tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28869560
Truyện ngắn
29.10.2014
Đỗ Quang Tiến
Bát canh rau muống

Nhà mụ chánh Mót, ở làng Ngò, có bè rau muống đến non nửa sào. Xung quanh bè rau, rấp giong chà, gai tua tủa. Cạnh đấy là đám gừng, to bằng mấy chiếc chiếu, lá tốt như lá dong. Giữa sân lố nhố năm, sáu chĩnh tương, đóng cọc treo, chằng dây thép. Mụ bảo nhà mụ trâu bò nhiều, phải rào giậu kỹ, không nhỡ nó chịn vào, lại để vỡ cả.


Mụ chánh nói cũng có nhẽ. Nhưng còn cái nhẽ nữa, mụ chả nói ra, song dân làng cũng biết tỏng ruột gan mụ. Có cái là mụ sợ nhỡ đêm hôm mụ ngủ mê, con chó mực, nằm ở đầu hè, cũng ngủ mê nốt, kẻ trộm nó lỏn vào, bê đi vài chĩnh thì chết. Chỉ có thế thôi. Kể thì mụ cũng lo xa, chứ từ ngày mụ nổi cơ đồ, có đêm nào mụ dám ngủ cho đẫy giấc. Giời rét như cắt ruột, nhà thừa chăn bông bằng thật, mụ cũng không dám đắp. Mụ sợ cái hơi bông nó hút hơi người, ngủ thiếp đi, trộm vào, nó quẳng xuống chuồng trâu cũng chả biết. Cái này, mụ cũng lại suy bụng ta, ra bụng người. Suốt cái làng Ngò, chả mấy người được mát mặt, nhưng có ai lại như mụ? Giầu có là thế, mà vẫn giữ cái tính tắt mắt, từ cái dái mít, đến nắm khoai, nải chuối của dân làng.


Bè rau nhà mụ, tốt nhất làng Ngò. Những ngày không đi thăm đồng, mụ xắn váy quai cồng, lội xuống cái ao cạn, làm cỏ, bón phân cho rau muống. Mụ chăm đám rau còn hơn chăm lúa. Chả thế mùa rét, rau người ta thì rạc đi, còn rau của mụ, lá cứ xanh rờn, ngọn vẫn dài như chiếc đũa. Ai đi qua ao rau, cũng phải khen mụ, làm ăn khá giả, ra ngọn rau nó cũng có khác.


Mụ chăm sóc bè rau, cái đó cũng lại có nhẽ. Con nuôi, người ở nhà mụ, tháng ba mươi ngày thì đúng sáu mươi bữa, chả trệch bữa nào, phải ăn rau muống với ghém muối trường, mặn cháy cổ. Rau muống thì độc một vị nấu canh tương gừng. Muốn nấu cách khác, đổi bữa cho dễ ăn, cũng chả được với mụ. Vì bữa nào mụ cũng ăn rau, mà lại cứ thích mỗi món canh ấy.


Bữa nào cũng nấu canh tương gừng, nhưng bữa nào cũng phải có kiểu cách. Nước thì tha hồ múc ở bể, rau muống cũng tha hồ hái ở ao. Mụ biết thừa là chả ai thèm nhạt mà bảo hái cho nhiều. Duy cái món tương là dứt khoát phải có ngữ. Mụ thường khoe nhà mụ nề nếp, cái gì cũng phải có ngần, có ngữ, chứ chả ăn vung, bỏ vãi như những đứa ăn sổi ở thì được.


Hôm nào cũng vậy, đến lúc làm bữa là một chị con nuôi, mụ tin cẩn nhất, bưng nồi bọng nước ra cạnh chĩnh tương. Lúc ấy, ở trên nhà, mụ mới thong thả bước xuống sân, cởi mấy nút dây thép, nâng cái vung, múc một giuộc bằng cái chén bạch định, khẽ đổ vào nồi. Sau đó, mụ nhìn ngấn tương để nhớ dấu, rồi mới đậy vung, chằng dây thép lại.


Người nhà, chả ai dám bén mảng đến chỗ để tương. Tuy thế, mỗi bận múc tương, mụ lại bắt bóng đè chừng:


- Cha mẹ nó ra! Hôm qua ngấn đến đây, hôm nay đã thụt xuống đến non nửa đốt ngón tay rồi! Bà mà bắt được, bà hà răng, rút lưỡi, chứ chả ăn vụng mà được với bà!


Tương mụ ngả thường ít muối, ít đỗ. Vì vậy nó chua như cứt mèo, khăn khẳn như mùi thối tai. Mỗi lần lấy tương xong, mụ quệt giọt tương rớt trên miệng chĩnh, nhét ngón tay vào mồm, mút chùn chụt. Rồi mụ chẹp chẹp miệng:


- Gớm! Sao lại được mẻ tương cứ ngọt như đường ngậm! Cơm nóng được tí tương này dưới vào, cứ gọi là... thủng nồi, trôi rế. Ăn tương nhà mình quen, giờ mà rớ phải tương của người khác, có nuốt được chán ra đấy.


Biết tính mụ, mụ khen lấy, cứ mặc xác mụ. Thẳng ruột ngựa mà chê một câu như anh con nuôi, hôm nào, là mụ chửi vắt nóc cho ngay:


- Tương thế này mà còn chưa được ngọt à? Muốn ngọt nữa thì có đường... đường! Cha tiên nhân nhà chúng bay! Ăn mày lại còn đòi xôi gấc! Được cái tương này mà hốc, là phúc bảy mươi đời nhà chúng bay rồi, còn làm bộ cái máu bà mãi!


Mụ vẫn chưa hả giận. Mặt mụ vẫn sưng lên như lồn trâu đến tháng đẻ:


- Ở nhà chúng bay, liệu có cái tương này mà đổ vào mồm chưa, hay quanh năm, suốt đời, chỉ độc nước cà đen như cứt chó? Chê với bôi mà bà cứ thấy thùn thụt, hết chĩnh nhớn, đến chĩnh nhỏ, tí tương cặn cũng chả còn... Tiếc tài đói rã họng ra rồi, mà vẫn cứ kênh kiệu...


Từ chuyến ấy, chả ai dám ngay bụng, chê tương mụ thối, chê tương mụ chua. Tương nó khinh khỉnh, chua loen loét, nhưng nấu rau với muối trắng, ăn cũng dẳng. Có tí tương, ngọn rau nó vẫn mềm, dễ nuốt. Biết thóp thế, mụ càng bắt chẹt. Ăn được giuộc tương của mụ, cũng đau xót ông bà, ông vải, nội ngoại đôi bên.


Có lần nghĩ nhục quá, người làm bảo nhau không thèm ăn tương của mụ, luôn mấy bữa liền. Sượng mặt với hàng xóm láng giềng, mụ ngọt nhạt được vài hôm. Khi món canh tương gừng lại vào nề nếp, mụ vênh mặt lên, sỉ:


- Bà tưởng ăn muối trắng được mãi! Không có tí tương, còn khốn nó như cành rào mắc ở cổ, không thùn thụt hết bát này, đến bát khác được.


Thỉnh thoảng lại như vậy. Miếng ăn là miếng nhục. Biết thế, nhưng kẻ ăn người làm nhà mụ vẫn phải ăn cái miếng nhục cho qua ngày.


Cái cách mụ múc tương nhà chánh Mót, nó cũng có lối. Một hôm chị con nuôi, theo thói phép nhà mụ, bưng nồi bọng nước ra xin tương. Mụ đang bận mặc cả mua lúa non trên nhà. Mụ bảo chị múc lấy. Tưởng mụ đang mải nói chuyện, không để ý, chị múc vội thêm một giuộc nữa. Chị chưa kịp đậy vung thì mụ đã phăm phăm chạy ra chỗ để tương. Mụ quệt vội giọt tương rớt trên miệng chĩnh, đút ngón tay vào mồm mút, rồi đi theo chị vào bếp. Mụ bắt chị chia đôi ngay nồi nước tương, để lại một nửa đến sáng hôm sau.


Mụ rít hai hàm răng, di ngón tay vào trán chị:


- Cha tiên nhân cái đồ ăn vụng! Thảo hèn ngày nào cũng mất dấu! Tưởng bà không có mắt à? Cái lối muốn ăn cho thích khẩu, bà sẽ cho không mày cho thằng cu mới, rồi tha hồ mà ăn sẵn, nằm ngửa!


Mụ bực mình với chị dám lấy những hai giuộc tương thì ít, mà bực với cái lối múc tương thì nhiều. Cái lối múc để rớt tương trên miệng chĩnh, rồi cứ thế đậy vung vào, không quệt vào nồi, là mụ ghét độc, ghét địa.


- Những cái đứa phí của giời, mười đời nhà nó không có. Nhờ giời tao có là vì tao không phí của giời, chứ tao thèm bóc sống, bóc áo của ai, đem về mà làm giầu?


Từ hôm ấy, chị con nuôi kệch. Có muốn cho nhau ăn uống cho đỡ khổ, cũng không dám phá luật lệ nhà mụ. Mà từ lần ấy, bận cách mấy, mụ cũng chả để cho chị lấy tương. Ăn của mụ, lại còn phá tán cơ nghiệp nhà mụ, là không xong với mụ.


*


*           *


Rau muống nấu với giuộc tương chua, ánh gừng nhỏ, tháng này qua tháng khác, năm nọ đến năm kia, ăn mãi cũng ngán. Ngán quá, hóa sợ. Sợ như sợ thần trùng. Thường thường đến bữa ăn, con nuôi, người ở, không ai buồn nhìn bát canh để cạnh đĩa cà. Từ bao nhiêu năm rồi, cái mâm gỗ mộc, sứt một miếng vành, vẫn để ở chỗ đất trũng này. Hai bát canh tương, hai đĩa cà nghẹn nước, vẫn dàn ra bên cái mâm gỗ ấy. Giá có nhắm mắt cũng chả gắp nhầm.


Sáng, rau muống nấu tương gừng. Chiều, tương gừng nấu rau muống. Mọi người uể oải cầm cái môi, chan vỏng bát cơm, và lùa cho xong bữa.


Mỗi bận, ngồi vào mâm, anh ở mùa, vui tính, vui nết, thường chắp tay vái bát canh: "Chúng con cắn rơm, cắn cỏ, lậy ông tương gừng đấy! Chúng con hốt ông quá rồi! Ông buông tha chúng con ra! Theo đuổi nhau mãi thế này, chúng con đến bó chiếu, ba cái lạt cật, lôi ra bãi tha ma mất!".


Mọi người tủm tỉm cười. Những khuôn mặt lạnh lùng, vừa tươi tỉnh được một tí đã xịu ngay lại. Chị con nuôi chêm vào:


- Chúng ta mà ngắc ngoải, có khó chết, cũng chả phải cúng kem cho lôi thôi. Cứ bưng bát canh này, đưa ngang qua mắt là chết thẳng cẳng ra ngay, chả còn dối dăng được nữa.


Mọi người ngừng tay và, lặng lẽ nhìn nhau. Cụ Lềnh, ở nhà mụ Chánh đã mười mấy năm, chống đũa xuống mâm, chép miệng:


- Ta đi ở nhiều nhà rồi. Nhà nào cũng thế thôi. Đằng cụ tiên thì quanh năm trám trắng muối trường. Đằng ông bá thì suốt đời món khoai kho với mắm thối. Nhà ông lý cựu thì bữa nào cũng giềng khô, kho với mắm tôm cặn. Mỗi nhà mỗi món, đâu cũng thế cả...


- Sao không đổi bữa cho nó dễ ăn nhỉ?


- Chuyện! Mình ăn, chứ nhà chủ người ta ăn đâu mà người ta lo?


- Nhà ta, bữa nào cụ chánh cụ ấy cũng ăn, mà không biết ngán nhỉ?


- Người ta còn món nọ, món kia, hết nồi thịt lại đến nồi cá, đầy ăm ắp, như mình ấy!


Thật tình, mụ chánh cũng sợ món canh tương gừng như sợ quan ôn vật. Nhưng bữa nào mụ cũng bắt múc lên cho mụ một bát. Thường thì mụ chả dúng đũa. Nhìn trước nhìn sau, không thấy ai, mụ lỏn ra chuồng lợn, đổ vội bát canh vào máng lợn. Sau đấy, mụ ngồi vào mâm, ăn mới thấy ngon miệng. Họa hoằn lắm mụ mới húp một thìa. Những lúc ấy, mụ sịt soạt, chẹp chẹp miệng ầm nhà, cho nhà dưới nghe.


Mụ nói vọng xuống bếp:


- Rau muống có tí tương gừng, ra ngọt thật. Các cụ ngày xưa, ăn cũng có điều sành. Bữa nào không được bát canh, thịt cá đầy mâm cũng chả nuốt được!


Nhà dưới nghe mãi cũng rờm tai. Mụ biết thừa. Nhưng việc nói, mụ vẫn phải nói.


Mỗi lần có người mới đến ở cho nhà mụ, bữa cơm đầu tiên, bận cách nào, mụ cũng xuống bếp, ngồi vắt vẻo trên chõng:


- Cái món rau muống nấu tương gừng, ăn đã ngon, không ngán, lại khối chất bổ ra đấy nhá. Cụ lang Nhèm cụ ấy bảo nó bổ huyết khu phong, tiêu cơm hạ đờm, còn hay bằng mấy cái lá đùm đũm. Mùa viêm nhiệt, ăn cái canh này là tha hồ không sợ tả tiếc gì nữa. Chả nó có cái chất gừng, giữ được cái nóng ở trong bụng mà lại...


Sợ người ở mới chưa quen cái món canh gia truyền nhà mụ, mụ nghiêm mặt:


- Đấy! Cứ xem nhà chùa đấy! Quanh năm chỉ có mỗi món canh tương gừng, chứ là gì có thịt cá như nhà mình, thế mà sư cụ, sư thầy, tiểu, vãi, cứ béo trắng ra, trông cứ ngồn ngộn, cả đời chả biết mùi thuốc nó thế nào...


- Biết đâu được với nhà chùa?


- Bậy nào! Tu hành thì phải ăn chay trường, chứ ăn mặn muội thế nào được?


Mụ ném miếng bã trầu, lấy tay vòng quanh mép:


- Không biết chúng mày thế nào, chứ tao thì chúa ghét cái món rau muống xào. Rau muống mà phải hơi mỡ, ăn xong nó cứ để trên cổ, đòi ói không chịu được. Rau muống luộc mới lại chán nữa. Ăn cứ nhát đớ ra. Miếng trước miếng sau là lợm giọng lên rồi.


Anh ở mùa tủm tỉm:


- Không biết cụ Lềnh với các bá, các chị thế nào, chứ tôi thì tôi chỉ thích cái anh rau muống xào. Tí mỡ, tí tỏi, tí mắm tôm, thêm tí chanh ớt nữa vào, cứ gọi là... hai bát tô-lô cũng còn thòm thèm.


Môi mụ thưỡi dài, mắt mụ chẹo ra một bên:


- Cái mồm mày thì thuồng luồng, ba ba, cóc nhái, ễnh ương, cái gì mà chả thích! Ăn cứ như thần trùng ấy thì còn biết cái gì đòi ói với lợm giọng. Khỏe ăn mỡ, đến Tết này, bà cho ăn thật thích, xem ăn được mấy rá?


Anh ở mùa toét miệng cười:


- Thế này thì ông tương gừng có để tôi sống làm người, đến Tết này, tôi cũng đến chết với ông mỡ mất. Tết năm ngoái, tôi chết hụt, Tết năm nay, chắc tôi chết thật.


Mụ chánh lặng ngắt. Mặt mũi đuỗn ra, tiu nguỷu như chó phải dùi. Gần Tết năm ngoái, mụ cũng nói như vậy. Nhưng đến ba ngày Tết, ngần ấy kẻ ăn người làm, mụ khoán cho một bát ăn cơm tóp mỡ, với miếng bì lợn, bằng bàn tay, lông tua tủa.


- Tết năm nay, nhờ giời tôi còn sống, nhất định một mình tôi phải được đánh cả bát tóp mỡ, chứ chả như năm ngoái đâu.


Con mụ đứng dậy, vỗ đít quần, nguây nguẩy đi lên nhà trên:


- Làm sao lại có những đứa ăn mỡ như ma xó thế chứ lại... Tao thì cứ nghĩ đến mỡ là tao đã phát sốt lên rồi...


Mụ đi rồi, anh ở mùa nói nhỏ:


- Cứ nói không thích ăn rau muống xào! Hai lần tôi đau bụng, đang cầy phải bỏ về, lần nào tôi cũng bắt gặp cụ ấy xào một bát tô lô rau muống... Dễ xào cho chó nó ăn đấy! Chả thấy đòi ói đâu!


Nghe anh nói, mọi người nửa tin, nửa ngờ. Mụ muốn ăn thì mụ ăn, ai có quyền cấm mụ mà bảo mụ phải nói dối?


Thế rồi ngày ấy, qua ngày khác, đến bữa, chị con nuôi vẫn bưng nồi bọng nước ra xin mụ giuộc tương, nấu canh rau muống. Mụ vẫn sợ rau muống xào, ăn đòi ói, sợ rau muống luộc, ăn nhạt đớ cả mồm. Vợ giống chồng, người ở giống tông chủ nhà. Người ăn, người ở, chả ai muốn giống tông nhà mụ, nhưng vẫn phải ăn cái món canh gia truyền của mụ.


Hai năm sau, mụ chánh Mót cưới đứa con dâu thứ hai về. Cưới được hơn tháng, đứa con dâu thấy bữa nào cũng rau muống nấu canh tương, một buổi tối, nó thủ thỉ với mẹ chồng:


- Bầm ạ! Nhà có mỡ, sáng mai xào rau mà ăn. Ăn canh mãi, ngán lắm.


Mụ bấm nó vào trong buồng, nói khẽ:


- Kẻ ăn, người làm, hàng bấy nhiêu đứa, xào thì biết mấy thìa mỡ cho vừa? Muốn xào thì để lúc nào chúng nó ra đồng, xào lấy một bát mà ăn trước đi.


- Thế thì luộc vậy. Thay đổi đi cho nó dễ ăn.


Mụ trợn mắt, gí ngón tay vào trán đứa con dâu, khẽ rít lên:


- Cha con đẻ ra mẹ mày! Con mẹ mày ăn rở cái gì, đẻ ra mày, mà mày ngu thế? Ngần ấy đứa ăn như tầm ăn rỗi, rau luộc thì chấm mấy bát tương cho đủ? Nhà thì tương hàng chĩnh, để chúng nó chấm muối, ra ngoài chúng nó lại kháo cho à?


Món canh tương gừng vẫn giữ được nề nếp nhà mụ. Một hôm ngày mùa, nhà mụ mượn thêm thợ cấy. Đến lúc làm bữa, đứa con dâu tự tiện múc thêm một giuộc tương nữa cho chị con nuôi. Mụ trông thấy, gọi giật nó vào buồng. Mụ vừa tát, vừa rít lên:


- Bà mua bán mày về, mất tiền trăm bạc chục hẳn hoi, mày đã làm giầu, làm có gì, mà mày dám phá nghiệp nhà bà? Mỗi bữa những hai giuộc tương, phỏng mấy hôm thì hết cả chĩnh?


Đứa con dâu tức, kể xấu mụ với người làm. Nó kể cả cái chuyện rau xào tốn mỡ, rau luộc tốn tương. Mọi người ngã ngửa người. À ra thế! Anh ở trợn mắt:


- Mẹ kiếp! Chả trách người ta làm giầu đùng đùng, còn bà con mình thì suốt đời đi ăn, đi ở.


Cụ Lềnh phều phào, như đọc thuộc lòng:


- Nhà giầu thì nhà nào chả thế!... Đằng cụ tiên, quanh năm trám trắng muối trường... Đằng ông bá, suốt đời món khoai kho với mắm thối... Nhà ông lý cựu, bữa nào thì cũng giềng khô, kho với mắm tôm cặn, mỗi nhà mỗi món...


*


*           *


Làng Ngò rục rịch phát động. Một hôm, đến bữa, anh ở mùa lại chắp tay vái:


- Ông tương gừng! Thôi đấy nhá! Từ giờ nhất định chúng tôi không sợ ông nữa!


Nói xong, anh hất bát canh ra sân, trước mặt con mụ. Con mụ cắn răng, tức nghẹn lên đến cổ. Từ hôm ấy, thỉnh thoảng nó mua cho người làm, mớ tép đòng đong, cân-cấn, đem kho với một rổ sề khế, hoặc ít bạc nhạc trâu, ninh vào cái nồi bọng, trước vẫn nấu canh tương gừng.


Đến bữa ăn, con mụ tươi tỉnh:


- Cứ bảo cá cả, lợn lớn thì ngon, chứ chính cái giống cá nhỏ này, ăn mới ngọt thịt.


Anh ở mùa cười nhạt:


- Cái tính của tôi con khỉ, lại cứ thích cá to. Cá chép, cá mè xắt tư, nấu dấm hay dán vàng, vẫn cứ ngon bằng mấy cái anh tép vụn. Có cái chả có thì phải chịu, chứ đời thủa nào cá cả, lợn lớn lại không ngon bằng tép đòng đong bao giờ?


Lần này con mụ không dám nguýt anh ở mùa. Nó đỏ gay mặt, lảng lên nhà trên.


Cụ Lềnh bần thần, lúng búng trong miệng:


- Nhà giầu thì nhà nào chả thế... Đằng nhà lão tiên... Đằng lão bá...


Đôi mi mắt sùm sụp, ông cụ thở dài, nói chả hết câu.


 


Nguồn: Hai suất sưu. Tập truyện ngắn của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn Nghệ, Hà Nội, 1956. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cái bẫy - Đỗ Trường Leipzig 11.08.2019
Ngoại tình tuổi 50 - Vũ Ngọc Tiến 30.07.2019
Ân nhân - Trisha Coburn, “Miss Macy” 27.07.2019
Vợ người anh hùng - Nguyễn Trọng Luân 09.07.2019
Chuyện gì xảy đến cho Quỳnh Giao? - Từ Thức 06.07.2019
Thế giới trong kính lúp - Thận Nhiên 04.07.2019
Quyền được rên - Lê Mai 03.07.2019
Đêm huyền sử - Triệu Văn Đồi 09.06.2019
G. - Võ Đình 05.06.2019
Đêm cỏ tuyết - Kiệt Tấn 05.06.2019
xem thêm »