tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28879848
Tiểu thuyết
12.11.2014
Đỗ Quang Tiến
Làng tề

9


Nhà cụ Chữ đã lên đèn.


Mấy năm nay, từ khi cái bốt án ngữ bên kia sông, ngày nào cũng vậy, tối vừa sập xuống là mỗi người một việc. Cụ Chữ cầm thanh đóm xuống bếp, châm Rồi cụ khum bàn tay che ánh lửa bập bùng ở đầu thanh đóm, bước vội lên nhà trên, châm vào cây đèn hoa kỳ. Đoạn cụ vặn nhỏ xuống, đặt ở mép phản. Gian nhà vừa vàng ửng lên, bà cụ ném miếng bã trầu khô xác xuống đất, lom khom đứng dậy, cầm chổi quét miết một khoảng giữa nhà bằng chiếc chiếu và bưng ba cái ghế con xếp ngay ngắn ở gậm phản, đặt ra ba góc.. Tự lấy nan, lạt, nõn rơm đặt ở giữa. Xong đâu đấy, cả nhà ngồi xuống. Cụ Chữ đan rổ, rá; bà cụ, Tự bện chổi.


Tối nào cũng thế. Hầu như đã thành cái lệ. Nhưng tối nay, có hơi khác mọi tối.


Tự xuống bếp đánh đóm, châm đèn. Ánh đèn đã vàng ửng gian nhà, bà cụ vẫn ngồi yên. Từ nãy, bà mẹ vẫn ngồi nguyên chỗ ấy. Trong bóng tối chạng vạng, hai cánh tay gầy ngẳng khoanh trên đầu gối, mắt đờ đẫn, mái tóc hoa râm xoã xuống trán. Bây giờ ánh đèn hắt vào, gương mặt bà mẹ trông nhợt nhạt đi, những nếp nhăn lõm xuống, dúm dó như quả trán khô.


Tự rầu rĩ nhìn mẹ. Bà cụ vẫn không động đậy, nét mặt ngây dại. Tự cầm chổi quét nhà, lấy ba chiếc ghế bày ra. Rồi quen lệ. Tự đi lấy các thứ đặt ở giữa.


- U lại mà làm.


Tự nói khẽ, song gian nhà im lìm, giọng Tự vẫn cứ dội lên. Có lẽ bà mẹ không nghe thấy; bà vẫn không nhúc nhích.


Mấy tối nay, gió mùa đông bắc từ ngoài bãi sông hoang vắng, từ cây gạo đứng cô đơn trên bờ đê, thổi vào xóm giếng. Tiết trời giá ngắt. Chiều vừa buông xuống, sương muối giăng mờ mịt. Không khí càng ẩm lạnh và rét buốt. Cũng như mấy tối trước, Tự đi xuống bếp, nhóm mấy cái gộc tre, cho vào chậu chấu bưng lên nàh trên. Hơi lửa xua tan hơi sương đọng trên phên liếp; gian nhà âm ấm lên đôi chút. Thấy mẹ vẫn ngồi yên, Tự khẽ nhắc:


- U lại mà tết nốt cái chổi đi.


Bà mẹ choàng người, ngước cặp mắt ủ rũ nhìn con gái. Rồi bà chống tay đứng lên, đi lại chỗ chậu than, bước chân như không chạm đất. Bà mẹ ngồi xuống chân tay lẩy bẩy.


- Bày ra làm gì lắm thế này? Thầy mày có còn được ở nhà nữa đâu mà đan với lát? - Vừa nói, bà cụ vừa đặt nắm nan lên phản.


Tự sực nhớ ra. Nhìn bó nan óng nuột, đều tăm tắp, ông cụ chuốt đêm qua, lòng Tự thắt lại. Tối nay, gian nhà vắng có một bóng người mà trông khác hẳn đi. Vừa trống chếch vừa vắng lặng.


Bà cụ cầm cái chổi định bện nốt lại đặt xuống. Thấy mẹ lo buồn quá, Tự lại giục mẹ làm cho khuây khoả. Bà cụ chống tay vào đầu gối, run rẩy đứng dậy và nói:


- Còn bụng dạ nào mà làm mà ăn được nữa?


-U lo nghĩ quá, lại đến ốm mất thôi.


Bà cụ rền rĩ:


- Sống thế này thì sống làm gì? Thà cứ chết đi lại đỡ khổ nhục.


Bà cụ thất thểu đi lại xó nhà, ngồi xuống chỗ cũ. Cặp mắt dăn deo bỗng chớp chớp, vành môi mím chặt, cái vết nhăn hai bên mép xếp lại và hai giọt nước mắt lăn xuống gò mà. Bà cụ bảo Tự:


- Không ăn cơm đi rồi hãy làm?


- U không ăn, con ăn làm sao được?


- Không ăn, ốm nốt là cửa nhà tan nát. Nhà còn hai mẹ con, u bây giờ như người sống mượn, được lúc nào hay lúc ấy, chả trông mong gì được đâu.


Tự buồn bã đặt nắm nõn rơm xuống đất, đi xuống bếp. Trên nhà, bà cụ chợt cất tiếng khóc rấm rứt. Tiếng khóc cắt quãng qua những tiếng nấc, gợi lên tất cả nỗi lo âu, đau xót lòng Tự. Tự gục đầu xuống đầu gối, nước mắt ràn rụa.


- Một lát. Tự đi lên nhà trên, hỏi mẹ:


- Thế lúc hai thằng lính bốt vào bắt thầy con, chúng nó có bảo sao không, hở u?


Bà cụ kéo vạt áo lau nước mắt:


- Họ chỉ bảo là có lệnh trên bốt cho về bắt, phải đi ngay. U lạy van họ cho thầy mày ăn miếng cơm rồi hãy dẫn đi, họ cũng không cho ăn. Trời đánh còn tránh miếng ăn, sao họ bất nhân đến thế!


- Sao u không hỏi chúng nó xem thầy con tội lỗi gì mà đêm tối rồi, chúng nó còn bắt lên bốt?


- Ôi giời, lúc ấy u rụng rời đổ đốt như đang đêm cháy nhà, còn hồn vía nào mà hỏi. Mà có hỏi, chắc gì họ nói.


Máu Tự như dồn cả lên mặt. Tự khẽ rít lên:


- Thế chúng nó muốn bắt ai, chúng nó bắt, muốn giết ai, chúng nó giết à?


Bà cụ phều phào:


- Nói sẽ chứ, không, người ta lại điệu nốt lên bốt bây giờ. Mày mà lên bốt nốt, u châm nắm lửa lên mái nhà rồi u đâm đầu xuống sông cho rảnh, chả sống làm gì nữa.


- Con chả có tội gì, chả đứa nào bắt được con!


- Thế thầy mày tội vạ gì? Nhà anh Mộc bên kia tội vạ gì? Hiền như đất, thật như đếm, sao người ta cũng bắt đi? Làng này thiếu gì người, bắt chán lại tha, tha chán lại bắt?


Tự nín lặng. Từ ngày có cái bốt và lý Mực ra lập tề thì thế thật. Nhất những lần có một đồn bốt nào trong tỉnh bị diệt là y như khám nhà, bắt người, lính tráng đi tuần nườm nượp suốt đêm. Dân làng mất ăn mất ngủ, mạng người như trứng để đầu đẳng. Cơn giận phút chốc lắng dịu, Tự lại buồn lo. Khắc đang nằm dưới hầm, nhỡ lúc này mình bị bắt nốt....? Tự đứng vụt dậy bước ra sân, cố xua đuổi ý nghĩ đen tối vừa len vào trong đầu.


Ánh ngọn đèn hoa kỳ loe ra đến bậu cửa thì đuối hẳn. Ngoài sân, trời tối mù mờ như bát mực loãng. Bóng chĩnh tương lù lù trông từa tựa một người ngồi thu hình dòm vào trong nhà. Bên kia ao, nhà Duyên tối thui. Có lẽ hai đứa bé đã cuộn tròn trong đống bao tải và Duyên thì ngồi bên cạnh, ngó ra cổng, gương mặt phờ phạc. Đầu đằng kia, nhà ông Điền, cửa đóng im ỉm. Chắc ông ấy không có nhà. Tịnh không một tiếng động. Tất cả như lặng đi, không động đậy. Bóng tối đè trĩu xuống. Tự rợn người quay vào nhà.


Bà cụ đang lần thắt lưng lấy miếng trầu cho vào miệng. Bỗng bà cụ thở dài:


- Thầy mày bị bắt là tại mày.


Tự ngoảnh ngay lại nhìn mẹ chầm chập.


- Sao lại tại con?


- Không phải tại mày thì còn tại ai? Nhà mụ lý mụ ấy đã ướm nhời, giá như con nhà người ta, vềlàm dâu con cửa ấy, chả sướng một đời à? Bố nó chả gì cũng nhất lý chi trưởng, quyền ăn, quyền nói trong làng. Nhà người ta mà dâu gia với nhà mình, khi nào người ta muối mặt bắt thầy mày đi?


- Trên bốt chúng nó bắt, chứ lão ấy có quyền gì mà bắt được thầy con?


- Quan xa, bản nha gần. Những lúc vận hạn thế này, người ta nói đỡ cho một câu làm gì chả xong. Khốn như còn kén cá chọn canh, muốn lấy ông hoàng tử kia, nên bố mẹ mới khổ.


Tự vùng vằng:


- Con nói với u mãi rồi. Có chết đến cổ, con cũng không đâm đầu đi lấy tông giống Việt gian.


Bà cụ dằn giọng:


- Ăn nói thế thì lên gốc gạo sớm thôi! Bố mày thì đến rũ xương trên bốt, còn mẹ mày thì đến trôi sông trôi ngòi.


Bà cụ ôm mặt khóc. Bà cố nén tiếng khóc trongcổ họng nên toàn thân bà rung lên. Tự bỏ xuống bếp.


Gian bếp tối đen, lạnh ngắt. Tự tựa lưng vào cánh liếp, lấy nắm rạ phủ lên chân cho đỡ rét. Trong bóng tối, câu chuyện của Vá lúc xế chiều, và giờ đây câu chuyện bực mình giữa hai mẹ con, quẩn vào tâm trí Tự. Càng nghĩ, Tự càng căm giận bọn giặc trên bốt, bố con thằng lý Mực.Có lúc Tự giận lây cả mẹ. Nhưng thoáng chốc, Tự lại thương. Bà cụ nghĩ đến việc ấy chẳng qua vì quá thương thầy Tự. Nhưng không, chắc bà cụ chẳng nhắc lại chuyện ấy làm gì.


Tự sực nhớ ra nồi cám lợn chưa đun. Tự liền nhóm lửa. Phút sau, gốc rạ ẩm cháy xèo xèo. Khói ngún lên, ánh lửa tù mù toả ra gian bếp. Bóng Tự chập chờn trên phên liếp.


Ông Điền vừa vạch vào đi sang. Trên nhà, chợt có tiếng nói chuyện rì rầm. Chắ lại chuyện thầy Tự bị bắt lúc chiều! Tự lại suy nghĩ miên man. Ông cụ bị bắt vì lẽ gì? Hay tại anh Nghĩa đi bộ đội Việt - minh? Không phải! Làng này thiếu gì nhà có người đi bộ đội. Hay tại sáng ngày, ông cụ đi đưa đám Hoạt? Cũng không phải! oish già nửa làng đi đưa đám, sao chúng nó không bắt? Hay chúng nó biết trong nhà giấu cán bộ? Không có lẽ! Hầm chưa lộ. Vậy thì vì lẽ gì? Đầu óc Tự buốt nhói. Từ lúc sẩm tối đến giờ, Tự cứ luẩn quẩn với những câu hỏi ấy mà vẫn chưa tìm ra sự thật. Nhưng vì lẽ gì đi nữa thì thầy Tự cũng đã bị bắt. Và đêm nay, thế nào chúng nó cũng tra tấn ông cụ. Ánh lửa rạ bỗng bùng lên; bóng ngọn lửa nhấp nháy in vào tròng mắt đã lóng lánh nước mắt của Tự.


Con chó con nằm ở đầu hè, bất thần sủa hộc lên mấy tiếng.


Tự bàng hoàng nhìn ra cổng. Duyên thấp thoáng đi vào, ngồi xuống bên cạnh Tự. Mộc mới bị bắt hai hôm, Duyên đã khác hẳn. Đầu tóc rối bù, xương gò má gò lên, mắt trũng sâu, trông Duyên già đi đến mấy tuổi.


Duyên cầm nắm rạ đẩy vào bếp, tay run run:


- Chúng nó đánh nhà tôi đau lắm cô ạ.


Tự bùi ngùi:


- Chị được vào thăm anh ấy à?


- Không. Lúc nãy tôi gặp thằng Dĩ ở Nhân - hoà, đi lính bảo an trên bốt, nó nói chuyện. Sáng hôm qua, dẫn nhà tôi về đến bốt, thằng đội Tế lôi ngay vào buồng, đánh. Tối hôm qua, nó lại đánh một trận nữa. Anh ấy đau quá, chửi ầm lên. Nó điên tiết, cứ giầy săng - đá nó thúc vào ngực, vào mạng mỡ. Từ hôm qua đến giờ, anh ấy mê man chả ăn uống gì được cả. Tôi biết ngay mà, anh ấy đến chết mất thôi, chả được nhìn mặt vợ con đâu, cô ạ.


Duyên ngừng lại, thở như hắt ra:


- Còn ông cụ nhà ta nữa, già yếu như thế, chịu làm sao được đòn săng - tan. Thằng cai Luận nó tra còn nới tay, chứ gặp phải thằng đội Tế thì chỉ việc nhớ ngày đi mà làm giỗ.


Thái dương Tự bỗng lại nhức buốt. Nước mắt loáng trên tròng mắt. Đổ dài xuống gò má. Tự bậm môi nhìn ngọn lửa sắp tắt, cháy chờn rờn.


- Tôi khó nghĩ quá cô ạ.


- Duyên chuyện gì thế chị? - Tự lấy làm lạ, hỏi


Duyên ngơ ngác như người mất hồn:


- Trưa hôm nay, cụ chánh cựu đến bảo tôi bán miếng vườn với cái nhà cho cụ ấy, lấy tiền chè lá trên bốt, xin cho nhà tôi về.


Chánh cựu đã ngót bảy mươi. Người gầy khô như que củi; mặt choắt, mắt ti hí, ria mép ngắn và cong, quặp vào hai bên mép như hai cái móc câu; nước da bóng nhẫy dầu lạc và ám khói thuốc phiện. Ngày xưa, hắn làm chánh hội đến hơn hai mươi năm. Hơn hai mươi năm đục khoét, hắn đã tậu được dăm mẫu ruộng, chân cấy hai mùa và xây được một nếp nhà ngói năm gian, cửa bức bàn. Giờ thì suốt ngày đêm, hắn nằm bẹp bên khay đèn thuốc phiện. Hắn không ra làm việc nữa, nhưng việc to, việc nhỏ xẩy ra ở cái làng tề này, không việc nào hắn không biết. Lý Mực rất phục hắn. Có chuyện gì gay cấn, hắn vẫn phải đến "thỉnh quân sư" chánh cựu.


Nghe nói đến chánh cựu, Tự không khỏi nghi ngại. Tự hỏi Duyên.


- Chị bán nhà đi thì ở vào đâu? Nhà có miếng vườn còn giồng được nắm rau nắm cỏ, nuôi con lợn con gà, đem bán đi, lấy gì thêm cặp vào nuôi các cháu?


Duyên chép miệng:


- Tôi chả biết nghĩ thế nào. Bán đi thì các cháu đói, để lại thì nhà tôi đến bỏ xác trên bốt. Cụ chánh cụ ấy cứ bảo, người làm ra của, của không làm ra người, cái thể tiếc cũng không được. Tôi nghĩ cụ ấy nói cũng phải. Còn người thì còn của; nhà tôi được tha, vợ chồng bảo nhau làm ăn, cái số có, rồi cũng ăn nên làm ra.


- Lần này đã vậy, nhỡ một vài tháng nữa, chúng nó lại bắt anh ấy, lúc đó, chị bán cái gì đi mà lo lót?


- Nhà tôi tội tình gì mà nay bắt, mai lại bắt?


- Làng này bao nhiêu người, chúng nó bắt đi bắt lại mãi đấy thôi.


Duyên đờ mặt. Phút sau, Duyên loàng choàng đứng dậy:


- Chết thật! Bây giờ cô nói, tôi mới nghĩ ra. Vừa rồi cụ chánh cụ ấy cầm văn tự đến, tôi lú lấp ruột gan, đưa ngay tay cho cụ ấy điểm chỉ. Tôi phải đến lấy lại văn tự mới được.


Duyên chạy vụt ra cổng. Chó đổ xô ra sủa. Phút chốc, tiếng chó om lên khắp xóm. Bên nhà Duyên, hai đứa bé giật mình choàng dậy. Không thấy mẹ, chúng nó khóc thét lên.


Ông Điền vội vã lách rào đi về. Bà cụ Chữ lập cập thổi tắt đèn. Rồi bà cụ hỏi với xuống bếp:


- Động rạng ở đâu mà chó cắn rát thế hở Tự?


- Chị Mộc vừa ở đây đi ra đấy ạ.


Bà cụ làu bàu:


- Đi đứng ra thế nào để chó cắn khiếp thế chả biết! Tắt bếp đi, không tuần giờ người ta lại hạch bây giờ.


- Cám chưa được u ạ.


- Bỏ đấy, mai hãy đun. Người còn chưa biết sống chết thế nào nữa lợn với gà.


Tự dập lửa. Đống tro đỏ hoe lên giây phút rồi tắt ngấm. Gian bếp lại tối xẩm. Gió lao xao làu vào đống rạ. Những tiếng loạt xoạt khe khẽ từ đống rạ phát ra nghe rờn rợn.


*


*           *


- Đời con người ta như chuối chín cây, giừo thì còn đeo vào buồng, tí nữa rụng xuống đất, chả biết thế nào được với ông giời. Ông giời cho sống lúc nào, cứ việc... saaay lúc ấy. Không có, lúc chết lại như Vua Ngô ba mươi sáu tấn vàng, lúc xuống âm phủ cũng chẳng mang được gì. Tôi cứ nghĩ ngắn thế đấy, bà Chóp ạ! Bà có chê tôi, không lấy tôi thì chả phải nói phét, cả cái làng Phượng - lâu này cũng chả có tay nào đám đánh đu với lính đâu. Thằng quyền Chóp, thằng phó cối với thằng thầy cúng... gương tày liếp rồi đấy! Mà bà thì cũng già mõ rồi, còn cả hông rộng háng gì mà bảo người ta rước về để kiếm mụn cho hương khói? Bà mà còn tơ tưởng đường chồng con, bà chỉ lấy nổi cái thứ tôi thôi. Nói thật đấy, sợ cái đếch!


Lại lão Mấu! Lão ta đang lảm nhảm một mình ở bờ giếng.


Lúc sáng, khâm liệm cho Hoạt xong, lão ta bảo nhỏ dân làng đang ngồi chờ đưa đám ma.


- Anh Hoạt chả may xấu số thiệt phận, đằng thẳng ra, bà con xóm mạc đi đưa anh ấy một tí là phải. Nhưng mà thời buổi nhố nhăng này, khó lắm. Lính trên bốt chúng nó sang hoạch hoẹ thì rầy rà. Thôi, thương để bụng, các ông các bà cứ về đi, mặc tôi. Tôi khắc đào sâu chôn chặt cho anh ấy. Đến nhà chị cán bộ bị bắn ở đây năm ngoái, chả phải họ hàng thân thích gì, tôi còn chôn cất tử tế, huống hồ người làng người nước với nhau.


 Lão Mấu nói thật có tình có lý. Nhưng mọi người vẫn nán ở lại, cùng lão ta khiêng Hoạt ra bãi tha ma chôn cất xong đâu đấy mới về.


Đến trưa, người nhà Hoạt mang chai rượu với mấy đồng bạc ra tận miếu thổ thần, tạ lão Mấu. Lão ta quầy quầy không nhận. Người nhà Hoạt năn nỉ. Lão ta bực quá, phát bẳn lên:


- Bà con muốn tôi ngẩng mặt mà nhìn dân làng, hay muốn tôi đi đến đâu cũng phải đeo cái mo vào mặt đến đấy? Tiền là tiền, rượu là rượu, chứ tiền với rượu lại to hơn tình nghĩa với nhau à?


Người nhà Hoạt đành cất tiền, cắp chai rượu vào nách đi về.


Sau khi đó, lão Mẫu quay ra đánh một giấc. Mãi lúc nãy, lão ta mới thức dậy, mò ra hàng mụ Luyến làm cút rượu.


Bây giờ lão Mẫu đã lại say khướt cung thang. Được cái đêm nay, lão ta mát tính, không hò hét, hát hỏng làm chó sủa rinh róc như mọi đêm.


Buông lời giăng gió cho đỡ buồn tình xong, lão Mẫu uể oải đứng dậy, lang thang các ngõ. Đêm về khuya, có tiếng lão ta lảm nhảm, hết chuyện khôn dồn chuyện dại có thêm một người nữa bị bắt lên bốt. Và người ấy cũng chưa biết sống chết thế nào!


Có lẽ lão Mấu đang đi xuôi xuống xóm đình. Chó đang sủa theo về phía ấy. Xóm giếng lại lặng như tờ. Tiếng ngáy vừa bị đứt quãng lại vẳng lên, rời rạc và mệt mỏi.


Dưới hầm, từ tối đến giờ, Khắc nằm ngồi không yên. Sớm tối ngày mai, phải có mặt ở đơn vị. Vết thương thì vẫn ê ẩm, chạm đến lại đau chói lên óc. Nhưng Khắc đã hạ quyết tâm. Đêm nay, phải lên đường! Lúc này, Khắc chỉ còn đợi Tự xuống để nói rõ ý định của mình.


Chợt có tiếng gà gáy eo óc. Nửa đêm rồi. Khắc nhớ chừng ngồi lên đợi Tự. Bất giác Khắc sờ tay lên tường, siết thêm một gạch, đánh dấu một đêm nữa. Ba đêm ở dưới hầm rồi! Khắc bứt dứt nhổm lên lại ngồi xuống.


Khắc ngồi yên lắng nghe từng tiếng động ở nắp hầm. Tịnh không một tiếng động nhỏ. Nắp hầm như gắn liền với mặt đất. Tiếng giun dế vẫn râm ran không ngớt. Gà gáy rồi sao Tự vẫn chưa xuống? Hay lại có chuyện gì bất trắc? Sáng ngày, nghe như có tiếng súng ở đâu đây. Khắc nóng ruột liền men ra cửa, áp tai vào nắp hầm. Bên ngoài chỉ có tiếng gió rít rất khẽ.


Lát sau, Khắc lại men vào, dựa vào tường hầm. Hơi đất ẩm lạnh thấm vào lưng; Khắc rùng mình. Bỗng có tiếng động ở nắp hầm. Vài hòn đất rơi lả tả. Rồi đến tiếng chân gờn gợn. Khắc mừng rỡ vội cất tiếng hỏi nhỏ:


- Chị Tự đấy à?


- Vâng.


Tự đánh diêm châm đèn. Ánh đèn vừa le lói, Khắc ngó Tự, kinh ngạc vô cùng. Tự trông phờ phạc, ủ rũ, đuôi mắt còn ngấn nước mắt.


- Hôm nay có chuyện gì lạ không, chị?


Tự lắc đầu:


- Không anh ạ


- Khắc nhìn Tự chăm chắm. Đuôi mắt Tự vẫn còn hằn nước mắt. Dưới ánh đèn, hằn nước mắt loáng lên, đổ dài trên gò má.


- Có chuyện gì, chị cứ cho tôi biết.


Tự cố làm ra vẻ bình thả:


- Không có chuyện gì đâu anh ạ - Tự thoáng nhìn Khắc - Chân anh có đỡ đau không? Khắc đã hạ quyết tâm.


Giọng nói tự nhiên của Tự làm Khắc hơi yên lòng Khắc đáp:


- Đỡ đau rồi chị ạ.


Phút sau, Khắc ngập ngừng:


- Tôi muốn... về đơn vị đêm nay, chị Tự ạ!


Tự sửng sốt:


- Sao anh lại đi đêm nay? Chân anh còn đau, đi thế nào được?


- Đau thì đau cũng phải cố gắng đi. Nội nhật ngày mai, tôi phải có mặt ở đơn vị.


- Anh cứ yên tâm ở đây ít hôm nữa cho đỡ đau hãy đi. Nhà tôi không... không có chuyện gì đâu. Tự nhìn lẳng ra chỗ khác để Khắc khỏi nom thấy cái vẻ bối rối in trên nét mặt mình.


- Tôi vẫn biết thế nhưng chả giấu gì chị, công tác cần lắm, không bụng dạ nào ở đây được nữa.


- Hay là anh sợ ở đây phiền cho tôi?


- Cái đó cũng có, nhưng thật ra là vì công tác.


Tự cúi đầu, miết ngón tay xuống đất:


- Anh đừng sợ phiền cho tôi. Làng này là làng tề ác thật, nhưng cán bộ về nhà nào, nhà ấy vẫn hết lòng che giấu, chăm sóc. nếu có phải hy sinh vì cán bộ,dân làng cũng không ngần ngại đâu. Ngay như anh Hoạt, nhà neo bấn, thế mà anh ấy vẫn giấu cán bộ trong nhà, đến nỗi sáng hôm nay....


Tự biết mình lỡ lời liền lặng thinh. Khắc đoán biết có chuyện gì bất hạnh đã xảy đến với Hoạt. Khắc hỏi dồn:


- Sáng nay, anh Hoạt làm sao hở chị? Anh ấy thế nào? Sáng nay, tôi nghe thấy mấy tiếng súng nổ gần lắm.


Tự lúng túng:


- Không... không có chuyện gì đâu anh ạ! Anh Hoạt... anh Hoạt anh ấy vẫn bị giam trên bốt.


Tự cắn môi cố dằn cơn rét đang thấm vào sống lưng và bả vai; người Tự khẽ rùng lên. Khắc không để ý, cầm chiếc áo trấn thủ mặc vào người. Tự bàng hoàng;


- Anh đi ngay bây giờ à?


- Vâng, tôi muốn đi ngay bây giờ. Tôi đã suy nghĩ kỹ rồi...


- Anh đã cố tình muốn đi, tôi không dám giữ, nhưng đêm mai, anh hãy đi. Sắp gà gáy lần thứ hai rồi. Đi qua được mấy làng tề cũng lâu lắm, chân anh lại đau.


Khắc nhíu mày:


- Công tác rất cần, lắng đắng mãi ở đây, tôi nóng ruột lắm.


- Anh nghe tôi, tối mai hãy hay. Để tôi sửa soạn đã.


Khắc ngồi yên. Giọng Tự dịu dàng, chân thật khiến Khắc phân vân. Tự nhìn Khắc, cố giữ vẻ tự nhiên, song ánh mắt vẫn lộ vẻ băn khoăn:


- Tối mai... tôi đưa anh đi.


" Tối mai tôi đưa anh đi"! Khắc rất đỗi ngạc nhiên, tưởng mình nghe lầm. Nhưng Tự đã nói tiếp, giọng trở nên bình tĩnh, rắn rỏi khác thường:


- Tối mai, tôi đưa anh đi qua mấy làng tề, rồi, tôi về.


- Chết, chị không đi được đâu. Nguy hiểm lắm! Một mình tôi, nhỡ có thế nào cũng dễ.


- Giá anh khoẻ, để anh đi một mình, tôi không ngại. Nhưng chân anh đau, lại phải đi qua mấy làng tề ác, anh đi một mình không được.


Tự nhặt cái cuộng rạ, ngắt ra từng đoạn. Gương mặt Tự đột nhiên có những nét đổi thay khắc lạ. Vừa điềm tĩnh vừa lo lắng, vừa sôi nổi vừa trầm lặng. Sự giằng co giành giựt trong tâm tư biểu lộ trên khuôn mặt Tự, khiến nước da xanh ngắt đi và tia mắt rắn đanh. Khắc nhìn Tự. Nhìn Tự, sự ngạc nhiên bỗng chốc tan biến và Khắc chỉ còn thấy xúc động. Một phút sau, Khắc nói, giọng vẫn bồi hồi:


- Chị đã nói thế thì tối mai tôi hãy đi, nhưng chị để tôi đi một mình.


- Làng này gần bốt, dõng đi tuần rầm rập cả đêm, chân anh lại đau, anh đi một mình làm sao được?


- Tôi đi một mình được. Bộ đội chúng tôi thường gặp những việc khó khăn nguy hiểm như thế này, nhưng cứ bình tĩnh phấn đấu rồi cũng vượt được hết.


Tự nín thinh. Câu nói chân thật, vững lòng tin của Khắc có một sức truyền cảm mạnh mẽ khiến Tự hơi vững tâm. Đêm mai, Khắc phải đi qua những mấy làng tề ác, chân Khắc lại đau! Ý nghĩ đó bất chợt lại vẩn lên và Tự lại lo ngại. Tự đăm đăm nhìn vết thương của Khắc.


- Giữa lúc nguy nan, chị đã cứu tôi, lại chăm sóc tôi mấy ngày nay; bây giờ chân tôi đã đỡ đau, mọi việc cũng đã qua, chị cứ bình tâm để tôi đi.


Rồi hai người lặng im. Hình như mỗi người đang sống với tâm tư của mình. Đêm về khuya. Không khí trong hầm đã dịu đi, nhưng trán họ vẫn lấm tấm mồ hôi.


- Hai cụ nhà ta có biết tôi ở đây không chị?


Câu hỏi của Khắc bất thần làm Tự luống cuống. Tự khẽ đáp:


- Không... không anh ạ.


- Tôi tưởng hai cụ biết rồi thì đêm mai, tôi vào chào hai cụ một tiếng tôi đi.


- Chết, anh đừng vào, thầy tôi...


Tự im bặt. Dáng điệu thảng thốt của Tự thoáng qua mắt Khắc. Khắc lại kinh ngạc:


- Cụ làm sao hở chị?


Tự cúi mặt tránh cặp mặt thăm dò và nghi ngại của Khắc.


- Không có chuyện gì đâu... Thầy tôi... thầy tôi vẫn ở nhà...


Tự lại vô tình nhắc đến chuyện ấy. Giờ đây thầy Tự ra sao? Chắc thằng đội Tế hay thằng cai Luận đang tranh hỏi. Tự sực nhớ đến câu nói của Duyên lúc tối: "Ông cụ nhà ta già yếu như thế, chị làm sao được đòn săng- tan? Thằng cai Luận nó tra còn nới tay. Chứ gặp phải thằng đội Tế thì chỉ có việc nhớ ngày đi mà làm giỗ". Bất Giác tự rơm rớm nước mắt. Tự quay đi, đưa vạt áo lên mắt thấm vội.


Khắc nhìn Tự không chớp mắt. Nãy giờ hình như lúc nào Tự cũng hốt hoảng, nhưng Tự cố nén giữ. Chắc có việc gì không hay xẩy ra rồi! Khắc cau mày suy nghĩ, Song nghĩ mãi vẫn không ra. Thấy Khắc nhìn chăm chắm. Tự càng bối rối. Khắc chợt hiểu. Nhất định có việc chẳng lành song Tự giấu, sợ mình lo nghĩ. Bỗng dưng Khắc nao nao trong lòng và thương xót Tự vô ngần.


- Có chuyện gì thế chị? Chị cứ cho tôi biết.


- Anh cứ yên tâm, không có chuyện gì đâu. Giọng Tự trầm trầm.


Tự cắn môi cố nén nỗi lo âu đang quay cuồng trong đầu óc như cơn gió lốc. Bất chợt tiếng gà gáy vảng vào hầm. Tự bàng hoàng đưa tay ạt mấy sợi tóc mai, mồ hôi dính vào gò má.


- Gà gáy lần thứ hai rồi, tôi phải lên đây. Anh ăn cơm đi. Anh cố nán lại một ngày nữa, nghỉ ngơi cho lại sức, đêm mai hãy hay.


Tự tắt đèn, nhoài ra cửa hầm.


Khắc trông theo. Cái bóng dáng nhỏ nhắn dường như vẫn nổi rõ trong bóng đêm. Và hình như Khắc vẫn nhìn thấy cái khuôn mặt trái xoan, nước da nhỏ có đôi mắt buồn lặng. Không biết Tự có chuyện gì? Hơi đất ẩm ướt ở sau lưng Khắc, phút chốc trở nên lạnh buốt.


*


*           *


Đêm về sáng. Bóng tối hơi rạng ra, mập mờ trên lối đi. Sương rắc lất phất như mưa bụi. Gió đánh thoảng mùi rơm rạ mới thơm dịu.


Tự nhẹ tay kéo cánh liếp, lách người bước vào nhà. Ở đầu chái bên kia, thốt nhiên bà cụ đánh tiếng. Tiếng bà mẹ ú ở tựa hồ nói trong cơn mê sảng:


- Ai đấy?


Tự không dám lên tiếng. Bên buồng bà mẹ bỗng có tiếng cọt kẹt giường và tiếng chân bước xuống đất. Tự lẻn vào buồng, nép sau cánh cửa, nhìn. Bà cụ rón rén bước ra nhà ngoài, hé cánh liếp, lấm lét ngó ra sân. Không thấy gì, bà cụ quay vào, đi đi lại lại thấp thoáng trong nhà. Bà cụ rờ rẫm hết tấm phản, lại quờ quạng trên bàn thờ. Đoạn bà cụ ngồi xuống cái chổi lúa, tựa lưng vào phên vách. Bất thình lình bà cụ lại chống tay đứng dậy, lừ lừ đi vào buồng. Cái giát giường lại kẹt một tiếng khô khốc rồi im bặt.


Nghĩ tới mẹ, lòng Tự lại đau nhói. Từ chiều đến giờ mẹ vẫn thế. Nằm không yên, ngồi không yên, lóc khóc mếu, lúc lẩm bẩm một mình như người giả dại. Và lúc này, mẹ tỉnh hay đang mê ngủ, Tự cũng không rõ. Tự càng thương mẹ.


Tự nằm xuống giường. Suốt một ngày, một nửa đêm, bao nhiêu chuyện lo buồn, kinh hoàng dồn dập xẩy đến, lúc này người Tự rã rời, thần kinh rão ra. Nằm trên giường mà Tự vẫn có cảm giác đang nằm lơ lửng giữa khoảng không, lưng không chạm chiếu. Thầy Tự bị bắt. Không biết sống chết thế nào. Đêm mai, Khắc lại đi. Liệu Khắc có đi thoát được mấy làng tề ác không? Tự thở một hơi dài. Cánh tay vắt trên trán đã tê dại đi từ lúc nào, Tự cũng không hay.


- Cô Tự ơi!


Tiếng gọi bất thần cắt ngang sự suy nghĩ đang dằn vặt Tự. Tự quay mặt lại, nhìn ra phía cửa để ý nghe.


- Cô Tự ơi! Thức hay ngủ đấy? - Giọng nói thều thào như người nói thầm.


Tự nhận ra tiếng Duyên. Tự ngồi lên, đi lại bên cửa sổ, hé mảnh liếp nhìn ra:


- Chị Duyên đấy à?


- Vâng.


- Chị vào trong nhà chả rét.


- Thôi, đứng đây nói với cô cái này một tí rồi tôi về, chả các cháu chúng nó dậy, không thấy tôi lại gọi rầm lên.


Tự lấy làm lạ vội hỏi:


- Chuyện gì thế chị? Chuyện lành hay chuyện dữ? Duyên láu táu đáp, nét mặt nửa mừng nửa giận:


- Không có cô thì thật chết! Ra thằng chánh già nó mưu mô với thằng lý Mực, định chiếm đất nhà của vợ chồng tôi, cô ạ. Lúc nãy, tôi đến lấy lại văn tự, nó dở mặt ngay. Nó bảo đã điểm chỉ vào văn tự là bán đoạn rồi. Nói xong, nó mở cháp, lấy mấy trăm bạc quăng ra giường rồi đuổi tôi quầy quậy. Tôi nhất định đòi lại văn tự. Nó bảo văn tự để ở nhà thằng lý Mực, không lấy lại được. Tôi điên lên làm cho nó một trận đáo để. Hàng xóm láng giềng đổ sang, nó bẽ mặt quá phải lấy văn tự đưa trả tôi. Cô xem quân nó thế có bất nhân không? Giầu có như thế, nó với ông nội nhà tôi lại là anh em thúc bá, ấy thế mà nó nhẫn tâm định để con cháu cầu bơ cầu bất đấy. Cô nhớ dặn bà cụ nhá! Đừng có nghe dại thằng chánh cựu với thằng lý Mực mà khổ cả nhà.


Tự cảm động:


- Vâng, mai em sẽ dặn u em.


- Bộ đội không chóng về nhổ cái bốt này, làng ta đến chết hết với chi ổ chúng nó. Thôi, tôi về chả các cháu khóc.


Duyên lùi lũi đi ra bờ ao. Tự vẫn đứng bên cửa sổ trông theo, bỗng có tiếng hỏi:


- Ai đấy? Đứng lại! - Tiếng hỏi dõng dạc như tiếng một tên dõng đi tuần vừa đi tới đấy.


Có tiếng Duyên đáp:


- Tôi.


Gã kia dịu giọng:


- Chị Mộc đấy à? Đêm hôm khuya khoắt thế này mò đi đâu đấy?


- Đi chơi! - Anh hỏi làm gì?


- Tưởng nhớ chồng, mò đi tìm tí con giai cho có nếp có tẻ! Hì hì... trong nhà có ấm không, cho tôi vào ăn nhờ điếu thuốc?


- Này đừng có dở giọng ba que mà bà lại phang cho mấy cái đòn gánh bỏ tiên nhân bây giờ! Bà nói cho chúng bay biết, giờ bà không sợ đứa nào hết! Có giỏi cứ đem bà lên gốc gạo mà bắn!


Cuộc đấu khẩu ở bờ ao ngừng bặt. Chỉ còn tiếngbước chân rệu rạo. Có lẽ gã lính dõng biết dại đã chuồn sang ngõ khác. Tự chép miệng quay vào giường nằm Nghĩ lại thương Duyên!


Một mình trong buồng, bỗng dưng Tự lại nghĩ đến Khắc. Đêm mai, Khắc đi! Tự rất phân vân. Không để Khắc đi, sợ lỡ công tác của Khắc. Mà để Khắc đi, Tự lo lắm. Chân Khắc gãy; bốt giặc ở ngay cạnh nách mấy làng tềtoàn là làng tề ác; Khắc lại đòi đi một mình... Tự trở mình nằm lên chỗ chiếu ẩm hơi sương.


Từ cái đêm cõng Khắc xuống hầm, Tự thấy mình có trách nhiệm trước cái sống, cái chết của anh bộ đội.


Nhiều lúc, Tự tưởng chừng đời sống của anh ta đã gắn liền với đời sống của mình. Chỉ vì một đêm đi ra chốt cổng! Câu chuyện thật bất ngờ. Mỗi khi nghĩ đến, Tự không khỏi lo sợ. Nhưng trong thâm tâm, Tự cũng thấy tự hào. Những lúc ngồi dưới hầm, nét mặt, giọng nói của Khắc đã nhen nhóm một tình cảm êm dịu trong lòng Tự. Đến lúc này, lúc Khắc sắp ra đi, Tự mới cảm thấy rõ. Rất rõ. Đêm mai, Khắc đi. Và chưa biết bao giờ Khắc trở lại. Tự nao nao dường như nhớ thương bịn rịn.


Câu nói của Duyên vừa rồi chợt xen vào tâm tư Tự. Bộ đội không chóng về nhổ cái bốt, làng Phượng - lâu đến chết hết! Bây giờ Tự cũng thấy nên để Khắc đi. Nhưng nghĩ đến vết thương của Khắc, Tự vẫn không yên tâm. Tự lại trở mình. Mong mỏi và lo ngại cứ quẩn vào nhau kiến Tự thao Thức, Không tài nào chợp được mắt.


Một lát sau, Tự ngồi lên lần xuống bếp. Tự quờ tay tìm mấy thanh tre, cụ chữ vừa pha để chẻư nan đan rá. Đây rồi! Tự nép vào cửa bếp ngó ra sân. Có ai rình không? Vẫn chỉ có chĩnh tương ngồi lù lù giữa sân, trên miệng chụp một cái vung, vành loe ra như người đội nón mê. Tự nhón gót bước lên nhà trên, lấy con dao dựa để ở bàn thờ rồi đi vào buồng.


- Mày ăn nói thế thì đến lên gốc gạo sớm thôi!


Tiếng bà cụ bỗng vẳng lên ở đầu chái bên kia. Mẹ lại đang nói mê! Vậy mà Tự vẫn giật thót người và đứng ngây ra. Giây phút sau, nếp nàh trở lại yên lặng. Tự ngồi xuống đất, trống ngực đập mạnh.


Năm xưa, bà Soạn ở xóm Đình ra bãi làm, bị đạn trên bốt bắn lạc sang, gẫy một chân. Tên xếp bốt cho chở bà ta lên nhà thương. Ngót một tháng sau, bà Soạn chống nạng tập tễnh về làng. Từ đấ, đi đâu bà ta cũng lộp cộp cái nạng gỗ.


Tự thường gặp bà Soạn ở ngoài đồng, ở bãi đê. Song thoáng thấy cái chân cụt và cái nạng gỗ là Tự quay mặt nhìn đi chỗ khác. Hìnhảnh cái nạng gỗ cứng quèo và cái ống quần lõng thõng đem lại cho Tự cái cảm giác rờn rợn. Bà Soạn chết năm ngoái. Lúc nhập quan, ông Soạn để cái nạng bên cạnh thi hai vợ. Từ dạo ấy, Tự không trông thấy bóng dáng cái nạng gỗ nữa.


Tự cau trán cố nhớ hình dạng cái nạng, hồi còn mồ ma bà Soạn. Miếng ngang, miếng dọc lộn xộn trước mắt Tự. Nhưng rồi dần dần Tự nhớ ra.


Tự lắng nghe tiếng động bên ngoài. Đêm vắng lặng: bóngtối thăm thẳm và giá ngắt. Bà cụ chừng đã mệt lả, đang ngủ thiếp đi. Tự hồi hộp cầm con dao lách từ từ vào thanh tre. Đến cái mấu, thanh tre nổ đách tách một tiếng. Tự khẽ giật mình đặt vộ con dao xuống đất, nhìn ngơ ngác ra nhà ngoài. Xung quanh vẫn tịch mịch. Ngoài vườn, vừa có con nhái nhẩy tõm xuống ao. Mặt ao đã trở lại im ả. Chỉ còn tiếng dơi bắt muỗi. Đôi cánh đập vào bóng đêm vẳng lên những tiếng động rất nhỏ. Tự lại mím môi lách nhẹ lưỡi dao vào thanh tre. Trong đêm tối, mắt tự căng lên, tay run run.


Một lúc lâu, Tự mới làm xong cái nạng. Tự đứng dậy chống nạng vào nách, co một chân đi thử trong buồn Tiếng nạng trỗ xuống đất, lẫn vào tiếng trống ngực Tự đang đập thình thịch. Tự bồi hồi. Đêm mai, chống cái nạng này, Khắc sẽ đi lại được, Khắc sẽ vượt qua mấy làng tề ác trở về đơn vị. Rồi Khắc dẫn đường bộ đội về đây diệt cái bốt. ý nghĩ dó đang xốn xang trong lòng, bỗng bóng dáng cái ống chân cụt lọt thỏm trong cái ống quần buông thắt thẻo và cái nạng gỗ kệnh một bên vai của bà Soạn thoáng hiện trước mắt Tự. Biết đâu, biết đâu chẳng có một ngày, Khắc cũng phải bỏ cái nạng này, chống cái nạng gỗ? Tiếng cộp cộp tắt lặng. Tự đứng sững giữa buồng, lòng se lại.


Tự thu thu cái nạng bước ra hè. Trời về sáng. Bóng đêm tối sầm lại để lát nữa, loãng dần ra. Tự rón rén bước ra chuồng lợn, giấu cái nạng lên nóc chuồng. Rồi Tự quay vào. Đi được mấy bước, Tự tần ngần đứng lại. Giấu ở đấy không được! Sáng mai, lỡ mẹ ra chuồng lợn, trông thấy cái nạng thì lộ chuyện mất. Tự quay ra lấy cái nạng nhét vào chân đống rạ.


Tự ngả lưng xuống giường. Nằm chưa ấm chỗ, Tự lại ngồi lên đi ra sân. Tự rút cái nạng ở chân đống rạ, đem ra bụi tre. Tự khẽ nâng nắp hầm, tuồn cái nạng xuống. Bấy giờ Tự mới thật yên bụng.


Bóng đêm vẫn tối xâm xi. Tự dò bước lần vào buồng. Mắt Tự hoa lên; mồ hôi nhơn nhớp sau lưng áo.


Ngoài sân, con gà sống chuồng cất tiếng gáy xào xạc. Gà gáy giục.


(còn tiếp)


Nguồn: Làng tề. Tiểu thuyết của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn học, 1962. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »