tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27626781
Truyện ngắn
30.10.2014
Đỗ Quang Tiến
Phố Bò Lăn

Phố Bò Lăn, phố hẻo đường rừng, dựng bên con suối nhỏ. Lòng suối có chiếc cọn, guồng quay hiền hậu, như cái xa của bà ké trên sàn nhà đảng. Suốt ngày đêm, tiếng cọn nghiến ken két, át tiếng suối rì rào. Tiếng dơi chéc chéc, quật cánh trong khe đá, dội về dẫy phố.


Dẫy phố có từ lâu. Nhưng không ai biết đích từ bao giờ. Mấy gia đình đầu tiên lập ra dẫy phố, cũng chỉ nhớ mang máng cái niên hiệu của một triều vua: Bảo Đại nguyên niên, hay nhị niên gì đó.


Mới đầu, dẫy phố vẻn vẹn có bốn nóc nhà. Bốn gian nhà ngoãm khẳng khiu, châu đầu, như để dựa nhau mà sống. Sau mỗi cơn mưa lũ, mỗi trận gió lốc, cuồn cuộn từ trên đỉnh đồi về, tay ngoãm choãng ra, mái gianh xiêu thêm một chút.


Ngày mới ở dưới xuôi, tha phương lên đây, bốn gia đình xin vào làng ở cho ấm cúng. Chánh Khâm không cho. Hắn sợ nhỡ bọn họ là kẻ gian thì rầy rà. Tính hắn lại vốn ghét những kẻ bỏ làng, đến ngụ cư đất hắn. Bốn gia đình đành dùm dúm, dựng mấy túp nhà, sống ven đường cái. Dẫy phố hẻo thành hình dưới chân cái dốc, có tiếng dơi chéc... chéc vọng về.


Dạo ấy, dẫy phố có nhà bác phó may là khá giả hơn ai cả. Bác mua lại cái máy khâu kiểu Đức quốc, nhãn hiệu đã mờ, của một hiệu may dưới tỉnh. Cái máy cổ lỗ sĩ. Tuy vậy, bác vẫn cậm cạch mỗi ngày vài bộ quần áo. Chồng máy, vợ thùa khuy, gia đình ăn tiêu dư dật. Bác khoe biết may đủ kiểu tây, tầu, tơ lụa, hàng gì làm cũng được. Nhưng chưa ai thử tài bác. Quanh năm vẫn chỉ quần áo cánh thường, cái quần đùi, chiếc yếm cổ sây. Họa hoằn lắm mới có cái áo tứ thân, hay cái áo the thâm vào dịp giáp Tết. Bác thường ca cẩm cái thôn Bò Lăn, và mấy thôn lân cận, không có tay sành.


Bên cạnh nhà bác phó may, là nhà ông hai Thảo. Trước cửa hàng lủng lẳng cái biển gỗ, kẻ chữ vôi trên nền hắc ín - Tạp hóa phát khách - hàng trên quốc ngữ, hàng dưới chữ nho. Ông hai nghĩ bụng gọi thế cho to cửa hàng. Vì hàng ông ta chỉ lèo tèo mấy thứ. Vài bánh thuốc lào quấn lá chuối khô, bầy trên nắp xải. Dăm cân chè Hà giang to cánh, thúng cá hồng khô, mổ phanh, bè bè như cái quạt nan một. Kim chỉ, lược gương, vàng hương, giấy bản, vài hộp thuốc nẻ, mấy thỏi mực nho, lộn xộn trong cái tủ mặt kính, dán giấy đè lên chỗ rạn.


Hiệu tạp hóa phát khách, hàng họ chỏng trơ có ngần ấy thứ. Nhưng suốt quãng đường này, không có hiệu tạp hóa nào khác. Vì vậy hàng ông hai Thảo bán độc quyền một khu vực. Bán lại đồng chịu, đồng trả, thành ra người trong làng, đắt mấy cũng phải ra mua. Ngày ngày ông hai rỉ rả bên ấm chè Quản bạ, cái kính râm thầy bói trên sống mũi. Cả hai vợ chồng chỉ trông vào cửa hiệu tạp hóa phát khách, mà sống vẫn phong lưu.


Dẫy bên kia là nhà bác Kim, hàng xáo. Bác làm thêm nghề ngoại: nghề nấu rượu lậu. Rượu đem đi đổi làng, còn bã, một năm nuôi vài lứa lợn. Bác thường khen rượu bán thần tình, say dịu chứ chả xốc, chả cồn, như rượu của mấy mụ giắt cái bong bóng trâu, ở dưới tỉnh đưa lên.


Ngày nào bác Kim cũng đánh đều hai bữa rượu. Mỗi bữa vài cút. Uống xong là say khướt cù đèn. Bác bò sang nhà bác phó, leo lên giường, đầu ngất ngưởng:


- Ông tôi xưa làm lý trưởng đến mấy năm. Tính ông cụ hách, nhưng được cái không ăn bẩn, thiềng thử dân làng sợ một phép. Tôi cũng đã ra phó lý được mấy tháng. Hồi ấy, tôi kình nhau với thằng chánh Mỗ, tôi cáu tiết, từ dịch ngay, không thèm làm việc nữa... Có cái điều đi đến đồng đất nước người, thì phải lép vế, chứ cái tang như tang chánh Khâm, tôi coi ra cái mùi gì...


Bác ta hăng máu, đấm vào ngực thình thịch:


- Cũng con nhà đàn anh đây, lép gì! Cũng đủ lý sự trong tay, hốt đếch gì thằng nào!


Thường thường, hơi men bốc lên đến đấy là bác ta vênh mặt, vắt chân củ gừng, nháy nháy bộ ria mép. Một lần, bác ta đang đắc chí thì chánh Khâm, nằm trong nhà lò dò đi ra. Bác ta đứng phắt dậy, bẻ ngón tay khục khục chào chánh Khâm rồi lủi về. Từ lần ấy, mỗi khi muốn kể lại câu chuyện kình nhau với chánh Mỗ, cho bác phó nghe, bác nghé vào nhà trong không thấy bóng chánh Khâm, bác mới yên tâm, ngồi xuống chõng.


Láng giềng bác Kim là nhà bà Thuận, bán bánh đa. Hồi mới đến ngụ cư đất này, vợ chồng ông Thuận với người con gái, Hòa, chuyên làm mướn quanh mấy thôn. Từ ngày ông Thuận chết, sắp đi phu đắp đường trên Bắc Mục, hai mẹ con xoay nghề cháng bánh. Nghề này dễ sống hơn đi làm thuê, ráo mồ hôi là hết tiền. Nó cũng lại hợp với tình cảnh gia đình lúc ấy: cô con gái đã dậy thì, lưng bà mẹ đã khòng khòng, răng bắt đầu rụng.


Năm ấy Hòa mười tám. Mắt bồ câu, má lúm đồng tiền, da bánh mật. Hòa không đẹp, nhưng có duyên. Tính nết nhu mì, thểu thảo như bà mẹ, chả cằn cặt như bà hai hàng tạp hóa, khinh khỉnh như vợ bác phó may. Trông thấy con giai, cô con gái đã biết thẹn thò, gò má đỏ ửng, tay vuốt tóc mai, tay khép vạt áo.


Phố hẻo đường rừng. Những ngày gió rét, sương mù phủ trắng mái gianh, lúc chiều chạng vạng, bốn gia đình buồn bã nhìn nhau. Họ nhớ đến làng họ, cách phố Bò Lăn đến mấy ngày đường. Những lúc ấy, bóng cô gái dậy thì, tươi như nắng ấm, đem niềm vui cho dẫy phố.


*


*           *


Khách hàng, người quen thuộc của dẫy phố là thôn Bò Lăn, cách phố một nẻo đường. Các thôn xa phải leo gò, lội suối, mới ra đến phố. Người qua đường thưa thớt. Có hôm, từ trưa đến lúc mặt trời chéo bóng, sau ngọn núi Là, không có một bóng người qua lại. Đến dốc Bò lăn, lúc nhọ mặt người, nhất bọn lái buôn trên ngược về, thường lặng lẽ, rảo chân, đi một hơi cho qua ngọn dốc. Đã có người bị bọn thằng Khấu, đầy tớ chánh Khâm cắt cổ, cướp hàng, lăn xác xuống vực. Đã có lần chánh Khâm hiếp, rồi buộc đá vào người, lẳng xuống chỗ suối sâu.


Từ ngày Hòa dậy thì, như bông hoa lạ mọc giữa rừng, thanh niên mấy thôn năng ra chơi phố. Chúng nó là cháu chánh Khâm, lý Tạo, lý Cường. Trâu hàng đàn, ruộng nương, những tràn mầu mỡ nhất.


Một dạo, tối nào, bọn thanh niên cũng tụ tập ở nhà bác phó may, nghe bác đọc pho "Nhật Nga chiến kỷ". Quân của Nhật Hoàng công hãm thành Phụng Thiên, tiêu diệt hạm đội Nga Hoàng. Thỉnh thoảng bác phó gửi mua ở dưới tỉnh vài tờ báo đăng tin nội chiến bên Tầu. Trương-học-lương bắt cóc Tưởng-giới-Thạch. Phùng-ngọc-Tưởng loạn đả Diêm-tích-Sơn. Tướng Long-Vân chẹn đoàn xe buôn thuốc phiện của Tưởng-kinh-Quốc. Nhiều chuyện lạ. Giọng bác ê a có duyên. Bọn thanh niên say như điếu đổ.


Cũng có dạo, chúng nó rủ nhau sang ông hai Thảo, uống nước chè Quản bạ, ăn bánh khảo đậu, buôn ở dưới tỉnh lên. Ông hai không nói chuyện bên Tầu. Ông kể chuyện ăn chơi đất đế đô, nghe lỏm được. Chuyện cũng vui tai. Nhà bác phó tự nhiên mất khách chơi tối. Việc đó làm bác phó xích mích với ông hai đến gần tháng.


Tình hình buổi tối ở phố Bò Lăn bỗng thay đổi hẳn. Bọn thanh niên chán cái pho Nhật Nga chiến kỷ của bác phó, chán cả chuyện ăn chơi ở đất đế đô của ông hai. Chúng nó kéo đến nhà bà Thuận, ngồi ngắm Hòa cháng bánh, xay bột để gạ chuyện. Có những đêm khuya lắm, mới đánh đóm, lần về.


Ban ngày, thỉnh thoảng, chánh Khâm chống gậy hèo ra chơi phố. Hắn hay vào nhà bác phó may, hay nhà ông hai tạp hóa. Hắn chê nhà bà Thuận nghèo, không có nước chè. Hắn khinh nhà bác Kim giường chiếu bẩn, không có chiếu cạp điều như nhà bác phó.


Từ ngày bọn thanh niên chuyển sang nhà bà Thuận, người trong làng cũng khen Hòa kháu, có duyên, chánh Khâm đâm dễ tính. Đôi khi, tối đến, hắn mò vào nhà bà Thuận. Bà Thuận lật đật quét giường, rải chiếu, chạy sang ông hai, mua sỉ ấm chè về pha nước.


Chánh Khâm ngồi vắt chân giữa giường:


- Được rồi! Tôi vừa uống nước đằng ông hai. Bảo cô Hòa cho vài cái bánh với cút rượu lên đây!


Hắn vừa nhắm bánh, vừa nửa nạc, nửa mỡ, trêu Hòa. Bộ râu cá trê nháy nháy. Cái mũi sần sùi, đỏ ửng như cái mào gà.


- Cô Hòa mưới tám rồi đấy nhỉ? Thế nào! Cô muốn lấy chồng trong làng, tôi đánh tiếng hộ. Cụ chánh xếp cho thì đám nào cũng phải xong.


Bà Thuận đỡ lời:


- Bẩm cụ! Nhà nghèo lắm. Cháu cũng còn vụng dại, có nhớn không có khôn.


Dẫy phố đâm vui, không như trước, mới chập tối, các nhà đã cài chặt then cửa.


Trong bọn thanh niên hay ra phố, có Mại, người dưới xuôi, làm con nuôi tròng làng đã lâu lắm. Mạc trạc độ ngoài hai mươi, da ngăm ngăm, mắt đen láy, mũi dọc dừa. Quanh năm, Mại chỉ mặc cái áo cánh nâu, chật găng ngực, cái quần bó lấy đùi. Năm lên sáu, Mại bị mẹ mìn dỗ lên đây, bán cho một người hiém hoi trong thôn. Bà mẹ nuôi chết đã lâu. Từ đấy, Mại đi làm mướn quanh mấy thôn. Tối về, đặt lưng lên chiếc giường tre, đánh một giấc đến sáng. Sáng sớm hôm sau, Mại lại đến nhà chánh Khâm, lý Tạo, hay một nhà nhiều ruộng, nhiều trâu nào, làm cho đến xẩm tối. Cuộc đời Mại trầm lặng như cái túp nhà lụp sụp ở cửa rừng của Mại.


Người mấy thôn đều mến nết Mại, hiền lành, chịu khó. Túng thiếu quanh năm, nhưng hễ kiếm được vài bát gạo, thấy ai đói khổ hơn là sẻ cho ngay. Nhiều lần, hôm sau không có việc, Mại phải nhịn xuông. Thấy thế, người cho Mại tàng tàng, cám hấp. Nhất chánh Khâm là hay chửi Mại:


- Mẹ bố thằng dở người! Có bát gạo cũng không biết giữ mà ăn!


Những ngày trong thôn khong sẵn việc, Mại ra phố. Ra đấy, cũng sẵn cơm ăn, việc làm. Hết bác phó may mượn giọi cái bếp, chống cái cột nhà, lại đến ông hai thuê làm cỏ sắn, bác Kim nhờ xay thúng lúa. Bà Thuận chả có việc gì mượn Mại. Nhưng ra đến phố là Mại vào đấy trước. Thường thì mại đỡ tay Hòa xay cối bột, xong ăn chiếc bánh rồi mới đến các nhà khác. Bà Thuận yêu nết Mại. Hòa cũng thích nói chuyện với Mại. Chuyện Mại rủ rỉ, rù rì, nhưng hồn nhiên, chân thật.


Đôi khi bà Thuận nhìn Mại, nói đùa:


- Anh Mại lấy vợ đi cho chúng tôi ăn trầu mấy chứ? Hai mốt, hai hai tuổi đầu rồi, cứ ở một mình ở cái nhà chống thiên, chống địa ấy mãi à?


Mại ậm ừ:


- Cháu túng lắm... Chả ai lấy đâu...


- Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo, úp vung méo, nghèo thì ta lại lấy nghèo, lo gì.


Mại thần mặt, cúi xuống nhìn cái quần bạc mầu, hai ống chân cháy nắng... Mại lặng ngắt. Bà Thuận băn khoăn đã làm cho Mại phải nghĩ đến phận mình. Bà vội lảng sang chuyện khác:


- Anh Mại không vỡ đám gò Trám ấy mà làm?


Mại thẫn thờ:


- Có lương ăn đâu mà vỡ?


*


*           *


Đến mấy tối liền, Mại ra nhà bà Thuận, xay bột hộ, rồi ngồi cạnh bếp, nhấm chiếc bánh Hòa đưa cho. Một bận, đang ngồi ăn, bọn thanh niên kéo vào. Thấy Mại, chúng nó nhìn hau háu:


- Đéo mẹ thằng Mại! Cũng ra đây ăn bánh kia à? Lắm tiền nhỉ?


Mại sầm mặt:


- Túng mà chả có lấy một chinh, ăn cái bánh à?


Rồi Mại vỗ vài túi:


- Còn khối đây này! Ăn mấy cái nữa, cũng có tiền!


Một thằng hầm hầm, xông đến trước mặt Mại. Mại lẳng lặng đứng dậy, đút miếng bánh vào túi, bước ra cửa. Từ cái chuyến xuýt bị ăn đòn với thằng cháu chánh Khâm, Mại ít ra phố. Có ra, nhìn trước, nhìn sau, không thấy ai, Mại mới dám vào nhà. Hế thấy tiếng chúng nó, Mại vội vàng lỏn ra cửa sau, đi về. Hòa ngước mắt nhìn theo.


Giữa lúc hàng bánh đa, bán đang vui hàng thì dẫy phố xẩy ra mấy chuyện.


Chuyện thứ nhất là bác phó may bàn với vợ, sang hỏi Hòa làm vợ lẽ. Bác dỗ ngọt:


- Nhờ giời, nhà mình làm ăn cũng dư dật. Bầm nó đứng tuổi rồi, cho tôi làm tí lẽ mọn cho nó vui nhà... Cả sông đông chợ...


Bác chưa nói hết câu, mụ vợ đã lăn kềnh ra đất, lu loa khóc. Bác gái kể lể đầu cua tai nheo, lúc nghèo khó thì có vợ, có chồng, lúc mát mặt một tí đã phụ tình, bạc ngãi. Bác phó bực lắm. Bác vào trong buồng, làu bàu chửi. Tối hôm ấy, bác lỏn sang nhà ông hai tạp hóa, thì thầm, nhớ đánh tiếng hộ.


Câu chuyện bác phó may muốn hỏi Hòa, làm bác Kim nhớ đến cảnh mình. Vợ bác chết đã đoạn tang, được mụn con gái cũng vừa chạy đậu chết nốt. Một buổi tối, bác nháy ông hai sang chơi. Bác kể cảnh nhà neo bấn, rồi bác ngỏ ý nhờ ông hai làm mối Hòa cho bác:


- Nhà em chẳng được phong lưu như bên ông phó, nhưng chồng một vợ một, không phải lấy lờ lấy lẽ ai... Em là người quý vợ, quý con... Không rẻ người như vợ chồng ông phó...


Ông hai Thảo sang ngỏ lời cho cả hai bên. Mẹ con bà Thuận từ chối cả. Bác phó may keo bẩn, gần bốn mươi tuổi đầu rồi. Bác Kim cũng trạc tuổi bác phó. Hồi còn mồ ma bác gái, ba chén rượu vào, bác đánh vợ, nhiều phen thừa sống thiếu chết.


Câu chuyện bác Kim nói xấu, đến tai vợ chồng bác phó may. Vợ đay nghiến chồng. Chồng điên tiết, túm tóc vợ, lôi vào buồng, đánh. Bác phó gái, vặc nhau với bác Kim:


- Sao lại có đứa thối mồm thế chứ? Chồng bà cướp vợ, cướp con của đứa nào mà nó phải trõ mồm vào! Đấy! Có giỏi thì cứ lấy đi! Bà sợ chả cắn gấu váy được người ta thôi!


Bác Kim lấy chai rượu nốc luôn một hơi, rồi mở toang cửa, nhìn sang nhà bác phó, chửi bâng quơ lại.


Vợ chồng ông hai tạp hóa, dàn xếp mãi mới êm. Câu chuyện hai đám "già con chưa trót đời", vừa dìu dịu, lại đến chuyện chánh Khâm. Hắn cho mời bà Thuận vào nhà, nói thẳng muốn lấy Hòa làm vợ ba. Bà Thuận vã mồ hôi. Hòa chỉ đáng tuổi cháu nội hắn. Gả thế sao đành? Bà cũng chưa quên cái tích chánh Khâm bắt ông Thuận bỏ xác tận trên Bắc Mục. Mà không gả thì khó mà đậu ở cái phố Bò Lăn với hắn. Cân nhắc mãi, cuối cùng bà Thuận phải lựa lời xin khất vài ba năm, đợi Hòa khôn lớn.


Những việc xẩy ra ở phố, ở nhà chánh Khâm, làm Hòa nghĩ ngợi. Con nhà quê, tuổi Hòa là tuổi có chồng. Mắn ra, có con bồng rồi cũng nên. Nhưng lúc ấy, Hòa chưa nghĩ đến chuyện ấy. Rồi đây, Hòa sẽ lấy chồng. Song chồng Hòa, nhất định không phải lão chánh Khâm mũi đỏ, vừa nói vừa ho, bác phó may keo kiệt, hoặc bác Kim, nát rượu. Hòa thoáng nghĩ đến Mại.


Thôn Bò Lăn và mấy thôn gần đấy, đều biết những chuyện vừa xẩy ra ở ngoài phố. Họ bàn tán:


- Đến cụ chánh Khâm hỏi, cũng không gả, chắc lại nhấp nháy đám nào rồi.


- Bác phó may, bác Kim, người hàng tổng, cũng không xong, hay là... hay là cu Mại?


- Ờ, dạo này thấy cu Mại thì thọt ra ngoài ấy luôn.


Dạo ấy, chả mấy tối Mại không ra nhà Hòa. Xay hộ cối bột, ngồi xem Hòa cháng bánh, ăn cái bánh rồi về. Câu chuyện, bàn ngoài giữa Hòa và Mại làm mọi người ngờ vực. Chuyện đến tai Mại. Mại không để ý. Chả bao giờ Mại dám nghĩ đến chuyện lấy tranh vợ chánh Khâm.


Một hôm chánh Khâm cho người gọi Mại đến làm vài buổi. Mại bị sốt hôm trước, không đi. Một lát, Mại ra nhà bà Thuận, vui tay ngồi xuống xay cối bột. Xay chưa xong đấu gạo, chánh Khâm bất chợt đi vào. Thấy Mại ở đấy, hắn trợn mắt, xông đến túm tóc Mại, quật xuống đất. Sẵn gậy hèo, hắn vụt vô hồi kỳ trận.


- Mẹ bố mày! Ông bảo đến làm, dám nói dối là ốm!


Mại quằn quại dưới dất, mắt nhìn chòng chọc vào chánh Khâm. Hòa đứng dựa vào vách, run rẩy nhìn Mại. Chánh Khâm đưa mắt nhìn Hòa:


- Giỏi thật! Dám trêu gan ông!


Chánh Khâm hầm hầm đi ra. Mại oằn oại ngồi dậy, tập tễnh về nhà. Bà Thuận, Hòa, nhìn theo thở dài. Bất giác bà Thuận nhớ đến chồng. Hồi bà còn con gái, lão phó lý ở làng hỏi bà làm lẽ. Bà không lấy. Đến khi lấy ông Thuận, hắn kiếm chuyện, đánh ông Thuận một trận cũng như thế này.


Sau trận đòn ấy, đến mươi hôm, Mại không ra đến phố. Một hôm bà Thuận bảo con:


- Lâu lâu chả thấy Mại nó ra nhỉ? Chắc nó lại bận làm cho cụ chánh.


Hòa thẫn thờ:


- Hôm nọ cụ chánh cụ ấy đánh, có nhẽ anh ấy không dám ra nữa.


- Tội nghiệp! Hôm ấy nó bị đánh đau quá.


Đến quá trưa, Mại thất thểu, chống gậy lẩn ra. Mặt Mại quắt lại, mắt trũng xuống. Bộ quần áo nâu bạc, rộng hẳn ra. Hòa đăm đăm nhìn Mại. Bà Thuận hỏi khẽ:


- Ốm đau thế nào, mà còn có nửa người thế?


Giọng Mại run run:


- Cháu ốm suốt từ hôm cụ chánh đánh ở đây đấy.


Bà Thuận đưa bánh, Mại lắc đầu:


- Cháu không đói... Nằm mãi buồn quá, cố lần ra chơi một nhát rồi về...


- Ở đây ăn cơm chiều vậy.


- Tí nữa cháu về... Ở đây nhỡ cụ chánh...


Hòa nói nhỏ:


- Anh Mại ăn bánh đi!... Bánh vừa nướng đấy...


Đôi mắt phờ phạc, ngước lên nhìn Hòa. Vừa lúc ấy, chánh Khâm đi qua cửa. Thấy Mại, hắn hầm hầm bước vào:


- Mẹ cha chúng bay! Lại muốn trêu gan ông à?


Hắn xoắn ngực áo Mại, dằn xuống đất chận chân lên cổ. Trận đòn này không thấm trận trước. Hắn vừa thúc mấy gậy vào ngực, Mại đã hộc máu, mắt trợn ngược. Mại lúng búng trong miệng như muốn rít lên. Hai hàm răng Mại nghiến chặt, mắt chừng chừng nhìn theo bóng chánh Khâm đi sang nhà bác phó may.


Đến lúc ấy, mẹ con Hòa mới dám khênh Mại lên giường. Mắt Hòa rơm rớm nước mắt. Xẩm tối Mại lần ra đường cái, lê đi. Đầu Mại gập xuống ngực, hai tay chống ra đằng sau, đầu gối dô lên cao hơn đầu. Lê được vài bước, Mại ngoảnh lại nhìn. Đôi mắt đờ đẫn, đôi lúc như muốn quắc lên. Lâu lắm Mại mới lên hét con đường mòn. Bóng Mại rẽ vào cánh rừng già, khuất trong bóng tối.


Lần này cũng đến mười mấy hôm, không thấy Mại rap phố. Hôm người hàng xóm ra mua bánh, bà Thuận hỏi nhỏ:


- Anh Mại khỏe chưa, mà chả thấy ra phố chơi ?


- Khỏe gì nữa! Chết tối hôm kia rồi!


Bà Thuận thở dài. Hòa ngừng tay xay bột. Hòa chớp chớp mắt, tay run run để lên tay cối. Xẩm tối hôm nào, Hòa còn trông thấy Mại. Mại chống tay ra đằng sau, lê từng bước... từng bước...


 


Nguồn: Hai suất sưu. Tập truyện ngắn của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn Nghệ, Hà Nội, 1956. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm huyền sử - Triệu Văn Đồi 09.06.2019
G. - Võ Đình 05.06.2019
Đêm cỏ tuyết - Kiệt Tấn 05.06.2019
Cô gái làm ren Nachia/ Pautopsky ở Trà My - Konstantin Georgiyevich Paustovsky 01.06.2019
Kẻ ở nhờ - Phạm Thanh Khương 01.06.2019
Truyền thuyết về Quán Tiên - Xuân Thiều 16.05.2019
Sau lưng là rừng thẳm - Hoàng Hiền 20.04.2019
Khai bút - Vũ Thư Hiên 09.02.2019
Bóng người dưới trăng - Nguyễn Luân 25.01.2019
Khói hoàng hôn - Tống Phú Sa 25.01.2019
xem thêm »