tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24366565
Tiểu thuyết
17.11.2014
Ngũ Hà Miên
Bão

Đến mùa thu năm 1965, người Mỹ đã leo thang thêm một bước trong chiến tranh Đông Dương. Khai giảng niên khóa mới chỉ chừng ba tuần, chàng đến lớp chưa thuộc hết tên học trò, thì có giấy đổi vô dạy Trung học Chu Văn An- Sài Gòn.


Lần này, từ vợ con tới họ hàng bạn bè ai nấy đều hoan hỉ. Vì ai cũng muốn chàng, một kẻ dễ sai, thiết lập sẵn một cơ sở tại Thủ đô để nếu có dịp vào Sài Gòn, hoặc công tác hoặc đi thăm con đi lính hay gửi con trọ học, hoặc vào chữa bệnh đều có thể ghé, ngủ đỗ một đêm, vừa đỡ tốn tiền phòng trọ mà có người đồng hương trí giả cùng nói chuyện, thậm chí khát nước vẫn có cốc nước lã mang ra.


Vả lại, Chu Văn An vốn là trường Bưởi gốc Hà Nội, nổi tiếng lâu đời, nhiều học trò giỏi. Cái tít giáo sư Chu Văn An có khi còn hơn cái tít giáo sư đại học, sẽ được trường tư tranh nhau mời dạy các lớp tú tài. Người thật sự buồn bã trước chuyến giã từ, lại là hai ông già, cụ tú Tuân và cụ tú Đóa: Lưu liên thán ngã vị thùy du! (Tấm lòng lưu luyến thương nhau, than cho chúng ta, rồi đây biết sẽ cùng ai giao du!).


Mây mùa thu đã sang, bay trắng loạn cả bầu trời. Trong bữa cơm dành riêng cho hai người bạn vong niên có tô canh don nóng, dĩa chả trứng, mấy gói nem Sông Vệ bất hủ và xị đế La Hà. Nhìn khóe mắt hai người, chàng an ủi hai bạn:


Người già chỉ nên cho nước mắt chảy vào trong. Năm tháng chồng chất những bể dâu, dù có mở thao láo ra vẫn thấy cái màn đen sâu thẳm của cuộc đời. Cháu hứa là nếu làm ăn khá, thế nào cháu cũng mua vé cho hai bác vô chơi cho biết Sài Gòn.


Để làm vui cho hai bạn chàng kể một chuyện tiếu lâm về khí phách của nhà nho:


Xưa có một nho sinh, sinh phất phùng thời, lại ở nhằm một địa phương mà quan thái thú cực kì tàn ác. Trời giận, suốt ba năm không ban cho giọt mưa nào. Quan lập đàn cầu đảo mấy ngày đêm liền, mà mỗi tối mở cửa ra vẫn chỉ thấy trăng sáng vằng vặc. Nhà nho ta bèn vịnh, bằng thơ yết hậu (mấy câu, câu cuối chỉ có hai):


Thái thú đảo võ tiết


Bán dạ khai môn


Kiến nguyệt!


      (Thái thú cầu mưa/Nửa đêm dậy mở cửa/Thấy trăng sáng vằng vặc)


Quan giận lắm bèn cho lính bắt trói nhà nho lại trị tội đánh mười tám hèo. Đau đớn cùng cực, nhưng ông đồ vẫn khí phách và tiếp tục trổ tài châm biếm thông minh của mình:


Thi tất thi thập nhất


Đả dã, đả thập bát


Nhược đắc thiên vạn hàng


Đả sát.


(Thơ chỉ làm mười một chữ/Mà đánh thì đánh mười tám roi/Nếu có tài làm ngàn vạn câu như ai/Chắc là sẽ bị đánh tới chết).


Đánh chưa đã tức, thái thú còn đày nho sĩ ra cõi xa. Vợ chàng bận bịu con cái, chỉ chờ ông cậu của nàng đi đưa. Cả hai, ông đồ và cậu đều khóc, ông lại làm thơ:


Thái thú trục viễn phương


Kiến cửu như kiến nương


Nhị nhân đồng lệ hạ


Tam hàng


(Thái thú đày đi xa/ Thấy cậu cũng như thấy nàng/Cả hai cùng rơi nước mắt/ Nhưng chỉ có: ba hàng!)


Hai người khóc mà sao chỉ có ba giòng nước mắt? Hóa ra ông cậu bị mù một mắt, nên chỉ có một dòng lệ, thành ra hai người mà cộng lại chỉ có ba giòng nước mắt. Ai cũng phải cười. Quên đi cái hiu hắt của cảnh vật và nỗi niềm kẻ ở người đi.


Hôm đó, có cả chú Mười hai của chàng. Chú là hình ảnh cuối cùng của cha. Chú không làm thơ và rất thương cháu. Bao giờ cũng vậy, nhắc tới cha hay tới chú là chàng khóc, đừng bao giờ bắt nước mắt phải có lí do. Người đời nói: Mất cha còn chú, phải tới hôm đó chàng mới hiểu. Căn nhà Cống Kiểu của chàng, rồi đây gió sẽ hát nỉ non những đêm đông lạnh trăng sáng hiếm hoi. Và bốn đứa con Kem, Lan, Tí, Bé với biết bao kỉ niệm. Chàng tâm sự với con trai lớn, mới lên chín:


– Chắc mình phải cho thuê một nửa nhà để làm lộ phí, nửa còn lại bác Cả ở. Ba sẽ đi trước vào nhận việc. Các con và má thì còn chờ bé Đạo đầy tháng hãy mua vé máy bay vào sau.


Sài Gòn tháng Chín còn những cơn mưa ngắn sau buổi trưa, không khí mát mẻ. Chàng tá túc với anh Bảy tại căn gác gỗ nhà anh Huỳnh Bá Lân ở hẻm 16 Nguyễn Thiện Thuật, quận 3. Tại đây, chàng quen với một người bạn mới, người Quảng Nam cùng tuổi với chú Út, một thanh niên chân thật và nhiệt tình, đầy lý tưởng: anh Nguyễn Văn Tấn.


Tấn sốt sắng tìm cho gia đình chàng một căn nhà thuê nhỏ, sát vách nhà mình ở trước mặt chùa Tàu Huê Nghiêm cổ tự, nằm gần tận cùng đường Hàng Keo, Gia Định. Hôm vợ con chàng vào, anh Bảy, anh Tấn, anh Phạm Đình Nghị ra tận sân bay Tân Sơn Nhất đón. Taxi về tới trung tâm thành phố, tất cả đám vợ con gốc nhà quê rặt của chàng không giấu được vẻ ngơ ngác kinh ngạc, khi đi lạc vào vùng sáng choang ánh điện, tưng bừng tiếng nhạc lời ca, nhất là bấy giờ, cùng xuất hiện với những người lính Mỹ giàu có, súng ống đầy người, gót giày đinh rầm rập, là cơ man những hộp đêm mọc lên, môi hồng mắt sáng, móng tay đỏ bầm màu máu, nhọn hoắt, đang cấu sâu vào da thịt một đất nước vừa lên cơn sốt chiến tranh dữ dội.


Nhà chàng thuê là một nửa ngôi song lập (jumele’e), mới tinh khôi, còn nồng mùi nước vôi của một trung sĩ thợ hàn, vợ có thớt bán thịt heo trong chợ Bà Chiểu. Đặc biệt sau nhà có cái giếng khơi mà tối lại thì dòng nước trong vắt, ngọt lạnh từ đáy trào lên khỏi cái thành ciment lâu đời mốc meo xù xì cao hơn năm tấc mà chảy ra nền đất. Lúc đầu chàng lấy làm lạ và tiếc của trời, cứ canh thức ra hứng đầy mấy cái lu, thau nhựa nhưng riết rồi cũng cứ để mặc cho thiên nhiên tha hồ hoang phí.


Đúng ngay cái buổi chiều vợ con mới vào, trong căn nhà trống trơn không có chút giường màn, chiếu gối, chén dĩa, chàng và Tấn phải tẩn mẩn đi sắm sửa từng tí một. Tận chín giờ tối, họ còn ở chợ Dân Sinh, thuê xe ba gác chở một đống đủ thứ lăng nhăng theo bến Bạch Đằng về Hai Bà Trưng. Vừa qua khỏi Cite’ Brink thì ầm một cái long trời lở đất, tiếp theo là những loạt đạn đủ loại chát tai, gầm rú suốt cả nửa tiếng đồng hồ. Rất may, bọn chàng đã ra khỏi vùng nguy hiểm.


Sáng hôm sau, nhật báo Sài Gòn Mới của bà Bút Trà, một nữ nhân vật khá thân thiện với bà Ngô Đình Nhu trước đây, có chồng Quảng Ngãi, đăng tin tối qua Việt cộng đánh bom một Trung tâm quan trọng của Mỹ ở gần Tòa Đô chính làm thương vong tới mấy chục người. Lính Mỹ hoảng hốt xả súng bắn quân khủng bố, đạn lạc chết mấy người đi đường.


Tấn coi báo hú hồn, tự cho là rất may mắn. Chàng thì không ngớt xuýt xoa cảm ơn lòng tốt của bạn. Từ đó họ trở thành rất thân thiết nhau. Cái truyền thống kết giao bầu bạn đã mấy đời ông cha để lại trong dòng máu giúp chàng bớt cảm thấy trơ trọi buổi đầu vào chỗ mới. Đúng mười năm sau, chàng nghe anh Năm Thiện, một trung tá công an, kể lại:


– Vụ đó tôi làm chứ ai? Tôi đóng bộ sắc phục Thiếu tá Quân đội Việt Nam Cộng hòa, đi xe Jeep cẩn thận với một thiếu úy thông dịch viên tiếng Anh vào tận sân. Chúng tôi xin gặp cố vấn Mỹ Lawson, leo lên lầu nhì, lựa lúc vắng, đặt trái nổ có hẹn giờ ở chân cầu thang, rồi ra hành lang, giòng dây tụt xuống đất ngoài bờ thành, chạy bộ tới khách sạn Cửu Long. Honda chờ sẵn ở đấy, dọt thiệt lẹ.


Chàng mua lại chiếc Mobilette cũ của anh Nghị. May quá, năm 1964, trước khi đổi về quê làm việc để vừa phụng dưỡng cha mẹ già, chú Lê Quang Na, em kết nghĩa, người Huế đã cho chàng mượn chiếc xe gắn máy Be’ta và đã bỏ công cả tuần lễ liền tập cho chàng sử dụng, té lên té xuống trầy trụa cả tay chân. Khi vào Sài Gòn, đi dạy xa chỗ ở không thể dùng xe đạp được, chàng thấy hình như mọi sự xảy đến cho mình đều có một sự xếp đặt trước vô hình, một loại grandiose harmonie bí mật, như chuyện Tôn Thất Ngạc từ chối mình vào Trường Cường Để, Qui Nhơn, chuyện đi xe, chuyện đến ở nhà Huỳnh Bá Lân để gặp Tấn, trí óc thông thường không thể hiểu được.


Vẫn chiếc áo sơ mi trắng, cổ thường viền đen mồ hôi, khác với thói quen trễ nải ở tỉnh lẻ Quảng Ngãi, năm giờ sáng, dụi mắt kêu vợ dậy nấu cơm. Hôm nào dạy hai buổi, chàng mang lon guigot cơm với khi thì cá nục, khi thì cục thịt kho mặn, cứ như là hồi còn học lớp Ba trường làng, đem cơm tới trường, trưa giở ra ăn rồi leo lên bàn học trò đánh một giấc. Lớp học chỉ còn tiếng chim sẻ kêu, thỉnh thoảng có tiếng xe chạy ngoài đường vẳng vào giấc ngủ ngắn ngủi.


Trường Chu Văn An từ trường Bưởi - Hà Nội di cư vào Nam, gần nhà thờ Ngã sáu đường Minh Mệnh. Lớp thầy lớn tuổi như giáo sư Bạch Văn Ngà đang chuẩn bị về hưu, hiện có một người Công giáo rất trẻ, Dương Minh Kính làm hiệu trưởng. Chàng được phân cho hai lớp Việt văn đệ nhị (lớp 11 bây giờ), kỳ dư là Sử Địa lăng nhăng. Thằng Văn tiếp tục lên lớp nhì trường tiểu học nam Gia Định. Em kế nó, bé Hoa vào lớp năm (lớp một bây giờ), áo trắng tinh khôi.


Nó nói ngọng vần L và W. Có lần trường gửi giấy báo kết quả học tập trong tháng, thấy môn Toán ít điểm quá, chàng đùa:


– Sao thần đồng Hoa nhà ta sa sút thế này?


Nó chống chế:


– Không phải đâu ba ơi! Con làm bài trúng hết, cô ghi wộn đấy thôi.


Đi dạy về, thường đã hoàng hôn. Chàng hay ghé lò bánh mì đầu ngõ mua mấy ổ mới ra lò nóng hổi. Mấy cha con, vừa rảnh rỗi chờ bữa cơm tối, vừa tụm nhau trên chiếc giường tre trước hè, bên hàng tre cù đang vi vu thả lá trong gió mà nhai lép nhép những mẫu bánh cho tới ngọt lịm tan ngấm đi trong miệng. Hồi đó Lan, con gái chàng mới bốn tuổi.


Mấy chục năm sau, trải bao lưu tán, mỗi lần nhắc lại những giây phút êm đềm đó, Lan thường hỏi:


– Ba ơi, sao bây giờ không được mãi mãi hạnh phúc an lành như thuở xưa?


Chàng đáp:


– Cái gì rồi cũng qua đi. Bây giờ con có còn là bé bốn tuổi quàng khăn đỏ như xưa không mà cứ đòi bắt quá khứ phải giữ nguyên như tự thuở nào?


Anh Bảy, anh ruột chàng là giáo sư Nguyễn Văn Xung, nhà nghiên cứu nổi tiếng ở miền Nam, ở chung. Tất nhiên, đám bạn của anh thường đến chơi, như nhà thơ lớn Quách Tấn, tác giả Mùa cổ điển từ Nha Trang, Vũ Khắc Khoan của Thần Tháp Rùa, Nguyễn Thành Vinh, Trương Bảo Sơn trong nhóm Văn hóa Ngày nay của Nhất Linh, thôi thì chính trị trộn lẫn với thi ca trên căn gác nhỏ, mỗi người một chiếu, những Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Đông Hồ, Trương Quang Mực, Hồ Hữu Tường với bàn cờ tướng bằng ngà luôn lốc cốc, xóa bày thế trận, với ấm trà không lúc nào nguội và cái gạt tàn thuốc lá chất cao như núi.


Hoặc mỗi cuối tuần là một sòng xì phé thâu đêm với giáo sư Nguyễn Hóa sử gia, Phạm Viết Tích máu mê, Lương Bá Thận mày râu nhẵn nhụi nhưng không Mã Giám Sinh một chút nào.


Tấn và chàng không thích cuộc đỏ đen. Tấn đang học Luật, cũng như chàng, rất khoái hoạt động Cứu trợ nạn nhân chiến tranh và phong trào sinh viên học sinh. Những buổi tối, họ cùng rủ nhau đi cầu cá. Ấp Đông Ba - Phú Nhuận còn là cánh đồng rau muống mênh mông ven kênh Thị Nghè chảy xuống Cầu Bông hoang vắng và dày đặc bóng đêm, lấm tấm ánh đèn yếu ớt từ những căn nhà ổ chuột trên vùng sình lầy Tân Định hắt lại. Năm ấy Tấn đã ba mươi hai, chưa vợ, rất nhát gái, trước làm công chức, sau bỏ việc đi học lại. Anh ở với bà chị gái góa chồng, buôn thúng bán bưng nuôi ba đứa con ăn học, nên nhà vẫn thiếu trước hụt sau. Ngồi trên chiếc cầu cá chênh vênh, giữa khoảng tối mênh mông đó, bao giờ Tấn cũng nói lên ước mơ của mình:


– Ông biết không, đang nghèo túng cơ cực quá, chạy cái xe lam cà khổ này, bán cháo phổi mạt hạng cho chủ trường tư nó tha hồ bóc lột. Vậy mà tôi luôn nuôi giấc mộng ngày nào kia có tiền, phải sắm cho kì được cái Toyota Nhật đi cho đã. Nhiều hôm tôi đứng sững bên đường, tít mắt say mê nhìn cái model mới của nó. Ôi! Đẹp làm sao! Tạm quên đi những khốn khổ vây bủa quanh mình.


Maxime Gorky nói: Trong thênh thang hạnh phúc và cả trong bế tắc của bần cùng, thảy đều làm ta lãng mạn, bay bổng lên những vùng trời cao. Chàng nghe tiếng tõm một cái, rồi tiếp theo là những tiếng quẫy mạnh của những con cá tra lớn đang giành mồi trên ao nước, không cần bóng đêm cũng đã đen ngòm và hôi thối.


Chàng nói:


– Biết đâu đấy, sạch sẽ và dơ dáy, giàu sang và ốm đói, làm sao mà lần. Ông coi, những con cá ghê tởm này, mai kia được đưa tới những nhà hàng khách sạn cỡ Majestic, chiên vàng trong những chiếc dĩa sứ Giang Tô đời Tống bên Tàu. Nó sẽ trở thành thượng lưu, bao quốc khách đến đánh đũa ngon lành, để khi trở về nước, họ có thể khoe với vợ con là mình đã tới cái nước châu Á mịt mù khói lửa này, và đã thưởng thức một trong những sơn hào hải vị trên đời.


Họ bàn việc chính trị. Tấn nói:


Trong nội các của ông Kỳ có hai nhân vật trái ngược nhau từ nguồn gốc đến chính kiến: Trần Ngọc Liễng(1), Cử nhân Luật, Tổng trưởng Xã hội và Trần Ngọc Ninh, Thạc sĩ Y khoa, Tổng trưởng Giáo dục. Trùng họ và chữ lót, nhưng không bà con gì nhau, một Nam, một Bắc, một trung lập, một không thích Cộng sản. Thượng đế bao giờ cũng oái ăm cho hai nhà trí thức khả kính này ngồi chung một mâm trong chiếc chiếu Nội các Chiến tranh luôn mồm đòi Bắc tiến, của một anh chàng hằng bị báo chí coi là một cao bồi du đãng. Anh vào chủ tọa Hội đồng nội các, chỉ cần sơ mi ngắn tay, nhà trí thức com lê cà vạt nghiêm trang phải đứng dậy cung kính vái chào. Nào phải họ cần tiền, cần quyền đâu mà khúm núm với ai? Phải chăng do cái quan niệm Khổng Nho, là kẻ sĩ ở đời phải ra gánh vác công việc thiên hạ?


Trước đây, tại miền Trung, chàng rất mê chương trình công tác hè (summer program), về các thôn xóm giúp bà con nghèo sửa chữa nhà cửa hoặc đào giếng, rủ các học trò cũ đang làm y tá, điều dưỡng ở các bệnh viện đi phát thuốc cho những người lam lũ ốm đau.


Một cựu Hướng đạo sinh, anh Trần Trung Du đã có dịp ra thăm. Nay anh là Trợ lý Tổng trưởng về Thanh niên, bèn giới thiệu chàng với bác sĩ. Thế là ông mời ngay chàng vào hàng ngũ cố vấn. Với vai vế đó, chàng được hiệu trưởng Chu Văn An nhìn bằng đôi mắt trọng thị khác hẳn hồi mới vô, vốn coi chàng là một anh giáo hò lơ gốc tỉnh lẻ.


Dần dà, sau những cuộc họp hành trò chuyện bên lề, bác sĩ Ninh nhận ra kiến thức là lạ, nhiều khi ngược đời của chàng về nhiều vấn đề, nhất là triết học và văn chương. Như bao nhà khoa học khác hay thích thú những gì trái khoáy với nghề nghiệp chính quy của mình, bác sĩ coi chàng như bạn tâm đắc.


Có lần bác sĩ viết một bài về văn minh Chàm cho tuần báo Bách khoa của anh Lê Ngộ Châu. Ông đưa bản thảo chàng xem, chàng góp ý với tác giả là Linga không có dấu ấn triết học âm dương phương Bắc như ông nghĩ. Ông ngần ngừ hồi lâu và cuối cùng đồng ý với chàng. Từ đấy họ trở nên khắng khít hơn. Bác sĩ là một người rất đặc biệt. Trong giới y khoa ông là giáo sư thạc sĩ hàng đầu về xương. Trong giới Triết học, khi bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ viết, chiếc ghế giáo thọ môn Chu dịch ở trường Văn khoa Sài Gòn bỏ trống gần một năm chưa ai dám nhận thì ông tình nguyện đến giúp.


Bộ Cơ cấu Việt ngữ bảy cuốn của ông là một công trình nổi tiếng. Rất gắt gao với học trò, ông đã đào tạo được những người rất giỏi về sau này như Trần Thành Trai, Văn Tần, Lê Thành Phụng, Trần Xuân Ninh... Người ta đồn rằng khi đi Nhật, đến thăm nhà một bà quả phụ tóc bạc như tuyết của một vị cố Đại đô đốc, nhìn hàng chục thanh cổ kiếm, gia bảo truyền thế lâu đời của dòng họ treo trên vách, ông đã chỉ vào từng chiếc và nói chính xác tên tuổi, niên đại, lịch sử nổi trôi của chúng khiến các vị giáo sư khảo cổ trường Đại học Tokyo tháp tùng phải khâm phục.


Sau này, chính giáo sư Ninh ra tham gia Tổng vụ Cư sĩ Phật giáo Ấn Quang cũng vì nể lời mời mọc của chàng và chút tình nồng hậu giữa họ với nhau. Và gần mười năm sau, khi chàng bị ám sát tới gần chết, lại cũng chính bác sĩ đã đích thân tới nhà chàng chữa trị, điều ông ít khi làm cho bất cứ bệnh nhân nào khác.


Trước khi bỏ nước vượt biên ra đi, ông đã cho chàng cuốn Budhist Logics. Con người hiền lương thế mà không được mấy vui về gia đình. Người ta nói đứa con trai ông bị chứng béo phì và chậm phát triển. Còn bà vợ ông thì suốt ngày mê đỏ đen trong khi ông chồng dành hết thì giờ cho y khoa, văn học.


Ngôi nhà thuê của chàng quả đã trở thành trạm ghé của anh em, bà con có việc vào Sài Gòn, gần như không có mấy ngày trong tuần là không có khách ăn cơm. Số học trò cũ của chàng nay hoặc đã ra làm việc, hoặc còn mài đít ở đại học cũng lấy đó làm nơi liên lạc. Nguyễn Dũng yêu thơ, thích kiểu ngâm Nam Ngãi và Phạm Châu Nam, con nhà giàu đang theo học Dược năm cuối có giọng ca nam trầm rất hay là hai khách vãng lai thường xuyên nhất. Nhóm còn có cả cụ Vi Huyền Đắc, kịch tác gia già nổi tiếng, chị Nguyễn Thị Vinh, nhà văn, hai nhà thơ Hoàng Hương Trang và Phổ Đức. Họa sĩ thì có Nghiêu Đề lúc nào cũng ương gàn đùa bỡn theo kiểu Quảng Ngãi hay co, nhạc thì có Nguyễn Đức Quang của nhóm Du Ca vừa được thành lập dưới sự dìu dắt của Phạm Duy.


Được một cái là vợ chàng một mực cung phụng cái ý thích của chồng nên chiều thứ Bảy nào cũng vậy, khi thì một nồi bún bò Huế truyền thống của quê hương Hoàng Hương Trang, khi thì món bún ốc đặc biệt Bắc kỳ của vợ nhà văn Trương Bảo Sơn, tệ nhất thì cũng là món bánh xèo Quảng Ngãi quê mùa tự biên tự diễn của vợ chàng.


Lũ giày dép luôn bừa bãi ngoài ngạch cửa, họ xem nhà chàng như của chính mình, uống bia thả cửa ngổn ngang chai lọ, phà khói thuốc lá Ruby nồng sặc khắp căn phòng nhỏ, nói chuyện ồn ào, cãi nhau như mổ bò, tranh luận tới mức mạ lỵ nhau không tiếc lời đấy, rồi lại vỗ vai, thân ái ôm chặt nhau như những bạn tình pêđê nửa bước không rời. Cụ Vi Huyền Đắc bấy giờ có một mình ở ngã năm Bình Hòa. Hoàng Hương Trang chưa có gia đình, được cụ nhận làm con nuôi thường cất giọng Huế ngâm thơ Phổ Đức:


Ngày mai xác trả cho đời


Còn hồn không biết rong chơi phương nào


Thiên đường thì ở trên cao


Niết bàn xa lắm sao vào được đây


Nên tôi hẹn với kiếp này


Làm thân du tử mà say quên đời


Vì đời là giấc chiêm bao


Nên tôi xin được đi vào hư vô...


Mẹ chàng nghe rất thích, khen:


– Thằng Phổ Đức đó người Quảng Nam, miệng hô, da ngăm ngăm đen, nhưng tướng người chơn chất, tiếng nói rổn rảng, tâm địa tốt. Bài thơ đó của nó sao tội nghiệp quá.


Nguyễn Đức Quang lúc nào cũng nồng nhiệt. Đoàn Du Ca của anh khá nổi tiếng. Chơi thân với Nguyễn Dũng, thỉnh thoảng anh ghé lại đây, không khí thoải mái và tình bạn chân thành cũng đã gợi hứng cho anh viết bài Hi vọng đã vươn lên bên chiếu rượu nhà chàng, đường Hàng Keo. Khi lần đầu tiên cất tiếng hát như triều dâng thác đổ sáng tác của mình, hân hạnh thay, anh nói: Bài này dành cho chủ nhà. Và mãi gần băm lăm năm sau, khi đến thăm Tòa báo Viễn Đông của anh ở Cali, chàng vẫn nghe như nó réo gọi trong tâm khảm mình, như mầm non những búp măng xanh nhú lên từ mặt đất khô cằn của khu vườn xưa, chính khả tính tiềm sinh đã giúp cho muôn loài tồn tại.


Còn bài hát ruột của Phạm Châu Nam, bài Mẹ có hay chăng con về, thì mẹ chàng bắt ghi vào băng nhựa, lúc ngồi một mình buồn, mẹ thường gọi thằng cháu nội mở cho nghe. Mẹ thương Nam như con vậy. Chiều Chủ nhật nọ rảnh rỗi, chàng đang đọc sách và ngáp ngắn ngáp dài chờ khách thì Nam đến. Nó nói:


– Thầy làm gì mà buồn như chấu cắn thế? Có cà vạt không, hai cái?


– Để làm gì? – Chàng hỏi.


– Đi ăn đám cưới chơi.


Chàng ngạc nhiên: – Làm gì có đám cưới chơi? Đám cưới nào cũng thật hết. Mà đi thì phải có thiệp mời và phải sắm quà mừng chứ, ăn quịt người ta được à?


Nam phá ra cười:


– Thầy đúng là bậc cổ nhân. Ở nhà hàng Đồng Khánh - Chợ Lớn, ngày nào cũng có tới mấy cái đám cưới, trong cùng một lễ đường rất rộng, trang hoàng nguy nga với những hàng cột sơn son thếp vàng như cung điện thời xưa. Khách đến đông biết ai là người của đám nào, phía mình hay bên sui? Tụi em chỉ cần một cái cà vạt, vào đó chễm chệ ăn nhậu, chọc phá chơi. Em mong sư phụ cũng nên giải buồn một phát cho vui, biết thêm cái xã hội Sài Gòn thời nay. Chơi cũng là thiệt mà thiệt cũng là chơi, như câu kinh không tức thị sắc, sắc tức thị không trong tác phẩm A Di Đà mà má em thường tụng mỗi tối. Em xin nói vô phép, chắc bả cũng chẳng hiểu gì.


Nam thật có lý. Chàng theo nó. Hôm đó nhà mô phạm biết thêm được trò chơi mới của lũ trẻ. Chúng không cốt ăn nhậu, thỉnh thoảng đứng dậy chỉ trỏ vào cô dâu ở một đám kế cận ra điều chê bai. Bên kia tức thì sừng sỏ lại, đầu tiên đấu võ mồm, sau tới tay chân, cả vỏ chai lade nữa. Tới hồi gay cấn nhất, Nam kéo đấng sư phụ mình ra bãi giữ xe, tót lên phóng chạy có cờ.


Hồi đó Sài Gòn có phong trào đọc kiếm hiệp Kim Dung, dịch bài feuilleton hằng ngày từ báo Hồng Kông. Một hôm bác sĩ Tổng trưởng Giáo dục Trần Ngọc Ninh hỏi chàng về tâm lý giới trẻ. Chàng kể lại chuyện đi ăn cưới trộm với Nam, anh chịu là một hiện tượng lạ, nên nghiên cứu. Sẵn miệng, chàng đọc cho anh nghe một bài thơ về nhân vật Đoàn Dự trong Thiên Long Bát Bộ của Kim Dung đăng trong báo:


Anh về Đại Lý lên ngôi


Sai quân xa giá đi mời nghe em


Ngựa thồ chợt ruổi đêm đen


Anh mê nhan sắc nên hèn thân trai


Giờ em tóc xõa hoa cài


Tiếng ca em, có nguồn mơ vẳng về


Giờ anh lênh đênh mây trôi


Thương em hoàng hậu lên ngôi một mình.


Trước đến giờ bác sĩ vẫn coi thường các truyện kiếm hiệp. Từ đó anh thấy ở thời đại chúng ta cái gì cũng khác xưa, Triết học phi lý cũng có cái lí của nó.


Tết Bính ngọ đầu tiên xa nhà, cả gia đình thức trọn đêm giao thừa. Vợ nói nhớ mẹ già, con nhắc tới ngôi nhà nhỏ ở Cống Kiểu, anh Bảy vắng bạn đi ngủ từ sớm. Chàng thì nghĩ ngợi mông lung, đã băm bảy tuổi rồi, tay trắng trắng tay. Tối ba mươi Sài Gòn nóng bức hơn ở quê, đặc biệt trời phương Nam không có vì sao nào. Lũ con chàng ra mảnh sân hẹp trước nhà, kì thực là đoạn hẻm nhỏ trải nhựa dẫn vào sân chùa. Chàng theo thói quen ở quê, đêm trừ tịch tìm sông Ngân Hà để kiếm xem chàng sao chăn trâu ở đâu và tháng Bảy tới liệu chàng có than khóc không khi phải mỏi mòn chờ đợi để gặp nàng sao dệt lụa bên kia. Cô giáo chúng đã kể vậy mà, đã là lời cô giáo thì tới Kinh Thánh cũng không bằng. Vô vọng trước những vì sao đã mất của quê nhà, thằng Văn nói:


– Giờ này ngoài mình không có pháo nổ nhiều như đây đâu. Chắc bà nội đang uống trà với chú Hai. Con Ly cùng tuổi thằng Tí, đã lên ba, được lì xì thay cho chúng mình, nhiều tiền lắm há. Còn bà ngoại ở mãi trên Nguồn thì cũng đã thức dậy ra sân, ngó khắp bốn phía núi vây quanh mà lắng nghe, đầu năm mới này con gì ra đời, con mểnh kêu hay con nai túc. Năm tao lên năm tuổi, ngoại ăn Tết ở nhà mình, giao thừa được nghe chuột rúc bà mừng lắm. Quả năm đó ba được miễn dịch vĩnh viễn, khỏi đi lính. Bà ngoại tin. Ai cũng tin hết thì mới linh được. Còn nhà mình ở Cống Kiểu bây giờ chắc bác Cả nhớ Thi Phổ, làm cây nêu trên cây dừa, treo cái đèn lồng dưới mấy chùm trái sum suê của nó. Nghe đài nói, gần Tết năm nay trời Quảng Ngãi trở lạnh, không biết bà nội có bận chiếc áo len xanh ba đưa không? Bà nội thương đám tụi mình dữ lắm. Trong album của ba còn cái hình bà nội ôm tao hồi tao mới lên hai, còn ở truồng vổng cu ra đó.


Cả đám cười vui ầm ĩ.


Nghe con nói, chàng cảm động nhớ nhung về quá khứ xa xưa, ước sao mình trở lại làm con nít như thuở nhỏ. Đừng như bây giờ với bao nỗi lo: số tiền cho thuê nhà ngoài ấy mang vào, đãi đằng bạn bè, nói theo lời Tích thường tới chơi, tam nhật tiểu yến, ngũ nhật đại yến đã sạch túi đi một cách nhanh chóng. Giờ vay mượn ai? Tin từ xứ Quảng nghèo nàn của chàng vào nói cách mạng đã lấy hầu hết miền nông thôn, tàu lửa hết chạy rồi, công chức đi lại bằng máy bay, chỉ có dân buôn dùng xe đò mà có khi cũng phải nằm đường hàng tuần chưa tới Sài Gòn. Anh Cả phải tới dượng thầy Bốn Tuyến của lũ con chàng, học nghề bói toán, tạm thời độ nhật.


Đã là sư mà có người gọi bằng dượng thì nghe cũng lạ. Nhưng thời chiến tranh, mọi điều kì lạ nhất đều có thể xảy ra. Dượng cũng như mọi người trai ở thôn quê, lớn lên thì lấy vợ, như con chim cu ngoài bìa rừng tìm con mái, làm tổ. Với chàng, dượng là anh em cột chèo. Đỗ tiểu học, ở nhà làm ruộng, thời kháng chiến đi dân công, ghé vào ngôi nhà bên đường xin gáo nước lã cho đã cơn khát, thì có người con gái mang ra bát chè tươi nóng, đơn giản thế thôi mà thành vợ thành chồng. Rồi hai đứa con, một trai một gái đàng hoàng, không cần phải đề thơ vào vách như anh chàng Thôi Hộ ngày xưa:


Tích niên kim nhật thử môn trung,


nhân diện đào hoa tương ánh hồng… cho rắc rối.


Nhưng cải cách ruộng đất biến anh ta thành con nhà phú nông, đứng bên lề mọi chính sự trong xóm. Anh đâm ra bất mãn. Khi ông Diệm tiếp thu, vì có bà con với ông xã Ba, anh mặc nhiên trở thành ông thiện chí, làm công an ấp, chưa tới bực được đeo súng lục nhưng cũng có tí quyền hành hơn người thường một chút. Siêng năng tới nhà dân công tác anh lẹo tẹo với một cô gái còn trẻ có chồng tập kết, làm cô ta có bầu. Bà vợ thật thà tin chồng chăm chỉ việc quan không chút cảnh giác. Khi bà chuyển bụng đẻ đứa con thứ ba thì cái chuyện động trời kia nổ ra, và máu Hoạn Thư đã chấm dứt nhanh chóng cuộc sống người sản phụ đang tuổi xuân thì.


Vợ chết, anh lấy luôn người đàn bà kia và cho ra đời một hơi mấy đứa nữa. Nhà cửa ruộng vườn anh ở tận Nguồn. Sau đảo chính Diệm, Việt minh đã làm chủ ban đêm, anh nghe nói người chồng cũ của vợ kế đã hồi kết trở về và đang hoạt động trong vùng. Sợ quá, anh chạy xuống tỉnh. Hai bàn tay trắng và cái miệng chỉ giỏi chọc gái, cạo giấy cũng không được, anh bèn cạo đầu và trở thành Thiền sư nhằm cái thời buổi Phật giáo lên chân này. Để vợ con ở vùng định cư của Cao đài, anh ra lập chùa dưới chân Hòn đá Chẻ trong quần thể thắng cảnh La Hà- Thạch Trận của Quảng Ngãi. Anh và anh Cả gặp nhau, tương đắc như Bá Nha, Tử Kỳ. Họ mua sách thuốc Nam và sách bói toán về coi.


Ở trại định cư bữa đói bữa no, rồi tên bay đạn lạc, ngày mai luôn tối mù và đầy tai biến. Bệnh tật và lo lắng khiến ai cũng phập phồng muốn biết việc cát hung. Hai anh, một nhà sư bất đắc dĩ và một Phật tử thật, cả hai nghiễm nhiên trở thành những ông lang vườn và thầy bói, những Hoa Đà và Trần Đoàn tái thế, bên cạnh ấm trà và bàn cờ tướng.


Đám Thiệu – Kỳ cầm quyền đã hơn nửa năm, hoàn toàn bằng cây súng. Tại các vùng xa xôi, đám Cần lao(1) ngóc đầu dậy, qui cho Phật tử tội Cộng sản, bắt nhốt, đánh đập, tới cấp xã cũng có trại giam. Mỹ đã đưa vào hơn nửa triệu quân. Anh bác sĩ Trương Quý Lâm cũng phải rời Đà Nẵng, vào Gò Vấp.


Một hôm anh đến chơi nhằm lúc chàng đang tắm. Anh ngồi đọc báo chờ nói chuyện thì có người bạn mới của chàng, Nguyễn Văn Chương, một người Bắc di cư, nghe nói từng lưu lạc qua tận Nhật làm sĩ quan trong quân đội Thiên Hoàng tới thăm. Hai bên lạ hoắc chào nhau.


Chương hỏi anh Lâm:


Anh cũng là bạn của thằng H?


Bác sĩ Lâm lễ phép: – Dạ phải.


Chương không cần thưa gửi, nhìn Lâm chằm chặp: – Làm nghề gì?


Lâm người Huế, bao giờ cũng hết sức nhã nhặn:


Dạ, làm thuốc, bác sĩ!


Chương tiếp tục sỗ sàng:


Thế anh giết được bao nhiêu người rồi?


Lâm ngớ người ra kinh ngạc. Đôi mắt trắng xác của bác sĩ ngó Chương chòng chọc như gặp quái vật. May quá, nhằm lúc ấy, chàng vừa tắm ra. Biết cái tính trêu chọc nhiều khi thô bạo của Chương, với cả những người chưa mấy quen biết, nhưng cũng thầm phục sự thẳng thắn của anh chàng giang hồ tứ chiếng gần năm mươi chưa vợ này, chàng vớt vát xin lỗi Lâm:


Xin lỗi bác sĩ. Anh Chương cũng là bạn thân của mình. Anh ấy cậy tình anh em với mình lâu nay, cả với khách lạ cũng sỗ sàng đùa nhau một chút, xin anh xá cho.


Giây lát, không khí trở nên hòa dịu ngay. Hai người lại thăm hỏi nhau, nói chuyện dẻo quẹo. Chương khùng người cao lớn, ăn bận xốc xếch, hơi dơ bẩn nữa là khác, đi xe đạp nhưng kiến thức rộng, nhiều lĩnh vực. Anh nói: – Này ông bạn giáo sư, ông có thấy gì chăng?


Chàng chọc:


Thưa, chỉ thấy có ông Chương khùng cao lớn vĩ đại trước mắt, choán hết mọi thứ.


Chương không giận, cười hề hề:


Tớ tiên tri cho biết, phải chụp lấy cơ hội mà sống nuôi con. Tớ đây, mồ côi thê nhi, sinh vô gia cư, tử vô địa táng. Còn nhà ngươi, nhiều nỗi éo le. Ngươi phải biết rằng đầu năm Ngọ 1966 này, bộ máy chiến tranh đang ầm ầm khởi động ở Hoa Thịnh Đốn. Mỹ còn sẽ đổ quân vào đây nhiều nữa. Có người thì có ăn uống, ngủ nghê... Ngươi đừng trách ta sao lại không văn chương chữ nghĩa. Xã hội thực dụng nó là vậy. Ngươi phải nói cho cái Ấn Quang thần tượng của ngươi đừng mơ ngủ nữa. Hoặc cùng ông ngư phủ trên sông Mích La khuấy bùn lên mà húp, cụ thể như làm nhà cho Mỹ thuê, cung cấp gái, rau quả cho chúng. Hoặc theo chân các vị thiền sư nhà Trần dĩ thiên hạ chi tâm vi tâm, dĩ thiên hạ chi dục vi dục mà giúp dân giải tán cái đám lính tráng ba đời đánh giặc thuê này đi[1], cho hải yến hà thanh, đất nước hòa bình.


Anh lặng người dừng lại giây lát, dường như đang kịp nhớ ra rằng chính mình cũng đã có thời đánh giặc thuê cho Nhật. Anh nói như đang đối thoại với cái bóng mình, như với chư vị tiền nhân khả kính của dân tộc ta đến nỗi bác sĩ Lâm, người công chức ngành thuốc, bận áo nhà binh cũng không còn thấy anh cáu bẩn tầm thường nữa, mà há hốc mồm ra nhìn, như thấy Simon của Lev Tolstoi đang nhìn thánh Michel sáng rực hào quang[2].


Nhưng Lâm vốn nhát gan, nghe có người động đến mấy ông tướng sợ quá, anh lấy cớ tới giờ đi phòng mạch chuồn mất. Còn một mình ở lại, sẵn sàng ghé đít vào mâm cơm với chàng và anh Bảy, Chương êm đềm giải thích thêm:


Đổ quân vào đây, Mỹ muốn tạo ra chiến lược chiến tranh be bờ, guerre stratégique périphérique, anh chêm tiếng Tây. Dân sẽ khốn khổ thêm, nhưng khối đứa đấu thầu sắp giàu sụ lên, cung ứng những services như chỗ ở, gái, thực phẩm, giải trí thậm chí giặt đồ cho hàng triệu lính viễn chinh. Ta phải làm gì?


Anh bỏ dở câu hỏi. Ai muốn nghĩ sao nghĩ. Sau, anh có tới thăm chàng vài lần nữa nhưng không gặp. Vậy mà từ đó bặt tin luôn, như một tay thảo khấu xuất hiện bất thần, ngắn ngủi, trong cổ tích, nơi chiếc quán nhỏ bìa rừng, một sơn đạo hiểm yếu khuất bóng hoa lau. Đúng như tiên đoán của Chương, khu vực gần Tân Sơn Nhất, nhà cửa mọc lên san sát, sơn phết lòe loẹt. Lính Mỹ đi đầy đường. Các lớp tiếng Mỹ mọc ra khắp nơi như nấm. Cửa hàng P.X mở cạnh các đơn vị đóng quân dày đặc xung quanh Sài Gòn, thuốc lá Salem và kẹo chewing gum là hai món thông dụng nhất. Những anh lính Mỹ cao tồ tồ, có khi mặt đỏ gay, chân đá chân xiêu, theo sau là một đám trẻ con. Chúng kêu: – Ô kê, Salem? Anh Mỹ cười hề hề, chia cho chúng vài tép kẹo cao su. Chúng vỗ tay hoan hô: – Dâng ki, ueó khờm, dâng ki ueó khờm(2). Gái quê bị bom đạn cày nát cả những cánh đồng, phải thất nghiệp bỏ chạy ra phố thị. Buổi đầu, họ ngơ ngác trước sự giàu sang phô trương của nó. Sau họ cũng quen dần với áo quần thời trang và son phấn, bắt chước uốn tóc lăn quăn, thoa môi đỏ chét, chù ra sao cho khêu gợi nhất, hôn gió mời mọc khách ngoại kiều. Các snackbar, nhà thổ làm ăn, phất lên nhanh chóng, suốt ngày nhạc chachacha thét lên inh trời, chủ chứa phần lớn là vợ của đám tướng tá. Thực phẩm khan hiếm, đồng lương dạy học trở thành ít ỏi quá, không sao chèo chống nổi cái gánh nặng gia đình một vợ bốn con, nên chàng phải cạy cục xin dạy mấy giờ ở trường tư. Tháng Năm, hoa phượng nở, kết thúc niên khóa đầu tiên chàng vào sinh nhai ở Sài Gòn.


Một hôm đi làm về, chàng thấy cảnh nhà có vẻ khác thường. Vô buồng, chàng nghe có tiếng khóc thảm sầu rũ rượi của vợ: – Tin từ quê vừa báo cho biết ông ngoại các con chàng mới qua đời.


Con bé Lan, năm tuổi thấy vậy cũng khóc theo. Chàng đứng yên, bối rối. Làm sao đây, lại một lời khách sáo nào đó an ủi nàng? Mãi đến bây giờ, chàng như mới bỗng dưng nhận ra rằng, liên hệ tới đời mình còn có ông già sáu bẩy tuổi này. Mười hai năm rồi, chàng lặng yên đi bên đời ông, như không hề quen biết. Con nhà trung nông, ông cũng từng học chữ Hán nhưng đọc chưa thông cái văn khế. Ngay trong nhà mình ông cũng chỉ như một chiếc bóng. Sáng, ông dậy thật sớm, âm thầm tự nhóm lửa pha trà uống. Nhà ông núi vây tứ phía, bốn mùa sương trắng mịt vườn. Rồi dẹp bình chén, cái ấm đất Mạnh Thần bằng gan gà tử tế nhưng đã sứt vòi. Cũng không nói một lời, ông đong đầy một bầu nước lã, và quần đùi, bà ba đen ngắn tay, ông vác cày ra ngõ dắt trâu tới cái khoảnh ruộng duy nhất hơn một mẫu của Tổ phụ để lại mà cày sâu cuốc bẫm cho tới trưa. Mặt trời gần đứng bóng, vợ chàng, cô gái út mang cơm cha, thường trong cái niêu đất nhỏ, để sẵn dưới gốc cây trâm cổ thụ ven bờ:


Chú Chính mời cha mai ăn giỗ ông Chủ - Nàng nói trỏng.


– Ừ - Ông cũng không buồn nhìn cô con gái. Cuộc đối thoại lạnh nhạt đến như thế. Ngôn ngữ với ông, như một món quà thừa thãi mà Thượng đế đã lỡ tay ban phát cho loài người.


Chiến tranh loạn lạc, ông theo gia đình người con cả làm y tá và người con thứ vừa bị bắt lính ra tỉnh. Con người ít nói thế mà cũng gặp cảnh không toại lòng: ông nhớ bến nước Hốc Đồng, ông nhớ cặp trâu, lũng ruộng nhà quen thuộc, nhớ từng mô đất. Ngồi trong căn nhà thuê, lợp lá, vách bằng đất thó không tô, sần sùi lâu ngày ám khói, bên những đám chăn màn bụi bặm và nồng khai mùi nước đái của đám cháu nội mỗi ngày một đông, lại chỉ là toàn con gái, ông thở dài như con thằn lằn tặc lưỡi, riết rồi ông trở thành câm điếc hẳn.


Bây giờ thì ông đã ra ma, ma chứ không phải ra người thiên cổ, như văn chương thường gọi để đánh lừa hậu thế, vì có sách vở nào chép về ông đâu. Ông không thật sự sống ngay trong tâm khảm con cái ông kể từ khi họ có vợ chồng và có con, nhất là giữa cơn bão loạn, suốt ngày bận kiếm miếng cơm manh áo cho lũ con nheo nhóc. Họ lo cả cho ông hai bữa rau khoai đã là tốt rồi. Họ cũng không như cái thằng là chàng, đứa rể út mà định mệnh đã mang đến như một cái gì đó hoàn toàn trái khoáy trên cõi đời này. Nó luôn trăn trở, khắc khoải. Nó luôn luôn muốn làm một cái gì đó. Và lúc nào nó cũng than vãn là mình bất lực. Cuối cùng, nó trốn chạy thực tại vào sự say mê ngắm nghía, có khi là nhìn trộm, những cặp vú no tròn mà Thượng đế chỉ hào phóng ban cho trên bộ ngực căng phồng của những phụ nữ đẹp.


Tiếng khóc của vợ đã đánh thức hình ảnh ông già trong trí óc chàng. Chàng an ủi vợ:


Ngoại đã thoát được cảnh khổ của trần gian. Người như ngoại, không cần tụng kinh cầu siêu, cũng vẫn phiêu diêu miền cực lạc. Vả lại, ngoại đã quá lục thập nhĩ thuận bảy năm rồi. Nội của các con ta chỉ được sáu mốt. Tôi sẽ đi nhờ mua gấp cái vé máy bay, mai mình về ngay thì mới kịp nhìn cái quan tài trước khi chôn. Thời buổi này, chắc mấy ảnh không quàn lâu đâu.


Rất tiếc vợ chàng không đủ bình tĩnh để tán thưởng lời nói nịnh đó của chồng. Chàng vội vã vừa đạp xe đi, vừa ngẫm nghĩ: Cái ông già vợ mình, mười hai năm rồi, mình chỉ nghe ổng nói có một lần. Đó là năm 1954, hồi mình mới làm rể, mấy người anh vợ đi kéo cá ở bến Hốc Đồng. Vó cất lên, được con chình(1) khá to. Nó đang giẫy giụa mạnh, nhưng không ai đem theo cái vợt đủ lớn để bắt. Cuối cùng con chình tung mình nhảy khỏi lưới. Ông bực lắm, tiếc của, mắng lũ con:


Bây dở như cứt, làm đĩ mà không sắm sẵn đồ chùi.


Một ông lão nông dân trăm phần trăm, liệu thuở còn thanh xuân, ổng cũng đã có lúc buồn đời mò xuống tỉnh, viếng xóm nhà thổ gần trại lính Lê dương chăng?


Đang suy nghĩ miên man, chàng đâm sầm phải một người to lớn: Ủa! Nguyễn Đức Tế, bạn cùng xóm ở Thi Phổ.


Chàng la lớn mừng rỡ: – Vào bao giờ đấy?


Tế cười ha hả:


Sáng nay. Bằng máy bay quân sự Mỹ, đi họp. Hộng[3] nó có gửi thư cho ông đây -  Và tới lượt Tế:


Ông đi đâu đó?


Chàng cố tạo một bộ mặt buồn rầu:


Ông già vợ tôi mới mất, giờ phải mua vé máy bay gấp đặng mai bả về kịp chôn.


Anh chàng Tế to con và tốt bụng đó bao giờ cũng sẵn sàng giúp đỡ người khác mau miệng:


Khỏi cần. AirVietnam bây giờ khó mua lắm. Để tôi xin trên máy bay Mỹ, cho đỡ một vòng tiền, lại vừa nhanh nhất.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info








(1) Hiện là nhà sư, ở Đại Tòng Lâm, Long Thành.




(1) Đảng của Ngô Đình Diệm 1959-1963.




[1] Chỉ chính phủ Thiệu – Kỳ.




[2] Nhân vật trong truyện của Lev Tolstoi.


 




(2) Yankee! Welcome!




(1) Cá chình: loại cá nước ngọt, có nhiều ở thượng nguồn  sông, ngon nhất ở miền Trung.




[3] Em trai chàng.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trả giá - Triệu Xuân 23.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »