được bón nước cháo được ủ ấm rồi ngủ một giấc mê man ngon lành cha Tạc đã lại hồn thoát chết bởi vì có lẽ chỉ thêm một ngày nhịn đói ngâm nước biển nữa thì cầm chắc mạng cha Tạc tiêu rồi. Tối hôm đó cha Tạc tỉnh dậy nhưng cha không tiếp tục ăn chơi nhảy múa như Mùi thuyền trưởng nói mà cha bò ra ngoài boong xà lan ngồi hóng gió biển. Đêm lồng lộng gió. Trời lấp loáng ngàn vạn ngôi sao. Con tàu kéo đen xì nổ máy phành phạch chạy phía trước kéo theo đoàn xà lan chiếc nào cũng đen sì lút ngút mui bạt rồng rắn cắn đuôi nhau trôi ì ì đằng sau. Cha Tạc tỉnh dậy bò ra boong ngồi hóng gió chung quanh vắng lặng như tờ. Cha Tạc cũng chẳng bận tâm vì sao cái xà lan cha đang ngồi đây lại chẳng có một bóng người cũng như ông chẳng hề hay biết vào giờ này đám thủy thủ thường rủ nhau bỏ xà lan kéo lên tụ tập ở buồng thuyền trưởng Mùi cá ngạnh ở tàu kéo để đánh bạc cũng như cha Tạc làm sao có thể thấm thía giác ngộ chia sẻ đồng cảm với cuộc đời một gã thủy thủ lênh đênh sông biển sau những giờ lao động dãi dầu sóng nước mưa nắng còn biết tìm nguồn giải sầu nào ngoài trò chơi điếm và đánh bạc. Cha Tạc ngồi một mình hóng gió biển mà lòng buồn bã vô vi nhạt thếch. Cha chẳng thấy hồ hởi vui vẻ  may mắn khi nhận ra mình vừa được cứu thoát khỏi cái chết trương phềnh phềnh tưởng đã cầm chắc trong tay và nếu như trên đời này có thật hồn vía con người thì lúc này đây chắc hẳn hồn vía cha Tạc cũng chẳng vui vẻ gì thậm chí còn khó chịu khi đã thoát xác vỗ đôi cánh trắng nhỏ xíu bay vọt lên cú pháo thăng thiên chưa kịp lao bổ vào chốn thiên đường thì bị kéo giật trở lại lộn nhào nhập lại vào thân xác ướt sũng bợt bạt và cũng đã gần ủng ra gần trương lên vì ngâm nước mặn đã mấy ngày. Tâm hồn cha Tạc trống rỗng chẳng khác gì cái bị rách đã bị đã bị người ta moi hết của nả đồ vật tùy thân thậm chí đến cả chiếc tất mục nát cũ rích thủng lỗ to tưởng ở đầu mũi tất bốc mùi hôi khắp đến chó cũng phải lộn mửa. Cha Tạc loạng quạng mò mẫm bò trên mặt boong xà lan lạnh ngắt vô tình đầu gối trái của cha ấn mạnh xuống một mảnh sành bén hơn lưỡi dao. Ngay lập tức máu ứa ra. Cha Tạc đau lắm buốt lắm nhưng cha Tạc chẳng còn thiết gì hét toáng lên kêu cứu hoặc bò vào khoang tìm thuốc lào thuốc lá dịt vào vết thương. Cha Tạc ngồi im co đầu gối chân trái lên cúi đầu dỏng tai lắng nghe tiếng máu trong người cha đang chảy ra chầm chậm. Rồi cha nhặt cái mảnh sành đẫm máu giơ lên ngắm nghía. Trong đêm tối cái mảnh sành thỉnh thoảng lại co giật run rẩy trắng hếu như một mảng da thịt mông người vừa bị lóc ra. Cha Tạc âm thầm nhớ tới mấy pho tượng trần truồng cụt đầu kỳ quái đàn bà có bộ mông to tướng tròn vo như cái chum và đàn ông lúc nào cũng ưỡn dương vật ra đen đúa cứng queo như vòi ấm tích nung quá lửa hơn mười năm nay được cất giấu trong chòi gác chạy lụt trên mái nhà vợ chồng lão Bền ở làng nghề Lũng Bãi. Chao ôi! Mấy pho tượng kỳ dị với những vết nứt bí ẩn đó giờ đây chắc đã chết đuối chìm sâu dưới đáy sông đáy biển chôn vùi trong bóng tối đen kịt bùn rác thế mạng cho cha rồi. Và cha Tạc mủi lòng nhớ lại phút cuối cùng khi dòng nước lũ ùa tới kéo đổ ụp cái nhà chòi gác trước khi ngất xỉu đi vì sặc nước hai tay cha đã ôm chặt lấy bộ mông to tướng tròn vo ướt nhoét của một pho tượng và cha Tạc có ngờ đâu rằng chính bộ mông to tướng cong tếu chổng ngược ra đằng sau tròn vo như cái  chum ướt dào dạt gợi dục đó lại hóa thành phao cứu mạng cho đời cha. Chao ôi! Lạy chúa quyền năng vô biên tại sao trên đời này lại xảy ra chuyện phi lý ngớ ngẩn như chuyện ma quỉ bịa đặt trong mộng như vậy.


    Cha Tạc vung tay liệng mảnh sành đẫm máu xuống biển nhưng chẳng hiểu tại sao mảnh sành bay một vòng cong cong trong bóng đêm rồi liệng vòng trở lại va phải cây cột sắt trên mũi xà lan rồi rơi keng xuống mặt boong ngay trước mặt cha Tạc lóe sáng nom như hàm răng trắng nhởn quỷ sứ nhe ra cười giễu cợt. Cha Tạc bải hoải cả gân cốt. Một mảnh sành lạnh ngắt vô hồn! Một nắm đất sét nhão nhoét ngủ vùi dưới lòng đất sâu cả triệu năm được móc lên vật thành pho tượng trần truồng vú vê mông bướm bòi dái loạn ngậu xị! Những vết nứt kỳ dị ngoằn nghèo phía trước phía sau rồi cuối cùng mất hút nơi cái lỗ sâu hoắm đen ngòm giữa háng vầ cuối cùng là tiếng nứt vỡ răng rắc đau đớn tủi nhục của xương cốt da thịt. Bốp! Một cú đập trời giáng. Pho tượng vỡ nát. Tất cả chỉ còn lại đám mảnh sành bén hơn lưỡi dao cạo đầm đìa máu. Phải chăng đó là chu trình một kiếp người mà đáng quyền năng vô biên đã ban phát cho. Trời ơi! Nhẽ nào tạo hóa lại giản đơn dễ hiểu và dị mọ tàn nhẫn như thế ư? Quỷ quái và hài hước! Thế mà cho tới tận đêm nay ngồi co ro trên xà lan trôi ì ì giữa biển cha Tạc mới sáng mắt ra. Ô hô! Lộ trình dẫn tới một miếng mảnh sành! Máu trong người cha Tạc vẫn âm thầm chầm chậm chảy ra không ngừng nghỉ. Gió biển mặt chát thổi ồ ồ thốc vào vết thương mở toang hoác nơi đầu gối trái khiến máu càng không thể đông lại và cứ tiếp tục trào ra. Cha Tạc nôn nao cả người. Mắt cha hoa lên. Mặt biển đen sì thỉnh thoảng lại lật nghiêng xoay tít chong chóng. Cha Tạc khát nước quá. Khát không thể chịu nổi. Cha cố bò ra phía mũi xà lan để gục đầu xuống mặt nước biển mà uống cho đỡ cơn khát nhưng chân tay cha nặng như đá không thể nhấc lên được nữa. Cha đổ vật xuống boong thép đầu rúc vào một cái lốp ô tô mòn vẹt chân tay co quắp vặn vẹo lồng ngực ưỡn ra phía trước mông hõm vào méo mó nhọn hoắt nom chẳng khác gì pho tượng đất sét đỏ bị tạo hóa nhỡ tay nặn hỏng khinh bỉ ném vào góc lồ


.


    Vào khoảng ba giờ sáng tan đám bạc ở tàu kéo tốp thủy thủ cười nói om sòm chửi thề văng tục đéo xíu loạn xạ chen nhau ra khỏi  buồng thuyền trưởng nồng nặc mùi dầu máy mùi thuốc lào thuốc lá mùi rượu mạnh. Gã thủy thủ Khiệc á sừng quét đèn pin loang loáng nhảy qua đống dây chão tổ bố đi về  khoang xà lan lợp tôn ốt-nam cũng là cái tổ con tò vò vừa để ăn để ngủ trốn mưa gió và cũng là cái động để gã chơi gái đĩ miên man. Đêm nay số gã rất đỏ. Gã vừa thắng hơn bạc triệu. Một nắm tiền nhàu nát vò thành đống còn đang nhét trong túi quần gã. Khiệc á sừng chếnh choáng chân nặng chân nhẹ. Lòng dạ gã phởn phơ như cơn gió biển không nhà. Bỗng nhiên gã vấp phả đống gì đó cứng đờ. ánh đèn pin lia xuống. Khiệc á sừng trố mắt há mồm. Ông anh làng Lũng Bãi dị mọ dúm dó như thằng ăn mày thằng xì ke vừa được vớt từ dưới biển lên đang nằm còng queo giữa một vũng máu đỏ lòe nhòe nhoẹt. Một bàn tay của ông anh dị mọ khốn khó đó giơ lên trời cứng đờ như đang làm dấu thánh. Gã thủy thủ Khiệc đứng ngây người ra một lúc  lâu rồi nhè nhẹ gõ đít đèn pin vào mấy ngón tay co quắp biến dạng đó. Khiệc á sừng giật thót người. Cái đít đèn gõ vào mấy ngón tay lại kêu coong coong y như là gõ vào miếng mảnh sành vậy.


 


 


Không một gã thủy thủ nào trên đoàn xà lan buôn than xuyên Việt rỏ xuống dù chỉ một giọt nước mắt khi nhìn thấy cái xác cứng đờ của cha Tạc nằm cong queo vô chủ trên mặt boong thép lạnh ngắt nhoe nhoét máu trên bông xà lan của Khiệt á sừng. Điều đó chẳng có gì lạ lùng vì tốp thủy thủ chẳng ai có quan hệ họ hàng cô dì chú bác chòm xóm nội ngoài với cha Tạc. Sau cơn bão nổi sóng thần ở dòng sông Cái họ đã vớt được cha Tạc từ dưới biển lên như vớt một cành củi một tấm ván một con chó chết trương một con cá ngừ chết thối. Tất cả vụ việc chỉ có như vậy. Ngay đến khi cha Tạc tiêu rồi không một gã thuỷ thủ nào trên đoàn xà lan buôn than xuyên Việt biết được gốc tích tên tuổi của cha Tạctuy vậy dù là một cái xác vô chủ và cũng không là một thủy thủ nhưng cha Tạc cũng được mai táng như một người làm nghề sông nước gặp nạn bỏ mình. Cha Tạc được bỏ vào  hòm gỗ có đổ thêm vài yến than mỡ than gầy nêm chèn xung quanh rồi ròng dây thả xuống biển. Tất nhiên là mạt biển đen sì hể hả há hoác cái mồm sóng trắng xóa rộng hoác của nó ra đớp gọn lấy miếng mồi nuốt ực mất tăm. Sau khi thả  hòm quan tài xuống biển Mùi thuyền trưởng có tập họp tất cả thủy thủ trên đoàn xà lan buôn than xuyên Việt lại thửa một mâm cúng đơn giản cút rượu miếng thịt luộc bát cơm trắng úp ngược gọi là để vĩnh biệt người đã chết theo phong tục của dân đi biển. Mùi cá ngạnh  đọc bài khấn vong hồn cha Tạc nhưng vì không biết tên họ cha Tạc là gì nên anh thuyền trưởng hơi luống cuống sau cùng đành phải gọi bừa cha Tạc là  một huynh đệ lữ hành khốn khổ. Đại để bài khấn của anh thuyền trưởng như thế này: “Hôm nay ngày này tháng này năm này Tam bảo tư vi tạ mộ pháp đàn gợi chút sót thương huynh đệ lữ hành khốn khổ chúng tôi là người này người này người này thật lòng xót thương huynh đệ chẳng may gặp nạn qua đời thử mâm cơm cúng lòng thành cầu biện lễ vật dâng lên trông ơn đức Phật tế độ vong hồn và đức thần linh dẫn độ sứ giả đưa hồn đến nơi đến chốn dẫu rằng âm dương cách biệt đường xá xa xôi những mong quan dãn hồn sứ giả ngũ đạo tướng quân chuyển đến quan đương sứ thủy thần tiếp nhận nơi âm phủ thủy cung hà bá xin quan sứ giả bố cáo cho các ty các nơi thuộc hạ bến đò bến chợ bến phà bến tầu đều biết không ai ngăn cản để vong hồn đi đến nơi về đến chốn an ổn nơi phần mộ thủy cung năm qua ngày tháng việc cúng hôm nay vong hồn có linh thiêng thấu tình một chút phù hộ chúng tôi khỏe mạnh buôn bán phát tài làm ăn tấn tới tránh được sóng cả nước giữ thuận buồm xuôi gió tai qua nạn khỏi bình yên về đến cửa đến nhà. Tâm hưởng. . Mùi thuyền trưởng đọc bài khấn vong hồn cha Tạc như vậy. Đến lúc này tất cả thủy thủ trên đoàn xà lan buôn than xuyên Việt kể  anh thuyền trưởng chẳng thể ngờ vừa đổ xuống biển xác một con người ưu tú một trí thức thứ thiệt sang trọng một cha đạo da trắng áo thâm đầu óc thông minh sáng láng nói tiếng Mỹ như gió hăng say việc đời chuyên tâm việc đạo. Khi anh thuyền trưởng đọc xong bài khấn thì Khiếc á sừng đốt nắm hương tổ bố tự tay chia ra cắm loạn xị hàng chục chỗ khắp  xà lan của gã còn chỗ mặt boong dính nhoe nhoét máu cha Tạc thì gã thuê ả gái điếm si-líp hoa hồng múc tơi cả trăm  xô nước dội tràn lan tơi bời rồi lấy bàn chải sắt chải dây cáp cọ cho bằng sạch mới thôi. Là một gã thủy thủ bặm trợn ngang tàng nhưng lại rất sợ ma nên tối hôm đó Khiệc á sừng bỏ xà lan nhảy tót lên buồng thuyền trưởng ở tàu kéo để ngủ nhờ: “Tôi sợ cái xác chết trôi đó hiện về bóp cổ tôi”. Khiệc á sừng thật thà với Mùi cá ngạnh như vậy. Tất nhiên  là cô gái điếm si-líp hoa hồng cũng ôm chăn chiếu tót theo Khiệc á sừng. Mùi cá ngạnh không hứng thú ngủ chung với gái điếm nên anh thuyền trưởng bỏ ra ngoài boong tầu ngồi hóng gió biển hút thuốc lào nghĩ vẩn vơ. Vào khoảng canh ba đang ngồi ngả người trong cái ghế mây đong đưa bập bênh bỗng nhiên anh thuyền trưởng nhìn thấy cha Tạc từ dưới biển chầm chậm trồi lên. Có lẽ cha Tạc vừa phá nắp hòm chui ra vì trên tóc cha trên vai cha nhem nhuốc dính đầy bụi than. Nhìn thấy anh thuyền trưởng cha Tạc dơ tay nháy mắt lia lịa thay cho lời chào. Mùi cá ngạnh lạnh buốt sống lưng kinh hoàng đang định vùng chạy nhưng bàn tay nặng như chì cả người như bị cột chặt vào ghế. Rồi cha Tạc từ từ bay lên trời. Càng bay lên cao quần áo trên người cha càng tuột dần ra để lộ da thịt trắng nõn giữa bụng thây lẩy  khúc rốn dài nghêu ngao lòng thòng. Cha Tạc bay nhẹ nhàng cứ y như một phi công vũ trụ đang di chuyển trong khoảng không gian mất trọng lượng hai chân cha đạp xé ra hai bên như chân ếch hai tay cha vẫy nhè nhẹ như  cánh bướm. Cha Tạc bay lên cao bay lên cao mãi cho tới khi mất hút giữa bầu trời đêm lấp lánh ngàn vạn ngôi sao. Hồn ma của người chết tội nghiệp kia đang bay về chốn niết bàn cực lạc rồi. Mùi thuyền trưởng thở dài nghĩ vậy.


            Đúng là hồn ma cha Tạc đang từ từ bay lên trời nhưng không bay về chốn niết bàn cực lạc mà bay về chốn thiên đường. Hồn ma cha Tạc bay thong dong thư thái nhẹ nhàng lâng lâng vì đã rũ bỏ mọi bụi bẩn đau đớn khổ nhục trần gian. Chẳng bao lânhồn cha  đã nhìn thấy hai cánh cổng chốn thiên đàng hiện lên đỏ rực mở tung chói lòa ánh cầu vồng bẩy sắc tỏa hào quang rực rỡ nhưng đúng lúc đó hồn ma cha Tạc chợt nhìn thấy cụ cha cố già họ Bùi tóc trắng như mây khoác áo choàng thâm ba toong cặp nách vọt ra từ sau hai cánh cổng thiên đường vùn vụt bay lại đón đầu. Chẳng đợi hồn ma cha Tạc cung kính chào hỏi cụ cha cố già họ Bùi đã thẳng tay nện ba toong vào đầu cha Tạc rồi quát to:Quay lại. Quay lại mau. Hồn ma cha Tạc ngơ ngác chưa hiểu đầu cua tai nheo ra sao thì lại bi xơi luôn hai ba toong nữa cụ cha cố họ Bùi rít lên: “Quay lại đã bảo cha quay lại cơ mà”. Hồn ma cha Tạc lễ phép: “Thưa cha con đang bay lên chốn thiên đường”. cụ cha cố họ Bùi gầm gừ: “Biết rồi. Nhưng mà tôi bảo cha quay lai”. Cha Tạc buồn bã thưa: “Con chết rồi và giờ đây linh hồn con đang bay về với đức chúa trời”. Cụ cha cố họ Bùi cười nhạt: “Cha chưa về hầu hạ chúa được đâu bởi vì cha mới sống một phần ba đời mình. Cha Tạc nói se sẽ: “Hai phần đời sống còn lại đó con không màng”. Cụ cha cố họ Bùi hú lên cười và lại tặng cho cha Tạc thêm một ba toong nữa: “A ha! cái ông cha này láu lỉnh quá tưởng rằng chạy làng được à. Hai phần ban cuộc đời đó vừa là ân huệ của chúa ban cho cha nhưng cũng là nghiệp chướng đau khổ nhọc nhằn mà số kiếp cha phải gánh chịu. Đâu có thể dễ dàng chối bỏ được. Cha hãy quay về trần thế phụng sự nước chúa ở dưới đó để trả cho hết kiếp nạn của mình. Cha Tạc thở dài kêu lên: Nhưng thưa bề trên thân xác con dơ bẩn tâm hồn con bệnh hoạn con sợ rằng không bao giờ con có thể trở thành kẻ bầy tôi của chúa. Cụ cha cố họ Bùi cười khà khà: Thế mà ta lại nói rằng giờ đây cha mới có cơ  thực sự là bày tôi của chúa. Hãy mau quay về chốn trần gian. Đúc chúa lòng lành đang đợi con ở dưới đó. A men! Hồn ma cha Tạc ớ ra lúng túng chưa biết ăn nói thưa gửi tiến lui thế nào cho hợp nhẽ thì bốp!lại thêm một cú ba toong nữa còn mạnh hơn miếng búa của ông thiên lôi. Hồn ma cha Tạc quay lông lốc bắn văng trở lại. Cha Tạc mở mắt ra và thấy cái thân xác lấm lem đen sì than củi của cha đang nằm thẳng cẳng trên một bãi biển xanh mượt bóng dừa. Như người vừa thoát ra khỏi cơn mộng du cha Tạc ngồi dậy dụi mắt ngó quanh. Cát trắng lóa mắt sạch sẽ tinh khôi. Sóng biển lăn tăn vui vẻ như đang ca hát. Bãi biển xứ nào mà đẹp đẽ dịu hiền xinh tươi như trong mộng tưởng vậy. Cha Tạc chống tay đứng lên. Một bên mông của cha vẫn còn tê điếng như vừa xơi trọn một gậy trời giáng. Tập tễnh bước đi được vài bước chân cha vấp ngay vào một hòm gỗ ướt sũng giống như cỗ quan tài vỡ toác phòi ra từng vốc than ngấm nước đen nhánh óng a óng ánh. Tại sao lại có cái hòm gỗ quan tài chất đầy than vất ở trên bãi biển tuyệt đẹp thế này nhỉ. Cha Tạc nhún vai tự hỏi như vậy tất nhiên cha không thể biết được là ngày hôm qua cha đã bị chết lâm sàng vì mất máu quá nhiều sau đó được thủy thủ trên đoàn xà lan buôn than xuyên Việt nhét vào trong hòm gỗ đổ đầy than đó rồi thả xuống biển mai táng theo nghi thức của những người làm nghề đi biển nhưng do số cha chưa chết một dòng nước ngầm dưới biển đã cuốn phăng  hòm gỗ đi rồi đùn lên đánh táp vào bãi biển cát trắng dừa xanh tuyệt đẹp này cũng như cha Tạc không thể biết được mới chỉ vài phút trước đó thôi linh hồn cha đang thong dong hăm hở bay về chốn thiên đàng thì bất ngờ bị phang luôn mấy cú ba toong mạnh như sấm sét quay lông lốc bắn văng trở lại rơi xuống trần gian và lại nhập vào cái thân xác chết đuối lâm sàng của cha đang nằm thẳng cẳng trên bãi biển trắng xóa cát lăn tăn sóng trắng như đang ca hát.


 


16


 


    Sau đêm nằm mơ nhìn thấy linh hồn cha Tạc thoát xác bay lên trời tự dưng Mùi thuyền trưởng thấy tức ngực đau lưng đau bụng đau ở bàng quang đau xiên ra mẩu xương cụt. Khi khênh vác một vật nặng là anh thuyền trưởng lại thấy choáng váng buồn nôn bải hoải chân cẳng lục phủ ngũ tạng trong người nóng ran nhức nhối như bị hàng ngàn vạn mũi kim châm vào. Anh thuyền trưởng không hề biết rằng  thời hạn hàng chục năm ủ chất độc màu da cam trong người đã hết và giờ đây những độc tố Đi-ô-xin cực kỳ nguy hiểm khốn nạn quái ác bắt đầu vỡ bung ra như đàn kiến đàn ong vỡ tổ tha hồ hung hăng tác oai tác quái phá hủy đục khoét mạch máu gân cốt dây thần kinh tế bào cùng các mô gan tim phổi thận lá lách dạ dày trong tấm thân cường tráng của anh.


    Ba ngày sau ngày thả xác chết lâm sàng cha Tạc xuống biển thì đoàn xà lan buôn than xuyên Việt ghé vào một thương cảng sầm uất ở miền Nam Trung phần để gã thủ thủy Khiệc á sừng bán lậu trốn thuế hai xà lan đầy ắp than và cũng nhân tiện thiếp thêm dầu ma-dút cùng ít củi gạo cho tốp thủy thủ. Cái thương cảng này hồi xưa còn chiến tranh vốn là một quân cảng bí mật tàu ngầm tàu diệt ngư lôi tàu tuần tra tốc độ cao trang bị đại liên mười bốn nòng bắn cấp tập vẫn ra vào ẩn nấp bảo dưỡng nghỉ ngơi. Sau năm 1975 nó bị bỏ hoang một thời gin dài là nơi chỉ có cá mập trú ngụ chứ tuyệt nhiên tàu bè buôn bán tàu thuyền đánh cá không dám ra vào vì sợ bị vướng vào hàng trăm quả ngư lôi chờ nổ lềnh phềnh chìm nổi lập lờ khắp trong cảng. Phải tới máy năm gần đây cái thương cảng này mới dần hồi phục lại. Trên lộ trình dong duổi buôn than Bắc Nam xuyên Việt Mùi thuyền trưởng đã ghé vào  thương cảng này nhiều lần và một buổi chiều lang thang mỏi chân ghé vào một quán nhậu ngoài bãi biển Mùi cá ngạnh tình cờ tìm được tung tích thằng bạn đồng hương chí thân là đặc công nước đã mất tích từ rất lâu hồi đầu cuộc chiến. Đỗ Thanh Bùi con bà Đích bán cháo lòng tiết canh trong chợ Quảng Phú nên bạn bè vẫn gọi đùa trêu trọc là thằng Bùi dồi. Mùi cá ngạnh và Bùi dồi học với nhau từ lớp 2 đến lớp 10 rồi cùng đi bộ đội một ngày. Hồi còn đi học Mùi cá ngạnh và Bùi dồi khét tiếng nghịch ngợm lêu lổng học hành dốt nát thường xuyên đầu tuần vẫn bị gọi lên bêu danh dưới cờ và đã từng bị bảo vệ bắt nhốt vào nhà kho vì tội bắn súng cao su chết bốn con chim bồ câu và bắn vỡ cửa kính nhà ông phó chủ tịch thị xã. Bùi dồi được tuyển chọn vào đơn vị đặc công nước là lực lượng đặc biệt na ná như lực lượng biệt kích đặc nhiệm luyện tập ở ngay bãi biển Cái Dăm nằm kín đáo trong vịnh Trạch Bổn cách thị xã Quảng Phú non chục cây số về phía Bắc. Một lần đơn vị cử Mùi cá ngạnh về Quảng Phú truy bắt mấy chú lính bê quay Mùi cá ngạnh tranh thủ mò vào bãi biển Cái Dăm thăm thằng bạn cố tri Bùi dồi. Trời giữa trưa nắng chang chang đội đặc công nước vừa đi tập dã ngoại về Mùi cá ngạnh nhận ngay ra thằng bạn Bùi dồi răng trắng nhởn người to lớn như ông hộ pháp cởi trần đánh độc cái si-líp chặt căng đang chạy huỳnh huỵch trong tốp lính đặc công nước anh nào cũng to cao đen trũi mập ú cởi trần trùng trục si-líp đồng loạt chạy đều rầm rập. Hai thằng bạn thân gặp nhau mừng hú rủ nhau leo lên đống dây chão tổ bố to bằng cổ tay ngồi hút thuốc lá Trường Sơn nói chuyện linh tinh vớ vẩn. Bùi dồi vỗ ngực thình thịch thề với Mùi cá ngạnh là phen này đi bê quyết chí không xanh cỏ thì phải đỏ ngực. Xanh cỏ là chết. Đỏ ngực là nếu sống trở về thì  đỏ huân chương chiến công trên ngực. Bốn tháng sau Bùi dồi vào chiến trường và mất tiêu mất tích luôn. Ngày mới về phục viên Mùi cá ngạnh vào chợ Quảng Phú ăn cháo lòng tiết canh gánh hàng bà Đích. Bà mẹ của Bùi dồi vẫn béo tốt như ngày xưa nhưng tóc trên dầu đã bạc trắng hỏi thăm mới biết người chị cùng mẹ khác bố của Bùi dồi đã lấy chồng theo chồng lên làm ăn ở một huyện miền núi tít xa tận biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc còn Bùi dồi thì vẫn biệt vô âm tín. Bác cũng đã lên tỉnh đội hỏi mấy lần nhưng các ông chính sách trên đó cũng chỉ biết trả lời trường hợp thằng Bùi nhà này mất tích vẫn tiếp tục truy tìm chưa có kết quả. Bà mẹ Bùi dồi than thở với Mùi cá ngạnh như vậy. Tình cờ một lần lang thang mỏi chân ghé vào quán nhậu ngoài bãi biển ngồi uống xị rượu đế lai tai đĩa đỉa biển khô Mùi cá ngạnh được ông chủ quán gốc người Chàm Chế Bồng Thớt chỉ ra quả núi xa xa kể cho hay chính tay vợ chồng ông đã chôn cất một ông bộ đội đặc công miền Bắc thứ thiệt ở đó. Ông Chế Bồng Thớt kể: Mấy ông người nhái Bắc Việt lặn vào quân cảng gài bom phá liền hai tàu phóng ngư lôi của mấy ông Mỹ thế là mấy ông Mỹ cay cú quá rình mãi mới quăng lưới sắt móc câu móc được một ông người nhái BắcViệt. Ông Chế Bồng Thớt kể tiếp: Mấy ông Mỹ quăng xuống cả vạn lưỡi câu thép móc được  ông ngưòi nhái Bắc Việt kéo lên khỏi mặt nưởc rồi cứ như thế đánh tàu chạy tơí cả chục vòng quần đảo trong quân cảng để ra oai. Ông người nhái BắcViệt khỏe như trâu gan các tía bị phơi nắng treo lơ lửng trên mặt nước hơn tuần lễ mới chịu  tắc thở. Khi thấy ông người nhái Bắc Việt chết thật rồi mấy ông Mỹ còn treo xác ông lơ lửng phơi nắng cả tháng trời héo quắt như con mực khô mới chịu thả cái xác xuống cho đem chôn. Chính tay vợ chông tôi chôn cất ông người nhái Bắc Việt ghê gớm  oai hùng đó. Ông Chế Bồng Thớt nói: Chả là hồi đó tôi làm ở đội lao binh dào huyệt ở quân cảng. Khi Mùi cá ngạnh hỏi ông chủ quán có biết tên tuổi quê quán ông người nhái Bắc Việt đó không thì ông gật đầu: Biết. Làm sao mà tôi lại không biết chứ. Tên ông ta là Bùi dồi quê ở chợ cá xứ biển Quảng Phú. Mùi cá ngạnh trợn trừng mắt hỏi rành rọt căn cớ ở đâu và làm sao ông chủ quán lại biết cả cái tên cúng cơm của ông người nhái Bắc Việt rõ rành như vậy thì ông Chế Bồng Thớt thản nhiên: Ông người nhái Bắc Việt xăm hàng chữ Bùi dồi quê chợ cá xứ biển Quảng Phú lên bả vai trái khi khâm liệm chôn cất tình cờ mà tôi đọc được thôi cũng may là đám thịt ở bả vai không bị móc câu thép xé nát dù bị phơi nắng héo quắt xám xịt như miếng bì trâu nhưng vẫn còn lờ mờ đọc được dòng chữ xăm đó.


     Thế là anh thuyền trưởng tìm được mộ thằng bạn cũ tuổi thơ. Sau lần đó trở về Quảng Phú Mùi cá ngạnh có vào trợ tìm bà Đích thì than ôi bà Đích mới bị xuất huyết não cấm khẩu liệt nửa người đang nằm như cái xác trong bệnh viện tỉnh. Mùi cá ngạnh lại tìm gặp ông bố dượng của Bùi dồi cưới một bà bé mở cửa hàng bán phụ tùng xe đạp xe máy ở trên phố. Ông bố dượng xuýt xoa cám ơn anh thuyền trưởng nhưng ông tỏ ý ngờ vực sợ anh thuyền trưởng thật thà nhẹ dạ cả tin bị bọn người cò mồi lưu manh ở trong đó bịp bợm lừa đảo. Ông bố dượng Bùi dồi đưa cho Mùi cá ngạnh tờ báo có đăng tin ở miền Nam hiện nay có một bọn người bất lương tán tậm lương tâm chuyên buôn lậu đánh tráo lộn sòng giả xương cốt bộ đội miền Bắc nhất là xương lính Mỹ lính Hàn Quốc để kiếm tiền vì vậy phải thong thả xem xét cân nhắc nhờ các cơ quan chức năng quân đội công an thẩm tra kết luận rồi mới tính tới chuyện cất công vào trong đó bốc mộ về kẻo nhỡ xẩy ra điều gì lầm lẫn thì …nắm xương dưới mộ có nói đựơc lên lời đâu. Nghe ông bố dượng của Bùi dồi nói như vậy anh thuyền trưởng chán quá đành vâng dạ đứng dậy chào cáo từ ra về. Lần nào ghé vào thương cảng sầm uất này Mùi cá ngạnh cũng mò tới quả núi xa xa đó thắp hương cho thằng bạn. Anh thuyền trưởng còn bỏ tiền ra thuê thợ xây mộ xi măng lát đá gờ-la-tít và dựng bia đá xanh khắc rõ tên tuổi ngày sinh ngày mất quê quán của Bùi dồi và cũng chu đáo không quên biếu vợ chồng ông Chế Bồng Thớt một món tiền tạ ơn đồng thời cũng là để thỉnh thoảng nhờ ông ghé qua chăm sóc hương khói cho phần mộ của người bạn nghịch ngợm từ thưở ấu thơ xa quê ở xứ biển Quảng Phú mãi tít tận ngoài xứ Bắc xa xôi.


            Sau khi đã neo tầu lại bến  để cho gã thủy thủ Khiệc á sừng phóng lên bờ đi tìm bọn cò mồi bắt mối bán lậu than chốn thuế trong đường dây làm ăn của gã thì Mùi thuyền trưởng cũng leo lên bờ dạo gót thong dong ra bãi bể Cua Muối ở cuối thị xã thương cảng không tên này. Buổi sáng mùa hè tháng tư nắng gió lồng lộng gió biển ào ào như bày ó điên khổng lồ vô hình đang tranh cướp nhau cào xé rách toác những tầu lá dừa xanh biếc đổ bóng mát che rợp dãy phố biển ngổn ngang chen chúc cơ man nào bươm bướm ô dù sặc sỡ cùng những quầy hàng bảng hiệu xanh đỏ tím vàng hoa mắt. Ông chủ quán nhậu gốc người Chàm Chế Bồng Thớt đang ngồi đánh bạc với ngay chính bà vợ người Chàm béo ụt ịt của ông trên tấm phản gỗ kê góc quán. Mùi thuyền trưởng xách túi quà mứt hạt sen và can rượu quốc lủi làng Vân xứ Bắc tổ bố năm lít đi vào ông Chế Bồng Thớt nhẩy dựng lên như trẻ được quà. Ông quăng bét mấy cây bài xuống phản phốc tới ôm chầm lấy can rượu to tướng nặng trĩu tay rồi ngoác cái mồm rụng bốn cái răng cửa hàm trên ra cười:
         - Xin chào đại huynh.


            Mặc dù hơn Mùi cá ngạnh vài tuổi nhưng ông Chế Bồng Thớt vẫn gọi anh thuyền trưởng là đại huynh và xưng là tiểu đệ. Đại huynh mang hàm thuyền trưởng sang trọng là sếp lớn là bậc trên. Ông Chế Bồng Thớt giải thích gọn lỏn như vậy. Đối với Mùi cá ngạnh thì sau khi nhờ ông Chế Bồng Thớt mà tìm được mộ thằng bạn thân nối khố Bùi dồi thì tự xưng trước lạ sau quen lần nào ghé vào cái thương cảng Nam Trung phần không Tên này anh thuyền trưởng cũng tìm tới quán của vợ chồng ông biếu xén quà cáp chơi bời nhậu nhẹt tán láo. Ông Chế Bồng Thớt rất thích thú hãnh diện khi được kết bạn với Mùi thuyền trưởng. Ngày xưa thì phải theo phong tục bộ tộc Chàm chít khăn đỏ đánh trống thổi kèn mổ lợn cát máu ăn thề tình nghĩa tứ giải giai huynh đệ nhưng thời buổi này làm mấy cái trò đó chắc mấy ông cán bộ phường lại ngờ vực tiểu đệ và đại huynh nếu không biến thái thay đổi giới tính thì cũng mê tín dị đoan cổ vũ cho một môn phái tà đạo nào đó. Ông Chế Bồng Thớt nhe hàm răng hụt hẫng ra cười nói với Mùi cá ngạnh như vậy. Qua mấy buổi cởi trần quần ve lên tận bẹn ngồi uống xị đế nhậu lai rai khô cá lóc biển có bộ gan cực độc ngay trong quán của vợ chồng ông Chế Bồng Thớt thì Mùi thuyền trưởng cũng biết khá rõ rành về cuộc đời bẩy nổi ba chìm chín cái lênh đênh của ông chủ quán. Cao một mét rưỡi nặng ba mươi hai ki-lô móc hàm răng khuyết cổ cò mồm rộng mũi nhọn chân vòng kiêng nói nhanh như bắn súng máy người quắt như con nhái bén. Ông Chế Bồng Thớt không phải là người Chàm. Ông là người Kinh tên thật là Phan Chí Đợt chính gốc người Sài Gòn thứ thiệt. Sinh viên Luật. Bị bắt lính. Nói tiến Mỹ leo lẻo. Làm thông ngôn lực lượng biệt kích đặc nhiệm của liên quân Mỹ- Việt gần 3 năm rồi tự nhổ 4 cái  răng cửa liền một lúc rồi lại tự bắn cụt ngón tay trỏ bàn tay phải để khỏi ra trận. Bị tống đi lao công đào binh hơn một năm trời ở mặt trận cao nguyên trung phần. Chết hụt chín lần. Đào ngũ. Sống chui lủi trong mấy buôn sóc người Chàm ở vùng này. Lấy vợ Chàm. Đốt thẻ nhà binh Phan Chí Đợt dân tộc Kinh quân hàm Trung sĩ lấy một cái tên họ Chàm là Chế Bồng Thớt nguyện suốt đời nhận quê vợ là quê hương mình. Tiểu đệ chỉ có một nguyện vọng đã thưa trước với bà xã là khi tiểu đệ quy tiên thì bà xã trả lại cái tên họ Phan Chí Đợt trên phần bia mộ của tiểu đệ. Huynh thông cảm cho Đệ rất sợ khi chết đi sẽ hóa thành ma Chàm không còn cơ hội đầu thai lại thành người Kinh ở kiếp sau. Ông Chế Bồng Thớt thật thà với Mùi thuyền trưởng như vậy:


            - Đệ có một thằng bạn nối khố quái kiệt lắm cũng là thứ lính chiến thứ thiệt dữ dằn một sống chết bỏ như ông người nhái Bắc Việt Bùi dồi nhưng đời nó chao ơi là khốn nạn xui xẻo nhục nhã chứ đâu được chết oai hùng lẫm liệt như ông bạn người nhái chiến hữu của đại huynh. Bây giờ nó vẫn còn sống đấy. Nó bỏ lên cao nguyên vào rừng thẳm lấy một cô gái vợ cùi người Gia Rai nguyện sẽ chết vùi thây ở trên đó để kiếp sau đầu thai làm người Gia Rai. Đại huynh nghe có kỳ không?


            - Chẳng có gì kỳ lạ cả. Chuyện vớ vẩn.


            Ông Chế Bồng Thớt tròn mắt nhìn Mùi cá ngạnh:


            - Hình như huynh không khoái nghe chuyện thằng bạn nối khố biệt kích đặc nhiệm này của đệ.


            Mùi thuyền trưởng gật đầu:


            -Tôi chúa ghét mấy thằng ác ôn rằn ri bịêt kích. Cũng vì mấy thằng mắc dịch ấy nổi loạn phá trại tù cướp thuyền mà tôi bị dáng cấp bị tống ra khỏi quân đội. Nói thật nhá nếu ông mà không chỉ dùm tôi tìm được mộ thằng Bùi dồi thì muôn đời tôi và ông chỉ là người dưng chẳng bạn bè gì ráo trọi.


            Ông Chế Bồng Thớt cười hềnh hệch:


            - Thôi mà đại huynh. Cuộc chiến đã lùi xa lâu rồi. Xóa bỏ mọi hận thù sống chung trong vòng tay lớn chính sách hòa giải dân tộc mà.


            Lần này ghé vào thương cảng không tên Nam Trung phần gặp ông Chế Bồng Thớt uống vài ly rượi rồi mà ông Thớt với ỉu xìu cười nói gượng gạo Mùi thuyền trưởng gặng hỏi làm sao đôi ba lần ông Thớt mới rụt rè nói cho anh thuyền trưởng hay là thằng bạn nối khố biệt kích đặc nhiệm của ông đã chết trong một trại cùi tít trong rừng thẳm trên cao nguyên trung phần. Ông bác sĩ Chiểu ở trại cùi An Nan đã viết thư về báo cho đệ là nó tiêu rồi. Đệ cũng đang định thu xếp lên cao gn  nguyên vào cái trại cùi ghê rợn đó nhận mộ nó đánh dấu vào bản đồ địa hình  ba bốn năm sau quay lại cải táng rồi đem cốt nó về chôn cất ở dưới này.


            Mùi thuyền trưởng nói:


            - Nhưng mà thằng biệt kích đặc nhiệm đó muốn chôn ở trên đó để đầu thai kiếp sau làm người Gia Rai cơ mà.


            Ông Chế Bồng Thớt lắc đầu thở dài:


            - Nó chán đời quá phẫn chí tính quẩn như vậy thôi. Đại huynh ơi sống làm kiếp người phiêu bạt nơi đất khách quê người đã khổ lắm rồi chết đi trong thâm tâm ai muốn làm con ma lạ hoắc vật vờ không quê hương bản quán.


 


    Mấy ngày đêm nán lại thương cảng không tên Nam trung phần này đợi gã thủy thủ Khiệc á sừng bán lậu trốn thuế cho hết hai xà lan đầy ắp than Mùi thuyền trưởng không đi chơi đâu vì người anh rất mệt mỏi đau đớn linh tính mách bảo hình như đời anh thuyền trưởng sắp gặp đại nạn ghê gớm. Mùi cá ngạnh cứ nằm lỳ trong quán của ông Chế Bồng Thớt miên man uống rượu. Tất nhiên ông Chế Bồng Thớt cũng ngồi lỳ suốt ngày cạnh đại huynh Mùi thuyền trưởng và cũng miên man uống rượu vừa để hầu tiếp khách quí vừa để nguôi ngoai chút nỗi sầu trần thế vừa mất thằng bạn biệt kích đặc nhiệm. Hai người uống tì tì cạn sạch can rượu quốc lủi 5 lít làng Vân xứ Bắc mà anh thuyền trưởng xách vào. Cả hai say bí tỉ say đến độ gọi tên nhau líu cả lưỡi và muốn vào toa-lét để xả phải bò cả bốn chân tay như con chó béc-giê. Bà vợ béo ụt người Chàm của ông Chế Bồng Thớt thấy chồng và khách say tít cù mây thì thích lắm vỗ tay đen đét cười nắc nẻ rồi lại gọi bà bạn hàng xóm bán chè thệp cẩm ở bên cạnh mang nước cốt dừa sang cho hai người uống rồi cả hai bà thi nhau đùa cợt lấy que chọc vào nách ông Chế Bồng Thớt và Mùi thuyền trưởng. Và cũng trong mấy ngày say sưa miên man đó ông Chế Bồng Thớt đã ngậm ngùi kể lể câu chuyện cuộc đời dữ dằn khốn nạn xui xẻo nhục nhã tuyệt vọng của gã lính biệt kích đặc nhiệm vừa chết ở trại cùi cao nguyên Trung phần


                                                                     


                                                                        *


           Họ tên hắn là Phạm Văn Cổn. Tiểu đệ được điều về làm thông ngôn ở trại huấn luyện lực lượng biệt kích đặc nhiệm vài tháng thì thằng Cổn cũng nhập trại. Nghe đâu hắn được cố vấn Mỹ trực tiếp tuyển chọn từ lực lượng phòng vệ nhà thờ ở một xứ đạo khét tiếng chống cộng. Cũng chẳng hiểu tại sao đệ và hắn lại cặp bồ với nhau. Có thể vì hai thằng quá trái ngược nhau như nước với lửa chăng. Đệ nhỏ thó đét đẹt như con mắm. Thằng Cổn to lớn vạm vỡ đô con như ông hộ pháp. Đệ leo lẻo suốt ngày bản thể duy linh cô đơn chối bỏ thận phận vân vân còn hắn thì chỉ cười nhạt cộc lốc một câu: điễc đít. Đệ người xứ Nam hắn người xứ Bắc. A! Thưa đại huynh thằng Cổn gốc người xứ Bắc Bộ thứ thiệt xịn như huynh đó. Tiểu sử Phạm văn Cổn là tiểu sử trong mơ của lính biệt kích đặc nhiệm. Quê Bắc. Gia đình có gốc đạo. Theo tàu há mồm di cư vào Nam từ năm 1955. Tuy cùng ở trong trại huấn luyện lực lượng biệt kích đặc nhiệm nhưng thân phận đệ và thằng Cổn khác nhau. Đệ là thông ngôn còn thằng Cổn là học viên khóa đặc biệt do hai ông thầy người Mỹ trực tiếp huấn luyện. Lực lượng biệt kích đặc nhiệm này do lục quân Mỹ hợp tác với cơ quan xịa trực tiếp tuyển dụng đào tạo có nhiệm vụ nhảy dù xuống hậu phương miền Bắc bạo loạn ám sát bắt cóc phá hoại. Đệ là lính văn phòng nên dù sao cũng nhàn nhã hơn thân phận tập luyện nặng nề căng thẳng của thằng Cổn là học viên. Một tuần bảy ngày thì sáu ngày thằng nào biết việc của thằng ấy chỉ đến ngày Chúa nhật hai thằng mới rủ nhau la cà nhậu nhẹt ở mấy tửu quán ngoài cổng trại. Thằng Cổn là dân đạo gốc vì vậy một tháng tối thiểu hắn phải đến nhà thờ một lần để xưng tội. Đệ không đi đạo nên mỗi lần thằng Cổn vào nhà thờ thì đệ chỉ la cà ở bên ngoài hút thuốc lá tán láo với mấy ả bán hột vịt lộn chán thì mon men tới đứng ngoài cửa sổ dòm vào xem hắn chịu lễ bên trong thánh đường. Thằng Cổn là học viên ưu tú. Đệ đã nhiều lần nghe mấy ông thầy Mỹ nhận xét về hắn: Đó là mẫu lính biệt kích kiểu mẫu trong những năm tới. Chẳng thế mà trong thời gian huấn luyện thằng Cổn được thăng hàm vượt bậc từ hạ sĩ lên thượng sĩ. Một trường hợp ngoại lệ và có thể hắn còn được đặc cách sang tu nghiệp ở Ha- Oai nếu như tình hình thả dù biệt kích xuống hậu phương Bắc Việt không đột nhiên xấu đi một cách rất khó hiểu. Nhưng  chuyện đó nói sau. Đệ xin kể tiếp chuyện thằng Cổn. Chà! Rượu đế xứ Bắc uống vô muốn chết luôn. Đã quá trời ơi! Đệ biết đại huynh ghét lũ lính rằn ri biệt kích. Hồi xưa chiến tranh nếu bọn đệ có rơi vào tay đại huynh chắc đã bị băm nhỏ vê viên rán mỡ rồi. Nhưng thôi cuộc chiến đã tàn. Xóa bỏ hận thù. Hòa giải dân tộc. Đại huynh ráng nghe chút ít để hiểu cho cuộc đời bọn đệ. Đại huynh ơi thân phận con người vô nghĩa phi lý trên cõi nhân gian này. Mời đại huynh nâng ly. Ta cạn. Và đệ xin tiếp tục hầu đại huynh chuyện thằng Cổn đi lễ nhà thờ. Thấy thằng Cổn rất chăm chỉ ngoan đạo như vậy đệ hỏi tại sao mày lại động rồ tự nguyện gia nhập lực lượng biệt kích quỷ dữ khát máu này. Thằng Cổn nhếch mép cười gằn:Cộng sản vô thần diệt đạo. Tao phải làm quỷ dữ để uống máu cộng sản. Có vậy thôi. Điếc đít. Trời ơi! Đại huynh đừng trợn mắt nhìn đệ. Thằng Cổn nói chứ không phải đệ nói đâu. Đại huynh không thèm uống rượu với đệ nữa à. Đừng thế. Mất vui. Vậy là ta nói sang chuyện khác nghe. Nói chuyện thằng Cổn chơi gái nghe. Đại huynh làm nghề sông nước chắc ưng chuyện gái mú. Thì đây! Xin hầu tiếp chuyện đại huynh. Hồi còn đi học đệ đây vốn là một môn đồ cuồng nhiệt của cụ Phoi rờ. vTất nhiên là môn đồ ăn theo thời thượng cho đúng cách thôi. Đệ khoái cái kiểu nhìn ngắm đo vẽ con người cuối cùng chỉ có con cu là đáng ngắm đáng bàn hơn cả. Không phải cái đầu trị con cu mà con cu cai trị cái đầu. Đại huynh nghe thối lỗ tai lắm phải không. Nhưng đúng như vậy đấy. Thằng Cổn là một minh chứng thứ thiệt ngồn ngộn của ông cụ Phoi rờ. Đời đệ chưa thấy thằng nào chơi gái dữ dội dẻo dai tàn bạo như nó. Cũng phải thôi. Nó lực lưỡng đô con thế cơ mà. Vả lại cái nõn của nó thuộc loại ngoại cỡ dị tướng. Chúa ơi! Một lần đi đái chung với nó trong một  bữa nhậu đệ đã xuýt té xỉu khi tận mắt thấy nó cười hề hề trưng diện ra cỗ đại bác vĩ đại gõ cong cong vào chậu sứ đái. Thật khủng khiếp. Đệ cũng không thể hiểu ông trời đã nghĩ gì mà lại ban cho nó một báu vật vô giá như vậy. Còn ghê gớm hơn cái gộc tre. Bọn gái điếm làm ăn trong mấy quán quanh trại lính khiếp vía cỗ đại bác của thằng Cổn. Chắc là các em rì rầm kháo nhau ghê lắm nên một tối thứ bảy thằng Cổn rủ đệ vào quán để chống đần độn mụ chủ điều ra hai em mắt xanh mỏ đỏ ríu ra ríu rít nhưng vừa nom thấy thằng Cổn là cái hai đều lấm lét đùn đẩy nhau. Khi chui vào căn buồng bé xíu tối om om tanh lòm đệ áp má vào bộ ngực ngồn ngộn em bé của đệ rồi hỏi vì sao các em lại có vẻ dúm dó sợ hãi như gà phải cáo như vậy em bé của đệ thở dài:


    - Con Mộng Điệp tối nay chắc tiêu rồi.


    Đệ bèn hỏi vì sao em Mộng Điệp tối nay chắc tiêu rồi thì em bé của đệ thở dài:


    - Ông bạn anh chơi tàn bạo lắm. Tàn bạo còn hơn cả chó rừng. Vả lại bộ đồ nghề của ông ấy bự dễ sợ khi tống vô có khác gì tống cả chai bia con cọp muốn vỡ tung cả háng.


    Đệ kéo mũi em bé cười nhạt: Đừng có giả nai. Mấy em chinh chiến già đời ngán gì thứ dữ đó có khi sướng quá còn hú lên ấy chứ. Lúc đó không biết ai là chó rừng. Nghe Đệ mắng mỏ riễu cợt như vậy em bé buồn bã tủi thân ra mặt rồi nói dỗi: Đàn ông là lũ người không tim. Chúng em vì miếng cơm manh áo mà phải làm nghề này. Chúng em là đàn bà con gái chứ có phải là con chó rừng đâu. Em nói ông bạn anh chơi tàn bạo như chó rừng là em nói thật. Hồi nhỏ một lần theo má đi qua bến phà Thuận Bình em nhìn thấy một con chó Bẹc-giê đi tơ một con chó ta quay lông lốc lông lá tả tơi như nắm giẻ rách ngay trước mũi một cỗ ô tô nhà binh to như cái nhà đang đợi xuống phà. Anh không tin thì ghé mắt qua lỗ này coi thử. Đệ đã đọc xê vân đay hép pi quyển cẩm nang mù tạc dạy hai mươi bảy kiểu làm tình thú rừng nào là chó tha mồi cọp đi ba chân ễnh ương đứng gáy rắn hổ mang cuộn lưng vân vân kiểu nào cũng ghê rợn khiếp vía nhưng thú thật chẳng thấy kiểu nào quái đản như kiểu thằng Cổn đang chơi cô gái điếm ở phòng bên. Nó đâu có  chơi gái đâu có làm tình mà đang tra tấn hành hạ cô điếm khốn khổ đó. Thằng Cổn trói cô bé vào ghế rồi dùng một cái gối thấm nước ướt sũng quất vào mông vào vú vào mặt cô bé chán chê rồi lại nhét cái gối rách tả tơi ấy vào mồm con nhà người ta trước khi nhào tới lồng lộn cào cấu cắn xé khắp người cô bé. Em bé của đệ nói đúng. Thằng Cổn lúc này đã hóa thành con chó rừng. Một con chó rừng điên. Mặt nó xám ngoét. Hai mắt đỏ ngầu. Bọt mép sùi ra từng đống. Trời ơi! Đích thực đó là chân tướng một thằng bạo dâm. Một lính biệt kích ưu tú một thể xác cường tráng khỏe mạnh một con chiên ngoan đạo của Chúa mà lại có đời sống tình dục bí ẩn bệnh hoạn như vậy. Đại huynh đã thấy cụ Phoi rờ thần tình chưa: Cái đầu cai trị con cu hay là con cu cai trị cái đầu?


    Thế nào thưa đại huynh. Nghe tiếp chứ. Mỏi cái lưng quá. Sao vậy? Đại huynh nhăn mặt lại khạc nhổ nữa. Có con nhặng bay vào miệng hay là đại huynh buồn mửa vì mấy thứ chuyện chơi gái bệnh hoạn của thằng Cổn. Xì tốp ở đây. Đệ xin lải nhải kể tiếp về chuyện mấy thằng lực lượng biệt kích đặc nhiệm bọn đệ cho đại huynh nghe. Không chuyện tình dục thì chuyện oánh nhau vậy. Đơn vị biệt kích đặc nhiệm huấn luyện sang tháng thứ mười lăm thì bắt đầu chia nhỏ ra từng tổ dăm ba người và được bí mật ném ra hậu phương Bắc Việt. Thời gian đầu mọi việc có vẻ thuận buồm xuôi gió. Một vài tốp nhảy dù xuống mấy tỉnh rừng núi vùng Thượng du Bắc Việt đã liên lạc điện đài trở về báo cáo nhưng rồi dần dần tình hình bỗng xấu đi một cách bất ngờ bí ẩn. Việc liên lạc bằng điện đài của các nhóm nhảy dù xuống ngoài đó với trung tâm trong này vẫn duy trì đều đặn nhưng hễ cứ tung thêm nhóm nào đi là mất hút ngay nhóm đó. Cụ thể chi ly trong hơn một năm trung tâm đào tạo huấn luyện này đã ném xuống Bắc Việt Nam mười bảy nhóm đều biệt vô âm tín. Có một cái gì đó không bình thường đã xảy ra. Cuối cùng mấy ông Mỹ đã hiểu: Công an Bắc Việt đã sử dụng chính điện đài của một nhóm biệt kích giăng  bẫy và cứ lặng lẽ hốt trọn từng nhóm. Vụ việc vỡ lở trung tâm đào tạo huấn luyện biệt kích đặc nhiệm phải ngừng hoạt động và giải thể. Nhưng xóa bỏ một trung tâm đặc biệt như thế này không phải là dễ. Gần hai trăm lính biệt kích đặc nhiệm tinh nhuệ đã bị ném ra miền Bắc ở trong tình trạng mất tích nên gia đình của họ vẫn được đều đặn nhận lương hàng tháng của họ để lại. Bây giờ giải thể lực lượng biệt kích đặc nhiệm này thì rồi đây nơi nào sẽ phải tiếp tục trả lương cho gia đình những người lính đang mất tích này. Cơ quan nào trong chính phủ mới của Việt nam cộng hòa hay lục quân Mỹ hay là cơ quan xịa? Một đại tá trẻ tuổi lục quân Mỹ đã bay từ Hoa Kỳ sang để trực tiếp xử lý nội vụ này. Trước tiên ông đại tá Mỹ trẻ tuổi này vét tất cả số học viên còn lại chia thành bảy tốp nhỏ trong một tháng liên tiếp cho máy bay xê bốn bảy tống xuống nốt  những địa điểm ở miền Bắc đã vạch sẵn trong lế hoach kể cả nơi đang bị nghi ngờ là cái bẫy của công an Bắc Việt. Tiếp theo ông ra lệnh tiêu hủy tất cả hồ sơ của trung tâm huấn luyện đào tạo rồi thông báo chính thức cho gia đình tất cả các lính biệt kích đặc nhiệm đã nhảy dù xuống hậu phương Bắc Việt là chồng con anh em họ đã hy sinh vì công vụ. Tất nhiên theo chế độ đại ngộ quân nhân hiện hành thì các gia đình lực lượng biệt kích đặc nhiệm đã tử nạn này đều được


lĩnh một món tiền tuất dĩ nhiên sau đó không còn nhận lương của chồng con cha anh họ nữa. Trước khi trở về nước ông đại tá Mỹ trẻ tuổi này đã vỗ đệ nói gọn lỏn: Chiến tranh là như vậy.


    Trung tâm huấn luyện đào tạo lực lượng biệt kích đặc nhiệm đóng cửa nhường lại doanh trại cho một tiểu đoàn dù. Đệ bị điều động về một đại đội bộ binh thuộc sư hai ở mặt trận Quảng Trị. Trong phút quẫn trí đệ tự đập gãy bốn răng cửa và bắn cụt ngón tay trỏ bóp cò. Đệ bị đưa ra tòa án binh với tội tự sát thương và bị tống vào một tiểu đoàn lao công đào binh. Cầm chắc cái chết ba sáu kế đệ đành chọn kế chuồn. Đệ đào ngũ lang thang chốn chui trốn lủi sau bị truy lùng gắt quá đành lẻn về vùng này đổi tên họ là Chế Bồng Thớt và lấy một bà góa Chàm trà trộn mai danh ẩn tích. Đó! Thưa đại huynh cô em dâu của đại huynh tuy có béo ụt tị như mụ nái xề nhưng tính tình vui vẻ dễ dãi hiền hậu chiều chồng hết sảy. Bà vợ Chàm của đệ là nhất quả địa cầu này đấy đại huynh ạ chỉ phải tội bà không đẻ được con. Vì sao? Có thể vì bà béo tịt cả lỗ đẻ hoặc cũng có thể đệ sài đẹn cóc cáy nhiều quá. Nhưng thôi nói chuyện đời đệ cũ mèm nhạt hơn nước ốc. Ông Chế Bồng Thớt méo miệng cười rồi vung tay: Đại huynh ráng nghe tiếp chuyện thằng Cổn nhé. Nó chết rồi ngồi kể chuyện nó cũng coi như là đang thắp cho nó nén nhang. Quãng đời sau này của thằng Cổn ly kỳ bi ai ra trò.


    Thằng Cổn ở trong danh sách nhóm biệt kích cuối cùng tống ra Bắc Việt. Vào những ngày này bí mật về những vụ thả dù các nhóm biệt kích đặc nhiệm rơi vào bẫy của công an Bắc Việt đã bị rò rỉ nên tâm trạng của lính biệt kích rất hoang mang lo sợ nhưng thằng Cổn thì không hoang mang lo sợ bởi vì rất đơn giản nó là một lính biệt kích can đảm thực sự không sợ chết. Nó đeo dù bước lên máy bay bình thản hớn hở như đi đến chịu lễ ở nhà thờ như đi nhậu nhẹt chơi bời đĩ điếm. Trong đêm thằng Cổn trèo lên mấy bay xê bốn bảy bay ra hậu phương Bắc Việt đệ đã ngồi một mình trong phòng khui một chai Mạc-ten đầu óc vẩn vơ miên man chẳng còn chút hy vọng gì gặp lại nó. Đời một thằng biệt kích đặc nhiệm là đời cảm tử một đi mấy khi trở về. Đêm đó sau khi đã nốc cạn chai rượu đệ đã thắp một bó nhang rồi quỳ xuống hướng ra xứ Bắc vài chín vái coi như là tế sống cho thằng Cổn trước cầu mong mai này hồn ma nó siêu thoát biết đường tìm về được trong này. Chuyện đời oái oăm chẳng ai học tới chữ ngờ đúng hai mươi ba năm sau vào ngày rằm tháng bảy xá tội vong nhân đệ đang ngồi phơi rốn nhậu ở cái bàn gỗ kia thì thằng Cổn lù lù bước vào. Một thằng Cổn bằng xương bằng thịt đang sống nhăn răng chứ không phải hồn ma bóng quỷ. Chỉ có khác là thằng Cổn ngày xưa đen trũi cuồn cuộn cơ bắp đô con lực sĩ hùng dũng thì bây giờ đã hóa thành một ông già tóc tai búa xua thịt da bủng beo mặt mũi dăn deo lấm la lấm lét. Thằng Cổn rụt rè hỏi đệ: Mày còn nhận ra tao không. Tất nhiên là đệ nhận ra nó ngay mặc dù hình hài của nó đã khác xưa hoàn toàn. Đệ bèn hỏi nó vì sao biết tao ở đây mà tìm. Thằng Cổn lúc lắc đầu: Đi ngang qua đây tình cờ nhìn vào quấn thấy mày đang nhậu mà thôi. Đệ bèn nói là mấy chục năm qua đệ cứ ngỡ nó tiêu rồi bây giờ gặp lại nó đệ rất khoái. Đệ kể sơ sơ cho thằng Cổn nghe cảnh ngộ đời đệ chìm nổi dạt trôi rồi hỏi nó: “Sao da mày bủng beo bợt bạt vậy vừa ở tù ra à”. thằng Cổn gật đầu. Đệ lại hỏi nó: “Tại sao mày ở tù lâu thế”. Hỏi ba bốn câu liền thằng Cổn chỉ cười nhạt: “Tôi không biết”. Khi đệ hỏi nó về số phận những anh em biệt kích đặc nhiệm hồi đó nhảy dù xuống Bắc Việt. Hỏi mãi thằng Cổn mới lấp lửng: “Chết hơn một nửa còn lại ở tù mút mùa chẳng thằng nào thoát”. Đệ rót rượu cho thằng Cổn rồi hỏi nó hiện nay nó làm gì và ở đâu thì nó buồn rầu bảo: “ Đi hoang vì chẳng biết làm gì chẳng biết về đâu ”. Đệ mời thằng Cổn ở lại chơi với vợ chồng đệ vài ngày thằng Cổn nhận lời ngay. Mấy ngày tiếp sau hai thằng ngồi nhậu lai rai. Đệ huyên thuyên mỏi mồm thằng Cổn chỉ ngồi nghe. Nó vẫn ít nói. Hứng lên đệ hỏi nó có ý định lấy vợ chưa có thích đi kiếm một em ma ri sến để chống đần độn không đệ sẽ dẫn đi. Hỏi hai ba lần thằng Cổn vỗ nhẹ vào háng thở dài: “Hỏng bộ đồ nghề rồi”. Đệ ngạc nhiên buột mồm: “ Ngày xưa mày oách như chó rừng làm sao lại đến nông nỗi này”. Thằng Cổn chép miệng: “ở tù miên man hai mươi năm không có đàn bà hai mươi năm thủ dâm đút con cu vào một cái lỗ trên tường đá nên đổ bệnh liệt dương mãn tính luôn”. Đệ bảo nó: “Để tao đãi mày chục thang cường dương”thì thằng Cổn gạt đi: “Khỏi lo”. Nghỉ ngơi rong chơi vài tháng là con cu tự hồi lại thôi. Mấy ngày nhậu lu bù ở nhà đệ xem ra thằng Cổn có điều gì đó cấn cá trong tâm can đệ gạ gẫm mãi mà nó vẫn làm thinh. Thế rồi hôm cuối cùng nó mời đệ đi nhậu ở ngoài bến cảng cũng có ý bữa nhậu trả lễ. Hai thằng uống hết bốn xị say mèm tới lúc đó thằng Cổn mới chậm rãi kể cho đệ nghe là đúng ra chúng nó được ra tù từ năm 1973 nhưng không hiểu sao chẳng thằng nào có tên trong danh sách trao trả tù binh do phía Mỹ hoặc chính phủ miền Nam cộng hòa đưa ra. Tụi tôi có hỏi mấy ông cộng sản Bắc Việt thì họ nhún vai:có thấy đòi đâu mà trả. Tụi tôi không tin cứ nghĩ mấy ông Bắc Việt cố tình chơi ẩu không chịu nhả tụi này ra. Và tụi tôi lại róng riết chờ đợi. Một lần có mấy ông nghị sĩ Thụy Điển Đan Mạch gì đó vào thăm trại tù bọn tôi lén đưa đơn cho mấy ông nghị sĩ đó. Vài ngày sau một ông lớn công an Bắc Việt xuống tận trại tập họp tụi tao lại chính thức thông báo cho biết là chính phủ Bắc Việt cũng đã đề nghị trao trả tất cả số tù nhân lính biệt kích đặc nhiệm đã ở tù cải tạo gần mười năm theo đúng hiệp định đã ký kết nhưng chính phủ Mỹ và chính phủ miền Nam cộng hòa đã trả lời chính thức là họ không hề có một lực lượng biệt kích đặc nhiệm nào cả. Chính phủ Bắc Việt cũng muốn trao trả các anh lắm vì các anh đã cải tạo tốt lắm rồi  nhưng trao trả cho ai bây giờ. Vậy đấy! Kẹt lung tung rồi. Thế là tụi tôi lại tiếp tục ở tù mút mùa luôn. Thằng Cổn có vẻ sầu đời hỏi đệ: Hồi đó mày làm thông dịch ở trung tâm chắc là có biết đôi chút về cái việc đem con bỏ chợ này. Nghe thằng Cổn hỏi như vậy tóc gáy đệ dựng đứng mồ hôi vã ra đầm đìa ở nách ở lưng bụng. Đệ lấp lửng giả ngô ngọng là thân phận thằng thông ngôn quèn nào có nghe ngóng hay biết điều gì đâu. Đệ đâu có dám nhắc lại lời của ông đại tá trẻ tuổi lục quân Mỹ:chiến tranh là như vậy mà. Đệ cũng đâu có dại nổi máu người chứng. Vả lại đệ còn lạ gì tính nết dữ dằn hung tợn của mấy ông biệt kích đặc nhiệm ngộ nhỡ họ hiểu nhầm đệ cùng một duộc với những kẻ đem con bỏ chợ rồi quẫn trí đòi tính sổ đổi mạng thì sao?Còn một điều nữa là chuyện cũ quá lâu rồi mấy chục năm trôi qua rồi bây giờ mới móc tính sổ thì được cái gì tốt nhất là quên phắt tất cả mọi ân oán hận thù lừa đảo chết chóc và nếu chưa quên được thì cố tập ngậm bồ hòn làm ngọt nuốt vào đừng có ọe ra nữa tanh tưởi lắm.


            Sau lần gặp lại đó thằng Cổn lặng lẽ bỏ đi rồi bặt tin luôn chắc là nó lại đi hoang. Kể ra thì vợ chồng đệ có thể giữ nó lại giúp đỡ nó chút đỉnh một công việc làm vớ vẩn nào đó ở cái thương cảng này nhưng không rõ tại sao đệ cứ rờn rợn. Vài năm sau tình cờ gặp một thằng bạn cũ tên là Quảng cũng có thời gian làm thợ điện ở trại huấn luyện lực lượng biệt kích đặc nhiệm kể cho thằng Cổn có vào Sài Gòn chạy chọt ăn chực nằm chờ hơn một năm trời đợi diện xuất khẩu H. O nhưng không hiểu tại sao nó vẫn không đi lọt sau đó nó bỏ đi lang thang mấy tỉnh Cần Thơ An Giang Châu Đốc Mỹ Tho nghe nói còn mò ra cả đảo Phú Quốc rồi sang tận tỉnh Công Pông Chàm ở Căm pốt để tìm thuốc chữa cho đứa con gái điên của nó. Thằng Cổn có con gái ư. Nó có con với ai và từ bao giờ ở đâu. Khi đệ hỏi thì ông Quảng thợ điện kể cho đệ nghe là những ngày ở Sài Gòn thằng Cổn thường hay lui tới nhà vợ chồng ông nhờ vả một số việc vặt qua đó ông cũng biết chút ít về đời riêng của thằng Cổn. Ngay đêm đầu tiên nhảy dù xuống một khu rừng nhiệt đới ở vùng Thượng du xứ Bắc cả nhóm biệt kích của thằng của thằng Cổn đã rơi một cái bẫy giăng sẵn của công an Bắc Việt. Nhóm biệt kích của thằng Cổn đánh trả quyết liệt thí mạng bốn thằng bị bắn chết hai thằng bị bắt sống thằng Cổn bị dính hai viên AK vỡ bả vai chạy trốn vào một hang núi đá được vài hôm thì vết thương thối hoăng ròi bọ bò lổm ngổm Cổn đành liều mạng mò xuống một ngôi chùa ở dưới lưng chừng núi nói láo là thợ săn đi săn chẳng may bị gấu vồ. Sư cụ chủ trì ngôi chùa lặng lẽ cho nó ăn đắp thuốc lá rừng chữa chạy vết thương cho nó hơn một tháng trời đợi khi vết thương ở bả vai thằng Cổn lên da non thì sư cụ mới lựa lời khuyên nhủ nó nên đến công an xã đầu thú để cứu mạng sống của nó và cũng để chùa tránh được cái tội che giấu gián điệp biệt kích. Nghe sư cụ khuyên như vậy thằng Cổn vui vẻ nhận lời. Buổi sáng hôm tiễn thằng Cổn xuống núi tự tay sư cụ đeo vai thăng Cổn cái đãy vải trong có nắm cơm và gói thuốc rừng lại còn cho sư cô  Hạnh đi theo dẫn đường cũng tiện thể xuống chợ mua một ít đồ chay cho nhà chùa. Nhưng thằng Cổn đã có dã tâm. Trên đường đi nó  hãm hiếp rồi bóp cổ gần chết sư cô Hạnh cũng là người đã hơn một tháng trời đã lau rửa băng bó vết thương và cơm cháo chăn bẵm cho nó. Có lẽ vì quả báo nên chỉ một tuần sau thằng Cổn đã bị bắt. Hơn một năm sau trong khi đang nằm trong nhà tù thằng Cổn có nhận được một lá thư không rõ ai viết nghệch ngoạc báo cho biết là sư cô Hạnh không chết và đã đẻ một đứa con gái đặt tên là Kiệm nhà chùa đang nuôi còn sư cô thì đã chết vì bị bệnh hậu sản. Thằng Cổn dấu biệt tin này không cho lũ bạn tù biết. Rồi ngày tháng dần trôi hai chục năm sau thằng Cổn được tha. Ra khỏi tù nó đã tìm ngay đến ngôi chùa ở ngay lưng chừng núi đó nhưng tiếc thay khi gặp lại thì sư cụ đã già quá rồi suốt ngày đêm chỉ nằm trên võng đu đưa tay lần tràng hạt ai hỏi gì cũng chỉ mỉm cười lú lẫn chẳng còn nhận được ra ai vào ai. Cũng may là có mấy người trong xóm ở chân núi mách cho biết là cô con gái tên là Kiệm được nhà chùa nuôi từ bé đến năm mười sáu tuổi cắt tóc quy y thì tự nhiên hóa điên mấy năm nay lê la ở chợ kiếm ăn bị mấy thằng xe thồ thay nhau hãm hiếp đẻ liền ra mấy đứa bé nhưng đều chết yểu khi vừa chui ra khỏi bụng mẹ. Thằng Cổn mò ra chợ nhìn ngay thấy con mụ Kiệm điên tóc tai rũ rượi trần truồng lem luốc bẩn thỉu thối khắm đang ngồi xổm hít bã mía cạnh đống rác ruồi nhặng bay vù vù. Thăng Cổn không đủ gan đến nhận con mà chỉ dám nấp sau cậy cột chợ đứng từ xa nhìn rồi cứ giật lùi từng bước như thằng làm xiếc tới khi ra khỏi cổng chợ thằng Cổn bỗng nghe đứa con gái điên tên là Kiệm của nó hú lên một tiếng não nề ai oán rùng rợn như tiếng hú của con chó rừng. Thưa đại huynh nghe ông Quảng kể đến đó tóc gáy đệ dựng ngược mồ hôi vã như tắm ở cổ ở bụng ở nách ở háng. Vậy ra thằng Cổn đã dấu đệ chuyện này điều đó phải hiểu là thằng Cổn đâu còn coi đệ là người bạn tốt. Nó đã xếp đệ vào một duộc những kẻ đã nói dối trá lùa nhẹm cuộc đời nó từ lâu rồi.


            Thế rồi bẵng đi một thời gian ông Quảng có biên thư báo cho biết thằng Cổn bị bệnh hủi mũi đỏ như quả cà chua mười đầu ngón tay mười đầu ngón chân sưng loét đau đớn nhức nhối. Có thể đấy là nó bị quả báo nhưng cũng có thể do cái hồi nằm biệt giam ở nhà tù Cộng sản buồn quá thằng Cổn nuôi cóc suốt ngày đêm ăn nằm sờ mó ôm ấp hít ngửi mấy con dế con cóc nên bị lây bệnh hủi. Đệ nghe tin này sầu đời muốn chết cảm thương cho một thằng bạn chiến hữu tan nát cuộc đời vì một cuộc chiến tàn bạo này trắng trợn vô sỉ lừa cho một quả ngoạn mục.


     


                                            17


 


        Mùi cá ngạnh lại thấy tức ngực đau lưng buốt bả vai nhoi nhói ở bàng quang tê buốt ở xương cụt rồi lại choáng váng buồn nôn bải hoải chân tay nhưng lần này anh thuyền trưởng không nghĩ là mình bị cảm cúm nữa mà anh đã lờ mờ cảm thấy mình đang bị một căn bệnh quái ác bí hiểm nào đó đang lặng lẽ gặm nhấm tàn phá cơ thể mình. Nằm bẹp trên tấm phản gỗ kê ở góc quán Mùi cá ngạnh uống rượu miên man và cũng miên man nghe ông Chế Bồng Thớt miên man kể lể câu chuyện về cuộc đời gã biệt kích Phạm Văn Cổn nào đó thật đáng buòn nhưng cũng chẳng làm Mùi thuyền trưởng bận tâm ngạc nhiên bởi vì hồi còn làm giám thị coi trại giam tù binh anh cũng đã phải đọc hàng trăm hàng ngàn lý lịch trích ngang lý lich các trại viên đề na ná tương tự như vậy. Anh thuyền trưởng mơ màng nửa tỉnh nửa say cố nén cơn đau bằng cách uống thật nhiều rượu uống cho tê dại cả tim gan xương cốt phổi dạ dày ruột non ruột già nhưng rồi càng uống vào thì lại càng bải hoải nôn nao càng đau đớn vật vã cho tới lúc anh thuyền trưởgn chịu không nổi kêu ối một tiếng trào máu mũi máu tai rồi ồng ộc ra một bát máu nhoe nhoét đỏ lòm cả tấm phản khiến ông Chế Bồng Thớt đang nằm vắt chân chữ ngũ bên cạnh giật bắn mình chồm dậy sợ lác mắt kêu ú ớ như bị ma bóp cổ:


     -Bà nó ơi cứu cứu!


     Bà vợ người Chàm ục ịch từ ngoài quán chạy vào nom thấy hai người đàn ông đang giẫy giụa giữa bãi máu bê bết thì đập tay dậm chân tru lên:


     -Ôí rồi ơi! Sao lại say rượu đổ đốn ra đánh nhau vãi că máu ra thế này.  


     Nhưng rồi bà nhận ra ngay là ông khách Mùi thuyền trưởng đang bị nguy khốn thế là quẳng ngay ông chồng đang say mèm luống cuống quờ quạng khua khuắng chân cẳng xuống đất cho rộng chỗ cho khỏi vướng víu rồi bà pha chậu nước nóng lau chìu sạch sẽ vết máu trên mặt trên cổ ông khách thuyền trưởng rồi bà đỡ Mùi cá ngạnh nằm xuống đắp một cái chăn ngang bụng anh rồi quay lại hét vào mặt ông chồng lúc này sợ quá toát mồ hôi đầm đìa tỉnh hẳn rượu đang đứng run rẩy ngay sau lưng bà:


     - Chạy ra phường gọi bác sĩ.


     - Có ngay. Một bác sĩ.


     Ông Chế Bồng Thớt vọt đi như bị ong đốt vào đít. Mùi cá ngạnh vẫn nằm thiêm thiếp thỉnh thaỏng lại hộc ra một bát máu. Thời gian lúc này trôi lờ đờ vật vã tắc nghẹn lẫn lộn lổn nhổn những tiếng va đập lách cách tiếng người xuýt xoa. Giữa hai cơn nấc Mùi cá ngạnh cố vùng ra khỏi đám sương khói bùng nhùng nửa mê nửa tỉnh he hé mắt nhìn và anh thuyền trưởng trông thấy hai vợ chông ông Chế Bồng Thớt thi nhau còng lưng xuống chắp tay vái lấy vái để một người cao ngẳng đeo ống nghe bác sĩ lõng thõng trước ngực mũ trắng áo bờ lu trắng khắp người nông nặc mùi ê te trộn lẫn mùi i- ốt mùi thuốc sát trung cờ-lo-rua a- môn. Tiếng ông Chế Bồng Thớt khản đặc run rẩy mếu máo:


- Ôí giời ơi đất ơi thế là hêt hy vọng rồi có phải không ạ giời ơi là giời ơi!


     Người đọi mũ trắng mặc áo bờ lu trắng lạnh lùng:


    - Chất độc đi-ô-xin phá tanh bành lục phủ ngũ tạng ra rồi. Thất khiếu trào máu. Có mà thánh cứu. Y học là cái đinh rỉ gì!


    Bà vợ béo người Chàm của ông Chế Bồng Thớt rú lên như bị thắt cổ rồi xỉu đi hồn vía trôi tuồn tuột vào cái đám sương khói bùng nhùng của cơn mê loạn kinh sợ.


    Mặc dù lục phủ ngũ tạng đã bị chất độc màu gia cam tàn phá tanh bành nhưng anh thuyền trưởng vẫn chưa chiụ chết ngay. Cái thân xác to lớn cuồn cuọn bắp thịt gân dai như chão xương cứng hơn thép của anh và nhất là cái ý chí ngang ngạnh của anh vẫn cứng cỏi hăng hái chống lại cái chết. Đã hơn mười lần trong cơn mê sảng anh thuyền trưởng lao bổ dậy vạch quần đái vột cần câu vào cái lưỡi hái thần chất đen xì bỏng rộp sôi lên xèo xèo từ ngoài cửa thò vào định móc cổ lôi anh đi. Hơn mười ngày liền Mùi cá ngạnh nằm trên tấm thảm mơ mơ màng màng lúc mê lúc tỉnh cắn răng chịu những cơn đau nhói buốt cắn xé cào cấu tim gam phổi lá lách ruột non ruột già gân máu ở trong người anh chẳng khác gì một kẻ tội đồ dang bị hành tội. Những cơn đau như sóng bể dồn dập nối tiếp nhau không bao giờ ngớt lúc thì nhoay nhoáy vài phút lúc thì ê ẩm triền miên cả tiếng đồng hồ. Anh thuyền trưởng cứ vật vã như vậy hơn mười ngày đêm không ăn uống không ỉa không đái không toát mồ hôi. Mười ngày đêm máu đen kịt ri rỉ chảy ra từ lỗ mắt lỗ mũi lỗ mồm lỗ tai lỗ rốn lỗ đầu con cu và cuối cùng là lỗ đít không lúc nào ngừng. Vào ngày thứ ba vợ chồng ông Chế Bồng Thớt có liều mạng còn nước còn tát bỏ ngoài tai lời cam đoan của ông bác sĩ phường cao ngẳng mũ trắng áo bờ lu trắng là: “có mà thánh cứu”đã cõng anh thuyền trưởng đi bệnh viện đa khoa nằm ở phố Hy vọng mạn cuối thương cảng nhưng vừa nhìn thấy anh thuyền trưởng thì tất cả bác sĩ y tá trong bệnh viện đã đồng loạt xếp hàng ngang phẩy tay lắc đầu rối rít đuổi như đuổi tà “Trời ơi!đến cảnh này rồi thì mau khênh về chết ở nhà gần vợ gần con là thượng sách. Về!về thôi!chúng em xin chắp tay lậy cả nón”. Thế là ông bà Chế Bồng Thớt lại lẽ mễ khênh anh thuyền trưởng vềcái quán nhậu. Đến ngày thứ mười ba vào đúng giờ ngọ trong lúc ông bà Chế Bồng Thớt đang rầu rĩ lặng lẽ ngồi ăn cơm ở cái bàn giữa nhà thì đang nằm rũ rượi mê man trên tấm phản anh thuyền trưởng bỗng bừng tỉnh vùng dậy hai mắt mở thao láo đỏ ngầu độp một câu tỉnh như sáo: “Đoàn xà lan buôn than xuyên Việt của thằng Khiệc á sừng đâu rồi?”khiến ông Chế Bồng Thớt giật bắn người và lộn cả cơm vào hai lỗ mũi. Mặt ông Chế Bồng Thớt trắng nhợt ra vì ông cứ nghĩ là quỷ nhập tràng đã hiện hình nhập vào anh thuyền trưởng. Ông Chế Bồng Thớt rú lên lạc cả giọng:


     - Thưa đại huynh chúng nó nhổ neo từ thời tám hoánh rồi ạ.


     Anh thuyền trưởng vẫn trợn ngược hai con mắt đỏ ngầu:


     - Nhổ neo đi đau?


     Ông Chế Bồng Thớt lắp bắp líu cả lưỡi:


     - Đi buôn than Nam Bắc xuyên Việt ạ thưa thưa đại đại huynh thằng cha Khiệc á sừng đã thuê một thuyền trưởng ngoài thương cảng lái tàu kéo dắt dắt dắt đoàn xà lan nhỏ neo rời bến hôm nay rồi rồi rồi ạ. Nó có để để để lại      hai triệu nhờ vợ chồng đệ trông nom thuốc men cho đại huynh huynh huynh. Nó thằng Khiệc á sừng ấy ấy ấy có nhắn tháng sau lên đường quay ra trở đá răm nó sẽ ghé vào thương cảng đón đại đại huynh huynh huynh mã hồi hồi về nhà. Anh thuyền trưởng bật lên cười hà hà rung chuyển rồi đổ vật người xuống phản tắc thở tức thì hồn lìa khỏi xác. Ngay lúc đó ông Chế Bồng Thớt ôm choàng lấy bà vợ Chàm béo ụt ịt cả vợ lẫn chồng òa lên khóc lóc thảm thiết. Tiếng khóc của hai vợ chồng ông Chế Bồng Thớt chẳng khác gì hồi kè lệnh lanh lảnh cất lên gọi laon báo chỉ vài phút sau là bốn năm bẩy cái quán của tộc người Chàm gần đó chẳng ai bảo ai đồng loạt bật lên những tiếng rú rùng rợn sởn gai ốc. Nghe tiếng rú bà con người Chàm sống xa gần trong thương cảng hò nhau lục tục kéo đến đàn ông đàn bà già trẻ lớn bé đều ăn mặc váy áo liền nhau nhuộm màu xanh cô ban. Họ đi từng tốp từng tốp nối nhau vừa đi vừa kể lể ầm ĩ náo nhiệt ồn ã như đi chợ như đi hội người bê chồng đãi người ôm cái gối người địu bọc chăn chẳng mấy chốc cái quán đã đông nghẹt người chất ngất hàng đống bát đĩa chăn gối quần áo nòi niêu lù lù như ngồi mả tổ. Vợ chồng ông Chế Bồng Thớt cũng đã nín khóc bởi vì theo tục lệ người Chàm thì trong đám ma chỉ khóc qua quít để báo cho bà con chòm xóm biết nhà có tang mà thôi và cũng theo tục lệ người Chàm để tạ ơn bà con chòm xóm tới dự đám vợ chồng ông Chế Bồng Thớt bèn vọt xe ôm ra chợ mua liền một lúc ba mươi cân thịt ba chỉ ba mươi cân thịt mông ba mươi cân thịt vai và cũng chừng ấy cân xương sườn cùng hành tỏi muối tiêu mắm nhĩ rau thơm gừng xả một thúng đem về nấu nướng đãi khách dự đám đã ngồi chật cứng trong quán ứ phè cả ra ngoài hiên ngoài sân ứ phè cả ra ngoài vỉa hè đường phố.


    Lại nói xác nah thuyền trưởng lúc này đã được đặt nằm ngay ngắn trên tấm phản kê giữa quán. Bốn người đàn ông Chàm lực lưỡng khênh tới hai chum nước nóng khói nghi ngút bốc lên mùi thơm chẳng thể gọi được tên. Ông Chế Bồng Thớt cùng hai ông già người Chàm váy áo cô ban lùng thùng thướt tha thong thả tắm rửa cho Mùi cá ngạnh rồi bọc tử thi anh thuyền trưởng vào vải trắng không phải một lần mà những ba lần quấn tròn quấn chặt nom anh thuyền trưởng chẳng khác nào con sâu khổng lồ trắng toát hoặc na ná như người ngoài hành tinh đang nằm ngủ dưỡng sức nạp năng lượng đợi giừo vọt lên đĩa bay vũ trụ. Sau đó ông Chế Bồng Thớt lại đặt cho xác anh thuyền trưởng nằm ngay ngắn oai nghiêm giữa nhà rồi ông sụp xuống chắp tay trước là lạy anh thuyền trưởng sau là lạy cảm ơn bà con người Chàm đã đến dự đám kể lể chia buồn cho chăn gối bát đĩa chia phần cho người chết rồi ông Chế Bồng Thớt khom lưng mời tất cả mọi người chẳng cần phân biệt lớn bé già trẻ sang hèn đàn ông đàn bà gần mâm nào ngồi xuống luôn mâm ấy và bắt đầu chè chén nhậu nhẹt say sưa. Nếu bay giờ co ai đi ngang qua ngoài đường thì không thể biết trong nhà đang có đám ma chẳng thể nhìn thấy quan tài để đâu vì làm gì có quan tài chỉ thấy cái quán đông nghẹt cùng người đứng người ngồingả ngốn chè chén nhậu nhẹt nhay nuốt say sưa ầm ĩ náo nhiệt thì chắc phải ghen tỵ bật câu rủa xả:Bố khỉ!Buôn bán đắt hàng đông khách thì có mà hót sạch tiền của thiên hạ chẳng mấy chốc giàu nứt đố đổ vách triệu phú tỷ phú.


      Đúng nhẽ ra thì xác Mùi cá ngạnh phải được đặt trong cái võng treo giữa nhà đu đưa đu đưa qua lại mười ngày mưòi lăm ngày có khi hai chục ngày cho đén khi trương lên chảy nước ròng ròng và vợ chồng ông Chế BồngThớt sẽ phải thay nhau ngồi bên dưới võng hai tay dơ cao cái nồi đất để hứng tong tóc nhưng từ ngày giải phóng vận động đời sống văn minh tiến bộ chính quyền phường quận sau khi thăm dò xin ý kiến đông đảo bà con đã quyết định ban bố một bản nội quy tổ chức ma chay cưới xin đời sống mới giản dị tiết kiệm vệ sinh điều ba mục bốn chương hai trong bản nội quy ma chay cưới xin đó là quy định rõ ràng người chết chỉ được nằm võng đu đưa đu đưa trong nhà không quá ba ngày sang ngày thứ tư bất kể trường hợp thế nào không có ngoại lệ đều phải đưa đi chôn vì vậy tới sáng ngày thứ tư anh thuyền trưởng cũng được vợ chồng ông Chế Bồng Thớt đưa ra ngoài nghĩa địa.


      Buổi sáng hôm đó đất trời quang đãng ngay từ sớm tinh mơ đã có những cơn gió biển mặn chát rì rầm tít từ ngoài khơi xa thổi về nghe như những hồi trống đang thở dài ầm ù nhè nhẹ nuối tiếc u trầm. Xác anh thuyền trưởng quán vải chặt cứng trắng lốp đặt trên tấm ván có bốn thanh niên Chàm váy áo lùng phùng xanh cô ban khiêng đi. Ông Chế Bồng Thớt mặc một bộ váy áo xanh cô ban mới tinh còn nguyên nếp gấp đi trước mồm lẩm bẩm đọc một đọa kinh Coran rì rầm lảm nhảm miên man mà chính ông cũng chẳng hiểu nổi nghĩa. Cũng cần phải nói thêm một chút là mấy chục năm nay kể từ khi đổi họ tên lấy bà vợ Chàm béo ụt ịt ông Phan Chí Đợt tức Chế Bồng Thớt còn kiém sống bằng nghề đi đọc thuê kinh Coran ở những đám ma mời chào quanh vùng. Đám ma khênh xác nah thuyền trưởng khởi hành từ sáng sớm đi dọc cái phố biển ào ạt nắng gió rồi đi dần về phía quả núi xa xa nơi con đường quốc lộ chạy vào thương cảng. Đám ma không kèn không trống không tiếng khóc than nỉ non kêu rên cũng không cả tiếng rú gào. Càng đi người nhập vào đám ma càng đông phần lớn là người Chàm váy áo liền nhau tha thướt màu xanh cô ban nhưng lác đác cũng có người Kinh quần áo lung tung beng đủ màu đủ kiểu cách. Ông Chế Bông Thớt đi trước lầm bầm đọc kinh Coran bốn thanh niên Chàm váy áo tha thướt lùng phùng khênh xác anh thuyền trưởng lộ thiên trên tấm ván gỗ đi sau cứ đi vài trăm bước thì đứng lại một lúc có ý như để vong hồn anh thuyền trưởng đang phải bay theo phía trên được nghỉ ngơi một lúc để ngắm nghía cây cỏ nhà cửa cảnh vật hai bên đường và nhất là tranh thủ nhắn nhủ điều gì đó với đám đông người Chàm người Kinh đang ồn ã đi tiễn theo sau. Cứ như vậy đám tang anh thuyền trưởng thong rong rồng fắn lên mây từ sáng tinh mơ cho đến chiều tà thì đến được chân quả núi xa xa là nơi nghĩa trang thương cảng cũng là nơi đặt mộ Bùi Dồi người lính đặc công nước bạn đồng hương của Mùi thuyền trưởng. Vợ chồng ông Chế Bồng Thớt đã mua lại giá cao gấp rưới mấy thước đất ở ngay sát cạnh bên phải mộ người lính đặc công nước Bùi Dồi khi đám tang khênh xác anh thuyền trưởng thong dong rồng rắn tới nơi thì một cái huyệt sâu lút đầu người đã đựơc phu đào huyệt đào xong thu vén vuông vắn sắc cạnh nhẵn nhụi sạch sẽ. Không có ai đứng ra trang nhiêm sùi sụt đọc điếu văn cũng không có ai chít khăn xô lăn xả ra ôm lấy miệng huyệt gào rú tuyệt vọng thảm thiết. Ông Chế Bồng Thớt cũng đã khản đặc cố nín thít không thể đọc kinh Coran được nữa. Tấm ván được đặt xuống bãi cỏ để mọi người lượn lờ xúm xít xung quanh nhòm ngó anh thuyền trưởng đặt vải trắng lốp chặt cứng nằm cứng đờ im phăng phắc như đang ngủ rất say sưa và khi đám người đưa tiễn đã đến đủ mặt vây kết thành một vòng tròn rộng thì cái xác anh thuyền trưởng được nâng lên cao rồi từ từ thả xuống đúng cái lỗ khoét ở đáy huyệt. Tất nhiên thao đúng phong tục Chàm anh thuyền trưởng được gửi trả về nằm gọn lỏn trong lòng đất mẹ đầu đặt hướng Đông chân dăth hướng Tây đất được bóp nhỏ đổ xuống từng thúng chậm rãi thong thả thản nhiên cho đến khi trên mặt đất bằng chồi lên một ngôi mộ hum húp gọn ghẽ sạch sẽ chắc chắn chẳng khác gì ngôi mộ xây kề bên cạnh lát đá ga-tô-rít của anh lính  đặc công nước Bùi Dồi bạn chí thân từ thuở ấu thơ của anh thuyền trưởng.


      Buổi tối hôm đó theo tục người Chàm đám bà con bạn bè họ hàng của vợ chồng ông Chế Bông Thớt lại tụ tập đầy ú trong cái quán nhậu nhưng khôngphải để ăn hút nhậu nhẹt nhai nuốt ừng ực mà để rì rầm đọc kinh Coran. Cũng theo tục người Chàm thì phải sau bốn mươi ngày vợ chồng ông Chế Bồng Thớt mới đích thân hoặc nếu bận nếu lườ thì thuê người ra ngoài mộ đọc kinh Coran vào lúc chập tối hoặc mờ sáng đúng khi mặt trời lặn mặt trời mọc. Có lẽ vì thế mà vợ chồng ông Chế Bồng Thớt cũng như hầu hết mọi cư dân đang sống và làm ăn ở cái thương cảng Nam Trung phần không tên sầm uất náo nhiệt này không hề biết vào buổi trưa ngày thứ sáu hạ huyệ anh Mùi thuyền trưởng vào đúng giừo Ngọ có một đoàn người kỳ lạ xếp hàng một thong thả đi tới viếng thắp hương trước ngôi mộ đất mới đáp còn đỏ tươi ướt nhoét chưa kịp khô của anh thuyền trưởng. Đi đầu đoàn người là một thiếu phụ tóc buông xã mắt quắc như mắc cá ngão tay phải cầm nắm nhang cháy đùng đùng tay trái bế cặp nách một thằng bé con lẵm chẫm phía sau lốc nhốc một đám một dây trẻ con lít nhít gà vịt đủ cả trai có gái có đứa nào cũng mũm mĩm xúng xính quàn áo mới má đỏ hây hây và đi sau rốt là một con lợn Y- oóc- sai khổng lồ bụng căng tròn như cái chum đuôi ngắn tũn vẫy rối rít. Đoàn người kỳ lạ đó vừa nhìn thấy ngôi mộ mới đắp của anh thuyền trưởng thì đồng loạt òa lên tru lên khóc lóc kể lể gào thet ối anh ơi anh ơi là anh ơi rồi những là bố ơi bố Mùi ơi bố đừng chết bố Mùi ơi bố về với chúng con là bố ơi bố Mùi ơi…Người lớn trẻ con đồng loạt rú lên như vậy ngay cả khi con lợn Y-oóc- sai khổng lồ lông trắng cũng vừa chạy vừa vục mõm xuống cát rít lên thảm thương như đang bị chọc tiết. Phải sòng phẳng nói rằng mấy chục năm nay rồi cái nghĩa địa yên tĩnh vắng vẻ của bộ tộc Chàm ở chân quả núi xa xa này mới được một phen than khóc tưng bừng chán chê thỏa thuê ầm ĩ náo động đến như vậy.


    Vào khoảng ba giừo chiều nghĩa là sau gần ba tiếng đồng hồ gào rú khóc lóc kể lể vật vã con lợn khổng lồ Y- oóc-sai khản dặc cổ luc trẻ con gà vịt cũng đã hết cả hơi nằm vật cả ra cát thở phì phò rên ư ử đứa khóc thút thít lại có đứa còn nằm chổng mông úp bụng hai tay ôm lấy ngôi mộ bố Mùi ngáy khò khò. Người thiếu phụ lúc này cũng chẳng còn hơi sức đâu lăn lộn gào thét nữa thị ngồi phệt xuống cát vạch vú cho con bú mắt nhìn chăm chăm ra biển. Thị ngồi đó mặt buồn bã như buổi sớm sương mù giăng mắc mưa rơi lưng còng xuống u sầu như quả đồi cỏ may lúp xúp hoa mua hoa sim. Người thiếu phụ cứ ngồi như vậy mãi cho đến lúc bất chợt chị nhìn thấy một cái bóng người rũ rượi tả tơi bỗng bất thình lình hiện ra trên bãi biển mênh mông trắng lóa cát nơi có những thân cây dừa đang đổ bóng xiên xiên xuống bãi biển vì những tia nắng chiều chiếu chênh chếnh vàng rực. Cái bóng người như từ trên trời rơi xuống từ dưới biển trồi lên ấy trông xa chẳng khác thằng ăn mày nhếnh nhác xiêu vẹo dị mò khi đến gần thì nom rõ ông già quần áo rách mới đầu đội mũ ếch-ki-mô lù xù tay xách va ly da cú kỹ đã tàng đang thất thểu bước thấp bước cao bước nặng bước nhẹ trên bãi cát lạo xạo vỏ sò vỏ hến. Khi đi ngang qua ngôi mộ anh thuyền trưởn ông già đội mũ êch-ki-mô đó dưng dưng nhìn thiếu phụ. Tất nhiên thiếu phụ cũng đáp lại bằng một cái nhìn dửng dưng lạ hoắc vì thị không thị không thể nhớ được ông già hành khất này chính là bác sĩ Trương Vĩnh Cần mồng ba tết năm nảo năm nào đã ghé vào nhà thị uống rượu nhắm với con Ngán. Còn ông bác sĩ già Trương Vĩnh Cần-Vâng cái ông già đội mũ ếch-ki-mô xù xụ tay xách va ly cũ rích đã tàng này chính là bác sĩ Trương Vĩnh Cần cũng dưng dưng không nhận ra chị vợ anh Mùi thuyền trưởng bởi vì đã nửa tháng nay rồi kể từ khi thoát khỏi đảo vượn vàng tâm trí ông bác sĩ già vẫn đang giãy giụa chìm đắm trong đám sương khói đục ngầu đen đặc lùng bùng của sự u mê quên lãng.


(còn tiếp)


Nguồn: Đêm thánh nhân. Tiểu thuyết, tập 1, của Nguyễn Đình Chính. NXB Văn học, 1999.


www. trieuxuan. info


          


           

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »