tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28226569
Tiểu thuyết
30.10.2014
Đỗ Quang Tiến
Làng tề

4


Gà gáy giục.


Tự choàng dậy giữa lúc vừa ngủ thiếp đi. Có lẽ mới chỉ rập bã trầu. Tự bải hoải ngồi lên. Mắt Tự bỗng đổ hào quang. Gian đầu chái quay lông lốc, giường dựng ngược, đầu trúc xuống, người chơi vơi giữa khoảng không. Cái cảm giác bàng hoàng lúc nửa đêm vẫn ám ảnh Tự. Tự lại nằm xuống.


Tiếng gà gáy rời rạc lay động các ngõ xóm. Xóm Giếng lặng đi suốt một đêm, bây giời mới xào xạc lên một chút. Tiếng vo gạo, tiếng rít thuốc, tiếng ho khúc khắc quẩn vào nhau, bừng lên một sức sống quằn quại giữa vầng ánh sáng tù mờ còn đang giá lạnh.


Tự gượng dậy, đi lại bên cửa sổ, chống mảnh liếp lên. Một cơn gió ẩm ướt sương đêm ùa vào, phả bên người. Cơn nóng dịu đi. Tự áp mặt vào song cửa nhìn ra sân.


Ngoài sân, bóng tối còn rớt lại đang nhợt đi. Màu đen sẫm đã biến thành màu xám chì. Bóng rặng rào cúc tần viền một đường xanh đậm khiến mảnh sân càng hẹp lại. Đám bèo tấm màu hoa lý và những cánh hoa súng tím nhạt trên mặt ao trông rõ dần.


Cụ Chữ thức giấc từ lúc còn tối đất. Cụ đang ngồi trên phản, chuốt mấy sợi lạt mây, cạp nốt cái vành rá. Ánh sáng vẩn đục ở khung cửa, hắt vào khuôn mặt xương xương, bóng tối còn động ở hốc má và tròng mắt. Gian nhà yên lặng. Tiếng lưỡi dao siết lên sợi mây ken két.


Bà cụ Chữ đi xuống bếp. Lưng bà cụ lòm khòm, xương vai nhô lên, hai cánh tay cứng quèo rơi thõng bên người, bước chân êm nhẹ. Đến trước cửa sổ, ngỡ Tự còn ngủ, bà cụ cất tiếng gọi:


- Tự ơi Tự!


- Dạ - Tự giật mình vội đáp.


Bà cụ Chữ không ngờ Tự đang đứng ở cửa sổ, cũng giật nẩy người, đứng sững lại. Bà cụ ngước cặp mắt xùm sụp nhìn con gái. Dường như bà cụ định bảo Tự cái gì, nhưng trong lúc thoảng thốt, lại quên khuấy đi. Giây phút sau, bà cụ mới chợt nhớ ra:


- À ... Tự này! Sáng nay, đi cuốc góc ruộng, lúc về, nhớ vơ lấy ít gốc rạ đem về mà đun.


- Vâng.


Bà cụ Chữ bước đi, bước chân vẫn nhẹ bỗng. Bà cụ đã đi khuất. Nhưng cái bóng dáng lạnh lẽo vẫn chập chờn trước Mắt Tự. Bỗng dưng Tự cảm thấy sờ sợ.


Trời hửng sáng. Đàn chim sẻ nỏ mồm vừa đập cánh vừa kêu lách chách ầm ĩ trên đọt cau. Con gà mái đi ở trong chuồng, nhảy xuống sân và cục cục... gọi đàn con. Đàn gà con kêu chiêm chiếp, xoã cánh bay lả tả theo. Rồi chúng chen nhau rúc vào cánh mẹ, thò cái mỏ vàng ngà và hai chấm mắt đen bóng nhìn ra. Mảnh sân trở nên đầm ấm.


Tự cắp rá gạo đi ra cầu ao.


Bóng Tự rọi xuống mặt ao phẳng lặng và trong xanh. Qua một đêm mất ngủ, một đêm lo lắng, nhìn bóng nước. Tự có ấn tượng khuôn mặt mình khác đi nhiều: Mắt quầng thâm, má hóp vào, lưỡng quyền gồ lên. Tự rùng mình. Mới có một đêm! Đêm mai, đêm kia, những đêm sau này nữa, gương mặt Tự sẽ thay đổi đến thế nào? Thầy u Tự, hàng xóm láng giềng trông thấy chắc sẽ nghi ngờ. Lại còn thằng Lý Mực! Mắt hắn như mắt vọ. Khắc ý một tí, hắn hiểu ngay. Tự gai gai khắp người.


Bất giác Tự khoả tay xuống nước. Mặt nước xáo động, trong chớp mắt, xoá nhoà bóng Tự. Nhưng giây lát sau, mặt nước trở lại phẳng lặng và khuôn mặt Tự lại in xuống. Vẫn khuôn mặt gầy võ, đờ đẫn vừa nãy. Tự dúng vội vá gạo xuống nước, xát.


- Sao độn ít khoai thế?


Tự thẳng thốt ngoảnh lại. Bà cụ Chữ đang cầm chiếc quang, đứng ở bờ ao từ lúc nào. Tự không đáp, cúi xuống vo.


- Sao độn ít khoai thế? - Bàcụ Chữ hỏi lại. - Đầu mùa mà còn được có dăm thúng thóc, ăn như thế mấy lúc mà hết?


Tự đáp li nhí trong miệng:


- Ngày mùa cũng phải ăn một vài bữa....


Tự chưa nói hết câu, bà cụ Chữ đã đi vào, vừa đi vừa ca cẩm:


- Giời đất này, sợ lại chả được như cái tao đói ngã người ấy à?


Tự cắp rá gạo đi vào bếp, nhóm lửa, đặt nồi cơm. Gốc rạ ẩm cháy xèo xèo. Từng cuộn khói đặc quánh toả ra gian bếp. Gian bếp bỗng chốc ấm sực hơi lửa và mùi khói cay xè.


Nồi cơm bắt đầu sôi lạch xạch. Tâm trí Tự vẫn để ở ngoài bụi tre. Khắc có đỡ đau không? Nắp hầm che có cẩn thận không? Xung quanh bụi tre có dấu vết gì khả nghi không? Bất giác tự đưa mắt nhìn ra sau nhà. Bỗng Tự rụt vội chân lại. Ngọn lửa đã bò ra cửa bếp, cạnh chân Tự. Tự vừa đẩy nắm rạ vừa ngó lên nhà trên. Cụ Chữ đang lúi húi cạp rá, cặp kính bầu dục trễ xuống mũi. Bà cụ Chữ đang buộc lại cái óc quang để lát nữa gồng gánh đi chợ. Có lẽ không ai để ý đến Tự. Tự yên tâm quay lại nhìn vẩn vơ ngọn lửa rạ khói um đang liếm quanh sườn nồi.


Nồi cơm đã rỗ tổ ong. Tự nhổm lên, ghế xốc, Chợt bà cụ Chữ đi vào bếp, nhìn quanh quất:


- Cái vò đâu hở Tự?


- Vò nào ạ?


- Cái vò vẫn đựng ngô, đựng đỗ ấy? Cả nhà có mỗi cái ấy chứ còn cái nào nữa?


Chết rồi! Cái vò đang đựng nước uống cho Khắc, ở dưới hầm. Tự sực nhớ ra và tim Tự đập mạnh.


- U tìm .... tìm ở đâu đấy.


- Cái vò vẫn để ở đây, còn tìm ở đâu nữa? Cái bếp choèn choèn bằng vũng trâu đái, chứ năm gian bảy gian gì mà lấp liếm đi mất. Bà cụ Chữ có vẻ bực.


Thấy mẹ sắp sửa dây cà ra dây muống như một lần, Tự ấp úng:


- À chết quên... con cho chị ấy mượn rồi.


- Cho ai mượn?


- Chị...chị ở xóm Đình...


- Đi đòi về đây cho tao! Nhát nữa đi chợ đong mấy ống ngô, lấy gì mà đựng? Giá không cần đến, bà con túng nhỡ ai mượn thì mượn, chứ giữ làm gì. Giọng bà cụ Chữ tự nhiên dịu đi.


Tự mừng thầm, ầm ừ cho qua chuyện.


- Vâng. U đi chợ Bình - lâm đấy à?


- Ờ


Dứt lời, bà cụ Chữ quay lên nhà trên.


Vần nồi cơm xong Tự đứng ở cửa bếp trông ra sau vườn. Một lát, Tự bồn chồn đứng không yên. Tự bước ra và ngồi xuống cạnh luống cải, vờ bắt sâu. Bụi tre chỉ cách mảnh vườn độ vài chục bước chân.Tự liếc mắt nhìn. Bụi tre nghiêng ngả, cành lá rủ xuống, ngăn tầm mắt Tự. Tự càng bứt dứt. Bất giác Tự đứng dậy lắng lặng lần ra bụi tre.


Trời tắt gió từ lúc sáng rõ mặt trời. Luỹ tre đứng yên, lá xoã xuống như người con gái đang hong tóc. Sương óng ánh đọng trên cành lá. Nắp hầm đây kia! Đám lá khô ướt sũng phủ trên nắp hầm không khác đám lá khô rải rác ở chân luỹ. Tự đi vòng một lượt. Không có một dấu vết nào lạ mắt. Tự yên bụng toan quay vào. Bất thần có tiếng hỏi.


- Chị Tự làm gì đấy?


Tự quay ngoắt lại. Vá, con lý Mực, làm dõng trong làng, dang đút tay vào túi quân, lừ lừ đi tới như con đom đóm đực.


- Anh Vá đấy à? à, tôi đang xem có còn ít đất nào gieo thêm nắm cải.


Vá tủm tỉm, cặp mắt một mí díp lại như con gà sống cưỡng đang vươn cổ gáy:


- Gieo làm gì cho mất công. Nhà tôi ối cải con ra đấy, mồng giồng, lại mà nhổ. Hai nhà như một, việc cái gì.


Tự lộn ruột. Nhưng thấy Vá không để ý, Tự mừng trong bụng. Tự đánh trống lảng, cất tiếng gọi:


- Ông Điền ơi! Bên ông còn hạt cải củ cho cháu một ít?


Có tiếng đáp ở túp nhà gần đấyvọng ra:


- Ấy, còn một rúm, hôm nọ tôi đưa cả cho chị rồi thôi.


Tự luống cuống. Vá đã đi ra đến đầu ngõ. Tự vội vã quay vào bếp.


Nồi cơm đã chín nục. Tự nhìn lên trên nhà. Cụ Chữ đang kẹp con dao rựa vào nách, mím môi mím lợi pha thanh tre. Đôi cánh tay cháy nắng, gân xanh nổi cuồn cuộn, khẽ rung rung khiến hai cánh tay áo ảo rách xoã lên đến khuỷu, vật đi vật lại. Bà cụ Chữ ngồi sâu mấy cái rá buộc làm một. Nét mặt bà cụ vẫn vậy. Thẫn thờ, buồn lo, mi mắt buông sụp dường như lúc nào cũng đang lắng nghe các tiếng động xung quanh. và bà cụ chỉ chờ một tiếng động mạnh là giật mình. Đôi vợ chồng già vẫn mỗi người một việc và không ai nói một câu.


Tự vội vàng mở vung nồi cơm, xới mấy đũa đầy ắp vào cái mo cau, gói lại để lên nóc trạn.


- Cơm chín chưa hở Tự? Bà cụ chữ vừa hỏi vừa phủi quần đứng dậy.


- Chín rồi ạ - Tự đáp, tay đánh tung nồi cơm cho mất dấu xới.


- Dọn ra cho u ăn quàng một miếng còn đi chợ không muộn rồi!


Cụ Chữ ngừng tay, rót chén nước chè nóng bỏng đưa lên mắt xông, đoạn nhấp từng hớp. Rồi cụ lủng bủng:


- Chợ với búa. Lâu lắm, phiên vừa rồi mới lại đi chợ Bình - lâm. Thật chán ốm! Lúc nào cũng như sắp vỡ chợ. Lính trên bốt kéo ra, lông nhông như đàn chó dái. Vừa mua vừa ăn cướp; thấy con gái thì xông vào bóp vú. Quá lính khố đỏ đến hội Cát - ló ngày xưa. Con Tự, là cứ cấm chỉ không cho nó đi chợ!


Bà cụ Chữ hạ giọng:


- Ôi dà! Đồ lính tráng thì đứa nào chả thế?


Cụ Chữ nhìn vợ, đôi mắt teo lấp loáng sau cặp kính lão:


- Lính thì cũng năm bảy đường lính chứ! Thằng Nghĩa nhà này, thằng Thuỷ bên kia, thằng Quân, chồng cái Gấm với những đứa cùng đi bộ đội cái sấp ấy, dễ chúng nó cũng thế à? Có những quân mất mả, đi bám khố mấy thằng Tây kiếm miếng ăn mới đểu cáng thế chứ.


Bà cụ Chữ chắp tay vái:


- Thôi tôi van ông! Hơi một tí là ông lại giở chuyện con cà con kê ra.


Tự ở dưới bếp, nói với lên:


- Mời thầy u xuống ăn cơm chả nguội!


Cụ Chữ tháo kính để ra giường, thủng thẳng đứng lên. Bà cụ đận đà ném miếng bã trầu vào xó nhà. Hình như đôi vợ chồng già đã lại quên khuấy câu chuyện vừa rồi; họ lặng lẽ đi xuống bếp.


Tự đang xắp mâm bát bỗng đứng vụt dậy, với cái cuốc treo trên vách bếp, đi ra sân. Bà cụ Chữ lấy làm lạ, hỏi:


- Không ăn cơm lại đi đâu đấy?


- Con đi cuốc gốc ruộng.


- Ăn cho xong bữa rồi hãy đi có được không?


- Thầy u ăn trước đi, con chưa đói.


Tự xăm xăm đi ra cổng. Bà cụ Chữ ngước mặt nhìn theo. Đôi mắt dăn deo chớp luôn mấy cái. Dường như bà cụ có vẻ băn khoăn vì cái cử chỉ khác lạ của đứa con gái. Bà cụ lầm bầm:


- Việc gì mà phải tất tưởi thế chả biết!


Cụ Chữ giục:


- Thôi bà ăn quàng đi, còn đi chợ.


Bà cụ nín lặng, mắt vẫn ngó ra cổng.


Ra đến rặng rào, Tự liếng nhìn chỗ Khắc ngồi đêm qua. Không có vết máu. Tự thủng thỉnh bước theo bờ ruộng ra bờ đê. Cũng không có một vết máu. Tự đang vừa đi vừa chăm chú nhìn xuống đất, chợt có tiếng nói lao xao trước mặt. Tự ngẩng vội lên. Một đám người đang đứng lố nhố ở chân đê. Ai như đội Tế, lý Mực và mấy tên lính bốt! Tự toan quay lại nhưng chúng nó đã nom thấy Tự rồi. Tự bối rối, cái cuốc trên vai suýt rơi xuống đất. Đám ruộng nhà Tự cấy rẽ, ở gần đấy. Tự mừng thầm rảo bước đi thẳng ra ruộng.


Đội Tế nhíu mắt dòm ngõ Tự. Tự nhìn lảng ra chỗ khác, vung tay cuốc. Vừa cuốc, Tự vừa có ấn tượng đội Tế vẫn nhìn mình chòng chọc. Bất giác tay Tự run run. Dân làng Phượng - lâu và mấy làng tề ven hà, không một ai không nhẵn mặt đội Tế. Vóc dáng hắn vạm vỡ, lẳn chắc như con trâu dái; khuôn mặt thô, lông mày rậm, mắt sâu, mũi to, môi hếch, để lộ mấy chiếc răng cửa bịt vàng khói thuốc ám vàng khè. Mỗi lúc nhìn ai, hàm hắn bạnh ra, vết chàm ở gò má sẫm lại, tia mắt sắc và gọn xoáy sâu vào mắt người đó.


Tự liếc mắt ngó trộm đội Tế. Hắng đang nhìnTự thật. Tia mắt hắn hau háu, cặp lông mày rậm xít vào nhau, bộ râu con kiến cứng ngắc. Hai bên bả vai Tự lạnh buốt.


Đằng kia, đội Tế hất hàm hỏi lý Mực:


- Con bé nào thế?


Lý Mực xoay tay:


-Dạ, nó là cái Tự, con lão Chữ, nhà ở đầu xóm này.


Đội Tế cau trán:


- Ở cái nhà ngay đây đi đến phải không? Nó có thằng anh đi bộ đội Việt - minh chứ gì?


- Đúng đấy ạ! Nó là em thằng Nghĩa.


Tiếng cuốc bổ xuống góc ruộng bình bịch. Tự vẫn nghe rõ mấy tiếng: Chữ, Nghĩa, bộ đội Việt - minh... Tự nghĩ thầm; đúng chúng nó đang nói chuyện nhà mình! Nhát cuốc đột nhiên bập bỗng. Có nhát không thật tay, dội lại làm cánh tay Tự tê dại.


Tia nắng non ở chân dãy núi phía xa hửng lên, ngả dài trên mặt sông. Qua một đêm gió rét căm căm, dòng sông dường như tê cóng đi; bây giờ nắng dãi, dòng sông mới lại lừ lừ trôi. Sương bắt đầu tan, rắc lất phất như cơn mưa to.


Ánh nắng đã phủ kín cánh đồng và đang hơ ráo gốc rạ. Trong làng, từng tốp, từng tốp kéo ra cày bừa, xếp ải. Có bóng người, cánh đồng vắng lạnh bỗng chốc bốc hơi và nóng ấm.


Ở mảnh ruộng cạnh đấy, hai ông lão đang cúi rạp người kéo cày thay trâu. Tiếng chân giẫm xuống bùn bì bọp và tiếng nói chuyện rì rầm vẳng lại. Đột nhiên Tự cảm thấy đỡ sợ. Nhắc thấy cụ Đẩu, thầy Gấm, Tự liền gợi chuyện cho có người có tiếng:


- Chị Gấm đã đỡ chưa cụ?


Cụ Đẩu đáp trong hơi thở phì phò:


- Đỡ rồi. Gớm, sao đêm qua lại có cơn gió nghiệt ngã thế! Trúng một cái là á thanh ngay. Xoa gừng nước tiểu mãi mới nói được. Nó là còn phải phục thuốc lâu mới lại được người. Sức đàn bà con gái mà chúng nó tra tấn mấy trận...


Ông lão gò lưng đi bên cạnh ra hiệu. Lúc bấy giờ cụ Đẩu mới nhận ra bọn lính ở chân đê. Cụ nói nhỏ:


- Tôi mà không vướng bà cháu với lũ trẻ, tôi ra vùng du kích tôi ở, cụ ạ. Sức tôi còn đào hầm đào hố, vót bàn chông giết chúng nó được. Mẹ cha quân bất nhân! Chúng nó không thọ được đâu. Đấy rồi cụ xem!


Tự trợn, không dám hỏi chuyện nữa.


Ở chân đê, bọn lĩnh vẫn ngồi quanh đống máu ở chân Khắc chảy ra đêm qua, đã khô đen. Đội Tế để tay lên ngang mắt cho khỏi chói nắng, cau mặt nhìn vào làng. Rồi hắn quay lại ngó dọc con đê. Hắn nghiêm mặt hỏi lý Mực:


- Đêm qua trong làng, tuần giò ra sao?


Lý mực bẻ ngón tay, dáng điệu lúng túng:


- Dạ, vẫn cẩn mật như mọi đêm.


- Thế mà không truy ra nó à? Sểnh tôi ra một đêm là hỏng cả.


- Dạ, lúc ông cai Luận đưa mấy ông bảo chính sáng, tôi bắt dõng đi lùng ngay. Ông cai cũng sực kỹ lắm, thế mà không thấy gì cả.


Đội tế "hừ" một tiếng và gằn giọng:


- Cái ông cai Luận thì nói làm đếch gì! Cho ngồi phưỡn bụng ra đánh xóc đĩa, hay quặp con vợ lẽ cả đêm thì được, chứ đêm hôm mà phải đi đâu thì râu ria sun lại, mắt tròn mắt dẹt, sợ như bố chết! Cai với cú, chán bỏ mẹ!


Đội Tế chấm thuốc, rít một hơi đỏ lóc đầu điếu thuốc. Đoạn hắn chỉ vào đống máu, nói tiếp:


- Máu đổ ra thế này là dính đạn rồi. Thằng này chắc là cán bộ ở đâu mới lẻn về, chứ không phải người làng. Người làng, đêm khuya không dám mò ra đây. Ngay lúc ấy, lính trên bốt đi thuyền sang lùng ngay dọc bờ sông không thấy, như thế nhất định nó mò vào làng...


Đội Tế ghé tai lý Mực nói nhỏ. Phút sau, hắn cất giọng:


- Phải truy cho ra thằng này! Ông xếp biết việc này rồi. Không truy cho ra, ông ấy cáu tiết, thế nào cũng có thằng sơi kẹo đồng. Mấy tháng nay, Việt - minh chúng nó đi về vùng này như đi chợ, thế mà chỉ tóm được mỗi một thằng ở nhà thằng Hoạt, lại lớ ngớ thế nào để nó đánh tháo mất. Không làm cho mạnh vào, có lúc chúng nó bê cái bốt, ném xuống sông cho mà xem!


Đội Tế ngừng lại đưa tay bóp má, tia mắt như bốc lửa.


Ở đầu bờ đằng kia, Tự vẫn lắng nghe câu chuyện của bọn chúng. Song nghe không rõ. Tuy vậy, thoáng trông tay đội Tế chỉ chỏ xuống đất, và đôi lúc giọng hắn dằn hắt, Tự hiểu. Vẫn cái việc đêm qua! Cán cuốc ở tay Tự rung lên. Ngực Tự dập dồn dập. Tự cảm thấy nỗi lo sợ hình như đã lộ trên gương mặt. Đứng ở đây lâu, thế nào chúng nó cũng nghi! Tự đưa tay áo lau mồ hôi, cố trấn tĩnh cuốc nốt đám gốc ruộng.


Cuốc xong, Tự đi về. Tự bước thong thả, làm ra vẻ tự nhiên. Chân Tự vẫn ríu vào nhau. Bỗng chốc Tự nghe như có tiếng nói ở đằng sau:


- Quái, sao con bé này lại mò ra đây từ sáng sớm, mới cuốc được mấy nhát đã lại bỏ về?


Tự giật mình. Tiếng ai như tiếng bọn lính? Tự ngoái lại. Không phải. Bọn lính vẫn đang rì rầm nói chuyện riêng.


Điếu thuốc vẫn phập phều ở môi đội tế. Có lẽ không ai chú ý đến Tự.


Tự biết mình thần hồn nát thần tính, nhưng Tự vẫn rảo bước. Trời rét ngọt. Trán Tự sâm sấp mồ hôi.


*


*           *


Ánh nắng đã xỏ vào rặng rào cúc tần. Những tia nắng nhạt chảy trên đám lá cây đã ráo sương. Hơi đất bốc lên, thoảng mùi cúc tần hăng hắc.


Về đến đầu ngõ, Tự đi chậm lại. Tự tần ngần bứt chiếc lá, vò nát. Rồi Tự đi thẳng xuống xóm Đình. Xóm Đình im lìm. Chỉ còn tiếng ru em buồn rượi và tiếng trẻ gắt ngủ khóc ê à. Tự nhìn ngược nhìn xuôi, đoạn rẽ vào cổng nhà Gấm.


Gấm nằm trong buồng. Lúc được tha về, Gấm xanh mướt. Cơn cảm lạnh đêm qua làm gương mặt Gấm tái nhợt đi, cắt không còn hột máu, Gấm đang nằm dán xuống cái ổ rạ, người lọt thỏm trong bộ quần áo, đất cát dính bết. Ánh sáng lờ lờ ngoài cửa sổ hắt vào một bên mặt, bên kia còn phủ bóng tối. ánh sáng và bóng tối tương phản, nét mặt Gấm trông buồn lạnh và đau đớn.


- Chị - Giọng Tự rưng rưng vì xúc động.


Gấm chớp chớp mắt, giây phút sau mới nhận ra Tự:


- Tự đấy à? Ngồi xuống đây, em!


Tự ngồi ghé xuống mép giường.


- Chị gầy quá, bao giờ cho lại được người?


- Em tính chúng nó đánh đập, làm tình làm tội như thế, làm gì chả ốm? Sống sót là may đấy. Chị tưởng đến đi theo chị Học, chứ chả về được đến nhà.


Tự lặng lẽ nhìn Gấm. Lúc đi đường. Tự định bụng sẽ hỏi Gấm chuyện ấy. Nhưng lúc này ngồi cạnh Gấm, Tự lại phân vân, Chuyện ấy chỉ làm Tự hoảng sợ thêm. Biết vậy, nhưng rồi Tự vẫn hỏi Gấm:


- Chúng nó bắt chị lên bốt, rồi chúng nó tra tấn chị à?


Câu nói của Tự bất thần khơi động nỗi uất ức, căm giận trong lòng Gấm. Gấm lặng đi, người lún xuống cái ổ rạ. Một lát, Gấm mới kể đầu đuôi câu chuyện cho Tự nghe.


Gấm bị bắt giữa lúc đi tát nước về. Lên đến bốt, hai tên lính bảo an dẫn Gấm vào một căn buồng rồi quay ra, khoá trái lại. Căn buồng hẹp. Chỉ có một khuôn cửa sổ nhỏ, chấn song sắt to bằng con đỉa trâu ở trên cao. Xẩm tối, một tên lính bảo an đem cơm nước đến. Hắn nhìn Gấm ngồi nép vào xó buồng, đợi chúng nó gọi lên tra hỏi. Những lúc ấy, Gấm sợ lắm. Tuy vậy, cũng có lúc bình tĩnh lại, Gấm không lo sợ nữa. Vào đến đây là cầm chắc cái chết! Nghĩ thế, Gấm gục đầu vào đầu gối, thiu thiu ngủ.


Tối được một lúc, đội Tế khẽ mở cửa bước vào.Nét mặt hắn vừa lạnh nhạt vừa vồn vã.Vẻ vồn vã gượng gạo càng khiến nét mặt hắn lạnh nhạt và hiểm ác. Gấm ngước mắt thoáng nhìn hắn rồi lại gục đầu vào đầu gối.


- Chị là vợ anh Quân phải không? - Đội Tế hỏi với một giọng ôn tồn.


- Vâng.


- Có phải anh ấy đi bộ đội Việt - minh năm bốn bảy, cùng cái lớp anh Thủ, anh Học, anh Nghĩa... không?


- Vâng


- Gần đây, chị nhận được mấy bức thư của anh ấy? Ai đưa thư cho chị? Đêm vừa rồi, có một người lạ mặt đến nhà chị làm gì?


Gấp đáp lí nhí trong miệng:


- Từ ngày chồng tôi đi bộ đội, chúng tôi không dám thư từ gì cho nhau. Cũng không có ai lạ mặt, đêm hôm vào nhà tôi cả. Tuần giờ đi rình rịch cả đêm, nếu có người lạ, ông lý ông ấy đã bắt.


Đội Tế cười nhạt:


- Được rồi! Tôi cho chị nghĩ đêm nay cho chín, sáng mai hãy khai. Khai thật, tôi tha cho về. Nếu nói dối quanh, đừng hòng về với bố với mẹ. Chị còn trẻ, chết làm gì cho nó uổng. Đến con chó còn muốn sống ăn cứt nữa là con người.


Dứt lời, đội Tế quay ra, nét mặt thản nhiên. Cánh cửa buồng giam từ từ khép lại, khép nhẹ như lúc hắn đẩy cửa đi vào. Dáng điệu lời lẽ hắn làm Gấm vừa lo lắng vừa căm tức.


Thật ra, đêm vừa rồi, có một người không biết ở đâu về, lẻn vào nhà đưa cho Gấm bức thư của Quân. Tình cờ lý Mực đi qua cổng, trong thấy. Việt - minh! Hắn đoán chắc thế, nhưng không dám xông vào bắt. Vì đã mấy lần hắn chết hụt. Hắn rón rén đi tìm dõng. Khi dõng đến nơi, người lạ mặt đã biến đi từ lúc nào. Lý Mực nhìn Gấm, tức sủi bong bóng. Hôm sau, Gấm bị bắt.


Nhưng khai thế nào bây giờ? Không nhận, chúng nó tra tấn đến chết. Mà nhận, chúng nó cũng tra tấn đến chết. Ý nghĩa đó dày vò, dằn vặt Gấm như một trận đòn tra lặng lẽ.


Suốt đêm ấy, Gấm không hề chợp mắt.


Trận đòn tra âm thầm kéo dài suốt ngày hôm sau. Đến tối, đội Tế bước vào buồng giam. Hắn nhắc lại câu hỏi tối hôm trước. Gấm không nhận. Tức thì, mắt hắn đỏ như mắt cá chày:


- Mày có khai không?


Gấm ngồi yên. Đội Tế túm tóc Gấm, quật xuống, đấm đá.... Gấm đau quá định đánh liều khai hết. Nhưng rồi Gấm cắn răng gạt được ý nghĩ dại dột ấy đi. Hắn lại đánh, hung dữ hơn lúc đầu: Gấm lại định nhận, rồi lại thôi. Cứ như vậy, cứ như vậy cho đến nửa đêm. Gấm ngất đi. Đến gần sáng, Gấm mới tỉnh lại.


Tối thứ ba, tối thứ tư cũng thế. Đội Tế đánh tới lúc Gấm mê man mới hầm hầm bước ra. Cánh cửa đóng đánh xầm một tiếng, chuyển động căn buồng. Và cũng lại đến gà gáy, Gấm mới hồi.


Bẵn đi mấy đêm. Gấm chưa lại người thì một tối, hai tên lính bảo chính đoàn dẫn Gấm lên buồng tên xếp bốt.


Lúc đó đã nửa đêm. Duật, tên xếp bốt, đang ngồi ngất ngưởng ở giường, bên cạnh chai rượu khai vị. Ánh lửa qua cái chao đèn bằng lụa điều, toả vầng ánh sáng đỏ gắt lên tường. Bốn bức tường, đồ đạc, quần áo, mặt mũi hắn đỏ như nhuộng máu.


Gấm lẩy bẩy ngồi rũ xuống sàn nhà.


Tên xếp bốt không để ý, hay không trông thấy Gấm bước vào không rõ, vẫn làm thinh. Mắt hắn đờ đẫn, mặt bự ra, đầu tóc rối bù. Hắn nâng cốc rượu, hợp từng hớp nhỏ và nhìn ngơ ngác. Đôi lúc, tia mắt hắn dừng lại chỗ Gấm, rồi lừ đừ quay đi chỗ khác, Gấm ngồi yên không dám thở mạnh.


Bỗng chốc tên xếp bốt trố mắt nhìn Gấm chầm chập. Rồi hắn cất tiếng gọi, giọng nhè nhè:


- Lại đây!


Gấm đứng dậy, líu ríu bước lại. Hắn chỉ xuống giường:


- Ngồi xuống đây, em!


Gấm run sợ ngồi thầy lẩy ở mép giường. Tên xếp bốt nhìn Gấm không chớp mắt. Cặp mắt đục ngầu, tia máu đỏ vằn, lúc long lên lúc dại đi. Bất thình lình hắn co chân đạp Gấm lộn nhào xuống đất. Xong, hắn lại rót rượu uống, nét mặt giá băng. Gấm tái mặt, toàn thân run như giẽ. Song Gấm không khỏi ngạc nhiên.


Bỗng tên xếp bốt nhảy xuống đất, chồm lại chỗ Gấm. Gấm hoảng hốt giơ tay che mặt. Trong chớp mắt, Gấm sực nhớ mấy trận đòn của đội Tế. Thêm trận đòn này nữa, chắc chết! Gấm nhắm nghiền mắt.


Một lát sau, Gấm hoàn hồn, hé mắt nhìn. Mắt Gấm bỗng mở to, mở trừng trừng và suýt nữa Gấm kêu thét lên. Quần áo Gấm rách bươm. Nhưng Gấm nhớ rõ vừa rồi, hắn không hề đánh một cái nào và cũng không làm ô uế Gấm. Gấm ngước mắt ngó tên xếp bốt. Hắn đang chống tay vào háng, cặp mắt đỏ ngầu xoáy vào tròng mắt Gấm. Bất giác Gấm hét lên, co quắp người lại. Hắn cười sằng sặc. Bỗng hắn khạc nhổ một bãi xuống đất rồi lầm lì leo lên giường, rót một cốc rượu đổ vào mồm.


Bốn bức tường, bàn ghế, quần áo, mặt mũi tên xếp bốt vẫn đỏ lòm màu máu. Căn buồng động đậy rồi quay đảo trước mặt Gấm. Gấm mê man lại muốn ngất đi.


Tên xếp bốt bần thần nhìn chén rượu, không để ý đến Gấm nữa. Gần sáng, hắn nằm vật ra giường ngủ. Đến lúc ấy, tên lính bảo chính đoàn lúc tối, mới khẽ đẩy cửa bước vào, dẫn Gấm về buồng giam.


Chiều hôm sau, Gấm được tha.


Kể đến đây. Gấm cầm tay Tự, nét mặt vẫn kinh hoảng như vừa chợt tỉnh một giấc mê khủng khiếp. Giấc mê khủng khiếp truyền lây sang Tự. Tự tưởng chừng mình đang ngồi ở căn buồng, ánh đèn đỏ rực và thằng xếp bốt, mặt đỏ tía đang khặc khừ đi lại. Người Tự lạnh toát, máu hai bên thái dương giật mạnh.


Gấm vẫn nắm tay Tự, hai bàn tay cùng giá ngắt.


- Chị kể cho em nghe, em đừng có nói lại với ai. Đến tai dân làng, bà con lại cười chị nhát gan, lúc bấy giờ nó đang say rượu, thế mà không dám cầm cái ghế phang chó nó chết đi.


Tự khẽ đáp:


- Vâng.


Gấm nhìn vơ vẩn lên mái nhà dường như đang nghĩ chuyện gì. Chợt Tự lại hỏi:


- Đội Tế nó đánh chị đau lắm à?


- Nó đánh đau lắm, nhưng thật tình, chị không sợ bằng cái đêm ở buồng thằng xếp bốt. Nhiều lúc, chị tưởng nó là con tinh con ma, chứ không phải là người. Giá nó bắt chị ở đấy một đêm nữa chắc chị đến phát rồ phát dại mất. Bây giờ chị mới ân hận. Giá lúc ấy, bạo tay giết nó đi thì nhiều người đỡ nhục với nó.


- Chị gan thật. Nó đánh thế, mà chị không khai câu nào.


Gấm đưa lưỡi liếm cặp môi xám ngắt rồi chậm rãi đáp:


- Lắm lúc nó đánh đau quá, chị định khai thật. Nhưng mà chị lại nghĩ đến anh Quân, đến các anh bộ đội. Các anh ấy vào sinh ra tử còn chả sợ, nữa là mình mới có một tí thế này. Nghĩ thế, chị lại nghiến răng chịu đòn.


Nước da tái nhợt trên khuôn mặt, bóng tối vẫn còn động lại một bên, phút chốc hừng lên. Cơn kinh hoàng đã qua. Nét mặt Gấm lại điềm tĩnh và phẳng phất vẻ căm thù.


Tự nhìn Gấm đăm đăm. Gấm vốn dút dát, an phận. Thế mà lâm sự, Gấm đã chịu đựng được mấy trận đòn ghê gớm của thằng đội Tế và cái đêm điên loạn của thằng xếp bốt. Thì ra, trong những lúc ghê rợn, đau đớn đến cực độ ấy, bóng dáng người chồng đi bộ đội đã đem lại cho Gấm một niềm tin, một sức chịu đựng bất ngờ. Và Gấm đã vượt qua được bao nhiêu thử thách. Bỗng dưng Tự nhớ đến một anh bộ đội. Khắc!


Ngoài sân, nắng đã hoe đến thềm hè. Có những tia nắng xiên quang khung cửa sổ, soi vào buồng. Gian buồng ẩm lạnh phút chốc nóng ấm lên đôi chút.


Gấm ngủ chập chờn. Tự đứng dậy, bước ra sân. Bóng lý Mực đang lướt ngoài rặng rào. Tự dừng lại, đứng nép vào cánh cổng. Không biết nó có trông thấy không? Tự băn khoăn. Lý Mực vừa đi khuất, Tự rảo bước đi ra đầu ngõ. Bỗng Tự đứng sững lại vừa bực bội với cái cử chỉ sợ sệt quá đáng của mình vừa nãy.


Hình như có tiếng loa. Tiếng loa văng vẳng từ phía xóm Giềng vọng lại. Tự lắng tai. Giọng lão Mẫu ồm ồm nghe không rõ. Loa gì thế không biết? Chắc lại có chuyện gì bất thường, lão Mấu mới phải đi báo giữa lúc dân làng đã ra đồng. Tự bồn chồn bước vội về nhà. Về gần đến ngõ, Tự thấy lão Mấu đang đi trước mặt, cái loa sắt tây lõng thõng bên cạnh người. Lão ta bước nhẩn nha, chân chữ bát, bệ vệ như những lúc tỉnh rượu. Cái dáng điệu bình thản ung dung ấy khiến Tự đỡ lo ngại.


Chợt một người vác cuốc đi đến. Lão Mấu hất hàm hỏi:


- Ông Nho đi đâu đấy?


Người kia đáp:


- Cụ Mấu đấy à? Tôi đi cuốc đám bãi.


- Sáng ngay, không ai được đi đâu đâu. Thôi về nhà làm ấm nước chè xanh rồi tềnh tang cho nó khoẻ.


Tự kinh ngạc. Không biết lão Mấu nói thật hay nói đùa. Tính lão ta hay bông lơn, chất chưởng, không biết thế nào với lão ta cả. Tuy nhiên Tự vẫn lẫn cẫn trong lòng.


 Tự sực nhớ đến những lần dân làng không được ra khỏi cổng, nhà nào ở nhà nấy, để lính bốt sang kiểm soát. Có lần vào buổi sáng; có lần vào buổi trưa; có lần vào buổi tối. Không nhất định vào giờ nào. Những lúc đó, làng Phượng - lâu như nín thở. Trẻ con không dám khóc to. Chó chui tụt vào gầm giường. Tiếng xay lúa, giã gạo ngừng bặt. Đầu xóm, cuối xóm, cơ hồ không còn một tiếng động. Sau đấy, thế nào cũng có người bị bắt đi...


Tự còn đang băn khoăn, bà cụ Chữ đã ở trong ngõ gồng gánh đi ra. Nhác thấy lão Mẫu, bà cụ sịu mặt, đứng sững lại. Ra ngõ, gặp ngay phải quan ôn quan dịch! Bà cụ bực mình, song vẫn phải cười gượng:


Ra ngõ gặp được cụ Mấu, vía nhẹ nhõm, đi chợ tha hồ mà đắt hàng.


Lão Mẫu gãi đầu cười nhạt:


- Vía tối hôm nay nặng bằng cối đá lỗ đấy! Thôi, cụ đi về, phiên khác hãy đi.


- Ôi dà, nói bỡn thế chứ vía van gì. Có mấy cái rá đem bán lấy tiền mua đồng mắm đồng muối, chứ buôn bán gì mà lo hở cụ?


- Vừa có lệnh ông lý, sáng nay không ai được đi đâu cả. Tôi phải ra đồng gọi bà con về đây.


Lão Mẫu rẽ xuống đường đồng, cái loa sắt tây lủng lẳng bên người. Bà cụ Chữ vừa gọi Tự vừa lật đật quay về, đôi quang thúng quẩn vào châ. Tự bước líu ríu. Sáng hôm nay, chúng nó khám xét gì? Hay là... hay là vẫn chuyện ấy? Trống ngực Tự đập thình thịch.


Ngoài đồng, chợt có tiếng loa của lão Mẫu: "Có lệnh ông lý, sáng hôm nay..."


Tiếng loa lảng lên, át tiếng cuốc bậm bạch và tiếng chân lội bì bọp rải trên cánh đồng.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Làng tề. Tiểu thuyết của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn học, 1962. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 18.07.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.07.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 12.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 01.07.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 29.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 28.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
xem thêm »