tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27625880
Truyện ngắn
31.10.2014
Đỗ Quang Tiến
Hai suất sưu

Lão đội lệ về hôm trước thì hôm sau có trát thượng khẩn, sức lý Hồ lên hầu. Xem xong, hắn mướt mồ hôi, chửi thầm lão đội lệ:


- Mẹ cha thằng mọt già! Cơm gà cá gỏi, thuốc phiện no nê, lúc về lại biện tiền xe tử tế, thế mà nó không khất đỡ quan cho lấy dăm hôm. Chả trách bạc là dân, bất nhân là lính thật!


Chửi lão đội lẹ chán, hắn lại oán cái làng Bùi lắm quân khố dây, trên răng dưới dái, để khổ cho hắn.


Kể ức lên thì chửi cho nó hả, chứ hắn cũng biết thuế khóa vụ này gay. "Cụ Tuần" cho lính về đốc ngày một, cơ, lệ nhớn nhác, chia nhau đi từng làng. Lý Hồ nhớ lại câu chuyện của lão đội lẹ, lúc ngồi nhắm rượu:


- Hồi này, quan bẳn tính, đập bàn, đập ghế, ghê chết đi thế này. Khối anh xơi cặc bò rồi. Buồn cười chết! Hôm nọ lão lý gì... vẩu răng ấy nhỉ, quan nọc ra giữa cung đường, quất cho rách cả áo the. Lão ta khóc thút thít như trẻ con, buồn cười chết!


Nghĩ đến lão lý vẩu răng, hắn giật mình thon thót. Thật ra, dăm bảy cái "cặc bò" cũng chả vần gì, nhưng cái sĩ diện ấy mới khổ.


Vụ chiêm vừa rồi, lúa đã vàng đuôi thì nước ngập trắng xóa đồng làng Bùi. Đến khi nước rút, cây lúa rũ xuống bùn. Dân làng vác rá ra đồng, mò từng gẻ lúa. Có nơi vớt vát được một vài thúng, có nơi mất trắng tay. Đói khổ qúa, dân làng nhiều người trốn đi làm ấp, bỏ ra tỉnh kiếm ăn. Đến lão phó lý cựu cũng còn phải bỏ ra tỉnh, chồng kéo xe, vợ đi ở vú già, thì ai còn có tiền mà sưu thuế?


Lý Hồ tính nhẩm, áng chừng mới thu được già nửa thì hầu quan mấy canh tổ tôm, nướng mất vài chục rồi. Việc hầu thì phải hầu, chứ hắn chả lạ gì chuyện lão lý Xuân Lôi, mất đứt cái cửu phẩm bá hộ, chỉ vì dám "ù" tay trên quan ván "bạch định".  Hắn thở dài. Tình cảnh này chưa chắc thu đã róc, chứ đừng nói chuyện kiếm ăn. Nghĩ đến bọn tổng lý ở các xã khác, hắn phát thèm. Mỗi vụ thuế, ít nhất chúng nó cũng lấy thêm được vài mẫu, mấy con trâu, đớn ra cũng vài ba bịch thóc. Hắn giận thân ra làm việc ngay cái làng xương xẩu, moi được hào bạc ở cạp váy cũng vã mồ hôi.


*


*           *


Lý Hồ đến nơi, vừa buổi hầu chiều. Công việc đầu tiên là hắn lân la hỏi chuyện cơ, lệ:


- Này! Có phải hôm nọ quan nọc lý Xuân Lôi ra giữa cung đường đánh, phải không?


- Gớm! hôm ấy cứ xanh mắt cả đi một lượt. Sao cụ lớn lại bẳn tính thế chứ lại ?


Hắn đưa tay áo, lau mồ hôi trán. Rồi hắn mon men đến cạnh lão thừa, chắp tay vái:


- Bẩm cụ!


- Ông lý Hạ lũng đã lên đấy à? Thế nào mang thuế lên nộp đấy chứ?


Hắn gãi tai:


- Bẩm cụ... chưa xong ạ. Vừa nhận được trát, con phải lên hầu ngay, thành ra...


- Làm việc quan, quanh năm chỉ có vụ thuế, mà làm không nổi thì còn làm ăn gì ? Từ dịch quách đi cho người khác người ta làm.


Hắn bẻ ngón tay:


- Bẩm lạy cụ! Cụ thương con, bẩm giúp với quan cho, không phen này con đến mất triện mất.


Lão thừa hạ giọng:


- Bẩm với báo thế nào được? Hồi này quan khó tính gớm đi ấy. Có điều cái gì cũng vậy, tội tạ vạ lạy, phải có đầu, có đuôi...


Hắn còn đang nhăn nhó thì có tiếng "quan" truyền ở buồng bên:


- Cho lý Hạ lũng nó vào!


Hắn giật mình, xốc lại cổ áo the, sửa lại "chữ nhân" khăn xếp, líu ríu bước vào. Vừa thấy mặt hắn, "quan" đã hầm hầm:


- Thuế má ra sao?


Hắn lúng búng:


- Bẩm lạy quan lớn! duyên là hạt con năm nay bị trận lụt tai hại quá... bẩm mất hết... giời bạch đoạt... dạ bẩm...


- Có mang thuế lên nộp hay không thì nói! Lúng búng như ngậm hột thị mãi! Con khỉ! bạch bạch cái gì?


- Bẩm duyên là...


Thấy hắn vào hầu tay không, đến lúc ấy cũng chả thấy hắn sờ vào cái "dạ cá", "quan" đập tay xuống bàn:


- Có hay không, nói đi!


- Bẩm lạy quan lớn! đèn giời soi xét... duyên là...


"Quan" bất nhẫn, cầm ngay cái bàn mực ném vào mặt hắn:


- Lính đâu! Giam cổ nó vào lô cốt!


Lý Hồ bước vội ra, run như dẽ. "Quan" hãy còn giận:


- Mẹ cha chúng nó! Đã không có thuế, lên hầu lại còn nhâng nhâng, nháo nháo, không biết ai vào với ai! Làm đầy tớ chúng nó đấy! Quân láo ở đâu!


Tuy phải vào lô-cốt, hắn cũng mừng thầm trong bụng. Giá "quan" bẳn tính tí nữa, lại nọc hắn ra giữa cung đường, đánh như lão vẩu răng thì còn được là nhục.


Vào đến nơi, cai cơ bảo hắn:


- Ông lý Hạ lũng cũng phải vào đây cơ à? Thiếu thuế phải không? Chả phải tay này cho! Gọi là bán mẹ nó đi vài mẫu mà phụ, chứ lại chịu cái nước này à?


Lý Hồ thần mặt. Cai cơ nói cũng phải. Hôm vừa rồi, lão đội lệ cũng đã mách nước hắn, mà hắn chả nghe. Giá cầm ngay vài mẫu cho bà lớn, lãi có hai mươi phân, hóa ra ổn. Nghĩ đi thì thế nhưng nghĩ lại cũng tiếc. Cầm cho bà lớn, đừng hòng trệu lấy một đồng lãi, mà quá hạn là bà lớn lấy đứt ngay ruộng, bán cho người khác, chứ chả lạy van mà được.


Hắn còn bâng khuâng, chưa hết, không cầm ruộng cho bà lớn là khôn, hay là ngu, thì cai cơ vỗ vai hắn:


- Theo đúng phép ra thì phải cùm người anh em lại. Nhưng làm thế thì còn gì sĩ diện của anh em. Người anh em phải hiểu lòng cho nhau đấy.


Hắn lấm lét nhìn cái cùm gỗ để ở góc buồng, nghĩ ơn cai cơ đối xử tốt. Lão thừa bước vào, hất hàm hỏi:


- Định ở đây rồi lên tỉnh, hay thế nào?


- Trăm sự nhờ các cụ bẩm giúp với quan cho. Chúng con không dám quên ơn.


- Anh ngu lắm! Người ta cũng xin khất được cả đấy, nhưng phải cho phân miêng, có lời, có lẽ. Lừng lững như ma chơi! Dễ quan, nha, đi làm đầy tớ cho nhà các anh đấy!


Lý Hồ bàng hoàng như người tỉnh giấc mê. Hắn muốn đấm vào ngực. Sao hắn lại ngu đến thế?


- Bẩm cụ! thật con sơ tâm quá. Nhận được trát, con vội lên hầu, thành ra vô lễ. Thôi thì... trên có quan, dưới có các cụ, đánh kẻ chạy đi, không đánh kẻ chạy lại, chúng con xin có nhời, có nhẽ tạ tội...


Chiều hôm sau, mụ lý lên, giúi cho hắn hai chục. Hắn tính nhẩm: quan, mười; cụ thừa, cụ lục, mỗi cụ ba, còn bốn chia cho cơ, lệ.


Hắn cầm tiền đến nhà lão thừa:


- Bẩm cụ... gọi là... xin cụ chu tất cho...


Nửa giờ sau, hắn được tạm tha, hạn mười hôm phải lo đủ. Hắn thất thểu đi về, vết xưng ở gò má còn đau nhoi nhói. Hắn giận thân ngu dại, oán quan nha, cơ lệ bất nhân. Nhưng rồi hắn nghĩ: làm việc quan không bất nhân, không được. Phải xoay đủ mặt như thò lò, lèo lá như bài tây, mới ra tiền. Cái này chỉ tại bọn khố dây, để khổ, để nhục hắn.


Lý Hồ về đến nhà, vừa nưa đêm. Hắn chạy ra đầu hè, vớ cái dùi trống, đánh loạn xạ như thằng điên. Hàng phiên kéo đến. Mắt hắn ngầu ngầu, bọt mép sùi ra, như con chó dại:


- Tuần đâu! Đi bắt cổ những thằng thiếu thuế đến đây cho ông!


Trương tuần gàn hắn:


- Giờ cũng đã khuya rồi. Hay là ông để cho đến mai...


- Mai thuổng gì! Ông phải đòn xưng cả mặt, tống giam vào lô cốt, có ai để cho ông khất đến mai không? Bắt cổ chúng nó đến đây! Thằng nào không chịu nộp, treo cổ nó lên cho ông, tội vạ đâu ông chịu!


Hàng phiên lầm lầm mỗi người đi một ngả. Trống đổ hồi ngũ liên, tù và rúc lên trong đêm tối. Dân làng choàng dạy, rên rỉ: "Thuế với má! Giờ bạch đoạt thế này thì lấy gì ra mà nộp?".


*


*           *


Nhà bác Thắm ở cuối làng. Nhà là túp lều, bước vào phải khom lưng không thì đụng mái. Gia đình bác có hai vợ chồng và hai con trai: Thành, mười bẩy, Thảo, mười lăm. Kế sống trông vào hai sào ruộng quân cấp, ngoài ra, cả nhà đi làm mướn quanh làng.


Trật lụt vừa rồi, hai sào chiêm không vớt vát được lấy một hạt. Đi làm mướn, lại không sẵn việc, thành ra đã túng, lại túng thêm. Những đêm nghe tiếng trống ngũ lien, tù và rúc từng hồi ghê rợn như có hỏa đạo trong làng; bóng hàng phiên thấp thoáng đầu ngõ, gọi với vào trong nhà giục thuế, gia đình bác lo lắm. Chạy vào đâu cho ra suất sưu? Trông vào bà con họ hàng thì trời đất này, nhà nào chả thế? Bác đã dạm bán nhà, nhưng những đứa có máu mặt chỉ trả bằng giá ba gánh củi, mà còn bắt dỡ xuống, dánh đến tận nhà. Đồ đạc trong nhà, chỉ còn có cái nồi tư, mua lại hàng đồng nát, từ cái năm vợ chồng bác ra ở riêng. Cái nồi đã mất cổ, vá năm, sáu miếng. Nhìn trước, nhìn sau, may ra có chĩnh tương là còn đáng dăm bẩy hào.


Đôi khi, bác cũng nghĩ đến chuyện đem vợ con trốn đi làm ấp, nhưng chưa có thẻ mới, cũng khó có hàng ấm muốn chứa. Nghĩ chán, bác đâm liều: "Đến đâu hay đến đó. Có đi tù thi ba, bốn trăm người đi, chứ riêng gì mình?".


Bóng hàng phiên vẫn thấp thoáng ngoài hàng rào:


- Bác Thắm đem tiền đến nhà ông lý nộp nhá!


Bác lặng ngắt, ghé mắt qua khe cửa, nhìn bóng người tuần phiên đi sang ngõ khác.


Đêm ấy, nhà bác không ai ngủ được. Bác gái vừa lên cơn đau hắc loạn, vật ngã trên giường. Hai đứa con ngồi bên mẹ, rơm rớm nước mắt. Ngọn lửa bếp chập chờn in khuôn mặt gầy sát đến xương của bác lên trên vách. Bác gái rền rĩ, cầu trời cho đau một giây, chất một giờ, cho đỡ khổ...


Bỗng có tiếng càu nhàu ở ngoài cửa:


- Bác Thắm lại ngay đằng ông Lý nhá!


- Có việc gì cần không? Nhà cháu nó đang đau bụng.


- Lại ngay đi! Có suất sưu mà gần sáng rồi cũng còn bắt đi gọi. Có chán ra đấy!


Bác lẳng lặng mở cửa đi ra. Bác gái mếu máo:


- Cơm còn chả có mà ăn, tiền đâu mà sưu với thuế ? Người ăn không hết, kẻ lần không ra. Bao giờ mới hết vận, hết hạn hở giời?


Bác Thắm lo lắm. Lúc quẩn thì nghĩ liều, đến lúc này cũng thấy sợ. Thấy bác đến, Lý Hồ vằn mắt:


- Muốn nộp thuế hay muốn cù nhầy, cứ nói thẳng cho ông biết chừng!


Bác ngồi thụp xuống đất, khoanh tay trước ngực:


- Ông xét cho con, nhà neo bấn quá. Thật quả bụng con muốn lo, mà không làm sao lo được.


Hắn đứng phắt dậy:


- Chúng bay đâu! Treo cổ nó lên cho ông! Nhu nhơ với quân này không được!


Bọn tuần phiên hất bác ngã ra, lấy trạc buộc vào cổ chân, treo bác lủng lẳng lên xà nhà. Lý Hồ rút búa đanh, nhằm vào các khớp xương, khảo. Tiếng búa đập vào xương răng rắc, nghe lạnh người. Bác kêu thét lên, rồi tiếng kêu nhỏ dần, nhỏ dần. Lý Hồ ném cái búa xuống đất, ngồi phệt xuống giường, thở hồng hộc. Hắn biết việc đánh thì phải đánh, chứ nhà ấy còn có gì.


- Nhà mày còn cái gì đáng tiền thì khai ra.


- Bẩm ông! Quả thực chả còn cái gì. Không tin, ông cho anh em lại khám.


- Mẹ cha chúng bay! Ăn gì ở cái làng này mà tụ tập ở đây lắm thế?


Bỗng hắn nhớ đến câu chuyện của lão thừa nói với hắn hôm trước.


- Thật không xoay vào đâu được chứ?


- Dạ... không còn xoay vào đâu được.


- Được rồi! Ở trên tỉnh đang mộ phu đi Nam-kỳ, ngày mai ông cho giấy đi phu lấy tiền nộp sưu.


Bác rên rỉ:


- Lạy ông! Con sức yếu, từ thuở bé không ra khỏi làng, đi làm ăn xa xôi, con hốt lắm.


- Mày không đi thì cho thằng Thành đi.


- Dạ... cháu Thành còn bé.


- Bé cái gì ? Mười bẩy tuổi đầu rồi mà còn bé à ? Để nó ở nhà, để nó trộm cắp vặt phải không ? Thằng nhãi ấy, mắt cũng gian lắm đấy. Muốn đi tù cả mấy bố con thì bảo ông?


- Con xin về dỗ cháu vậy.


- Không phải dỗ dành gì cả. Nhát nữa bảo nó đến đây, ông cho giấy, rồi theo nó lên tỉnh cầm tiền về.


Bác Thắm bò ra cổng, cố lết về nhà. Trời tờ mờ sáng. Bác gái dịu cơn đau, vừa thiu thiu ngủ. Thành vác dao định đi kiếm gánh củi về bán. Bác nghẹn ngào gọi con lại:


- Thôi ở nhà, rồi đi phu, con ạ!


*


*           *


Thành ký giao kèo đi phu ba năm, được lĩnh trước năm đồng. Thành đưa cả cho bố. Bác đưa lại cho con một đồng, lấy tiền diêm thuốc đi đường. Còn bốn đồng, bác buộc chặt vào thắt lưng.


- Thôi bố về đi. Hết hạn ba năm, con về.


Bác lau nước mắt, đi một mạch về nhà lý Hồ. Suất sưu của bác chỉ mất hơn hai đồng, nhưng còn tiền xe ông lý, tiền hàng phiên đốc thuế, và nhiều món phụ thu khác. Bác giải bốn tờ giấy bạc lên bàn.


- Bốn đồng rưỡi kia mà?


- Con cho cháu một đồng, còn có bốn đồng.


Lý Hồ không tin, bắt tuần khám người bác. Không thấy gì, hắn chặc lưỡi:


- Muốn giấu để về ăn uống với nhau, ông cho giấu... Hàng phiên đâu! Đến nhà nó khiêng cái chĩnh tương về đây, trừ vào năm hào thuế.


Bác lẳng lặng đi ra. Đứa con còn chả tiếc được, tiếc gì chĩnh tương?


Thành đi được hơn tháng, viết thư về nhà báo tin không được ở Nam kỳ, mà lại phải lên tật Đất đỏ gần Cao mên.


Bác giai phàn nàn với vợ:


- Ở nhà đã cực khổ, ra đi lại phải làm ăn chỗ đất đỏ thì bao giờ khấm khá được?


Bác tưởng chừng Thành đi phu, cũng như người làng đi làm ấp. Bác có biết đâu, đời Thành đã gắn liền với rừng cao su, sống ở đấy, chết chôn ở đấy. Nhớ ngày con đi, vợ chồng bác chấm vôi lên cột, đánh dấu từng tháng. Đến tháng thứ năm, bác nhận được thư của Sở cao su báo tin Thành chết.


Hai vợ chồng lăn ra khóc. Bác gái ngất đi, tỉnh lại mấy lần.


- Giá nó chết ở nhà thì còn trông thấy nắm xương. Đằng này thế là mất xác.


Bác giai an ủi vợ:


- Cái số nó thế thì làm sao được? Được cái Sở người ta cũng chôn cất tử tế, thôi thế cũng đỡ tủi vong hồn nó.


Mấy tháng sau, có người làng đi phu ở Đất đỏ về nói nhỏ với vợ chồng bác:


- Thằng Thành nó bị thằng Tây xu-ba-dăng đá vào mạng mỡ, ngã gục xuống gốc aco su, chết không kịp kêu. Chúng nó cho đào một cái hố nông gần đấy, kéo xác thằng Thành xuống, lấp đất lên.


Câu chuyện bất ngờ làm vợ chồng bác khóc thêm mấy ngày nữa. Mặt bác giai hốc hác thêm, mắt bác gái mờ dần.


*


*           *


Vụ thuế năm sau, gia đình bác Thắm so rụi hơn năm trước. Hai sào ruộng quân cấp, lý Hồ chiếm lấy, cho cháu làm. Hắn còn bắn tin, dọa già: "Ức thì lên huyện mà kêu. Mẹ kiếp! Muốn ở cái đất này, hay muốn bán xới thì cứ trêu vào tay ông!". Bác Thắm nghiến răng nhìn về phía nhà lý Hồ. Bác gái chống gậy, lần ra sân, định đến nhà hắn thì bác giai giữ lại:


- Đến làm gì ? Quân nó chó mõ, nói khó cũng chả được đâu?


Túp lều xiêu vẹo thêm. Cái nồi tư vá thêm mấy miếng. Chĩnh tương gán thuế rồi, cũng chả làm sao ngã được chĩnh khác. Đêm đêm, nghe tiếng trống ngũ liên, tiếng tù và rúc, bác lắng tai, chờ tiếng hàng phiên gọi bác đến nhà lý Hồ.


Một buổi tối, lý Hồ cho người đến gọi bác. Nhưng hắn không thét tuần phiên treo bác lên xà nhà, cũng không lấy búa đanh khảo vào khớp xương bác như năm ngoái. Có lẽ hắn biết có đánh chết bác cũng chả ra tiền.


Hắn hỏi thẳng:


- Thế nào! Năm nay liệu có thể xoay được không?


Bác thở dài:


- Ông để sống thì được sống, ông bắt chết thì phải chết. Thật quả không xoay vào đâu được.


Hắn ôn tồn:


- Thằng Thảo nhà mày cũng nhớn rồi. Để nó ở nhà, nó cũng đến lêu lổng thôi. Cho nó đến đây, tao nuôi đỡ. Nó làm cũng chưa đáng đồng công, nhưng cũng như cái làm phúc, tao cho trừ vào suốt sưu của nhà mày.


Bác mừng rỡ, chạy về bảo vợ:


- Thôi thế cũng may. Con nó ở gần, thỉnh thoảng còn được trông thấy mặt nó.


- Đến đằng ấy, nó chịu thương, chịu khó, may ra sau này thân nó đỡ vất vả...


Hôm sau, Thảo đến nhà lý Hồ, thay anh ở mùa vừa xin ra. Một lần, đến nửa tháng, không thấy Thảo về qua nhà. Vợ chồng bác đang băn khoăn thì lý Hồ cho người nhà đến tìm bác. Đến nơi, Thảo đang hấp hối trên gác chuồng trâu. Thấy bố, Thảo mấp máy môi, nói không thành tiếng. Bác nắm tay con:


- Con đừng chết nhá! Anh con chết rồi, con mà chết nốt thì bố với bầm sống với ai ?


Thảo nấc lên. Bác chạy về dắt vợ đến thì chỉ kịp vuốt mắt, nắn chân tay cho con. Lý Hồ cho vuông vải phủ mặt và cái giát giường để bó. Bác vác xác con lên vai, đem về chôn ở sau nhà.


Lần này bác gái lăn ra sân, chửi giời, chửi đất:


- Mày có giỏi thì cứ vật chết bà đi! Bà sống cũng như chết rồi!


Bác giai không khóc được nữa. Mấy ngày liền, hết ngồi bên mả con, bác lại đi lang thang khắp xóm:


- Hai suất sưu, hai đứa con! Giời sinh ra sưu thuế làm gì thế này hởi giời ?


Từ đấy, túp lều xiêu càng lạnh lẽo. Có khi cả ngày, hàng xóm không nghe thấy tiếng động mạnh. Buổi tối, hai vợ chồng lặng lẽ ngồi bên nhau. Một lần bác giai buột miệng phàn nàn:


- Cao Mên xa xôi quá. Biết bao giờ vào thăm mộ nó được. Giá nó ở nhà thì không đến nỗi chết oan...


Bác gái mếu máo:


- Giá thằng Thảo ở nhà, kiêng khem cho nó được, nó cũng không đến nỗi cảm nhập lý.


Thế là bác gái lăn ra khóc. Nét mặt bác giai như sắt lại. Nhìn vợ quều quào như muốn níu lấy hai đứa con, bác hối hận đã nhắc đến chuyện đau xót của gia đình.


*


*           *


Lại một năm nữa qua. Cảnh nhà càng túng quẫn. Hai bác đã luống tuổi, hết thì sinh đẻ. Mà có sinh đẻ nữa, chắc gì được nhờ con? Đời như thế là vô vọng.


Lại đến vụ thuế, Bác đâm liều: "Chúng bay muốn làm gì thì làm. Cứ treo ông lên! Cứ lấy bùa mà khảo! Chả còn đứa nào mà hốt chúng bay bắt đi phu đất đỏ". Tiếng trống, tiếng ốc đốc thuế lại rộn lên trong đêm tối. Ánh đuốc hàng phiên lại bập bùng soi các ngõ.


- Đem tiền đến ông lý nộp thuế nhá!


Dân làng lại thao thức. Hễ thấy bóng hàng phiên đến bờ rào, ai nấy lại giật mình, lấm lét nhìn ra. Bác gái thở dài:


- Lấy tiền đâu mà nộp thuế cho bố nó bây giờ?


Bác giai chép miẹng:


- Lo làm gì ? Được ngày nào, hay ngày ấy. Người ta ai cũng một lần chết.


Việc đốc thuế năm ấy có vẻ ráo riết hơn mọi năm. Trống đánh rồn rập, ốc rúc lạnh người. Lý Hồ vác roi đến từng nhà, vung roi quất vun vút. Dân làng nói nhỏ với nhau:


- Có lẽ năm nay Nhật về thu thuế hay sao ấy. Khối cả Nhật về đóng ở huyện ra.


Lý Hồ lại cho tuần đến nhà bác Thắm giục. Bác thản nhiên đáp:


- Giục mãi cũng đến thế thôi. Có giết tôi thì giết luôn đi. Sống thế này cũng chả thiết sống nữa.


Bác quay lại bảo vợ:


- Tôi chết thì yên phận tôi, chỉ khổ bầm nó, biết trông cậy vào ai?


Bác gái chớp chớp mắt, nghĩ đến bà cụ lòa ăn mày ở ngoài chợ.


Mấy hôm sau, có sự biến đổi bất ngờ ở làng Hạ lũng. Tiếng trống, tiếng ốc im bặt. Lý Hồ không cầm roi chạy lăng xăng, hò hét, hàng phiên cũng không vác đuốc đi lùng những người trốn thuế. Rồi lý Hồ đến từng nhà đã góp sưu, tính từng đồng, trả lại. Ai hỏi, hắn cũng chỉ khẽ lắc đầu:


- Các quan... không cho thu nữa.


Dân làng bàn tán xôn xao. Có người đoán Nhật thua to nên xá thuế để lấy lòng dân. Có người đoán Nhật muốn lấy cả, Tây nó tức, không thu nữa. Sau dân làng mới biết là Việt Minh đến nhà lý Hồ, bắt hắn trả lại thuế cho dân làng.


Dân làng mừng lắm. Vợ chồng bác Thắm cũng mừng lắm. Thôi thế vợ chồng bác sớm tối lại được gần gụi nhau, mà bác gái cũng chả phải đi ăn mày ngoài chợ. Vợ chồng bác chưa biết Việt Minh là thế nào, nhưng cũng thầm ơn Việt Minh đã cứu sống gia đình bác.


Bác thì thào bảo vợ:


- Giá có Việt Minh từ năm ngoái thì thằng Thảo không đến nỗi chết oan.


Bác gái nhìn về phía chồng, nghẹn ngào:


- Giá có Việt Minh từ năm kia thì thằng Thành cũng không phải bỏ nắm xương ở Đất đỏ.


 


Nguồn: Hai suất sưu. Tập truyện ngắn của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn Nghệ, Hà Nội, 1956. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm huyền sử - Triệu Văn Đồi 09.06.2019
G. - Võ Đình 05.06.2019
Đêm cỏ tuyết - Kiệt Tấn 05.06.2019
Cô gái làm ren Nachia/ Pautopsky ở Trà My - Konstantin Georgiyevich Paustovsky 01.06.2019
Kẻ ở nhờ - Phạm Thanh Khương 01.06.2019
Truyền thuyết về Quán Tiên - Xuân Thiều 16.05.2019
Sau lưng là rừng thẳm - Hoàng Hiền 20.04.2019
Khai bút - Vũ Thư Hiên 09.02.2019
Bóng người dưới trăng - Nguyễn Luân 25.01.2019
Khói hoàng hôn - Tống Phú Sa 25.01.2019
xem thêm »