tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26283507
Tiểu thuyết
02.01.2009
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

Phần thứ chín


I


Từ cuối năm 1811, ở các nước Tây Âu bắt đầu một cuộc tập trung lực lượng vũ trang ráo riết và đến năm 1812 thì các lực lượng ấy - gồm mấy triệu người, kể cả những người làm công việc chuyên chở và cấp dưỡng cho quân đội, - tiến về phía biên giới nước Nga. Trong khi đó, từ năm 1812, các lực lượng Nga cũng đã dồn ra biên giới đúng như vậy. Ngày mười hai tháng sáu, các lực lượng Tây Âu vượt qua biên giới Nga và cuộc chiến tranh đã bùng nổ, nghĩa là một biến cố trái ngược với lý trí và tất cả bản tính con người đã diễn ra. Để hãm hại nhau, hàng triệu con người đã phạm vô số tội ác, những mánh khóe lừa gạt, những hành vi phản bội, trộm cắp, giả mạo, làm giấy bạc giả, đốt nhà, cướp của, giết người, những hành vi mà các thập niên sau của tất cả các tòa án trên thế giới dù có góp nhặt suốt mấy thế kỷ liền cũng không sao bì kịp, nhưng những kẻ can phạm vẫn không hề gọi đó là tội ác.


Cái gì đã gây nên cái biến cố phi thường ấy? Nguyên nhân của nó ở đâu? Các nhà sử học nói với thái độ tự tin ngây thơ rằng nguyên nhân của biến cố ấy là điều sỉ nhục giáng vào quận công Ônđenbua, là thái độ không tôn trọng hệ thống lục địa[1], là dã tâm bá chủ của Napôlêông, là tính cương nghị của Alếchxanđrơ, là những sai lầm của các nhà ngoại giao v.v...


Cho nên chỉ cần Méttécních, Rumiêntxép hay Talâyrăng trong khoảng thời gian giữa một buổi chiều lâm triều và một buổi nghênh tân, cố công viết một bức thiếp cho khéo léo, hoặc chỉ cần Napôlêông viết cho Alếchxanđrơ mấy chữ: Thưa nhân huynh bệ hạ, tôi xin thuận lòng trả công quốc lại cho quận công Ônđenbua[2], thế là không xảy ra chiến tranh nữa.


Đương nhiên là những người thời ấy hình dung sự việc như vậy. Đương nhiên là theo Napôlêông thì nguyên nhân của chiến tranh là những thủ đoạn xảo quyệt của nước Anh (ở đảo Xanhtơ Êlen, ông ta có nói như thế); đương nhiên là theo nghị sĩ thượng viện Anh thì nguyên nhân cuộc chiến tranh là dã tâm làm bá chủ của Napôlêông; theo quận công Ônđenbua thì nguyên nhân của cuộc chiến tranh là hành động bạo ngược của kẻ khác đối với ông ta; theo các nhà buôn thì nguyên nhân chiến tranh là hệ thống lục địa đã làm cho châu Âu bị phá sản; theo các quân nhân già và các tướng tá thì nguyên nhân chính là sự cần thiết phải sử dụng họ; theo những kẻ bảo hoàng chính thống thời ấy thì đó là sự cần thiết phải phục hồi các mối luân thường[3]; còn theo các nhà ngoại giao bấy giờ thì tất cả là do chỗ không khéo che giấu, không cho Napôlêông biết sự liên minh giữa Nga và Áo năm 1809, và do cách hành văn vụng về trong bản bị vong lục[4] số 178. Ta hiểu rằng, những người đương thời đã viện ra những nguyên nhân ấy và ngoài ra còn vô số nguyên nhân khác nữa - số lượng các nguyên nhân này ít hay nhiều là tùy ở vô số quan điểm khác nhau; nhưng đối với chúng ta, những người hậu thế, là những người có thể nhìn bao quát toàn bộ khối lượng đồ sộ những biến cố đã diễn ra và đi sâu vào cái ý nghĩa giản đơn và kinh khủng của nó, thì những nguyên nhân ấy vẫn chưa đủ. Chúng ta không thể hiểu vì sao hàng triệu người Cơ Đốc giáo lại giết nhau, hành hạ nhau chỉ vì Napôlêông tham quyền, vì Alếchxanđrơ cứng rắn, vì nước Anh có một chính sách giảo quyệt, vì quận công Ônđenbua bị sỉ nhục. Không thể hiểu được những hoàn cảnh này có liên quan gì đến bản thân việc giết chóc và hành hung; không thể hiểu tại sao chỉ vì một ông quận công bị sỉ nhục mà hàng nghìn người ở miền Tây Âu lại giết hại và làm sạt nghiệp những người dân hai tỉnh Smôlen và Mátxcơva rồi lại bị những người này giết chết.


Đối với bọn hậu thế chúng ta, những người không phải sử gia, không bị mê hoặc trong quá trình nghiên cứu, và do đó, có thể nhìn nhận biến cố ấy với óc xét đoán không bị che mờ, thì những nguyên nhân của nó hiện ra với một số lượng không sao đếm xuể. Càng đi sâu tìm tòi, chúng ta càng phát hiện ra nhiều nguyên nhân; và bất cứ một nguyên nhân nào hay một loạt nguyên nhân nào tách rời ra cũng đều vừa đúng như nhau nếu xét bản thân nó, vừa cùng sai như nhau vì nó là không đáng kể so với quy mô to lớn của sự kiện và nó bất lực không thể gây nên cái biến cố đã diễn ra (nếu không có tất cả nguyên nhân khác đồng thời tham gia). Dưới mắt chúng ta, một anh hạ sĩ nào đó trong quân đội Pháp muốn hay không muốn nhập ngũ lần thứ hai cũng là một nguyên nhân có giá trị ngang hàng với việc Napôlêông không chịu rút quân sang bên kia sông Visla và trả lại công quốc Ônđenbua. Ví thử anh hạ sĩ kia không muốn nhập ngũ và có một người hạ sĩ hay một người lính khác lại muốn, người thứ ba, một người thứ một nghìn nữa không muốn, thì quân đội của Napôlêông tất phải thiếu mất ngần ấy người, và chiến tranh sẽ không xảy ra được.


Giả sử Napôlêông không cho việc người ta yêu sách mình phải rút quân qua sông Visla là một điều sỉ nhục và không ra lệnh cho quân đội tấn công, thì đã không có chiến tranh; nhưng nếu tất cả các hạ sĩ Pháp không chịu tái đăng lính thì cũng không thể có chiến tranh được. Chiến tranh cũng không thể nổ ra nếu không có những thủ đoạn mưu mô của nướcAnh, và không có quận công Ônđenbua, nếu Alếchxanđrơ không cảm thấy mình bị sỉ nhục, nếu không có chính quyền chuyên chế ở Nga, nếu không có cuộc cách mạng Pháp và không có những chính quyền độc tài và Đề chính tiếp sau, không có tất cả những gì gây ra cuộc cách mạng Pháp, vân vân. Không có một trong những nguyên nhân này thì không thể xảy ra cái gì hết. Thế nghĩa là tất cả các nguyên nhân này - kể có đến hàng nghìn triệu nguyên nhân như thế - đều đồng quy lại để gây nên sự việc đã xảy ra. Cho nên không có cái gì là nguyên nhân duy nhất của biến cố, còn cái biến cố kia thì tất phải xảy ra cũng chỉ vì nó tất phải xảy ra mà thôi. Hàng triệu người phải từ bỏ mọi tình cảm nhân loại và từ bỏ lý trí của mình, đi từ Tây sang Đông để giết đồng loại, cũng như mấy thế kỷ trước đã có những đám người đi từ Đông sang Tây để giết đồng loại.


Những hành động của Napôlêông và Alếchxanđrơ là những người mà tưởng đâu một lời nói có thể quyết định cho biến cố kia xảy ra hay không xảy ra, kỳ thực cũng chẳng có gì quan trọng hơn hành động của mỗi người lính bị đưa ra trận bằng cách bốc thăm hay bằng cách tuyển mộ. Không thể nào khác thế được, bởi vì muốn cho ý chí của Napôlêông và Alếchxanđrơ (những người có vẻ như nắm quyền định đoạt biến cố) được thực hiện, thì cần phải có vô số nhân tố khác tác động, nếu thiếu một trong các nhân tố đó thì biến cố kia không thể nào xảy ra được. Phải có hàng triệu người, nắm trong tay sức mạnh thật sự, phải có những người lính bắn súng, chở lương thực hay kéo đại bác, những người đó phải thỏa thuận với nhau thực hiện ý chí của mấy người lẻ loi và yếu ớt kia và phải có vô số nguyên nhân đa dạng và phức tạp đưa họ đến chỗ đó.


Chủ nghĩa định mệnh trong lịch sử là một giả thuyết không sao tránh khỏi khi muốn cắt nghĩa những hiện tượng phi lý (tức là những hiện tượng mà ta không thấy được tính chất hợp lý của nó ở chỗ nào). Ta càng cố cắt nghĩa một cách hợp lý những hiện tượng như vậy trong lịch sử, thì lại càng thấy nó phi lý và khó hiểu.


Mỗi người đều sống cho mình, đều sử dụng tự do để đạt đến những mục đích riêng của mình và tất cả con người của họ cảm thấy rằng giờ đây mình có thể làm hay không làm một việc gì đó; nhưng hễ đến khi làm, thì cái việc được thực hiện trong một thời điểm nào đó không sao hoàn cải được nữa và đã thuộc về lịch sử, trong đó không có ý nghĩa tự do nữa, mà có ý nghĩa tiền định.


Trong cuộc sống của mỗi con người có hai khía cạnh: cuộc sống cá nhân - những xu hướng của con người càng trừu tượng thì cuộc sống lại càng tự do - và cuộc sống thuần phát, quần thể, trong đó con người phục tùng một cách tất nhiên những quy luật chi phối mình.


Con người sống một cách tự giác cho mình, nhưng nó cũng mang lại là một công cụ bất tự giác được dùng để đạt được những mục đích lịch sử của toàn nhân loại. Một hành động đã thực hiện rồi thì không sao vãn hồi được, nó cùng tác động một lúc với hàng triệu hành động của những người khác và trở thành một việc có giá trị lịch sử. Con người đứng càng cao trên bậc thang xã hội, càng liên hệ nhiều với nhiều người, thì lại càng có quyền lực đối với người khác và tính chất tiền định và tất nhiên của mỗi hành động của anh ta lại càng hiển nhiên.


"Con tim của vua chúa đều nằm trong tay Thượng đế".


Vua là kẻ nô lệ của lịch sử.


Lịch sử tức là cuộc sống bất tự giác, cuộc sống chung, cuộc sống quần thể của loài người, vẫn sử dụng từng phút một cuộc sống của vua chúa để làm công cụ thực hiện những mục đích của nó.


Bấy giờ, năm 1812, Napôlêông tin chắc hơn bao giờ hết rằng, có làm đổ máu hay không làm đổ máu các dân tộc (như Alếchxanđrơ đã viết trong bức thư gần đây gửi cho ông ta) là tùy ở nơi mình cả, nhưng kỳ thực bấy giờ hơn bao giờ hết, ông ta đang chịu sự chi phối của những quy luật tất nhiên bắt buộc ông ta (trong khi ông ta cứ tưởng mình hành động theo ý muốn riêng của mình) phải vì sự nghiệp chung, vì lịch sử, mà thực hiện những việc phải xảy ra.


Những người phương Tây tiến về phương Đông để tàn sát nhau. Và theo luật trùng hợp của các nguyên nhân, hàng nghìn nguyên nhân vụn vặt đã tự nó hiện ra, nhập làm một với biến cố này, gây ra sự di chuyển và cuộc chiến tranh ấy: những lời phàn nàn về việc không tôn trọng hệ thống lục địa, rồi quận công Ônđenbua, rồi cuộc đưa quân vào nước Phổ và Napôlêông tưởng đâu chỉ tiến hành để đạt đến một nền hòa bình vũ trang. Rồi lòng ham mê chiến tranh và thói quen gây chiến của hoàng đế Pháp phù hợp với xu thế của nhân dân trong nước, tâm trạng say sưa do những cuộc chuẩn bị đồ sộ gây nên, rồi những khoản chi tiêu dùng vào những cuộc chuẩn bị ấy, rồi nhu cầu phải kiếm được những mối lợi có thể bù lại những khoản chi tiêu này, rồi những lễ nghi khánh hạ làm mê mẩn lòng người ở Đresđen, rồi những cuộc thương lượng ngoại giao mà những người đương thời cho là đã được tiến hành với lòng thành thực tự ái của cả hai bên và hàng triệu nguyên nhân khác cùng xuất hiện trước cái biến cố thế nào cũng diễn ra và ăn khớp với các biến cố đó.


Khi một quả táo đã chín và rụng xuống, thì tại sao nó rụng? Có phải là vì sức nặng của nó hút nó xuống đất, hay vì cái cuống đã héo, hay vì ánh nắng đã làm cho nó khô đi, hay vì nó nặng thêm, hay vì bị gió lay, hay vì đứa trẻ đang đứng ở phía dưới muốn ăn?


Trong những điều đó không có cái gì là nguyên nhân cả. Tất cả chỉ là sự tác động cùng một lúc của những điều kiện chi phối bất cứ hiện tượng hữu sinh, hữu cơ, tự nhiên nào. Và nhà thực vật học nào cho rằng quả táo rụng xuống vì tế bào của cái cuống đã giải thể vân vân, thì cũng có lý như đứa trẻ đứng dưới cây bảo rằng quả táo rụng là vì nó muốn ăn và lạy trời cho quả táo rơi xuống. Người nào nói rằng Napôlêông đến Mátxcơva là vì ông ta muốn thế, và sở dĩ ông ta thất bại là vì Alếchxanđrơ muốn thế, thì cũng có lý và cũng không có lý như người nào nói rằng một quả núi nặng hàng triệu tấn bị đào ở dưới chân đổ sụp xuống là vì người thợ đã giáng mũi cuốc chim cuối cùng vào đá. Trong cái biến cố lịch sử, những người gọi là vĩ nhân chẳng qua là những cái nhãn dán lên sự kiện để đặt tên cho nó, cũng như những cái nhãn khác, họ ít liên quan đến bản thân sự biến hơn cả.


Mỗi hành động của họ, mà họ cứ tưởng đâu là tự do, thì về phương diện lịch sử, chẳng có gì là tự do cả. Nó gắn liền với cả quá trình diễn biến của lịch sử và đã được tiền định từ vạn cổ.


II


Ngày 29 tháng năm, Napôlêông rời Đresđen, nơi ông đã sống ba tuần lễ giữa một cung đình gồm những vị công hầu, các vị quốc vương và thậm chí cả một vị hoàng đế nữa. Trước khi ra đi, Napôlêông vỗ về các vị công hầu, các vị quốc vương và vị hoàng đế đã làm cho ông hài lòng, và quở mắng các vị quốc vương và các vị công hầu đã làm cho ông phật ý, lấy những mớ châu ngọc và kim cương của mình - tức là cướp được của các vua khác - đem tặng hoàng hậu nước Áo, rồi sau khi âu yếm ôm hôn hoàng hậu Mari Luyda, ông ta đã để người vợ ấy lại - Mari Luyda được coi là vợ ông ta, mặc dù bà vợ khác vẫn còn ở Pari - và theo người viết sử của Napôlêông thì trong cuộc chia ly này, Mari vô cùng đau khổ, tưởng chừng không sao chịu đựng nổi. Tuy các nhà ngoại giao vẫn tin chắc vào khả năng hòa bình và ra sức làm việc cho mục đích ấy, tuy hoàng đế Napôlêông tự tay viết thư cho hoàng đế Alếchxanđrơ, gọi vui vua Nga là nhân huynh bệ hạ[5] và thành thật quả quyết rằng, mình không muốn chiến tranh và mãi mãi yêu mến và kính trọng ông ta, - Napôlêông cũng vẫn trở về quân đội và đến trạm nào cũng ra thêm những mệnh lệnh mới không ngoài mục đích xúc tiến cuộc chuyển quân từ Tây sang Đông. Ông ta đi một cỗ xe kiệu sáu ngựa vốn dùng để đi đường, với một đám thị đồng, sĩ quan phụ tá và một đội hộ tống dọc theo con đường thiên lý đi qua Pôden, Toócnơ, Đantxích và Cơníchsbéc. Ở mỗi thành phố đó, hàng nghìn người nô nức và xúc động ra đón ông ta.


Quân đội kéo từ Tây sang Đông, và bộ ngựa sáu con luôn luôn thay đổi ở các trạm cũng đưa ông ta đi theo hướng đó. Ngày mồng mười tháng sáu, ông ta đuổi kịp quân đội và nghỉ đêm tại trang viên của một bá tước Ba Lan ở giữa khu rừng Vincôviski, trong một hành dinh dọn riêng cho ông ta.


Hôm sau Napôlêông vượt lên trước đoàn quân, đi xe đến sông Nêman. Ông ta mặc một bộ quân phục Ba Lan, đi ra tận bờ sông để xem xét địa thế qua sông.


Thấy bên kia sông có những người Cô dắc (Les Cosaques) và thảo nguyên tỏa rộng (les steppes) bao bọc Mátxcơva, thành phố thần thánh[6], thủ đô của cái vương quốc giống như xứ sở của người Skit[7], nơi Alếchxanđrơ hoàng đế Makêđônia[8] đã đi qua, Napôlêông trước sự ngạc nhiên của mọi người và trái với mọi điều suy xét về chiến lược cũng như về ngoại giao, đã ra lệnh tiến quân, và hôm sau quân đội của Napôlêông bắt đầu vượt sông Nêman.


Sáng sớm ngày mười hai, ông ra khỏi túp lều vải hôm ấy dựng trên tả ngạn dốc đứng của sông Nêman, và dùng viễn kính nhìn những dòng quân lữ của mình từ rừng Vincôviski tràn ra và vượt qua ba chiếc cầu bắc trên sông Nêman. Quân lính biết rằng hoàng đế có mặt ở đây, họ đưa mắt tìm ông ta, và khi họ trông thấy trên sườn đồi, trước túp lều vải và tách ra khỏi đoàn tùy tùng một quãng, cái bóng dáng của hoàng đế đội chiếc mũ con con và mặc chiếc áo vạt dài, họ tung mũ lên trời hò reo: "Hoàng đế vạn tuế!"[9], rồi đơn vị này tiếp theo đơn vị nọ, họ rời khỏi khu rừng mênh mông vừa mới đây đã che giấu họ và lũ lượt đổ ra, đổ mãi không ngừng và chia ra làm ba mũi tiến sang sông qua ba chiếc cầu.


- Chuyến này đi xa phải biết đây. Ôi! Ngài mà đã nhúng tay vào thì thế nào cũng có chuyện... Mẹ kiếp... Ngài kia rồi! Hoàng đế vạn tuế! Nó đây rồi, những cánh thảo nguyên của châu Á! Xứ này cũng chán thật. Thôi chào cậu Bôsê nhé, tớ sẽ giành cho cậu tòa lâu đài đẹp nhất ở Mátxcơva. Thôi chào nhé! Chúc cậu may mắn... Mày có trông thấy hoàng đế đâu không? Hoàng đế vạn tuế!...uế! Nếu tớ được làm tổng trấn Ấn Độ thì tớ sẽ cho cậu làm tổng đốc Casơmia, nhất định như thế rồi đấy, Giêra ạ. Hoàng đế vạn tuế! Vạn tuế! Vạn tuế! Cái bọn Cô dắc chết tiệt kia, chúng nó phóng nhanh thật. Hoàng đế vạn tuế! Ngài kia rồi: Mày có trông thấy không? Tao đã trông thấy ngài hai lần, gần như sát tao với mày thế này. Ông cai bé nhỏ[10]... Tớ đã thấy Ngài gắn Huân chương chữ thập cho một chiến binh... Hoàng đế vạn tuế[11]... - đó là những câu thốt ra từ miệng quân sĩ, già có, trẻ có tính tình rất khác nhau và thuộc đủ các tầng lớp trong xã hội. Gương mặt tất cả những người đó đều cùng phản chiếu nỗi vui mừng vì cái chiến dịch lâu nay mong đợi đã mở màn, vì lòng hâm mộ và tinh thần tận tụy đối với con người mặc áo xám đang đứng trên đồi.


Ngày mười ba tháng sáu, người ta đem lại cho Napôlêông một con ngựa Ả Rập thuần giống. Napôlêông lên ngựa và phi về phía một trong ba cái cầu bắc qua sông Nêman, bên tai luôn luôn nghe những tiếng tung hô phấn khởi làm cho ông ta nhức óc, hiển nhiên là ông cố chịu đựng những tiếng hoan hô này cũng chỉ vì không thể nào ngăn cấm binh sĩ tỏ lòng hâm mộ mình như vậy; nhưng những tiếng tung hô đó nơi nào cũng cứ inh ỏi bên tai ông, làm ông khó chịu và xao lãng trí óc của ông khi đang mải suy nghĩ về việc quân từ khi trở về với quân đội. Napôlêông đi qua sông trên chiếc cầu phao dập dềnh, rồi ngoặt sang trái và phi nước đại về phía Côpnô, sau một đội khinh kỵ cận vệ bấy giờ như đang lịm đi vì hân hoan sung sướng trong khi phi ngựa để dẹp đường cho hoàng đế giữa đám quân sĩ. Đến bên bờ con sông VIlya rộng bát ngát, ông dừng ngựa bên cạnh một trung đoàn kỵ binh Ulan người Ba Lan đang đứng đợi giờ xuất phát.


- Vivat![12] - binh sĩ Ba Lan cũng nô nức reo vang và phá vỡ hàng ngũ, giẫm đạp lên nhau để được nhìn thấy ông ta. Napôlêông xem xét dòng sông, xuống ngựa và đến ngồi trên một thân cây ở bờ sông. Ông ta lặng lẽ vẫy tay ra hiệu một cái, tức thì họ đưa cho ông ta một chiếc viễn kính. Ông kê ống nhìn lên lưng một chú thị đồng vừa mừng rỡ chạy lại, và bắt đầu nhìn sang bên kia sông. Rồi chăm chú xem xét những tấm bản đồ trải ra ở giữa các súc gỗ. Không ngẩng đầu lên, ông nói mấy câu và hai viên sĩ quan phụ tá lập tức phi ngựa về phía đoàn kỵ binh Ba Lan. Khi một trong hai người đã đến gần trung đoàn, trong hàng ngũ kỵ binh Ba Lan có tiếng hỏi xôn xao:


- Gì thế? Ngài nói gì thế?


- Hoàng đế ra lệnh tìm một chỗ nông để lội sang bên kia sông.


Viên đại tá chỉ huy trung đoàn kỵ binh Ba Lan, một ông già đẹp lão, mặt đỏ bừng, nói ấp a ấp úng vì quá xúc động, hỏi viên phụ tá xem liệu hoàng đế có cho phép ông ta đưa trung đoàn bơi qua sông, không cần tìm chỗ cạn không. Rõ ràng là ông ta rất sợ bị từ chối; như một đứa bé xin phép cưỡi ngựa, ông xin phép cho đơn vị bơi qua sông dưới mắt hoàng đế. Viên sĩ quan phụ tá nói rằng, chắc hoàng đế cũng sẽ không phật ý vì hành động nhiệt tình quá mức ấy.


Viên sĩ quan phụ tá vừa nói dứt lời thì viên đại tá già có bộ ria mép, vẻ mặt hớn hở, mắt sáng quắc, vung gươm lên quát lớn "Vivat!", và sau khi ra lệnh cho đoàn kỵ binh theo mình, ông ta thúc ngựa phi xuống sông. Viên đại tá giận dữ thúc con ngựa bấy giờ đang ngập ngừng dưới mình ông ta, lao xuống nước và cho ngựa bơi ra giữa sông, nơi nước chảy xiết. Mấy trăm kỵ binh Ulan lao theo ông ta. Ra đến giữa sông, nước chảy rất mạnh, họ thấy rét và sợ. Các kỵ binh vướng vào nhau, ngã ngựa. Đã có mấy con ngựa chết đuối, kỵ binh cũng đã mấy người bị cuốn đi. Những người còn lại cố sức thúc ngựa bơi về phía trước, sang bên kia sông, và mặc dầu chỗ sông có thể lội qua được chỉ cách đấy có nửa dặm, họ cũng lấy làm hãnh diện được bơi và chết đuối dưới mắt con người đang ngồi trên súc gỗ, lúc này thậm chí cũng chẳng thèm nhìn về phía họ nữa.


Viên sĩ quan phụ tá đã trở về, và chọn đúng lúc thuận tiện, ông ta đánh bạo và xin hoàng đế lưu ý đến lòng tận tụy của quân lính Ba Lan đối với ngài. Con người thấp bé mặc áo khoác xám đứng dậy, gọi Bécchiê lại và bắt đầu đi đi lại lại trên bờ sông với Bécchiê, rồi vừa đi vừa ra mệnh lệnh và thỉnh thoảng lại nhìn về phía đoàn kỵ binh Ulan đang chết đuối, có vẻ không bằng lòng vì họ làm cho sự chú ý của ông bị xao lãng.


Xưa nay Napôlêông vẫn biết rằng, dù ở nơi nào trên địa cầu, từ sa mạc châu Phi cho đến thảo nguyên của xứ Môscôvi, sự có mặt của ông đều làm cho người ta nô nức đến mức điên rồ, quên hẳn cả thân mình. Đối với ông, điều đó chẳng còn mới lạ gì nữa. Ông ra lệnh dắt ngựa lại và lên ngựa trở về bản doanh.


Lúc bấy giờ khoảng bốn mươi người Ulan đã chết đuối dưới sông, mặc dầu đã cho thuyền ra vớt. Phần lớn những người còn lại đều quay trở về bên này. Viên đại tá cùng với mấy người nữa bơi được qua sông và khó nhọc leo lên bờ bên kia. Nhưng vừa lóp ngóp leo lên đến nơi, trong những bộ quân phục ướt sũng nước chảy như suối, họ đã cất tiếng hô: "Vivat!", hân hoan nhìn về chỗ lúc nãy có Napôlêông đứng nhưng bây giờ không còn thấy ông ta ở đấy nữa, và trong giây phút ấy họ cho mình là những người diễm phúc tuyệt trần.


Đến tối, vào khoảng giữa hai mệnh lệnh - một mệnh lệnh về việc vận chuyển số giấy bạc Nga giả mạo đến cho thật nhanh để đưa vào nước Nga, và một mệnh lệnh nữa về việc xử bắn một người Xắcxôn mang một bức thư trong đó có những tài liệu về cuộc chuyển quân của Pháp, - Napôlêông ra một mệnh lệnh thứ ba là ghi tên viên đại tá Ba Lan đã nhảy xuống sông một cách vô ích kia vào Đoàn Danh dự (Légion d'Honneur) mà chính Napôlêông là người đứng đầu.


Quos vult perdere-dementat[13].


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình. L. Tônxtoi. Tập 2. Bộ mới ba tập. NXB Văn học, 6 - 2007. In theo lần xuất bản đầu tiên năm 1961.







[1] Tức hệ thống phong tỏa lục địa.




[2] Monsieur mon frère, Je consens à rendre le duché au duc d’Oldenbourg.




[3] Les bons principes.




[4] Memorandum.




[5] Monsieur mon frère.




[6] Moscou, la ville sainte.




[7] Một nhóm dân tộc du mục sống ở phía Bắc Hắc Hải vào thời cổ đại (Scythes).




[8] Tướng lĩnh vĩ đại nhất của thế giới Hy Lạp cổ đại, đã chinh phục một khu vực rộng mêng mông kéo dài đến tận biên giới Ấn Độ (356 -323 trước C.N).




[9] Vive l’Empereur – Tiếng Pháp trong nguyên bản.




[10] Tên gọi đùa của binh sĩ đặt cho Napôlêông




[11] On fera du chemin cette fois-ci. Oh! Quand il s’en mêle lui-même, ça chauffe... Nom de Dieu!... Le voilà!...Vive l’Empereur! Les voilà donc les steppes de l’Asie! Vilain pays tout de même. Au revoir, Beauché, je te réserve le plus beau palais de Moscou. Au revoir, bonne chance!... L’as-tu vu, l’Empereur? Vive l’Empereur!... preur! Si on me fait gouverneur des Indes, Gérard, je te ferais ministre du Cachemire, c’est arrêté! Vive l’Empereur! Vive! Vive! Vive! Les gredins de Cosaques, comme ils filent!... Vive l'Empereur! Le voilà! Le vois tu? Je l'ai vu deux fois comme je te vois. Le petit caporal... Je l’ai vu donner la croix à l’un des vieux... Vive l’Empereur!..




[12] Vạn tuế (tiếng Ba Lan).




[13] (Thần linh) muốn hại người nào, thì làm cho người ấy mất trí khôn (tiếng Latin).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.Phần Thứ Mười một
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.Phần Thứ tám
78.
79.
80.Phần Thứ sáu
81.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 03.02.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.02.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.01.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.01.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 11.01.2019
Dòng đời - Nguyễn Trung 07.01.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 07.01.2019
Trả giá - Triệu Xuân 04.01.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 04.01.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 27.12.2018
xem thêm »