tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27161082
Tiểu thuyết
29.10.2014
Đỗ Quang Tiến
Làng tề

3


Khắc chống tay, từ từ đặt xuống đất. Nền đất ủm sũm, sực mùi cứt chuột, xác dế đã nát rỗng. Không khí trong hầm vừa ẩm ướt vừa đặc quánh đánh đai vào lồng ngực. Khắc rướn người hít khí trời ở lỗ thông hơi đang rỏ giọt vào lòng hầm. Mạch máu ở thái dương giật mạnh. Người Khắc nóng ran; lát sau lại ớn lạnh. Cơn lạnh cuồn cuộn trên da thịt, y như những đợt sóng ở ngoài sông nối tiếp nhau xô vào bờ. Rồi người Khắc lại nóng hập lên.


Máu ở vết thương vẫn ri rỉ. Khắc khát nước, khát quá, lúc lúc Khắc lại đưa lưỡi liếm môi. Giọt nước rãi vừa láng trên môi đã se ngay, và môi lại khô rộp. Khắc đưa tay miết miết lên tường hầm ẩm lạnh để đánh lừa cái khát. Bất chợt Khắc chừng tay, ngực đập dồn. Một dòng nước li ti đang rỉ ra ướt nhẫy trên tường hầm. Khắc vội vàng xé cửa tay áo, để vào chỗ mạch nước. Một lát sau miếng vải ướt đẫm. Khắc để vào đầu lưỡi, nhấp từng giọt theo lối uống nước ở quân y của các thương binh, vết thương đang chảy máu. Những giọt nước mắt lạnh hạ bớt con nóng trong người. Khắc nằm yên thở đều. Vết thương có chiều dìu dịu. Bóng tối như loãng ra, sáng hoe hoe.


Khắc lim dim mắt. Một nửa ngày đi vã, một nửa đêm len lỏi vào vùng tề ác, những phút dài dặc bên hàng rào dây thép gai, bãi đê và vết thương đã làm khắc mệt, mi mắt nặng trĩu. Nhưng quầng sáng mờ mờ đang quay tròn và to dần như vòng xoáy trôn ốc trước mặt Khắc, đột nhiên tối sầm và biến mất. Khắc thiu thiu ngủ. Rồi Khắc ngủ thiếp đi.


Khắc đã ngủ được một giấc lâu lâu.


Bất thần một con nhái nhảy lên mặt. Khắc giật mình thức giấc; vết thương lại buốt chói. Khắc tỉnh ngủ hẳn. Tiếng kẻng gác bên kia sông văng vẳng lọt vào hầm. Thốt nhiên Khắc bứt dứt, ruột gan nóng như chàm lửa.


Khắc ở đơn vị ra đi lúc sáng sớm. Trước khi đi, Khắc đến gặp đồng chí chính trị viên đại đội.


Đồng chí chính trị viên cho Khắc biết tỉ mỉ tình hình cái bốt Phượng - lâu và mấy làng tề lân cận.


Bốt này, từ năm ngoái đến nay, không có Âu - Phi. Chỉ có hơn một đại đội bảo chính đoàn và bảo an. Bọn bảo an nhút nhát, dễ nguỵ vận. Trái lại, bọn bảo chính đoàn thì rất nguy hiểm. Chúng hầu hết là lưu manh, côn đồ trước kia, bây giờ bám sát bọn Việt gian phản động.


Xếp bốt là thằng Duật. Nó là Quốc dân đảng, thủ hạ của thằng Vũ Hồng Khanh, khi hai đứa còn cầu bơ cầu bất ở đất Vân - nam. Thằng này hung ác. Vợ nó là một con đầm lai già, nghiện thuốc phiện. Thế mà nó mê như điếu đổ. Con đầm lại nghiện oặt vừa bỏ nó, đi lấy một thằng cai xếp Tây còn trẻ. Thằng Duật thất tình, uống rượu liên miên. Rượu say, nó đập phá như thằng điên. Nó tra tấn những người bị bắt giam bằng mọi cực hình. Thỉnh thoảng nó lại bắt đàn bà, con gái lên bốt, cho lính hiếp để "Trả thù" con vợ lẳng lơ. Và từ đấy nó càng khát máu.


Cánh tay phải của thằng Duật là đội Tế. Thằng này, ngày xưa đi lính khố đỏ, đóng đội lâu năm. Nó gian ác không kém thằng xếp bốt. Ngoài ra còn thằng cai Luận. Cai Luận "hữu dũng vô mưu" nhưng là cánh tay trái của thằng xếp bốt.


Khắc còn nhớ, nói đến đây, đồng chí chính trị viên nghiêm sắc mặt:


- Chúng nó đêù là những tay sai đắc lực của bọn đế quốc, nguỵ quyền. Chính bọn này mới là những tên đầu sỏ. Nhưng những con chó săn không phải là không có tội. Chúng nó cũng nhiều tội ác lắm!


Rồi đồng chí chính trị viên nói tiếp, giọng rắn đanh:


- Phải nhổ cái bốt này! Gần bốn năm nay, chúng nó nợ máu của nhân dân nhiều lắm rồi!


Khắc nhớ cả cái lúc người chính trị viên đại đội ôm lấy Khắc, vỗ vỗ vào lưng, má chạm vào má Khắc và căn dặn:


- Khắc cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Công tác quan trọng đấy! Thôi, Khắc đi nhá!


Ra đến cửa, đồng chí chính trị viên còn dặn với:


- Sớm là hai hôm, nếu có chuyện gì trắc trở thì bốn hôm là cùng, Khắc phải về báo cáo tình hình!


Thế rồi Khắc đi. Lúc đó, trời vừa tang tảng sáng.


Và đêm nay, Khắc nằm liệt dưới cái hầm này. Những câu dặn dò của người chính trị viên đại đội còn đang văng vẳng bên tai Khắc. Khắc có cảm giác bộ râu quai nón cứng và rậm của đồng chí cọ vào má mình lúc tờ mờ sáng, giờ đây vẫn còn nhồn nhột. Khắc cắn môi suy nghĩ. Tâm tư Khắc rối bời. Khắc có ấn tượng mình đang nằm giữa đống dây thép gai quấn chằng chịt quanh người. Và Khắc đang lần gỡ từng mối dây. Đường dây mỗi lúc một thít chặt; hai bàn tay Khắc đã rớm máu. Nhưng nhất định phải lần gỡ cho ra!


Tiếng dế gáy rích rích, tiếng giun khoang kêu ọ ọ ở các khe khóc ran lên, hoà vào nhau, trở thành một tiếng động âm i, buồn rượi và nhức nhối. Bỗng dưng Khắc cảm thấy bực dọc, căm giận. Căm giận cái bốt giặc, toán lính đi tuần bên kia sông; bực dọc với tiếng giun dế trong hầm. Bất giác Khắc nghiến răng nhấc cái chân gẫy lên. Mặt Khắc tái nhợt đi, mồ hôi và khắp người. Mình mẩy Khắc buốt chói dường như có hàng nghìn mũi kim cắm ngập vào các đường gân, thớ thịt, Khắc trừng mắt nhìn vào bóng tối. Nhưng quần sáng xanh đỏ vụt hiện lên, quay tròn như cơn lốc. Khắc hoa mắt, đầu óc quay cuồng. Người Khắc bừng bừng như lên cơn sốt.


Khắc nằm yên, người dính xuống đất, mắt nhắm nghiền. Khắc nằm như vậy rất lâu. Xung quanh Khắc, tất cả đã chìm xuống, lắng xuống, mờ ảo trong bóng đêm.


Bất chợt có tiếng động ở cửa hầm. Một luồng gió lành lạnh lướt trên mặt Khắc. Khắc hé mắt. Trong lúc chập chờn nửa thức nửa ngủ, Khắc nghe như có tiếng đất rơi lạo xạo và có vật gì chạm vào nhau loạt xoạt. Tiếp đó lại có tiếng động ở cửa hầm. Và luồng gió lành lạnh tắt đi. Khắc choàng mắt.


- Ai đấy!


- Tôi - tiếng đáp nhỏ nhẹ


- Chị.... chị đấy à?


- Vâng.


Tự đánh diêm châm vào ngọn đèn hoa kỳ . Ánh đèn vàng nhệch toả ra khoang hầm. Đoạn chấm lửa lụi xuống ,bập bùng như sắp tắt. Khắc chống tay gượng ngồi lên.Tự vừa cởi bỏ rạ vừa liếc nhìn cái ống chân quấn áo trấn thủ .


- Chị đem rạ xuống làm gì thế ?


- Rải rạ cho anh nằm cho đỡ lạnh lưng.


Khắc nín thinh. Tiếng cuộng rạ chạm vào nhau xột xoạt nghe ấm như tiếng rạ lợp nhà. Tay Tự nhanh nhẹ vuốt lên đống rạ lờm xờm. Mấy phút sau, ổ rạ phẳng phiu như chiếu rải. Khắc nhìn chầm chầm. Hồi còn nhỏ, mùa rét đến, mẹ vẫn tải ổ rạ cho Khắc nằm. Những lúc ấy, đôi mắt người mẹ hiền từ, bàn tay nhẹ nhàng, dường như muốn gửi tất cả tấm lòng mẹ vào chỗ nằm ấm áp của đứa con. Khắc ngước mặt nhìn Tự, tia mắt âu yếm ánh lên trong tròng mắt như những khi nhìn mẹ trải ổ.


- Chị ơi! Nước đây à?


- Vâng. Anh uống tạm nước lã, đêm hôm không dám đun.


Khắc giơ tay định với vò nước. Tự liền lấy bát, rót, đưa cho Khắc. Khắc nhấp một hớp nhỏ rồi đặt bát nước xuống.


Tự ra ý băn khoăn.


- Nước lạnh, anh không uống được à?


- Vết thương ở chân tôi còn đang chảy máu, uống nước nhiều nguy hiểm chị ạ.


Ánh mắt Tự thoáng vẻ lo lắng. Khắc ngả đầu và tường, khẽ chẹp chẹp miệng. Hớp nước giá lạnh vẫn còn để lại dư vị man mát, ngòn ngọt ở đầu lưỡi. Gương mặt Khắc tỉnh táo ra. Tự mừng thầm.


Tự lặng lẽ nhìn Khắc. Anh bộ đội trạc tuổi Nghĩa, anh Tự, độ hăm ba, hăm bốn. Nước da đỏ nắng, mái tóc quăn soắn vào nhau để lộ nếp trán rộng, có vài vết nhăn mờ mờ; đôi mắt thau, tia mắt thẳng, chậm chạp nhưng trong sáng; hàng râu tơ thưa và mềm hẳn trên mép khiến nét mặt Khắc hơi nghiêm nghị và lạnh lùng.


Tự cúi xuống, lấy ngón tay cạo những vẩy bùn dính ở gấu quần.


Thấy tự có vẻ ngượng ngùng và không khí trong hầm như lặng đi, Khắc gợi chuyện:


- Tôi quên chưa xưng tên với chị. Tên tôi là Khắc. Còn chị, tên chị là gì ạ?


-... Là Tự. - Tự đáp khẽ.


- Gia đình nhà ta có những ai, hở chị Tự?


- Có thầy u tôi, anh Nghĩa tôi với tôi.


Khắc chú ý ngay đến ngườianh của Tự. Khắc hỏi:


- Anh Nghĩa có nhà không chị?


- Anh tôi đi bộ đội.


- Anh Nghĩa cũng đi bộ đội à? Anh ấy đi đã lâu chưa chị? - Giọng Khắc như khẽ reo lên.


- Anh tôi đi đến tháng chạp này là được bốn năm. Khắc nhìn thẳng, mi mắt chớp chớp và im lặng. Gia đình Tự cũng có người đi bộ đội. Những ngày Khắc sống ở đây sẽ là những ngày yên ổn, những ngày đứa con sống trong gia đình mình. Hình như Tự thoáng thấy niềm vui đột ngột đang ánh lên trong khoé mắt Khắc. Tự nhiên Tự cũng cảm thấy vui vui.


- Hai cụ còn khoẻ chứ chị?


- Chả được khoẻ đâu anh ạ. Từ ngày có cái bốt, thầy u tôi lo nghĩ nên ốm đau luôn.


- Nhà ta cấy được mấy sào?


Tự cúi đầu nhìn xuống đất. Câu hỏi của Khắc tình cờ làm Tự nhớ đến rúm cơm độn khoai nhớt nhát. Nỗi buồn tủi lại day dứt Tự. Tự khẽ thở dài:


- Nhà tôi cấy rẽ có hơn hai sào của nhà phó Gộc với làm một ít mầu ở ngoài bãi. Lúc rỗi rãi, thầy u tôi phải tết chổi, đan rổ rá thêm cặp vào mới đủ ngày hai bữa.


- Nhà tôi cũng thế, chị ạ. Tôi với u tôi phải cấy rẽ ruộng nhà lão chánh hộ. Mãi năm ngoái, ban xã chia cho ngót hai sào, u tôi mới đủ cơm ăn việc làm.


Hai người lặng im. Ánh đèn đỏ quạnh in hai cái bóng mờ mờ lẫn vào nền đất nâu sẫm. Không khí trong hầm đột nhiên như ngột lên. Ra hai gia đình cùng nghèo. Bát cơm hàng ngày là những lát khoai, hạt ngô cõng hạt cơm. Ý nghĩ đó khiến họ đau xót. Nhưng trong cái đau xót, họ thấy cảm thương nhau, gần gũi nhau hơn.


Tự nhìn rổ cơm đậy mảnh lá chuối để bên cạnh vò nước. Từ nẫy, mấy lần Tự toan với rổ cơm đưa cho Khắc. Không rõ Khắc đã ăn cơm chiều chưa. Mà dù đã ăn rồi, từ bấy đến giờ, chắc Khắc cũng đã đói. Nhưng rổ cơm chỉ được một miếng và. Thế rồi Tự ngại ngùng không dám đưa rổ cơm cho Khắc.


Lúc này, nỗi băn khoăn, tủi thẹn đã tiêu tan hết. Nhà Khắc nghèo như nhà mình. Khắc đã từ bữa no bữa đói như mình. Nghĩ vậy, Tự cầm rổ cơm đưa Khắc.


- Còn ít cơm nguội, anh ăn tạm cho đỡ đói.


Khắc đỡ lấy rổ cơm, để xuống ổ rạ:


- Chị để mai tôi ăn, giờ tôi hãy còn no.


Tự nhìn Khắc, nài ép:


- Anh ăn đi, có ít thôi mà. Anh bị thương, không cố ăn thì lả mất.


Trong những năm chiến đấu vừa qua, mấy lần Khắc bị thương phải vào quân y điều trị. Đến bữa ăn, một chị hộ lý bưng cơm lại, ngồi xuống bên cạnh Khắc. Rồi chị âu yếm giục Khắc ăn. Nhiều lúc, vết thương còn nhức nhối, Khắc không muốn ăn; nhưng nghe giọng nói của chị hộ lý, vừa xót xa vừa dịu dàng như giọng nói của người mẹ bên cạnh đứa con đau ốm, Khắc lại vọc dậy cố cầm bát cơm, ăn.


Bây giờ trông Tự lật mảnh lá chuối, nhìn rúm cơm nguội ngắt rồi lặng nhìn Khắc, Khắc chạnh nhớ đến các chị hội lý ở quân y. Ánh mắt Tự cũng đang lộ vẻ vừa xót xa vừa dịu dàng. Bỗng dưng Khắc cảm thấy nao nao trong lòng.


- Anh ăn đi! - Giọng Tự nhỏ nhẹ, vẻ xúc động.


Khắc nhặt miếng khoai đưa lên miệng, nhai thong thả. Giờ đây Khắc mới nom kỹ Tự. Dáng người Tự nhỏ nhắn; khuôn mặt trái xoan, mũi thẳng, đôi mắt nhỏ và dài. Khuôn mặt mỏng mày hai hạt, không có nét gì đáng chú ý, trừ nước da xanh, tia mắt trầm lặng và buồn. Hình như lúc nào Tự cũng đang sống với tâm tư của mình, khiến nét mặt Tự đôi khi đờ đẫn, tròng mắt mờ đi như có bóng tối hắt vào.


Khắc đã ăn hết chỗ cơm. Một niềm vui kín đáo thoáng hiện trên gương mặt Tự. Đôi gò má bớt xanh và ánh mắt tươi tắn lên. Bỗng Tự thò tay vào túi áo, lấy ra một cái gói con:


- Anh cởi chỗ chân đau xem còn chảy máu không. Tôi có ít thuốc đây.


Khắc cởi chiếc áo trấn thủ quấn ở ống chân. Máu rỉ ra, chiếc áo màu xanh lá mạ đã biến thành màu tím sẫm. Vừa rồi viên đạn súng trường ở bên kia sông nã sang, xuyên đúng vào xương ống chân. Máu vẫn rỏ giọt. Giọt máu đỏ tươi vừa trào ra đã tím bầm và se đi. Khắc khẽ động đậy chân. Nửa ống chân gãy nằm đờ ra trên ổ rạ. Khắc nhíu mày, đôi mắt nhăn lại, lộ vẻ buồn bực. Tự đăm đăm nhìn vết thương, mặt hơi tái đi. Ánh đèn tù mù khắc bóng Tự một giây lâu trên bức tường.


Bỗng Tự sực nhớ đến gói thuốc cầm ở tay. Tự vội vàng lấy thuốc rắc vào vết thương. Rồi Tự nhìn chầm chập. Khắc cũng nhìn chăm chắm vào dòng máu đỏ tươi đang rỉ ra. Một phút trôi qua. Một phút dài dặc, tràn đầy hy vọng và lo âu. Dòng máu từ từ đông lại. Gói thuốc ở tay Tự rơi xuống đất.


Khắc mở to mắt:


- Thuốc gì mà hay thế chị?


- Đây là thuốc dấu của cụ trương Kiệm. Hồi thầy tôi bị thằng chánh Phê chém xả vai, cụ ấy không mách cho cái thuốc dấu này, thầy tôi chết rồi.


Khắc vẫn ngó vết thương, da mặt sắt lại vì sung sướng và cảm động. Phút sau, Khắc nhìn quanh quẩn như muốn tìm một vật gì. Rồi Khắc luồn tay vào ống tay áo.


Tự vội hỏi:


- Anh làm gì thế?


- Tôi xé cái cánh tay áo để buộc....


- Anh lấy cái này mà buộc, đừng xé áo hoài đi.


Vừa nói, Tự vừa móc túi lấy chiếc khăn tay đưa Khắc. Trông chiếc khăn tay trắng tinh, Khắc ngần ngừ:


- Lấy cái khăn tay này buộc, phí quá. Thôi, để tôi xé ống tay áo. Cái áo này cũng cũ rồi.


- Anh cứ lấy mà dùng. Đừng xé áo!


Câu nói của Tự vừa nghiêm nghị vừa đầy tình cảm. Khắc lẳng lặng cầm lấy chiếc khăn tay, buộc vết thương. Máu đỏ rói loang trên vuông vải trắng. Màu đỏ hoà vào màu trắng, gợi lên một cái gì vừa trong trắng vừa thắm thiết. Khắc bồi hồi xúc động. Mối xúc cảm cũng đang im hằn trên gương mặt Tự.


- Anh nằm nghỉ đi cho đỡ mệt.


Khắc ngả lưng xuống ổ rạ. Cuộng rạ sột soạt như bừng lên một chút hơi nóng ấm. Tự lách tay mở rộng thêm lỗ thông hơi rồi thu dọn trong hầm cho ngăn nắp lại.


Đêm đã khuya. Tự thổi tắt đèn, chui ra cửa hầm. Tiếng nắp hầm mở ra rồi đậy vào, khẽ vẳng lên và tắt ngay.


Khoảnh hầm trở lại vắng lặng. Bóng đêm đen đặc. Tiếng giun dế âm âm, triền miên nghe lâu không thành một tiếng động nữa. Nó lẫn vào khoảng không, vào đêm tối và đè trĩu xuống.


Khắc muốn ngủ cho đỡ nhức nhối, song không ngủ được. Khắc bần thần đưa tay vuốt lên mặt, tường ẩm lạnh. Bỗng nhiên Khắc nhớ đến túp nhà, tứ vi, tường cũng đắp bằng đất như thế này. Túp nhà đó ở một làng ven biển. Bãi biển vàng óng. Gió ngoài khơi thổi về, mặn mùi muối biển và mát rượi. Đồi phi lao reo vi vu suốt ngày đêm. Màu xanh lam trên mặt biển ánh lên nền nền trời. Chân trời thẫm lại, nối liền với mặt sóng. Đàn chim hải âu chao cánh, đôi cánh trắng muốt dập dờn trên màu xanh lam.


Khắc đẻ ở đấy, lớn lên ở đấy. Thầy Khắc đi nghề. U Khắc cấy ruộng rẽ. Khắc đỡ tay mẹ làm việc nhà. Lúc rỗi, Khắc theo trẻ con trong làng ra bãi biển bắt ngao. Cả nhà cực nhọc mà vẫn túng đói. Một buổi chiều, thày Khắc ra khơi. Đến nửa đêm bỗng giông bão. Biển động. Tiếng sóng gầm thét dội về cái làng ven biển. Rặng phi lao vặn răng rắc. Thầy Khắc không trở về nữa. Từ đấy, hai mẹ con sống heo hút với mấy sào ruộng cấy rẽ, thỉnh thỏang nước mặn trànvào, cây lúa lại quắt queo lại.


Khắc yêu quê hương, Khắc yêu bãi biển, màu xanh lam bát ngát và đàn chim hải âu. Nhưng rồi Khắc đi bộ đội. Bốn mùa lúa chín rồi. Lúc này u Khắc sống một mình ở túp nhà ấy. Túp nhà vẫn thấp lè tè, hẹp như lòng thuyền. Chỉ có cái khác là bây giờ u Khắc không phải cấy ruộng rẽ nữa và đã được ngày hai bữa cơm no. Nhưng người mẹ lại phải xa đứa con. Đó là niềm nhớ thương và cũng là niềm tự hào của người mẹ.


Bỗng Khắc lại nghĩ đến cái chân gẫy, đến công tác của đơn vị giao cho. Một nhiệm vụ quan trọng! Nhưng vết thương mỗi lúc một đau; sức khoẻ của Khắc yếu dần. Đêm mai, chưa chắc đã đi được. Đêm ngày kia, có lẽ cũng chưa đi được. Thế mà bắt đầu từ đêm mai đồng chí chính trị viên đại độ và tất cả đơn vị mong đây! Làm thế nào bây giờ? Làm thế nào báo tin cho đơn vị được? Khắc cau mày nhìn trừng trừng vào bóng tối. Lòng hầm như hẹp dần lại, bó thít vào ngực Khắc.


Thoáng chốc bóng dáng cái bốt Phượng - lâu hiện lên trước mắt Khắc. Lô cốt, ụ súng, chòi gác, hàng rào dây thép gai, chỗ tên lính ngoẹo cổ ngủ gật đứng gác, căn nhà gá bạc, tên cai bụng phệ, râu củ ấu lạch bạch chạy ra... trông rất rõ. Bao giờ bộ đội về diệt bốt, phải mở đột phá khẩu chỗ này, đội xung kích tiến phía này! Bóng đêm dường như muốn phủ lên hình ảnh cái bốt. Khắc vẫn mở to mắt nhìn mê mải. Phải thoát khỏi cái làng tề ác này, trở về đơn vị!


Tiếng dế râm ran phút chốc bị cắt quãng bởi tiếng động xào xạc bên ngoài. Gà bắt đầu gáy. Có lẽ gà gáy lần thứ hai. Trời sắp sáng rồi....


Khắc lấy ngón tay gạch một vệt sâu vào tường hầm, đánh dấu một đêm. Một đêm nằm trong hầm.


Ở trong buồng, Tự cũng chưa ngủ. Những chuyện bất ngờ dồn dập xẩy đến từ nửa đêm tới giờ vẫn căng thẳng cân não Tự. Bóng cái bốt bên kia sông thấp thoáng, và mắt Tự hoa lên. Cái bốt bây giờ đã biến thành một dõi bốt, nòng súng tua tủa, quay cuồng đảo lộn quanh người Tự. Tự nhắm nghiền mắt. Nhưng qua là mi mắt mỏng dính, Tự vẫn thấy rõ mồn một. Nòng súng, lưỡi lê, hàng rào dây thép gai và cả thằng xếp bốt, thằng đội Tế!


Tiếng gà gáy đã im bặt. Xóm Giếng tĩnh mịch. Chỉ còn tiếng gió thuốc vào đầu hồi, và nóc nhà phập phồng như muốn bênh lên.


Chợt có tiếng hú vía từ xóm Định vọng lại:


- Hú ba hồn chín vía ở đâu mà về nhaaá!


Lại tiếng mụ Chóp. Giọng mụ trộn không lẫn. Cái giọng the thé như xé vải, đêm khuya hú lên nghe dựng tóc gáy.


Mụ Chóp người làng Cát - lăng, bên kia sông. Chồng mụ Chóp, người làng Phượng - lâu, trước kia đi lính cơ. Được mấy năm, quyền Chóp chết. Mụ tái giá. Anh phó cối, người chồng thứ hai, ăn ở với mụ được vài năm cũng lăn cổ ra chết nốt. Ba năm vô việc xong, mụ lấy một anh thầy cúng quanh năm đi chập cheng ở các đền chùa. Mụ nghĩ bụng; mình đã cao số thì phải nấp bóng ông thầy, tay ấn tay quyết, may ra mới đứng số. Ai ngờ mới ăn ở với nhau chưa đầy một năm, anh thầy cúng cũng vác tiu cảnh đi theo hai anh chồng trước. Mụ Chóp lại goá bụa. Thật tình, mụ còn muốn đi bước nữa lấy nơi nương tựa. Nhưng thấy tướng mụ sát chồng, không ai dám lấy. Vả lại, mụ vốn ngang ngược nhất làng. Có lần mụ búi tóc cu, tụt váy, đánh nhau tay đôi với phó lý Diệc ngay giữa chợ. Phó Diệc hốt quá, vứt cả khăn xếp áo the, tháo chạy. Chuyện đó càng làm mọi người sợ mụ.


Mụ Chóp đành đứng vậy, đi đỡ để các làng kiếm ăn. Ngoài ra, nhà nào có người ngộ cảm cũng phải mời mụ đến hú vía, nhất là từ ngày có cái bốt, dân làng không ai dám nói to...


- Hú ba hồn chín vía...


Tự lắng nghe. Tiếng hú vía, thuận chiều gió, đang vang vọng lại. Đầu chái bên kia, bỗng bà cụ Chữ nói lảm nhảm, giọng ngái ngủ:


- Hú vía ai thế không biết? Thức hay ngủ đấy hở Tự?


Tự nằm yên không đáp. Mụ Chóp đã mò lên đến xóm Giếng. Tiếng hú vía nghe rành rẽ hơn khi nãy:


- Hú ba hồn chín vía chị Gấm ở đâu thì về nhaaá ! Ở gần bay la, ở xa bay bổng... ba hồn chín vía ở đâu thì về nhà nhập vào xác nhaaá!


Bà cụ Chữ ở trong buồng lại nói vọng ra:


- Húa vía chị Gấm đấy à? Chết chửa! Mới được về lúc chiều mà đã làm sao thế không biết!


Tự vẫn nằm yên. Tiếng hú the thé của mụ Chóp như cơn gió lạnh buốt lùa vào sống lưng và toả ra bả vai, ra khắp người Tự. Tự rùng mình. Chắc Gấm cấm khẩu rồi. Không biết Gấm có qua khỏi được không? Ban chiều, trông Gấm thiểu lực quá. Mới bị giam có mươi ngày đấy. Giá chúng nó giữ vài ba hôm nữa, Gấm đến chết ở trên bốt mất. Bất giác Tự lại rùng mình. Cái giát giường lay động, kêu lanh canh.


Bỗng dưng Tự liên hệ đến mình. Nếu chẳng may mình cũng bị bắt như Gấm? có sống sót mà về, chắc cũng đến có một đêm, mụ Chóp đi từ đầu làng xuống cuối làng, rồi lại từ cuối làng lộn lên đầu làng, vừa đi vừa hú " Ba hồn chín vía cái Tự ở đâu mà về"... Tai Tự ù lên. Tự tưởng chừng mụ Chóp đang hú vía mình. Tiếng hú nghe văng vẳng, lúc gần lúc xa.


Ngoài ngõ, chắc có người nào ở trong nhà nói với ra, hỏi chuyện mụ Chóp. Mụ đáp, giọng vẫn chua như mẻ:


- Vừa nãy, chị ấy ra sân đi đái. Lúc đi vào, vừa bước lên hè, chị ấy ngã vật ra. Cũng may chị ấy còn kêu được mấy tiếng, người nhà thức giấc, chạy ra vực chị ấy vào. Cái cảm nhập lý ghê thế. Mới một tý mà đã sùi bọt mép, người tái như con gà cắt tiết, hàm cứng ra ngay. Trông thương quá. Mới hôm nào, chị ấy trông cứ phây phây như còn gà chịu sống, ấy thế mà bây giờ quắt queo như con bọ gậy...


Dáng chừng người kia lại hỏi bệnh tình Gấm lúc này. Tiếng mụ Chóp lại ré lên:


- Nhờ phúc ấm, may ra thì qua khỏi. Chả tôi ở gần đấy mà. Nghe thấy bà cụ Đẩu gọi đánh ới một tiếng, tôi chạy sang ngay. Cái giống hú vía này còn hay bằng mấy thuốc đấy. Nhưng mà phải hú vía ngay mới được. Chả cái lúc ngộ cảm, hồn vía bay đi mà. Hồn vía con người ta y như đứa trẻ mải chơi, chả biết đằng nào mà về đâu. Phải gọi ngay, không bay quá trớn là lạc mất. Với lại, nhà chị ấy có bà tổ cô thiêng lắm. Nghe nói thỉnh thoảng vẫn hiện về, mặc quần áo trắng, đầu đội nón quai thao, chân đi hài, trông như các cô ở đền Vua mẫu. Thấy con thấy cháu chả may vận hạn thế này, chả nhẽ lại không dón tay làm phúc hay sao.


Chó ở trong ngõ châu lại sủa ran. Một góc xóm bất thình lình ồn lên. Chợt có tiếng ồ ồ của một anh con trai mới vỡ giọng.


- Bà Chóp đấy phải không? Đêm hôm làm gì mà ầm ầm lên thế? Không có ai tuần giờ nữa à?


Tiếng mụ Chóp xồn xồn:


- Người ta làm gì mà không cho tuần giờ? Trong làng trong xóm có người ngộ cảm, phải hú hồn hú vía chứ? Để cho người ta chết à? Phúc đức để đâu đấy? Ôi dà! Mới ra được cái lính dõng, tưởng báu giá lắm đấy, mà định đội váy nát mẹ! Bà lại chả kẹp cho vỡ đầu chứ chả tưởng.


Có lẽ gã lính dõng biết dại đã lỉnh sang ngõ khác. Không nghe thấy tiếng hắn ta nữa. Mụ Chóp thủng thỉnh quây lại xóm Đình. Và mụ lại cất tiếng hú:


- Hú ba hồn chín vía ở đâu thì về nhaaá! Ở gần bay la, ở xa bay bổng... ba hồn chín vía ở đâu thì về mà nhập vào xác nhaaá!


Tiếng hú lại the thé xoay vào đêm tối và làn sương muối giá ngắt. Tiếng chó cắn í oắng, đổ xô về phía xóm giữa.


Một cơn gió lùa vào gầm giường thốc lên. Tự kéo chiếu đắp kín đầu.


(còn tiếp)


Nguồn: Làng tề. Tiểu thuyết của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn học, 1962. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 20.05.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 20.05.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 16.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 06.05.2019
xem thêm »