tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28879148
Tiểu thuyết
14.11.2014
Đỗ Quang Tiến
Làng tề

10


 


Mặt trời dường như vẫn còn thiêm thiếp ở chân núi. Làn sương xám giăng dầy trên ngọn gạo Qua một đêmgiá rét và đẫm sương, những cành cây khẳng khiu tựa hồ gầy rạc thêm và vươn dài ra. Những cánh hoa đỏ lòm màu máu tái nhợt đi, trở thành những vệt hung hung chấm loáng thoáng trên cành cây. Dưới gốc cây, đống máu đã kô đen và két vào đám rễ sù sì.


Xóm giếng nhớ chừng thức giấc. Tiếng vo gạo xàn xạt, tiếng chũng rá bồm bộp bỗng vẳng lên ở các cầu ao. Từng cuộn khói trắng đục chui qua mái bếp, bò quẩn quanh trên nền rạ ướt sũng sương đêm.


Tự ngẩn ngơ đi lên nhà trên, quay vào buồng rồi lại lộn xuống bếp. Không biết cái đấu dấp dúi vào đâu mà tìm mãi không thấy! Phút sau, thốt nhiên Tự choàng người. Cái đấu vẫn ở tay Tự.


Tự thẫn thờ đi vào buồng, xúc đấu cám trộn vào nồi cám lợn. Rồi Tự ra chuồng cho lợn ăn.


Mọi ngày, những lúc nhìn đôi lợn bột chen nhau xốc choàm choạp, Tự vui thích một cách hồn nhiên như một đứa trẻ. Tự mua đôi lợn ở chợ Bình - lâm đã năm sáu tháng nay. Lúc mới mua về, thầy u Tự đều chê. Không ngờ đôi lợn lại phàm ăn. Lợn trong xóm không mấy con chóng lớn bằng. Bây giờ mà đánh tiếng, các lái lợn châu vào đặt giá ngay. Nhưng giờ đây, Tự chẳng cònbụng dạ nào nghĩ đến hai con lợn, lưng võng xuống, lông đen nhánh, béo múp míp. Tự chăm sóc hàng ngày. Thầy Tự bị bắt chưa biết sống chết thế nào. Đêm nay Khắc đi, cũng chưa biết sống chết ra sao. Bấy nhiêu chuyện buồn lo vẫn ám ảnh, day dứt Tự.


Hai con lợn đã xốc hết đống cám trong máng. Chúng đang nghếch mõm ngó Tự hau háu. Tự bưng nồi cám đỏ ụp vào máng rồi bần thần quay vào.


Bà cụ Chữ đang tuốt nõn rơm ở trong nhà. Nhác thấy Tự, bà mẹ lừ thừ đứng dậy máy Tự vào buồng.


Hai mẹ con ngồi xệp dưới đất. Tự nhìn mẹ. Mới một đêm bấpvào lo nghĩ, bà mẹ trông đã già xọm đi như bà lão. Tự buồn bã cúi xuống nhìn đôi vạt áo bê bết cám lợn. Nhưng Tự không buồn gạt đi. Tâm trí Tự đang để trên khuôn mặt hốc hác của người mẹ.


Bà cụ lần thắt lưng lấy miếng trầu; bất giác bà lại nhét vào thắt lưng.


- U lo lắm. Làm thế nào bây giờ? Còn nước còn tát, chả nhẽ để thầy mày chết rũ xương trên bốt à?


- Thế u định thế nào? Tự hỏi mẹ.


- U định nhà còn cái gì đáng đồng tiền đem bán đi, bòn vét lấy một món đưa cho lý Mực, nhờ nó đem lên bốt xin cho thầy mày về.


- U đừng nghe dại người ta. Thằng lý Mực không có quyền thế gì ở trên bốt cả. Với lại, làm thế thì khổ cả làng. Chúng nó quen mùi, thấy nhà nào còn bát ăn là chúng nó bắt hết để khảo của.


Bà cụ thở dài:


- Tối hôm qua, u bàn với ông Điền, ông ấy cũng nói thế. Nhưng mà u vẫn không đành bụng. Nhà người ta trơn tru thì đi một nhẽ, đằng này nhà mình có người đi Việt - minh, nó khó lắm. Có tốt lễ mới dễ van. Thời buổi nào thì cũng thế, nén bạc đâm toạc tờ giấy.


- Nhà ta có anh Nghĩa đi bộ đội, càng không nên chạy chọt chúng nó. U thương thầy con, con lại không thương hay sao? Nhưng chết hết thì thôi, đừng để chúng nó khinh. Con biết tính thầy con. U mà làm thế, thế nào thầy con cũng giận u.


Cặp mắt xùm sụp của bà mẹ ngước lên, từ từ mở to ra nhìn đứa con gái. Bà cụ ngạc nhiên vô cùng. Xưa nay nó hiền lành, bảo sao nghe vậy, sao bây giờ nó đổi tâm đổi tính chóng thế? Hình như nó mới đốc chứng ra mấy hôm nay thôi. Bà cụ vừa bực vừa lo, vừa sờ sợ đứa con thế nào.


Bà cụ đấu dịu:


- Không bán chác thì thôi, nhưng... để u nói lại với nhà mụ lý...


Tự ngắt lời mẹ:


- U định nói gì với con mẹ ấy?


- Hôm qua, chả cu có nói với mụ ấy là mày chưa muốn lấy chồng, xem ý mụ ấy giận; bâygiờ u đến nói lại là để thư thư cho ít hôm để u dỗ dành mày.


- Thế u lại muốn con lấy thằng dõng, con thằng Việt gian à?


Bà cụ bực giận song vẫn cố dịu giọng:


- Bụng u thì cũng không ưa gì tông giống cái thằng Vá, nhưng qua sông thì phải luỵ đò, những lúc vận hạn như thế này, không bám vào nhà nó, làm sao cởi gỡ được?


Tự khẽ rít lên:


- U giết con đi, u giết thầy con đi, u từ anh Nghĩa đi, u hãy làm thế!


Tự giận tím mặt. Rồi Tự đứng dậy, vùng vằng đi xuống bếp. Bà cụ loàng choàng định nắm lấy Tự, mắng một trận. Nhưng không hiểu sao, tay bà mẹ cứ quều quào, mắt hoa lên rồi toàn thân bà run như tàu lá. Bà cụ bực giận đứa con dám đối đầu với người mẹ, xưa nay nó vẫn sợ một phép. Tuy bực giận, song trong thâm tâm, bà cụ cảm thấy một cái gì khiến bà nể sợ đứa con. Cái nể sợ đang loang ra, trùm lên cái bực giận như vết dầu loang trên tờ giấy. Phút chốc bà cụ choáng váng tưởng chừng vẫn nghe thấy tiếng con gái đang rít lên và nhìn thấy mắt nó quắc lên xoáy vào mắt mình. Bất giác bà cụ ấp tay vào ngực, hơi thở ngắt từng quãng. Có đến một giây lâu như vậy.


Tự dọn cơm. Vẫn nồi cơm từ tối hôm qua, hạt cơm đã khô lăn, và nguội tanh. hai mẹ con ngán ngẩm ngồi xuống mâm, ăn quàng quấy vài sét bát cho đỡ đói. Suốt bữa cơm, hai mẹ con đều im lặng, không ai nói một câu nào. Ăn xong, Tự mới dịu dàng nói với mẹ.


- Thầy con không có tội gì, bắt thì bắt rồi chúng nó cũng phải tha. Thấy thầy con thế này, đến làng xóm còn ái ngại nữa là con. Nhưng cái thể nôn nao không được. U cứ bình tâm để con nghe ngóng xem sao.


Giọng Tự trở lại nhẹ nhõm như một lúc. Bà mẹ phờ phạc nhìn con gái. Cơn bão táp đã dìu dịu. Nghe con nói, bà mẹ hể hả trong lòng. Bà nhủ thầm: nó ăn nói ngang ngược nhưng kể ra nó nói cũng phải. Bà lấy miếng trầu cho vào miệng rồi lấy điếu thuốc miết lên hai hàm răng cho đỡ sượng sùng. Đoạn bàmẹ đận đà nói:


- Mày làm thế nào thì làm. U bây giờ lú lẫn ruột gan chả biết nghĩ thế nào cả.


- Được rồi, u cứ để mặc con. Con sẽ liệu.


Dứt lời, Tự đứng dậy vác gầu lên vai, đi ra ngõ. Tự định bụng ra đồng tát nước. Rồi nghĩ thế nào. Tự lại đi xuôi xuống xóm Chùa. Đến đầu chùa, chợt Vá đi lại Tự nép vào cổng chùa, tránh mặt. Nhưng hắn đã trông thấy Tự; hắn mấp máy môi định gạ chuyện. Lúc đó, cổng chùa khép hờ. Tiện tay, Tự đẩy cổng bước vào.


Trước kia, ngôi chùa này có một sư cụ và hai chú tiểu trụ trì. Tính sư cụ lạnh nhạt, suốt ngày lủi thủi ở nhà trai. Cho nên dân làng không năng đến lễ bái. Năm xưa, có một sư thầy không biết ở đâu về, hầu cận sư cụ. Tính sư thầy thì lại niềm nở, dễ dãi; dân làng ai cũng mến. Từ đấy, rằm, mùng một, ông già bà cả rủ nhau đi lễ nờm nợp. Tôi đến, sư cụ gióng mõ tụng kinh mãi tới khuya. Ngôi chùa lạnh lẽo bống trở nên ấm cúng, sầm uất.


Một đêm, bất thần đội Tế đưa lính sang vây kín chùa. Rồi chúng ập vào định bắt sư thầy. Trong khi ấy, sư thầy đã trút áo cà sa, tràng hạt biến từ lúc nào. Đội Tế tưng hửng. Được mấy hôm, một đêm, vào khoảng canh ba, hai chú tiểu cởi bộ quầnáo nâu sồng, để mấy quyển kinh lại trả sư cụ, bỏ đi nốt. Đội Tế tức xùi bọt mép.


Làng Phượng - lâu bàn tán xôn xao. Người thì bảo ở đây không hợp cảnh thổ, họ đi ăn mày cửa phật nơi khác. Người lại nói có lễ số họ còn nặng, họ quay về nhà lấy vợ, làm ăn. Một lần, lý Mực, bực mình buột mồm nói:


- Cái thằng sư thầy với hai thằng tiểu là Việt - minh chứ sư mô gì chúng nó! Chúng nó đang "tu" ở khu dân kích chứ đi đâu mà phải đoán già đoán non mãi. Các ông ở trên bốt các ông ấy tóm được, lại đầu bằng củ chuối!


Dân làng không nhắc nhở đến họ nữa. Nhưng trong lòng, ai nấy vẫn mến yêu sư thầy với hai chú tiểu. ít lâu sau, sư cụ bị bắt lên bốt. Rồi chúng đưa đi mất tích. Từ dạo ấy, ngôi chùa bỏ hoang. Mới hơn một năm, rêu đã phủ kín chân tường, cỏ mọc ngang lưng. Mùi ẩm mốc bốc lên lạnh lẽo như bãi tha ma.


Tự đang nhìn vẩn vơ, bất thình lình lý Mực ở mái tam quang lừ lừ bước ra. Thoáng thấy Tự, hắn đứng lại nheo mắt nhìn từ đầu đến chân. Xong hắn bất hàm hỏi:


- Chị Tự đi đâu lại vào đây?


Tự giật mình lúng búng đáp:


- Cháu... cháu đi tát nwocs.


- Đi tát nước cho nhà chùa à? Chùa còn có sư mô nào mà tát nước?


- à.... cháu xuống xóm này có tí việc.


Lý Mực thủng thỉnh tiến đến trước mặt Tự, nhìn chòng chọc:


- Việc gì? Việc gì lại ở trong cái chùa hoang này?


Thằng sư thầy với hai thằng tiểu đi du kích rồi, sư cụ cũng đi trụ trì ở đề lao rồi, còn có việc gì mà vào?


Tự luống cuống:


- à... cháu... cháu vào xem chùa một tí.


- Chùa làng chứ chùa thiên hạ đâu mà phải xem? - hắn nghiêm mặt - Chỗ bà con, tôi coi chị như con, tôi mới bảo! Đừng có vớ vẩn mà lại khổ vào thân! Trông gương thằng Hoạt đấy! Việt - minh, Cộng sản nữa vào!


Tự quay vội ra, bước chân ríu vào nhau. Tự rẽ xuống cánh đồng, mải mốt đi về phía cái miếu thổ thần. Vừa đi, Tự vừa ngoảnh lại nhìn. Lý Mực đứng ở cổng chùa, trông theo Tự, mắt ho hó. Tự run lên: chốc chốc Tự lại vấp vào bờ ruộng, chúi người đi. Nhưng Tự vẫn bước mải miết.


Lúc nãy, Tự định tâm đến thắng nhà lão Mấu. Bất ngờ giữa đường lại gặp Vá. Tự lánh vào chùa thì xẩy ra chuyện ấy. Bất giác Tự căm tức Thằng Vá. Tự bực cả với mình. Đường quanh không đi, lại đâm quàng vào bụi rậm! Bỗng chốc Tự trượt chân ngã ngồi xuống bờ ruộng. Tự lồm cồm đứng ngay dậy bước đi, không buồn phủi quần áo.


Đến cửa miếu, Tự ngồi xuống thở hổn hển.


Miếu thổ thần dựng ở dưới gốc cây đa chênh vênh giữa cánh đồng. Cây đa trồng từ khi khai thiên lập địa ra làng Phượng - lâu. Có đến mấy đời nay rồi. Thân cây nứt toác, sâu hoắm vào trong. Cành lá rườm rà, ớm một khoảng ruộng. Gió đang lộng, lá đa đập vào nhau xào xạc, búp đa rơi lác đác xuống đất. Tiết trời dưới bóng cây càng lạnh giá. Vai Tự rung rung; Tự vừa rét vừa sợ.


Phút sau, Tự đứng lên để tay vào cánh cửa toan đẩy. Chợt Tự rụt tay lại. Lão Mấu có nhà hay đi vắng? Lão ta ở đây với ai, hay ở một mình? Trong miếu có gì không? Tự phân vân. Từ thưở bé đến giờ, Tự chưa bước chânvào đây. Nhưng hình ảnh cái miếu hiu hắt ở giữa quãng đồng không mông quạnh, có "cặp rắn có mào thường phủ nhau ở trên mái" vẫn gợi lên trong tâm trí Tự một cái gì bí hiểm, ghê rợn. Tự nhìn ngơ ngác. Màu ngói đen xỉn, màu tường trắng lốp tương phản nhau, gây một cảm giác lạnh lẽo, vắng vẻ đến rợn người.


Tự đánh liều đẩy hé cửa, Gian miếu chỉ rộng bằng chiếc chiếu đại. Trên là bệ thờ: Giữa bệ có cái bát hương bằng đá cắm lơ thơ vài nén hương cháy dở. Dưới là nền miếu lát gạch. Trên tường treo lủng lẳng cái loa sắt tây rỉ và bộ quần áo rách bã. Lão Mấu đang cuộn tròn như con sâu trong ổ rạ. Cái chiếu trùm lên đến vai, để hở cái đầu, râu tóc bù xù, da mặt bì bì, mi mắt hùm hụp. Lão ta đang há hốc mồm ngáy phì phò, hơi rượu sực lên hăng sè. Phút chốc, mùi rượu như từ cả ở đống rạ, bộ quầnáo, cái loa sắt tây toả ra cửa miếu, phả lên người Tự. Tự choáng váng vịn vội vào cánh cửa. Rồi Tự cất tiếng gọi khẽ:


- Cụ Mấu ơi, cụ Mấu!


Lão Mẫu vấn ngáy như kéo bễ. Tự rón rén bước lại gần, để tay lên vai lão ta, lay lay:


- Cụ Mấu ơi! Dậy cháu hỏi cái này!


Lão Mấu loàng choàng hất tung cái chiếu, hét.


- Đứa nào đấy? Có để hco ông ngủ không thì bảo!


Tự hết hồn bước một bước ra ngoài cửa miếu. Lão Mấu lại kéo chiếu, quay ra ngáy. Tự buồn bực định bỏ về. Đi được mấy bước, Tự quay lại. Tự đứng ngoài gọi với vào. Chợt lão mấu ngồi dậy, đưa tay dụi cặp mắt đỏ kè:


- Ai hỏi đấy?


Tự mon men lại gần cửa:


- Cháu đây!


- Chị Tjư, con cụ Chữ phải không? Hỏi cái gì?


Thấy lão Mấu đã dịu giọng Tự bước vào, khẩn khoản:


- Thầy cháu bị bắt chiều hôm qua. Cụ làm ơn lên bốt hỏi thăm tin tức thầy cháu hộ u cháu với. Cụ quen, may ra hỏi được, chứ cháu hỏi, người ta chả bảo.


Bất đồ lão Mấu lại phùng má trợn mắt như mặt hổ phù:


- Có thế mà cũng gọi ầm lên! Đi về đi cho người ta ngủ! Đang cay mắt bỏ mẹ lên đây! Muốn hỏi, lên bốt mà hỏi!


Lão Mấu lại vực xuống ngủ. Tự bực mình vác gầu quay về xóm Giếng. Gần đến cổng chùa, bỗng có tiếng chân bậm bịch ở đằng sau. Tự ngoái lại. Lão Mấu phăm phăm đi lên trước. Lão ta không để ý đến Tự, bước lúc cúc, đầu gật gù như con gà sống cưỡng. Tự đánh bạo hỏi nhỏ:


- Cụ Mấu ơi, cụ đi đâu đấy?


Lão Mẫu ngoảnh lại, gương mặt vẫn trợn trừng trợn trạc:


- Đi lên bốt hỏi thăm tin tức cụ Chữ cho nhà chị, chứ còn đi đâu! Đang ngủ thì lôi dậy! Rồi bỏ mẹ!


Lão Mẫu vừa nói vừa rảo bước. Tự ngẩn mặt nhìn theo cái bóng dáng cục mịch, bước chân chuyển cả mặt ruộng. Tự nhiên cái lão say rượu, tối đến là bè nhè làm cho sủa rinh cả xóm, biến đi đâu mất. Và Tự chỉ còn thấy một con người khù khì, thật thà, mau chân nhẹ miệng như bà con xóm mạc. Tự bồi hồi cảm động. Tự muốn nói một câu gì lấy lòng lão ta, nhưng lão ta đã ngoắt lên đường cái.


Trời hửng nắng. Sướngớm mảnh như tơ chuối, bay lờ lờ trên dòng sông. dòng sông trôi êm ả tựa hồ đứng nguyện một chỗ. Một con chim bói cá lông vằn, mỏ dài, đứng lơ lửng trên cao, trố mắt nhìn xuống dòng nước, cánh đập rối rít. Bất thần nó lao vút xuống rồi lại bay vụt lên treo lơ lửng chỗ cũ.


Một đoàn thuyền chở đá hộc đi ngược lên phía bốt. Nước mấp mé mạn thuyền; chiếc thuyền như không động đậy. Gió căng cánh buồm cánh dơi đã bạc phếch và rách nát. Bờ sông bên kia, từng tốp bốt người một, khoác sợi dây song dài lòng thòng như cái xích sắt, gò lưng kéo đoàn thuyền ngược dòng. Quần áo họ cũng bạc phếch và rách nát. ống chân, cánh tay phơi ra gió, tím ngắt. Họ cúi rạp người lặng lẽ nhích từng bước.


Bờ sông, Bãi đê im lặng, cái im lặng giá băng và nặng trĩu. Tiếng sóng nghe văng vẳng như tiếng hú ở một nơi xa vọng về.


Buộc gầu xong, Tự ngẩng đầu nhìn ngược lên phía trên. Lão Mấu đã đi đến bến đò. Tự buồn chồn bước xuống nước, tát. Gầu nước bập bõm, nước bắn tung toé.


Vừa rập bã trầu, bóng lão Mấu nhô lên mặt đê. Tự buông gầu chạy lại, vừa hỏi vừa thở:


- Thầy cháu ra sao hở cụ?


Nét mặt lão Mấu sì sì:


- Mẹ bố nó, ra ngõ gặp gái! Gặp ngay phải một thằng lính gác, mặt cứ sưng lên như lồn trâu đến tháng đẻ!


Vừa đi đến cổng, nó dí ngay súng vào bụng, thét nhặng lên y như lính cơ gác cổng huyện ngày xưa - Lão ta phùng má trợn mắt - Mẹ bố mày, đêm hôm, đừng có mò sang đây thôi! ông mà dớ được, ông cho hòn gạch củ đậu vào mặt như cái thằng lính bảo chính cụt tai dạo nọ, khắc biết tay ông!


- Thế cụ có hỏi được tin tức của anh Mộc không?


- Thì đã bảo cái thằng bỏ mẹ ấy nó có cho vào đâu. Thôi để đến tối, đổi gác, tôi sang lần nữa xem sao.


Lão Mấu lừng khừng đi xuôi về xóm Chùa. Chừng lão ta lại dò về miếu đánh nốt giấc ngủ vừa bị đứt quãng, mắt còn cứng đờ. Tự buồn bã quay lại chỗ tát nước.


Sương đã tan hết. Mặt trời vàng màu lòng đỏ trứng gà, lấp ló trên ngọn gạo. Mặt sông loang loáng như giát một lượt vàng mỏng. Đoàn thuyền đi đã xa. Tốp người kéo dây vẫn đang oằn lưng, trông xa như đàn cua kềnh bò lổm ngổm ở rệ sông.


Chiếc áo cánh nâu của Tự thấm mồ hôi, loang một mảng sẫm sau lưng. Mồ hôi ròng xuống mắt cay sè. Tự đi lại chân đê ngồi nghỉ. Thầy Tự ra sao? Từ tối hôm qua đến giờ, đứa nào tra hỏi? Thằng đội tế, thằng cai Luận hay thằng xếp bốt? Tự đưa tay nhổ một gốc cỏ. Một lát, đám cỏ gà dưới chân trốc gốc, đánh đống trước mặt Tự. Lòng Tự cũng ngổn ngang như đống cỏ và thân mình như cũng bị bấng đi, chơi vơi giữakhoảng không.


Bỗng dưng có một bóng người ở phhía bến đò đi lại. Bóng người vừa đi vừa ôm bụng, bước chân lảo đảo. Tự che bàn tay lên mắt cho khỏi chói nắng, căng mắt nhìn. Ai thế kia? Tự nom mãi vẫn chưa nhận ra. Đằng xa, bóng người vẫn loạng choạng nhích gần lại chỗ Tự, Gió đánh thốc mái tóc và bộ quần áo rách sã bay lả tả. Đôi lúc, bóng người như muốn ngã gục xuống.


Bỗng Tự nhíu mày. Ai như anh Mộc hay sao ấy? Đúng anh Mộc rồi! Tự chạy lên đường đê và cất tiếng hỏi:


- Anh Mộc đấy à?


Có lẽ Mộc không nghe thấy tiếng Tự gọi. Mộc vẫn ôm bụng bước thất thểu. Khuôn mặt xưng húp, tím bầm, trông Mộc lầm lì hơn mọi lúc. Cặp mắt ngây dại đờ ra dường như không trông thấy gì nữa. Tự chạy đến bên Mộc:


- Anh Mộc được về đấy à?


Mộc đứng lại mở to mắt nhìn ngơ ngác. Giây phút sau, Mộc mới nhận ra Tự:


- Cô Tự! Chúng nó đánh tôi đau quá cô ạ! Đến chết mất! - Giọng Mộc phều phào nghe như tiếng gió.


- Ai đánh hở anh?


- Thằng đội Tế, thằng Cai Luận chứ còn ai. Sáng ngày thì cả thằng xếp bốt nữa. Nó cầm chai rượu thúc vào mạng mỡ tôi, đến lúc nó say quá, ngã lăn ra mới thôi. Chúng nó đánh tôi đau lắm. Phen này đến chết, tôi vẫn ai oán chúng nó.


Tự vội hỏi:


- Anh có gặp thầy em không?


Mộc trợn mắt, vẻ sửng sốt:


- ông cụ bên nhà cũng bị bắt à? Bị bắt bao giờ?


- Thầy em bị bắt lúc chiều tối hôm qua.


- Sao ông cụ lại bị bắt?


- Em cũng chả hiểu tại sao chúng nó bắt thầy em.


- Tôi không gặp ông cụ. Chắc chúng nó giam chỗ khác - Mộc lắc đầu - Bị bắt lên bốt thì chết chứ chả sống được. Đến sức tôi còn chả chịu được nữa là sức già! Mẹ cha quân bất nhân! ông cụ sáu bảy mươi tuổi đầu rồi, ông cụ tội tình gì mà chúng nó cũng bắt?


Mộc lẩy bẩy suýt dụi xuống. Tự giơ tay định đỡ thì Mộc đã gượng lại được. Mộc ngửa mặt nhìn lên ngọn gạo, mắt long sòng sọc:


- Tôi quá chén, ngủ quên ở miếu chứ tôi làmgì mà chúng nó đánh tôi thế này? Mẹ bố chúng nó! Thế nào cũng có lúc thôi. Tôi cầu giời cho tôi sống đến khi bộ đội về san bằng cái bốt nảyôì có chết hãy chết. Giờ mà chết, tôi không nhắm được mắt - Mộc quay lại chỉ tay về phía cái bốt - Phen này tôi mà không chết, nhất định tôi tìm ra khu du kích, một sống một mái với chúng nó!


Tự hết sức ngạc nhiên. Mộc khác hẳn lúc chưa bị bắt. Có lẽ những trận đòn rùng rợn đã làm Mộc tinh khôn, dạn dĩ ra. Mộc đứng yên, hàm răng cắn chặt. Cặp mắt vừa quắc lên đã lại đờ dại, và lồng ngực nhấp nhô thở rốc. Tự rơm rớm nước mắt. Bỗng dưng Tự lại nhớ đến cha. Bao giờ được tha, chắc ông cụ cũng sống dở chết dở như Mộc lúc này. Tự nhìn cái bốt, bóng lô - cốt, ụ súng, nòng khẩu đại bác bảy mươi lăm ly rung rinh trên mặt sông. Nghĩ đến thằng xếp bốt, thằng đội Tế, thằng cai Luận, Tự nghiến răng, môi tái nhợt; những giọt nước mắt sắp trào ra, đột nhiên đọng lại ở trong mắt. Tự căm giận bọn tề, bốt.


- Anh cố đi về nàh mà nằm nghỉ. ở đây gió rét lắm.


Mộc loạng choạng bước đi. Vừa đi, Mộc vừa tửo như hắt ra. Tự rảo bước đến bên Mộc:


- Để em dìu anh về, không, nhỡ anh gục xuống đây, gió máy thì khốn.


Mộc xua tay:


- Cô mặc tôi, không có chúng nó trông thấy lại đổ diệt cho cô là Việt - minh nốt thì rầy.


Mộc lại kéo lê từng bước. Chừng Mộc đã kiệt sức; chân tay Mộc run rẩy, người xiêu vẹo sắp gục xuống. Tự hoảng hốt chạy tắt cánh đồng về nhà Duyên. Duyên đang cuốc vườn trồng rau. Tự thở hổn hển, nói không ra hơi.


Anh Mộc về rồi đấy! Chị đi đón anh ấy nhanh lên! Duyên giật bắn người, cái cuốc cầm ở tay rơi xuống đất:


- Nhà tôi về rồi à? Giờ nhà tôi ở đâu hở cô?


Tự chỉ tay về phía gốc gạo. Duyên biến ra cổng. Cái Kim, cái Chỉ chạy đằng sau, khóc thét lên. Chó sủa vang. Hàng xóm láng giềng đổ ra trông theo, Duyên đã chạy đến giữa cánh đồng, tóc xổ tung, vạt áo bay lất phất.


Tự quay lại chỗ tát nước. Phái xa, Duyên đang cõng Mộc, bước thất thểu trên đườngđê. Nhìn Duyên, Tửtạnh nhớ cái đêm. Tự cõng Khắc lao ra bụi tre. Lúc ấy, còi rúc lảnh lót, ánh đèn pin loang loáng, bước chân rầm rập.... và mồ hôi ròng ròng trên mặt Tự. Tự rùng mình. Phút chốc mồ hôi hình như lại chảy nhồn nhột trên gò má Tự.


Bóng nắng đã chấm giọt. Gió ở dưới sông đưa lên vẫn rét buốt. Tự bước thong thả, lơ đãng nhìn đám cỏ nằm ẹp dưới lốt chân. Đêm nay Khắc đi đây! Bất giác Tự ngước mắt trông lên gốc gạo. Và tim Tự thót lại.


*


*           *


Bỗng chốc có tiếng chân chạy bậm bịch và tiếng nói lao xao ở ngoài ngõ. Tiếp đó là tiếng chó sủa. Và xen vào đấy, có cả tiếng khóc. Tiếng khóc nức nở.


Bà cụ Chữ và Tự đang ăn cơm. hai mẹ con đều giật mình, nghếch mặt lắng nghe. Ngoài ngõ, các tiếng động vẫn dội lên. Bà mẹ lập cập đặt bát cơm xuống, hỏi con:


- Cái gì mà ồn ã lên thế không biết? Giời đất ra thế nào! Chả ngày nào là không động rạng. Tự buồng đũa đứng dậy:


- Chó cắn, nghe không rõ. Để con chạy ra xem.


Nói đoạn, Tự chạy ra cổng. Mụ Chóp đang nói léo xéo với mấy người ở đấy. Giọng mụ kéo dài, rin rít như lưỡi dao siết lên thanh tre. Tự lật đật quay vào.


- Cái gì thế/ - Bà cụ ngước mặt hỏi, dáng hồi hộp


- Anh Mộc vừa ngất đi, u ạ!


- Anh Mộc ấy à? Chết chửa! Lúc nãy, u sang chơi, anh ấy còn nói chuyện được kia mà?


- Anh ấy bị đánh đau, lại gió máy vào nên mới bất tỉnh nhân sự, không biết gì nữa.


- Không biết....


Bà cụ toan nhắc đến chồng, song cái ý nghĩ vừa thoáng hiện trong đầun nó chau xót, ghe sợ tới đỗi đang nói bỗng nhiên bà cụ im bặt, mặt tái đi. Bà mẹ chống tay vào đầu gối, run rẩy đứng dậy ra xó nhà ngồi.


- U ăn nốt bát cơm đi!


Bà cụ Chữ lầm bầm.


- u không ăn nữa. Mày ăn quàng lên rồi dọn đi.


Tự trút hai bát cơm dở vào nồi, đứng lên đi ra ngoài hè. Bà mẹ đờ đẫn nhìn theo.


- Đi đâu đấy hở Tự?


- Con sang nhà chị Mộc xem anh ấy ra sao.


- Hừ... anh ấy thì thế, còn thầy mày... chả biết thế nào? U biết ngay mà, đêm hôm xưa có con chim lợn bay đến xóm này kêu eng éc như lợn chọc tiết thì làm gì khôngkhổ.


Tự đi ra đến sân còn nghe thấy tiếng mẹ lầm rầm: Lạy chín phương giời, mười phương đất, chi phật mười phương... Và ở cuối xóm, tiếng mụ Chóp húvía lại lảnh lên.


Ruột gan Tự nóng như chàm lửa.


Trời đã nhá nhem tối. Đàn vạc náu trong bụi tre, lục xục bay ra mò đi ăn đêm. Tiếng kêu vác ... vác... đều đặn và khô khỏng rơi tõm vào khoảng không, động lại một giây lâu mới tan đi. Bóng tối nhờ nhờ đóng váng trên mặt ao. Mặt ao khép lại, im lim.


Tự đứng nép ở khe cửa ngó vào.


Mộc nằm sóng sượt trên giường, mắt nhắm nghiền, ngực thở thoi thóp; gương mặt gầy tọp, mặt trũng sâu trông có vẻ gan góc khắc hẳn lúc thường ngày. Duyên ngồi dưới đất, đầu gục vào chân giường, tóc rũ rượi. Biến cố xẩy đến, phũ phàng và đột ngột quá, khiến Duyên mê mẩn không biết gì nữa. Hai đứa bé, con Duyên, thì ngôi sát vào nhau ở góc nhà, giương hai chấm mắt đen như hột nhãn, nhìn nháo nhác. Bà con trong xóm chạy ra chạy vào tíu tít.


- Cho tôi ít nước giải nữa vào đây, nhanh lên!


- Ai sang nhà tôi đào hộ củ gừng! Chạy lên một tí!


- Vỏ gạo giã ra sao với nước tiểu, bóp vào chỗ tụ máu tan ngay đấy.


Mỗi người nói một câu, xôn xao. Ông Điền cầm cái chổi sể cháy ngùn ngụt lia lia dưới gầm giường. Ngọn lửa chạy đi chạy lại kêu vụt... vụt... như đang đêm nổi gió, hút vào ống tre ở đầu hồi. Gian nhà sáng rực. Mùi chổi mới thơm hắc; khói bốc mù mịt; tiếng ho khúc khắc. Lợi có tiếng hỏi nhau ồn ào:


- Thấy anh ấy cựa quậy chưa?


- Chưa.


- Vừa giật tóc mai, vừa ghé sát vào tai mà gọi!


- Đốt bồ kết, thổi vào mũi anh ấy nữa đi!


- Bà Chóp ơi! Hú vía to lên cái!


Ngoài ngõ, tiếng mụ Chóp lại rin rít như cạo tinh tre. Cái chổi sể thứ hai cũng đã cháy hết. Khói ngún lên mấy vòng nữa mới tắt hẳn. Gian nhà tối sầm lại. Bây giờ ngọn đèn chai treo ở bức vách mới loé lên toả cái ánh sáng đỏ kè ra gian nhà. Nước da Mộcvàng nhệch đi; mi mắt như mỏng ra, gân xanh nổi hằn. Mộc vẫn nằm yên không nhúc nhích. Ông Điềnnhổ một sợi tóc để gần lỗ mũi Mộc. Có đến một giây lâu, sợi tóc không động đậy. Ông Điền buông sợi tóc, khẽ thở dài:


- Anh ấy đi rồi!


Duyên ngã vật xuống đất. Gian nhà đột nhiên im phăng phắc. Một phút sau, lại nhộn nhạo. Người chạy ra, người chạy vào, thấp thoáng như quân đèn cù. Ngoài ngõ, mụ Chóp lại cất cái giọng khản đặc, hú vía - Hú ba hồn chín vía chị Duyên ở đâu thì về nhaaá!


Ngoài hè, Tự ngồi xuống đất lúc nào không rõ. Và Tự vẫnghé mắt nhìn qua khe cửa. ánh lửa chổi, bóng người qua lại, thân hình Mộc quay đảo trước mắt, khiến Tự lơ mơ như đang mê ngủ. Đến lúc tiếng thở dàivà câu nói rợn tóc gáy của ông Điền lọt qua khe cửa. Tự mới loàng choàng đứnglên vòng bờ ao về nhà.


Trong nhà vẫn chưa thắp đèn. Bóng tối lạnh giá và ẩm ướt phủ kín túp nhà. Tự vừa bước chân vào, chợt có tiếng nói thều thào ở trongkhe tối vẳng ra:


- Anh Mộc anh ấy đi rồi à?


Tự bàng hoàng vịn vào cánh liếp. Trong bóng tối chưa tối hẳn, Tự trông thấy mẹ đang ngồi đờ ra ở xó nhà, tay ấp vào ngực.


Giọng nói đuối hơi lại văng vẳng như từ trong lòng đất cất lên:


- Anh ấy đi rồi à?


- Anh ấy đi rồi, u ạ.


- Khổ thân chị ấy, một nách hai con dại.


Phút sau bà cụ rên rẩm:


- Sang ông Điền xem ông ấy đã hỏi hộ được tin tức của thầy mày chưa. Cũng đến như nhà anh Mộc thôi, chả chắc gì đâu.


- Ông Điền ở bên nhà chị Mộc. Nhà chị ấy đang rối lên, hỏi không tiện.


Có tiếng động vạt áo rất khẽ. hình như bà cụ vừa kéo vạt áo lau mặt. Rồi bà cụ thở dài:


- Thật khổ! Biết hỏi han ai bây giờ?


Tự sực nhớ đến lão Mấu. Ban chiều, lão ta đã hẹn đến tối, lão ta sẽ sang bên bốt lần nữa. Giờ này, chắc lão ta đang uống rượu ở ngoài hàng. Tự đi ra cổng và đến thẳng hàng rượu mụ Luyến.


Nhà mụ Luyến đang đông khách. Tiếng bát đũa, cốc tách va vào nhau lách cách. Tiếng chân bàn, chân ghế vặn kenkét. Bọn lính bốt đã ngà ngà. Chúng nó vừa tán tỉnh, cấu véo cô con gái mụ ta, vừa cười hô hố.


Lão Mẫu thì đang xếp chân vòng tròn trên giường, cút rượu và đĩa muối ớt đặt ngay ngắn trước mặt. Lão ta rót rượu, rồi móc quả chuối xanh ở túi quẩna. Đoạn lão ta nhấp một hớp rượu, cắn miếng chuối đưa cay. Xong, lão ta nhìn vẩn vơ lên mái nhà, ra sân rồi mới nhấp hớp khác. Cứ nhẩn nha, đĩnh đạc như vậy. Dường như suốt cả một ngày sống, chỉ có lúc này lão ta mới thấy cuộc đời có ý vị.


Một lát sau, cút rượu không còn dính một giọt. Lão Mấu vẫn ngồi thừ trên giường. Da mặt lão ta dẫn dần rồi bự ra; cặp mắt kèm nhèm mờ đi như ám khói, tia máu đỏ hỏn lên. Lão ta bỗng co chân ngồi bó gối, mắt díp lại.


Tự toan đi thẳng vào, nhưng nom thấy bọn lính, đứa nào đứa náy mặt chín dừ Tự lại lùi ra, nép vào rặng rào đứng đợi. Lão Mẫu vẫn ngồi chõm choẹ trên giường, mặt dài ra như cái cút rượu.


Lát sau, lão Mẫu ngất ngưởng đi ra. Tự khẽ gọi:


- Cụ Mấu ơi!


Lão Mẫu hét to


- Đứa nào gọi đấy? Mấu với chốt cái gì?


- Cháu đấy! Cháu tự đấy ạ - Tự đáp.


Giọng lão Mẫu vân oang oang như lệnh vỡ:


- Chị Tự con cụ Chữ đấy à? Hỏi gì đấy?


Nghe thấy tiếng con gái, bọn lính như tỉnh hẳn rượu. Chúng nhốn nháo đứng dậy. Tự hốt hoảng chạy ra đường. Bọn lính xô cửa đuổi theo. Tự chạy về nhà. Đằng sau, tiếng chân bọn lính dồn dập. Chó sủa om khắp xóm. Tự chạy xộc vào buồng, nằm vật ra giường. Ngoài hàng rào, bọn lính huýt sáo, cười sằng sặc.


Đầu chái bên kia, chợt có tiếng bà mẹ hỏi:


- Có cái gì mà ồn lên ở ngoài cổng thế Tự?


Tự đáp qua hơi thửo còn đang hổn hển:


- Không có gì đâu ạ.


Phút sau, có tiếng chân rón rén đi vào buồng. Tự nhìn ra. Bóng bà mẹ lọt thỏm trong khung cửa rồi xích lại bên giường Tự. Bà mẹ đứng yên không đọng đậy. Trong bóng tối, Tự tưởng chừng trông thấy đôi mắt héo hắt của người mẹ đang dòm nom một cách thoảng thốt và kinh ngạc. Tự nằm yên cố trấn tĩnh, nhưng hơi thở vẫn cứ dội lên.


Bà cụ lừ lừ quay ra. Vẫn những bước chân bập bỗng, gờn gợn trên mặt đất. Đột nhiên Tự thấy thương mẹ, tình thương dào dạt trong lòng.


Tiếng cưa, tiếng đục tấm phản đóng cỗ áo quan bên sân nhà Duyên bỗng vẳng sang buồng Tự. Trong bóng đêm, âm thanh của tiếng động vang dội bên tai, gây một cảm giác rã rời, tê dại thấm sâu vào các giác quan. Tự ngồilêndựa vào phên liếp. Tự nhiên Tự cảm thấy đỡ sợ.


Nhưng tiếng cưa, tiếng đọc xoẹt, chan chát vẫn xoáy vào đầu óc Tự. Bây giờ lại có cả tiếng Duyên khóc nức nở, tiếng lão Mẫu vừa khâm liệm vừa ca cẩm ông trời không có mắt và tiếng ông Điền nói loáng thoáng ngoài sân. Các tiếng động hỗn tạp cứ ồn lên, lảnh lên khiến Tự ngồi không yên nữa. Tự đứng dậy đi lại bên cửa sổ, nâng cánh liếp ngó ra ngoài.


Thầy Tự ở trên bốt ra sao? Lát nữa, Khắc đi có chót lọt không? Những mối lo âu, lúc day dứt lúc trầm lặng, lúc này lại hun nấu đầu óc Tự. Tự buông sập cánh liếp, quay vào ngồi mớm xuống mép giường. Bên kia bờ ao, các tiếng độngvẫn ran ran. Song Tự không còn phân biệt được một cách rành rẽ nữa.


Bỗng nhiên có tiếng kẹt cổng. Chắc lại bọn lính bảo chính đoàn say rượu lúc nãy! Đoán vậy, Tự đứng phắt dậy. Thoáng chốc Tự cảm thấy căm giận hơn là sợ hãi, Tự quờ tay tìm con dao rựa, cầm lăm lăm ở tay.


Cánh cổng kẹt một tiếng dài và khô khan. Một bóng người thấp thoáng bước vào. Tự trừng mắt nhìn, tay nắm chặt chuôi dao. Bóng người đã đi vào đến giữa sân. Tay Tự run bắn, máu ở thái dương giật phừn phựt. Bóng người bước lên thềm hè. Bất thần Tự rời tay dao và khẽ kêu lên:


- Thầy u đã về! U ơi thầy con đã về!


Cụ Chữ chậm rãi bước vào trong nhà:


- Tối rồi, sao không châm đèn lên?


Tự tất tả cầm đèn xuống bếp, châm. Cụ Chữ chùi chân vào cái chổi, leo lên phản ngồi. Bà cụ ở trong buồng hớt hả bước ra.


Ánh đèn tù mù toả ra gian nhà. Cụ Chữ ngồi lặng lẽ, tay khoanh trên đầu gối. Bà cụ, Tự nhìn chầm chập vào gương mặt ông cụ. Gò má ông cụ xưng húp; một vệt máu đã khô, ở một bên mép, vắt xuống cằm. Bỗng cụ Chữ cau mày, răng siết vào môi. Vết bầm trên gò má như tím đen lại và vệt máu tươi rói lên.


Tự nhìn ra phía bờ sông. Bất giác tia mắt Tự xói vào những ánh lửa đỏ lừ lập loè trên các vọng gác.


Bà cụ thì vẫn đăm đăm nhìn dòng máu đã khô rộp trên khuôn mặt vêu vao của chồng. Bà cụ tê tái trong lòng, tựa hồ vết thương ở ngay trên da thịt mình. Dòng máu phút chốc như loé lên như một đốm lửa trong đêm tối. Bà mẹ khiếp sợ cái bốt giặc; nhưng bà mẹ cũng căm thù cái bốt giặc.


-          Đi nhóm mấy cái gộc tre cho thầy mày sưởi! Tự vội vã đi xuống bếp.


(còn tiếp)


Nguồn: Làng tề. Tiểu thuyết của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn học, 1962. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »