tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27711602
Tiểu thuyết
28.10.2014
Đỗ Quang Tiến
Làng tề

2. Cơn gió từ ngoài cánh đồng thốc vào nhà, rập cánh liếp vào khung cửa. Bụi mọt ở kẽ liếp rơi xuống đất trắng xoá. Đốm lửa cây đèn con chao đi chao lại; dòng khói muội bốc lên, quay tròn trong bóng đêm. Gian nhà chìm vào cái án sáng đỏ hung, mù mờ của rơm rạ ẩm trong bếp lửa. Cụ Chữ đặt vội cái rá xuống phản, khum bàn tay che ngọn đèn. Chấm lửa lùng bùng, thu gọn dần và sáng ra. ánh sáng đùng đục như nước đất. Cụ Chữ cúi xuống cạp nốt cái rá.


Cụ Chữ đã ngót sáu mươi. Mái tóc hoa râm đã lâu chưa cắt, kênh trên vành tai. Nước da rám nắng chằng chịt vết nhăn như mảnh đất rạn chân chim. Đôi mắt đã teo lại, lấp loá sau cặp kính lão bầu dục, vành sắt gọng dây gai. Cặp môi khô khỏng khít vào nhau, tựa hồ chưa bao giờ hé ra, nhếch một nụ cười. Cụ đang mím môi thít múi lạt. Hai bên má tóp vào, gân xanh ở cổ cuộn lên, phút chốc khuôn mặt gày tóp đi trông càng khắc khổ và mệt mỏi.


- Xong cái này nữa là ba, bà nhỉ? - Cụ Chữ hỏi cho có chuyện.


Bà cụ Chữ ngồi chuốt lại bên cạnh, đáp nhát gừng:


- Ba cái.


- Nhà còn mấy cái nhỉ?


- Hai cái. Bà cụ Chữ vẫn lấp láy mắt nhìn sợi lạt.


- Thế là năm cái nhỉ?


- Chả năm cái thì mấy.


Cụ Chữ chừng không chú ý đến câu chuyện nhạt nhẽo và cái lối chịu chuyện gióng một của vợ như mọi tối. Cụ thong thả kéo điếu, hút thuốc. Rồi cụ ngửa cổ phà khói lên mái nhà và nói trong cuống họng:


- Mai phiên chợ Bình - lâm, đem bán cả đi, lấy đồng mua mắm muối với đong lấy ít ngô về mà độn. Độn mãi khai lang, ăn nóng ruột lắm.


Bấy giờ bà cụ Chữ mới ngẩng đầu, móc túi lấy miếng trầu khô quắt bỏ vào miệng.


- Độn ngô, ăn được bền hơn ăn khoai lang, nhưng bung thì lích kích mà xay thì không có cối, khốn thế.


- Đem đến xay nhờ nhà mụ Lý hai ấy.


Bà cụ Chữ hạ giọng:


- Ôi dà, lại xay nhờ được cái của Đắc kỷ ấy! Không có liền trầu hay khúc vỏ biếu, mụ ấy cho xay chán ra đấy.


Cụ Chữ lặng ngắt, các vết nhăn ở đuôi mắt hằn xuống. Bà cụ Chữ cũng nín lặng cầm điếu thuốc sát vào hai hàm răng rồi gài vào môi trên. Hai vợ chồng già lại lặng lẽ cúi xuống, mỗi người mỗi việc.


Chợt con cú trên ngọn gạo cất tiếng rúc. Cú rúc! cú rúc! Bà cụ Chữ lầm bầm:


- Cha tiên nhân con cú ranh! Không làm thế nào mà đuổi nó đi được. Đêm nào cũng chõ vào đầu nhà người ta mà kêu.


Đoạn bà cụ ngoái lại gọi với xuống bếp:


- Cám đã được chưa hở Tự?


Tự đang cầm que cời di di vào ông đầu rua để lửa bắn hoa cà hoa cải cho đỡ buồn ngủ. Nghe tiếng mẹ, Tự đáp vọng lên:


- Sắp được rồi, u ạ.


- Ủ tay lên rồi rập bếp đi ngủ. Gà gáy nửa đêm rồi đấy.


Bỗng dưng có tiếng chó sủa rộ ở ngoài ngõ. Bà cụ Chữ ngừng tay, nghếch mặt lắng nghe. Cái giọng bè nhè lúc nãy lại ré lên:


- Ái dà dà mát! Gió to nữa lên cho hả hơi cay nào! Bà cụ Chữ xoay lưng che ánh đèn, lảu bảu:


- Cái lão thần nhanh đỏ mỏ, tối nay nốc lắm thế! Nửa đêm rồi vẫn chưa buồn và chết rấp cho yên xóm.


Có tiếng phát đánh đét một cái. Sau đến tiếng lão Mấu cười nhạt hoét:


- Ái dà! Con muỗi goá chồng chắc? Đốt đau ra ráng! Này, Tớ bảo thật! Goá chồng mà buồn tình, cứ lại nhà tớ. Nhà tớ vô thiên lủng muỗi goá vợ. Thuận đám nào, tớ đánh tiếng cho. Sợ cái đếch!


- Lão Mẫu đã lại lẩn sang ngõ khác. Chó đang sủa theo. Bà cụ Chữ ngồi quay lại. Vừa lúc đó, con chó nằm ở đầu hè, gừ gừ mấy tiếng rồi đâm bổ ra cổng, sửa nhanh nhách, Bà cụ Chữ vặn nhỏ đèn.


Chợt có tiếng người ở hàng rào nói chõ vào:


- Cụ Chữ chưa đi ngủ à?


Cụ Chữ ngẩn mặt.


- Ai đấy? Ông lý đấy à?


- Phải. Nhà ta có khách phải không cụ?


- Không. Có khách khứa nào đâu.


Giọng lý Mực dõng dạc:


- Không có khách khứa mà đến giờ, bếp nước còn đỏ lửa thế kia?


- Cháu nó đang đun dở nồi cám lợn.


- Chết thật! Các cụ ra gan bằng sắt chứ chả phải! Đêm hôm mà củi lửa cứ rừng rực như thế kia kìa! Các cụ muốn cả làng này chết lây à? Trên bốt các ông ấy trông thấy, nã cho một phát thì làm thế nào?


Cụ Chữ luống cuống:


- Cháu nó đun nhỏ lửa… chứ có dám đun to đâu.


Lý Mực phát bẳn:


- Thế kia mà còn nhỏ à? Trên bốt, các ông ấy chiếu ống nhòm, đến cái kim còn thấy, nữa là củi lửa. Đêm hôm xưa, ở bên Cát - lăng, có nhà có người phải cảm, đốt có một đống chổi rễ, thế mà trên bốt bắc ống nhòm trông thấy, ngỡ động rạng, cho ngay một phát moóc - chê, sập mất một nóc nhà chết theo mấy mạng người. Đấy, cứ dóng lửa mãi vào! Nhà mình đã vậy, nhưng còn nhà dân làng nữa chứ!


Bà cụ Chữ vội vàng đi xuống bếp:


- Thôi, dụi… dụi bếp đi, không trên bốt, các ông ấy đang bắc ống nhòm sang đấy.


Tự cau mặt:


- U cứ để con đun một tí nữa cho xong đi. Dụi bếp, mai lại phải đun lại, bao nhiêu rơm rạ mới sôi được nồi cám.


- Đun lại thì đun! Muốn chết cả nhà à?


Tự dùng dằng chưa muốn dập lửa. Bà cụ Chữ liền xăm xăm bước ra vại nước, múc một gáo hắt vào bếp. Bếp lửa xèo một tiếng kéo dài và tro bốc bụi mùi. Gian bếp tối sầm lại. Ngọn đèn trên nhà tắt phụt. Nếp nhà chìm nốt vào đêm tối. Cụ Chữ ngồi thầm một mình giữa phản; cụ kéo điếu, dặt thuốc, kề xe điếu vào môi. Bỗng cụ quăng cái xe điếu xuống phản, co chân lên, ngồi bó gối. Bà cụ Chữ rón rén đi vào đầu chái bên kia. Tự lầm lầm bước vào buồng, ở đầu chái bên này. Nhà ngoài, cụ Chữ đặt mình xuống phản rồi lẩm bẩm.


- Mẹ bố chúng nó! Hơi một tí là kiếm chuyện!


Không còn một tiếng động nhỏ. Trong bóng đêm, túp nhà co ro dường như đang thu hình lại cho đỡ mệt.


Cả ngày làm việc không hở tay, đêm đến, Tự thường đặt lưng xuống giường là ngủ thiếp đi. Nhưng đêm nay, nằm đã ấm chỗ, mắt Tự vẫn chong chong. Tâm trí Tự vẫn lẩn quẩn với nồi cám lợn. Đun một nhát nữa là được cũng phải tắt bếp, mai đun lại! Từ ngày có cái bốt, tối đến, làng xóm không được nói to, thắp đèn sáng, xay lúa, ra sông tắm giặt. Thỉnh thoảng lại khám nhà, bắt người, tra tấn, cướp bóc. Bỗng dưng Tự nhớ đến câu Gấm nói, hôm Gấm chưa bị bắt "Còn cái bốt ngày nào, còn khổ!" Cơn bực tức bất thần bốc ngụt lên trong lòng Tự, y như đám bụi tro lúc mẹ hắt gáo nước vào bếp lửa.


Một cơn gió lạc thổi vào đầu hồi. Sương rơi xuống má Tự, nhôn nhốt như rôm cắn. Tự kéo chiếu đắp lên mặt.


Nhà ngoài, chốc chốc lại có tiếng kẹt phản. Hình như cụ Chữ cũng chưa ngủ được.


Chợt có tiếng cụ Chữ gọi với vào trong buồng:


- Tự ơi! Đóng cổng chưa, con? Lúc nãy rối cả lên, thầy quên không ra xem cổng ngõ.


- Con đóng rồi.


- Đã chốt chưa?


- Không biết đã chốt chưa. Có nhẽ chưa chốt, thầy ạ.


Tấm phản lại kẹt một tiếng, Rồi đến tiếng chân giẫm xuống đất. Tự ngồi ngay dậy đi ra nhà ngoài:


- Thầy để con ra cho.


Cụ Chữ chẳng nói chẳng rằng xoa chân vào nhau và nằm xuống phản. Tự khép vạt áo cho đỡ rét, Bước ra cổng. Con chó con nhổm dậy, vươn người lủn củn chạy theo.


Xóm Giếng im phăng phắc, có lẽ nhà nào, nhà nấy đang ngủ mê mệt. Lão Mấu chắc cũng đang ngáy khò khò ở cái ổ rạ rải trên bệ miếu. Nãy giờ không nghe thấy cái giọng bè hè nực hơi rượu của lão ta nữa.


Cổng chưa chốt. Tự cúi xuống kéo khít cột chống, chốt lại. Đoạn Tự lững thững đi vào. Con chó con ve vẩy đuôi quẩn vào chân Tự.


Trong nhà, cụ Chữ bắt đầu ngáy đều đều.


*


*           *


Khắc vội vàng lết lại, nép vào rặng cúc tần, khẽ gọi:


- Chị ơi!


Tự vẫn bước thủng tỉnh đi vào nhà.


- Chị ơi!


Con chó con đánh hơi thấy người lạ, quay ngoắt lại, lao ra phía cổng sủa hộc lên. Tự giật mình. Cái gì thế không biết? Con chó con thấy người nhà đứng lại, hung hăng rúc hẳn đầu vào rạng rào, vừa sủa vừa cào đất sồn sột. Tự nhìn ngơ ngác. Chắc có người đứng ở ngoài cổng!


- Chị ơi! - Tiếng Khắc vẫn nhỏ nhẹ, chậm rãi.


Có người thật. Chắc lại lính trên bốt. Tự bực mình toan quay vào. Nhưng không hiểu sao, Tự thét to và đi ra cổng.


- Ai đấy?


- Tôi.


- Tôi là ai?


- Tôi… tôi tôi đây, nói sẽ chứ chị.


Tự kinh ngạc. Tiếng ai nghe là lạ. Linh tính như báo Tự biết người này không phải là lính trên bốt, đêm đến, thường vào các làng tề, mò đến các nhà có đàn bà con gái để chòng ghẹo. Giọng anh ta nghiêm trang, nhưng nghe kỹ có vẻ hơi bối rối. Đột nhiên Tự cảm thấy lo ngại.


- Anh là ai?


Khắc im lặng. Trong lúc gấp rút, đánh liều lần vào làng tề ác, tìm chỗ ẩn náu. Khắc đã đoán trước câu hỏi này. Và Khắc đẵ sắp xếp trong bụng câu trả lời. Tình thế này, phải nói thật. Đồng bào sống trong lòng địch, nhưng vẫn một lòng hướng về kháng chiến. Điều đó, Khắc rất tin tưởng. Mà nếu chẳng may sa vào tay bọn Việt gian phản động thì sẽ tìm cách đối phó sau. Khắc đã nghĩ mãi. Không còn cách nào khác. Tuy vậy, đến cái phút căng thẳng này, Khắc không khỏi lúng túng. Qua kẽ hàng rào, Khắc nhíu mắt cố nhìn nét mặt người con gái sắp định đoạt sự may rủi của mình. Gương mặt chị ta ra sao? Trông hiền hậu hay nanh ác? Tối quá! Trước mặt Khắc chỉ có cái bóng người đen sẫm đứng yên không nhúc nhích.


- Anh là ai? - Tự hỏi lại.


Khắc đã bình tĩnh lại.


- Tôi là… là bộ đội.


Tự bàng hoàng và trong giây phút bất giác. Tự lùi lại, bước chân run rẩy. Một thoáng sau, Tự đánh bạo đến bên hàng rào, hỏi.


- Anh là bộ đội, sao anh lại ngồi ở đây?


- Tôi vừa bị lính bốt bắn thương ở chân.


- Chết! Đây là làng tề ác, có phải làng tề cứu quốc đâu mà anh lần vào đây?


- Tôi biết đây là làng tề ác, nhưng tôi không đi được nữa.


- Anh ngồi đây không được đâu. Lính tráng họ đi tuần rầm rập cả đêm đấy. Ông lý ông ấy cũng vừa đứng ở đây xong. Thôi, ai đi đi, nhanh lên!


Khắc điềm tĩnh nói, mắt không rời khuôn mặt vừa động đậy:


- Chị làm ơn cho tôi tránh vào trong nhà đêm nay, ngày mai. Để mai đỡ đau, tôi xin đi. Bần cùng quá mới phải phiền chị.


Tự nín lặng. Đầu óc Tự phút chốc như mớ chỉ rối. Làm cách nào bây giờ? Không che giấu anh ta, nhất định anh ta sẽ bị bắt. Mà bị bắt là bị cùm kẹp, tra tấn đến chết. Bất giác Tự thương anh ta, thương vô cùng. Nhưng mà giấu anh ta vào đâu? Bỗng nhiên Tự ngoái lại nhìn túp nhà im lìm, tiếng ngáy đều đều đang vẳng lên. Tự lắc đầu nghĩ thầm: không được! không được!


- Anh là bộ đội à? - Tự hỏi, nhưng không chú ý đến câu hỏi.


- Vâng, tôi là bộ đội.


- Anh đến đây có việc gì?


- Tôi đi công tác qua đây.


Ngừng một giây, Tự lại lơ đãng hỏi:


- Anh đi một mình à?


- Vâng một mình.


Tự ngây mặt không còn biết hỏi câu gì nữa. Bấy giờ Tự mới mở to mắt nhòm vào bóng tối. Anh bộ đội này bao nhiêu tuổi? Mặt mũi ra sao? Mặc quần áo gì? Có mang súng ống gì không? trong thâm tâm, Tự không hiểu cần biết những cái ấy để làm gì. Tự vẫn căng mắt nhòm. Song không thấy rõ. Mặc dầu, Tự ước đoán anh ta còn trẻ và nét mắt điềm đạm, rắn rỏi như giọng nói anh ta.


Đột nhiên Tự nhớ đến Nghĩa, anh ruột Tự. Nghĩa đi bộ đội được mấy tháng thì giặc về đóng bốt. Gần bốn năm rồi. Từ ngày ấy gia đình Tự chưa nhận được tin tức Nghĩa. Nghĩa đi bộ đội, chắc có nhiều lần phải đi công tác qua bốt giặc. Và chắc cũng có những lúc Nghĩa gấp khúc như anh bộ đội này. Sự liên tưởng đó khiến Tự càng thương anh bộ đội lạ mặt. Bất giác Tự tưởng chừng Nghĩa đang ở ngoài hàng rào và lo lắng đợi Tự.


Nhưng bỗng một ý nghĩ ngờ vực len vào đầu óc Tự. Xếp bốt, đội Tế, lý Mực… bọn chúng nó, đôi khi cho lính giả làm cán bộ, độ đội, đêm đến, gọi cổng nhưng nhà có người đi kháng chiến, xin ngủ nhờ. Nhà nào mở cửa đón vào, tức thì chúng nó ập vào bắt. Trong làng đã có mấy nhà mắc mưu chúng nó.


Tự đưa mắt nhìn quanh quất. Mắt Tự hoa lên. Thoáng chốc Tự tưởng chừng trông thấy đội tế, Lý Mực, bọn lính bảo chinh đoàn đội mũ vành rộng, vênh váo như chiếc bánh đa, đang nấp ở bờ ao, bụi cây, bờ giậu, mắt ho hó nhìn Tự.


Trong bóng tối, đồng tử trên cặp mắt nhỏ và dài dãn ra, thái dương lớp nhớp mồ hôi. Tự hỏi lại, cố nói cho đĩnh đạc, song giọng Tự vẫn run bắn:


 - Anh là bộ đội à?


- Vâng - Khắc đáp với một vẻ lấy làm lạ.


- Anh là bộ đội, đêm hôm, anh đến đây làmgì? Tôi đi gọi ông lý đến bắt anh mới được!


Khắc choáng người. Tay Khắc siết chặt quả lựu đạn và nhìn về phía Tự trừng trừng. Sự "trở mặt" đột ngột của Tự như tiếng sét đánh bên tai, khiến Khắc vừa căm giận vừa hoảng sợ. Căm giận hơn là hoảng sợ. Khắc cố dằn cơn nóng giận, nghiêm mặt hỏi:


- Chị định gọi người bắt tôi phải không?


Tự lúng túng chưa biết nói thế nào, Khắc đã gằn giọng nói tiếp.


- Chị nghĩ cho kỹ rồi hãy đi gọi người bắt tôi!


Câu nói rắn rỏi, giọng nói đanh và gọn làm Tự run lên vì xúc động. Đúng anh ta là bộ đội! Tự lập cấp rút chốt cổng, lách người bước ra. Và Tự đứng ngây người trước mặt Khắc. Giấu anh ta vào đâu bây giờ? Giấu trong nhà, không được. Thấy người lạ mặt, đêm hôm, đột nhập vào nhà, bà cụ hoảng lên, đến lộ chuyện mất. Tự chẳng lạ gì tính mẹ. Mẹ là người ham việc, thương chồng thương con, nhưng phải cái nhát gan quá. Nom thấy con bọn lính bốt ở ngoài cổng, bà cụ đã run như giẽ huống hồ việc này. Hay là…? Cũng khó! Tự nhìn Khắc. Một cơn gió rét buốt lùa vào trong ngõ, phả lên người. Người tự vẫn nóng ran. Và mắt Tự lại đổ hào quang. Phút chốc bóng đêm động đậy, vươn những cánh tay gầy ngẳng như những canh cậy gạo, chờn vờn quanh người Tự. Tự hoảng hồn toan vùng chạy. Nhưng chân Tự nặng chịch, tựa hồ chôn xuống đất. Tự nhìn Khắc, thở hổn hển. Làm thế nào bây giờ?


Ánh đèn pin bất chợt sáng loé ở bờ đê. Những tia sáng xanh, sáng quắc, dài, ngắn, đan vào nhau, lúc bật lúc tắt, loang loáng. Tiếng nói lao xao vẳng vào ngõ.


Tự run bắn người, buột miệng kêu khẽ:


- Chết rồi, lính bốt!


Khắc ngó vội ra bờ sông rồi ngó Tự, tia mắt phân vân. Chợt có tiếng lý Mực thét ở cuối xóm:


- Chúng bay đâu rồi? Đèn đóm nào thế kia? Chạy ra xem có phải các ông trên bốt sang không? Động rạng ở đâu thế không biết?


Ngoài bờ sông, ánh đèn pin vẫn lập loè ngả dài trên cánh đồng, soi dọc con đê đất đỏ rồi lừ lừ tiến vào trong xóm. Bọn dõng huýt còi gọi nhau rinh óc: tiếng chân chạy bập bịch. Bóng đêm choàng dậy xao xác.


Tự cuống quýt:


- Anh đứng dậy đi với tôi nhanh lên!


- Tôi bị thương không đi được. Cứ bình tĩnh chị ạ.


Chúng nó còn ở xa.


Tự ngồi thụp xuống:


- Anh bấu vào vai, tôi cõng, nhanh lên!


- Chị để tôi lết.


 Tự loàng choàng xốc Khắc lên vai, chạy vòng ra sau nhà. Chó ở đầu xóm, ở cuối xóm sủa ran. Chân Tự ríu vào nhau, mồ hôi vã khắp người. Tự men vườn chạy ra bụi tre, vừa chạy vừa thở rốc


Có tiếng lý Mực hỏi:


- Có phải các ông trên bốt sang không?


Tiếng một tên dõng đáp:


- Phải đấy ạ.


- Sang có đông không?


- Đến mười mấy ông ấy ạ.


Còi rúc tuýt tuýt. Tự cõng Khắc loạng choạng lần vào bụi tre. Gại tre móc vào trán, vào gò má Tự. Tự cúi rạp người bước vội. Vào đến giữa bụi, Tự đặt Khắc xuống, gạt đống lá khô, nâng nắp hầm rồi tuồn xuống trước.


- Hầm đấy à, chị?


- Sẽ chứ! Anh xuống đi, tôi đỡ, nhanh lên!


 Khắc vừa tụt xuống, Tự kéo vội nắp hầm. Rồi Tự ngồi vật ra, chân tay bủn rủn. Tất cả những việc vừa qua như diễn ra chớp mắt. Tự bàng hoàng nửa mê nửa tỉnh.


Khắc ngồi dựa lưng vào tường hầm, đầu ngật ra đằng sau. Vết thương đang đau chói lên óc. Khắc nhắm mắt, răng cắn chặt vào môi; hàm răng hẳn sâu, làn môi tái nhợt đi.


Tự cũng đang tựa vào tường, toàn thân run như tàu lá. Bất giác Tự nhìn vào bóng tối, ánh mắt ngơ ngác như thoát khỏi giấc mê. Giấc mê khủng khiếp.


Hai người đều im lặng. Im lặng một lúc lâu.


Rồi Tự ngước mắt nhìn Khắc qua bóng đêm. Thốt nhiên Tự nhớ lại cái lúc sốc Khắc lên vai. Hình như lúc ấy, Tự hơi xao xuyến. Nhưng rồi những cơn kinh kế tiếp nhau dồn dập tới, cái cảm giác e thẹn đó biến đi. Và Tự chỉ còn nghĩ đến việc cứu anh bộ đội Cụ Hồ. Anh ta cũng như anh Nghĩa.


Giờ đây, anh bộ đội đang ngồi trước mặt Tự, trong bóng tối dày đặc và chỉ hai người: Anh ta và Tự. Tự gượng nghịu đưa tay gạt mấy sợi tóc mai, mồ hôi dính vào má.


Cơn đau đã dìu dịu, Khắc ngồi ngay ngắn lại. Khắc hỏi Tự:


- Đây là hầm bí mật hở chị?


- Vâng, hầm bí mật. Tự giật mình vì câu nói của Khắc phá tan sự tịch mịch nặng trĩu trong hầm.


- Ai đào thế, chị?


- Tôi với chị Mận.


- Chị Mận ở gần đây à?


- Nhà chị ấy ở ngay đằng sau này - Tự thấp giọng.


- Nhưng chị ấy… chết rồi…


Tự ngừng bặt. Cơn xúc động bất ngờ làm Tự nghẹn lời, không nói được nữa. Mận là bạn thân của Tự. Một buổi chiều, cũng rét căm căm như thế này, Mận ra bãi bẻ ngô. Lúc đó mới nhá nhem tối. Tự dưng lính trên bốt bắn vu vơ mấy phát, bất đồ Mận dính đạn, chết gục trong bãi. Mãi đến tối mịt, người nhà Mận mới tìm thấy xác. Mắt Mận lim dim, tay nắm chặt bắp ngô, dòng máu ở vú thấm ướt đẫm vạt áo nhưng bầu vú căng sữa đang tứa ra. Mận vừa giỗ hết. Nhớ đến chuyện ấy, bóng dáng Mận nằm co quắp ở vạt ngô lại hiện lên trước mặt Tự. Mận chết rồi. Tự chớp chớp mắt, sống mũi cay sè.


Khắc buồn lây, ngồi yên lặng. Một lát, Khắc lại hỏi:


- Ở đây cũng phải đào hầm bí mật ở chị!


- Cái hầm này đào lâu rồi anh ạ. Dạo ấy, có một toán lê dương ở tỉnh về. Đêm đến, chúng nó sục vào nhà có đàn bà con gái, hiếp. Không cho hiếp, chúng nó đâm chết. Sợ lắm. Đêm nào, tôi với chị Mận cũng phải rủ nhau ra bụi tre này ngủ. Rồi chúng tôi bàn nhau đào cái hâm này. Bọn lê dương đi rồi, nhưng vẫn cứ phải để phòng khi chúng nó lại về.


Khắc cựa mình. Bất giác Khắc khẽ khít lên. Tự lấy làm lạ, vội hỏi:


- Anh làm sao thế?


- Tôi vừa chạm vào vết thương - Khắc nghiến răng cố nén cơn đau vừa dội lên.


- Anh bị thương ở đâu?


- Ở chân phải.


- Có việc gì không?


- Gẫy chân chị ạ.


- Chết.


Trong bóng đêm, đôi mắt lá răm mở to ra nhìn về phía Khắc, ánh mặt kinh ngạc và thương xót.


- Anh có đau lắm không?


- Cũng… cũng không đau lắm.


Bỗng nhiên lòng Tự se lại. Năm ngoái, có một đêm, ông Khuôn ở xóm Đình mò ra sông, quăng lưới trộm. Bọn lính đi tuần thấy thấp thoáng bóng người, nã một phát súng. ông Khuôn gẫy chân. ông ta rên la suốt ngày đêm. Mấy hôm sau, máu chảy ra nhiều quá, ông ta kiệt sức, chết… Chắc anh bộ đội này cũng đau lắm. Có điều anh ấy không muốn nói rõ, sợ mình lo lắng thêm. Nghĩ thế, Tự càng thương Khắc.


- Vết thương còn chảy máu không anh?


- Còn... chị ạ.


Tự im lặng. Trong bóng tối, cặp mắt buồn buồn cau lại như muốn cố nhìn cái ống chân gãy đang rỉ máu. Bóng tối đen kịt dường như có thể cắt ra từng miếng. Vậy mà Tự tưởng chừng nhìn thấy rõ dòng áu đỏ lòm đang rỏ giọt xuống đất. Và Tự nghe cả tiếng tách… tách rất nhỏ.


- Anh ngồi đây nhá! Tôi về một nhát rồi tôi xuống.


- Vâng - Khắc chợt nhớ ra - À, có việc này, xin dặn chị. Ở đây có mấy làng tề. Có lẽ làng này là làng tề ác nhất, vì nó ở gần bốt. Nhưng ác đến đâu thì ác, có nhân dân, cán bộ vẫn về được. Bọn giặc biết thế cho nên chúng nó tìm mọi cách lùng bắt. Sơ hở một chút là nguy hiểm với chúng nó.


Tự cắn môi. Nỗi lo sợ lại hiện trên khuôn mặt trái xoan, nước da trắng xanh.


-… Riêng phần tôi, không có gì đang sợ ngại. Nhưng còn chị, còn gia đình nhà ta. Vì vậy chị nên hết sức bình tĩnh. Có chuyện gì, chị cứ cho biết để chúng ta tìm cách đối phó.


- Anh cứ yên tâm.


Nói đoạn, Tự bò ra phía cửa hầm. Chợt Tự ngoái lại:


- Anh có cần gì không?


- Xin chị ít nước lã. Tôi khát lắm.


Tự khom người khẽ nâng nắp hầm. Bất thình lình Tự ngồi thụp xuống, quần áo xát vào tường kêu xột xoạt. Khắc gạc nhiên vội hỏi:


- Cái gì thế chị?


- Có người - Tự đáp khẽ, giọng hơi run.


- Cứ bình tĩnh chị ạ!


Nghe giọng nói điềm nhiên của Khắc. Tự trấn tĩnh lại. Phút sau, Tự đứng dậy hé nắp hầm. Bên trên, tiếng chân đã xa xa. Tự chui ra, đậy nắp hầm, phủ lá như cũ. Vừa phủ xong, ánh đèn pin lấp loáng ở cổng. Tiếng cai Luận, tên cai đầu múp, râu củ ấu. Khàn khàn ra lệnh:


- Hai thằng này, xóm Giếng! Hai thằng này, xóm Đình! Hai thằng này, xóm Chùa! Mau lên, không nó tẩu mất!


Tự hoảng hồn băng qua vườn, nép vào sau nhà. Giữa lúc ấy, hai bên lính bảo chinh đoàn mặc quần áo Ka - ki màu cỏ úa, đội chiếc mũ nồi rộng, trễ xuốt một bên tai, vung vẩy chiếc đèn pin, lướt qua bụi tre. Một đứa lủng bủng:


- Trông thấy đống máu, tưởng bở ăn! Nó lại không vù từ lúc tám hoánh nào rồi, bây giờ mới bắt đi tõi.


Đứa kia há hốc mồm ngáp rồi chêm vào.


- Thế là tong bố nó cả đêm nay. Rét mướt thế này mà không được ở nhà với mẹ đĩ, có cay nhau không?


Đằng trước, ánh đèn sáng loáng đang xói vào rặng rào, bờ ao ngọn cây. Rồi đến tiếng vạch rào và tiếng chân xấn xổ đi vào sân.


Tự tái mặt. Không đi về lối trước được nữa rồi. Ngồi nấp mãi ở đây cũng không được. Chứ nó xộc vào nhà kiểm soát, thấy thiếu người, thế nào chúng nó cũng tìm cho ra, bắt lên bốt tra hỏi. Trong làng, đã có mấy chị bị bắt trong trường hợp đó. Chúng nó đổ diệt là Việt - minh rồi tra tấn, hãm hiếp. Khi được tha về, các chị vừa kể lại cho Tự nghe, vừa khóc rưng rức… Làm thế nào bây giờ? Tự ngồi sát vào tường. Gió lách kẽ liếp, phát ra những tiếng động rờn rợn như tiếng lưỡi dao siết lên cật nứa. Tự run bần bật.


Tiếng chân đã đi vào đến thềm hè. Ánh đèn lấp loáng rọi vào phên liếp. Bỗng chốc Tự vụt nghĩ ra. Tự vội vàng men lại sau đầu trái, thaó múi lạt, hé cánh liếp, chui vào buồng. Vào đến nơi, Tự trèo lên giường, nằm dụi xuống. Tự như mê đi, bên tai chỉ còn văng vẳng tiếng gió; tiếng gió xuyên qua các khe hở, lùa vào gian buồng.


Bên ngoài, cai Luận cất tiếng hỏi, giọng hách dịch:


- Chủ nhà thức hay ngủ?


Cụ Chữ thức giấc từ lúc nãy, đang nằm trên giường. Nghe tiếng cai Luận, cụ đủng định ngồi dậy:


- Tôi thức đây.


- Nhà này có mấy người?


- Ba người - Cụ chữ đáp gọn lỏm.


Cai Luận có vẻ bực. hắn nghiêm mặt lại, nhưng khuôn mặt béo húp híp, bõng nhẫy, trông nồng nỗng như đứa trẻ cởi truồng, vẫn cứ thộn ra.


- Ba người là những ai?


Cụ Chữ đang kéo dở điếu thuốc. Bà Chữ thập thò ở cửa buồng, lật bật bước ra, đỡ lời chồng:


- Bẩm ông… ba người là ông cháu, tôi với cháu Tự ạ.


Ánh đèn bất thần lia vào trong buồng, xoáy vào người Tự và dừng lại một giây lâu trên bộ ngực đang thở phập phồng. Bộ râu củ ấu thập thò ở lỗ mũi cai Luận khẽ giật giật.


- Cô Tự nằm đây phải không?


- Vâng. Giọng cụ Chữ vẫn cộc lốc.


Ánh đèn ngoáy ngoáy trên ngực. Đột nhiên cơn khiếp sợ biến đi đâu mất, Tự chỉ còn thấy hổ thẹn và căm giận. Tự trở mình, quay mặt vào tường. Ánh đèn lại chiếu thẳng vào mông Tự. Tự kéo chiếu đánh xoạt một cái, đắp lên người.


Cai Luận nháy mắt, bộ râu củ ấu nẩy lên. Đoạn hắn lừng khừng đi ra cổng. Tự kéo chiếu đánh xoạt một cái, đắp lên người.


Cai Luận nháy mắt, bộ râu củ ấu nẩy lên. Đoạn hắn lừng khừng đi ra cổng. Tự gạt chiếu ngồi dậy, thở hổn hển như con cá ngoi lên mặt nước.


Chó sủa xô về phía xóm đình. Tiếng sủa thưa dần rồi tắt hẳn. Cụ Chữ lẩm bẩm một mình:


- Mẹ bố chúng nó, sắp gà gáy hai rồi vẫn chưa cho người ta ngủ! Ngày quấy đằng ngày, đêm quấy đằng đêm! ông sợ không nắm tay cả ngày đến tối được thôi!


Ở đầu chái bên kia, tiếng bà cụ Chữ ca cẩm:


- Ông ăn nói sổng sểnh vừa chứ.


Cụ Chữ hấm hứ và ngả lưng xuống giường. Túp nhà trở lại im lìm. Xóm giếng bây giờ cũng lặng đi. Chỉ còn tiếng cho cắn hóng và tiếng cú rúc trên ngọn gạo quẩn vào giấc ngủ vừa bị đứt quãng.


Con gió giá rét thốc vào đầu hồi, se những giọt mồ hôi đọng trên trán Tự. Cơn nóng hầm hập dịu đi. Song những phút kinh hoàng, thần kinh rão ra vừa qua vẫn còn để lại cái cảm giác nặng nề, mệt mỏi như sau một cơn sốt li bì. Bất chợt Tự nhớ đến Khắc. Khắc nằm dưới hầm, vết thương đang rỉ máu. Cái sống, cái chết của Khắc lúc này đặt trong tay Tự. Ý nghĩ đó khiến Tự lo lắng thêm.


Nhà ngoài cụ Chữ đã lại ngáy đều đều. Buồng bên kia, không thấy tiếng trở mình. Chắc bà cụ cũng đã thiu thiu ngủ. Tự lách khe liếp, rón chân bước xuống bếp.


Gian bếp tối đen: mùi cám lợn nồng nồng sực lên.


Tự quờ tay tìm cái nồi đồng điếu. Bất ngờ Tự gạt tay phải cái vung. Cái vung rơi xuống đất kêu đánh xoảng một tiếng. Trong đêm tối, tiếng động nghe gọn và sắc. Tự không còn hồn vía, đưa tay ấp vội vào ngực dường như để trống ngực khỏi lay động thêm bóng tối. Không biết có ai nghe thấy không? Tự ngồi thu hình lắng nghe tiếng động xung quanh. Bóng đêm vẫn im ả, vắng lặng.


Tự bưng cái nồi khẽ đặt xuống đất. Cái nồi tư thầy u Tự mua lại đã lâu lắm. Có nhẽ từ cái cữ đẻ anh Nghĩa. Nó đã rách cổ, vá nham nhở dưới trôn. Tự thò tay khoắng; mồ hôi ở cái nồi toát ra, lẫn bựa cơm lầy nhầy. Chỉ còn một ít cơm trộn khoai dính nồi. Mùi cơm chua chua; mùi khoai hà hăng hắc.


Tự lót mảnh lá chuối vào cái rổ con. Rồi Tự vét cơm ra. Cơm, khoai lổn nhổn, choèn choèn một rúm ở đáy rổ. Tự thò tay nhặt từng hạt cơm, từng mẩu khoai nhỏ giấu ở sườn nồi. Vẫn chưa được nửa bát cơm!


Tự cầm rổ cơm nhẹ bỗng giơ lên trước mặt. Tự tưởng chừng ngó thấy dành rõ từng mảnh khoai hà xám lỗ chỗ và từng hạt cơm rời rạc. Phút chốc rổ cơm như lé lên một tia sáng soi rọi vào tâm tưởng Tự. Gia đình Tự túng đói. Từ ngày giặc kéo về đóng bốt, gia đình Tự càng cơ ực. Tự cảm thấy tủi thẹn, đau xót và căm giận.


Có đến một lúc lâu, Tự ngồi yên lặng trong gian bếp tối, rổ rơm đè trĩu trên tay. Ánh mắt buồn tủi hằn trong tròng mắt lẫn vào bóng đêm. Chợt Tự đứng vụt dậy, nhón gót đi ra sau vườn.


(còn tiếp)


Nguồn: Làng tề. Tiểu thuyết của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn học, 1962. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 20.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
xem thêm »