tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28871972
Tiểu thuyết
28.10.2014
Đỗ Quang Tiến
Làng tề

1. Bấy giờ là giữa tiết đông.


Dòng sông Trà-lý chảy lừ lừ; con nước đông ken trong xanh. Tiếng sóng lao xao. Những đám bọt nước đặc sệt như rãi trâu, quay tròn trong vũng nước xoáy lắng dưới lòng sông vẩn lên nhuộm đỏ mặt sông. Dòng nước phù sa cuồn cuộn đánh tan những đám bọt nước đục ngầu. Và tiếng sóng rít lên nghe rờn rợn như tiếng hú.


Một buổi chiều. Gió thổi hun hút vào làng Phượng - lâu ven hồ. Lá khô trăn trở trên mặt đê. Không khí thoảng hơi đất ẩm ướt, mùi lá cây nát mủn và mùi cỏ úa ngai ngái.


Lúc đó, bóng chiều giăng xuống đã một lúc lâu. Những tia nắng cuối ngả rạp trên mặt sông, bãi đê và cánh đồng loang lổ luống cày ngả ,vũng nước đóng váng óng ánh, dược mạ nứt nẻ. Ánh nắng thu dần, tụ lại và đỏ rực lên ở chân dãy núi màu quan lục nổi rõ góc cạnh ở phía xa. Tia nắng dẻ quạt dựng đứng, chiếu lên nền trời những đường vân ngũ sắc. Nhưng chỉ trong khoảng khắc, các đường vân biết đi, vòm trời xám dần , xám ngắt, đoạn tím bầm lại.


Trên con đê cánh cung , cây gạo cao to, vỏ sần sùi, in một vệt đen sạm lên da trời. Cây gạo đã trút hết lá và đang nhú hoa. Những búp hoa đỏ rói. Trong bóng tối nhờ nhờ, những cành cây trụi lá trông phảng phất những cánh tay khẳng khiu , rớm máu, đang vươn ra cố níu lấy một vật gì.


Bóng chiều im lìm, tranh tối tranh sáng, bắt đầu phủ lên làng Phượng -lâu. Gió vẫn giật giọng.Gió như từ dãy núi đằng xa thốc lại. Những nếp nhà xiêu vẹo chuyển lắc rắc. Rạ trên nóc, hai bên đầu hồi, ở giọt gianh sờm lên. Những cuộn khói xanh sẫm ủ trên mái rạ tan ra, bay theo hướng gió. Tịnh không một tiếng động mạnh. Chỉ có tiếng vo gạo xàn xạt ở cầu ao là nghe còn rõ.


Bên kia sông, hàng rào dây thép gai, ụ súng, lô cốt... tất cả đã lẫn vào giáng chiều. Cái gác chuông nhà thờ kiểu gô tích cao ngất nghểu, gần đấy, vừa nãy soi bóng trên dòng sông, bây giờ sóng cũng đã xáo lộn và xoá nhoà.


Một hồi kẻng trên chòi gác ở cái bốt bên kia sông bỗng lảnh lên. Âm thanh vừa tắt, tiếng chuông ở nóc nhà thờ dóng dả, ngân vang trên mặt sông.


Bóng tối ngả xuống. Bóng tối trùm lên dòng sông, cánh đồng nham nhở và bãi đê có những hàng ngô dính đạn bên bốt bắn sang, gãy gập. Mỗi lúc gió ở dưới sông thốc lên, sợi râu ngô vàng hoe ở các thân cây tàn phế vẫn động đậy; mép lá vẫn cứa vào nhau gờn gợn. Đằng xa, những túp nhà xơ xác, những luỹ tre cằn cỗi cũng đã lẩn vào trong bóng tối.


Làng Phượng - lâu cách cái bốt một cánh đồng hẹp, một bãi đê thoai thoải và dải sông Trà - lý. Cái bốt trông rất rõ, lô cốt, vọng gác chỗ kia, ụ súng, nòng súng bẩy mươi lăm ly chỗ kia, lá cờ tam tài bạc phếch cắm chỗ kia! Những lối đi càn về, lính bảo chính đoàn, lính bảo an say rượu, lang thang ở bờ sông, vừa đi vừa hát: Mình ơi có đi Bờ Hồ… Cùng ta chén kem kẹo dừa… và tiếng rú thét trong buồng tra tấn, thuận chiều gió, nghe càng rõ.


Lúc này, nhìn sang bên bốt, chỉ còn thấy ánh đèn đỏ quạch vừa loé lên trên các chòi gác. Sương bắt đầu rơi: ánh đèn chập chờn. Các ụ súng khẽ cựa quậy. Bỗng có một phát súng nổ. Dường đạn bay qua sông, nghe díu… díu trên mái nhà. Một phát súng nữa nổ. Vẫn nổ bâng quơ như thằng say rượu ngửa mặt lên trời chửi đổng.


Xóm giếng, ở đầu làng, lặng như tờ. Ánh những ngọn đèn dầu vặn nhỏ bằng hạt ngô, rải một quầng sáng vàng chợt trên phản, trên chõng và rọi lên phên liếp những gạch sáng mờ mờ, ngắn và thẳng như vết dao chém. Tiếng súng bắn thị uy vừa dứt, tiếng chày giã gạo vẳng lên, thưa thớt, rời rạc.


Nhà cụ Chữ ở đầu xóm, căn nhà hẹp lòng, một gian hai chái, chân cột khập khiễng, mái rạ nát mủn đóng bánh từng đám, hai đầu hồi cao gồ, giữa sụn xuống như lưng con lợn sề. Cột chống tứ phía, túp nhà vẫn nghiêng ngả, chỉ chờ một cơn bão nhỏ là sập xuống.


Ánh đèn le lói rải lên tấm phản mọt ruỗng. Lúc này, đàn mọt vẫn đục nạo ken két. Trong im lặng, tiếng mọt nghiến răng vẳng lên khô khan và lành lạnh. Ở góc nhà, ba người đang âm thầm ngồi tết chổi xung quanh đống gộc tre cháy âm ỉ. Bóng họ in trên phên liếp, đôi khi đờ ra không động đậy. Trên mái nhà, tiếng chuột vừa cắn đuổi nhau đã lại im bặt. Chỉ còn tiếng gió: tiếng gió thốc vào lùa cây và hút vào các ống tre ở đầu hồi. Túp nhà chuyển động; mái như võng xuống.


Chợt người con gái nói nhỏ:


- Chị Gấm được tha lúc ban chiều, u ạ. Chị ấy gầy rộc đi, người chỉ còn bằng cái chét tay. Trông thương quá!


Cặp mắt sùm sụp của bà mẹ khẽ ngước lên, nhìn người con gái:


- Thật à? Thôi, cứ sống sót mà về với cha với mẹ là phúc tầy đình rồi. Nhà chị Học đấy, lính tráng họ hiếp chán, buộc đá quẳng xuống sông cho mất tích, chả phải chịu à?


Ông bố ghếch cái gộc tre lên rồi đận đà nói:


- Cái này đúng là mưu mô thằng lý Mực muốn tâng công với thằng xếp bốt. Từ ngày chồng nó đi bộ đội, nó được tin tức gì đâu, thế mà quân chó mõ dám đóng sống là nó vẫn thì thọt với chồng nó. Thằng lý Mực có họ ngoại với cái Gấm, vẫn phải chịu giỗ tết nhà nó đấy. Mẹ bố cái quân ăn chó cả lòng?


- Đã biết thế nào mà ông cứ dựng đứng lên. Nhỡ đến tai người ta thì làm thế nào? - Bà cụ nói lí nhí trong miệng.


- Bà cứ ru rú xó nhà thì bà không biết, chứ cả làng này ai còn lạ cái việc gắp lửa bỏ bàn tay ấy. Phen này cái Gấm nó về, nó lại không thí cho thằng lý Mực một nhát rồi nó trốn ra ngoài ấy với chồng nó chớ kể.


Ông cụ có vẻ căm tức. Những nếp nhăn ở đuôi mắt xít lại; cánh tay rung rung chạm vào con dao vót nan dựng bên cạnh. Con dao rơi xuống cái đòn gỗ, kêu đánh cạch một tiếng. Bà cụ giật mình, tưởng có tiếng động ở ngoài sân, hấp háy mắt nhìn ra. Giây phút sau, đôi mắt cập kèm lại buông sụp như mọi lúc.


Gian nhà trở lại im ắng. Vẫn chỉ còn tiếng mọt khoét tấm phản, tiếng gió hun hút và tiếng chuột đuổi nhau kêu chít chít trên mái nhà. Ngoài hè, con chó con bỗng ngóc đầu trông ra cổng, sủa vu vơ mấy tiếng.


- Con chó ranh! Chỉ được cái cắn hoắng! - Người con gái mắng át đi.


- Con chó con nằm xuống, gãi rận cành cạch. Một lúc sau, người con gái lại thì thào.


- Nghe nói đêm qua, ở trên bốt, đội Tế lại tra anh Thọ ghê lắm, thầy ạ. Sáng nay, không biết lính bảo an giải anh ấy đi đâu mà đi từ tờ mờ đất.


- Anh Thọ nào nhỉ? - ông cụ cau trán chưa nhớ ra ai.


- Anh Thọ bên Bình - lâm, có vết chàm ở tai ấy ạ.


- À, anh Thọ, chồng chị Lạng! - ông cụ chẹp miệng - Tội nghiệp! Anh ấy còn ít tuổi mà ăn ở phân minh tử tế lắm. Cả làng ai cũng mến nết. Nhà ấy , ngày xưa túng đói nhất hàng xã này đấy. Bố phải đi quét chợ, mẹ phải đi làm mướn, mãi đến năm ta lấy huyện mới có bát ăn. Hai vợ chồng được có một mình anh ta đấy thôi.


Bà cụ thở dài:


- Chị ấy vừa sinh nở, có dễ chưa đầy tháng. Máu gái đẻ, nghĩ ngợi vào lại khổ.


Bà cụ lại ngước cặp mắt đâm lo nhìn người con gái:


- Thôi, chuyện đâu bỏ đó, đừng có song sóc cái mồm mà chả phải đầu lại phải tai.


Giọng ông cụ hơi sẵng, dường như lại bực với vợ:


- Bà chỉ được cái dát như cáy. Chúng nó giết ngay bây giờ đấy! Bộ đội vừa diệt đồn Cẩm - tú kia kìa! Cái bốt này chưa biết lúc nào đấy thôi. Mẹ cha chúng nó! Nay bắt bớ, mai tra tấn, ăn ở thất nhân tâm như thế, thọ làm sao được!


Hình như ông cụ nói hơi to, Bà cụ lại lấm lét nhìn ra sàn. Không thấy ai, bà cụ lầm bầm:


- Nhà cửa thông thống thế này, mà ông cứ bẵm ăn bẵm nói. Sao ông chả ra sân mà gào lên có được không? Sợ lại chả được lên bốt à?


Ông cụ cũng biết mình vừa trống miệng. Ông cụ nín lặng, khuôn mặt gầy khô vẫn in hằn những nét căm tức. Người con gái đã tết xong chiếc chổi. Bỗng chị lại bảo mẹ:


- Chị Gấm trông khắc hẳn đi, u ạ. Mắt chị ấy thâm đen, nước da xanh như tàu lá, trông đến thương…


- Có thế mà cũng nói mãi! Thương nó thì đến nhà nó mà cơm cháo, thuốc thang cho nó! Người ta lại không điệu nốt lên bốt ấy à! - Bà mẹ vừa lườm con gái vừa lủng bủng.


Người con gái làm thinh. Ông cụ làu bàu câu gì nghe không rõ rồi cũng ngồi yên. Bà cụ sượng sùng, cặp mi mắt dầy và dăn deo lại buông xuống như lúc nãy.


Ngoài sân, bóng tối đã ken đầy. Con chó con đang cuộn tròn trong cái nùm rơm ở đầu hè, bỗng ngóc dạy sửa nhanh nhách. Hình như có tiếng chân ở ngoài cổng!


*


Lão Mấu lảo đảo đi tới. Cái đầu bù xù gập vào ngực: hai ống chân mềm oặt sắp dụi xuống. Gió đánh thuốc vào người, buốt như roi tre quất. Lão ta vẫn phong phanh chiếc quần buông lá toạ, ống cao ống thấp và chiếc áo cánh nâu bã, hở phanh ngực.


Lão Mấu khạc nhổ một bãi xuống đất. Dòng nước rãi sực hơi rượu, ròng xuống bộ râu hoa râm rậm rì. Lão ta đưa tay áo quệt ngang, phệu phạo:


- Gió to lên cho nó mát cái nào! Mẹ kiếp, đang bức bỏ bố lên đây!


Bỗng lão Mấu đứng lại, choạng chân, tay víu vào rặng rào. Nhưng người lão ta vẫn ngất ngưởng, chúi về đằng trước, ngật lại đằng sau. Và dòng nước rãi nồng nặc vẫn tức ra hai bên mép. Bất thần lão ta vạch vào, thò dầu nhìn vào trong nhà:


- Cụ….cụ Chữ ăn cơm đấy à? Ăn muộn thế?


Trong nhà, tiếng nói chuyện rì rầm tức thì ngừng bặt. Cụ Chữ ngó ra cổng.


- Ai đấy? Cụ Mấu phải không? Ăn cơm từ lúc nãy kia rồi. Mời cụ vào uống nước!


- Thôi, kiếu cụ! Vừa đánh nước cay, kễnh bụng lên rồi đây.


Đột nhiên lão Mấu ré lên.


- Vặn to đèn lên có được không? Sống dầu đèn, chết kèn trống. Đèn bằng cái đít con đom đóm thế nọ, biết đằng nào mà làm mà ăn? Cứ vặn to lên cho nó sáng sủa, tội vạ đâu, có thằng Mấu này chịu! Ồi dà! Sợ cái đếch!


Bà cụ Chữ vội nói vọng ra:


- Nói sẽ chứ, cụ Mấu ơi! Thời buổi loạn lạc mà cụ cứ nói oang oang nghe ghê chết thế này.


Lão Mấu lại rúc đầu vào rặn rào cúc tần, gào lên:


- Cái gì hở… hở cụ? Cứ nói to lên nào! Máu tôi cứ hay chém to kho mặn. Sợ cái đếch!


Bà cụ nín thít, nét mặt lộ vẻ bực bội. Tự người con gái, bấy giờ mới lên tiếng:


- Tối rồi đấy, về kiếm một giấc cho khoẻ, cụ Mấu ạ!


Lão Mấu đưa tay túm mớ tóc dầy cợp trên vành tai, kéo thẳng đầu lên, mắt gấp gáy:


- Chị Tự đấy phải không? Tối rồi à? Thế mà mà… cứ ngỡ là mới nhọ mặt người. Chị Tự này, bao giờ ở riêng đấy? Bao giờ ở riêng, cho tôi biết trước nhá! Nghèo thì nghèo, cũng cứ là là… nhịn ba bữa rượu, lấy một chai bố mừng chị.


Tiếng chó sủa vang. Một con chó cái gầy nhom, da lõm xuống kẽ xương sườn, đuôi tụt vào bụng, lừ lừ chạy ra, độp một miếng vào kheo chân lão Mấu. Lão ta loạng choạng quay lại, xoạc chân, khom lưng, giang cánh tay, "vào tay tư":


- Cắn trộm à? Có giỏi làm với tớ một keo. Thua ai chứ lại thua thằng ấy à? Nào, mần một keo! Sợ cái đếch!


Con chó cái cúp đuôi chạy mất. Lão Mấu cười khề khề. Chó trong ngõ lại sủa rộ. Bà cụ Chữ thổi tắt đèn, lủng bủng:


- Như quan ôn quan dịch ấy! Thấy sợ!


Trong xóm, phút chốc, có những ngọn đèn tắt theo. Có lẽ nhiều người nghĩ ngắn như bà cụ Chữ. Nhà ở gần bốt; đêm hôm, lính tráng đi tuần nườm nượp, thấy to tiếng, chúng nó kéo đến lại lôi thôi. Vả lại, lão ta rượu vào, nói thất bát chẳng sao, chứ dân làng mà xẩy miệng thì lên bốt sớm.


Xóm Giếng tối om. Chó sủa gióng một. Gió lùa vào luỹ tre xào xạc. Lão Mấu buồn tình, ngật ngưỡng đi sang ngõ khác. Đầu lão ta ngoẹo sang một bên, vai đổ xiêu như cái cây phạt gốc, sắp lăn kềnh ra. Bắt chợt lão ta lại lảm nhảm.


- Chịu mụ Luyến thật! Rượu cứ sánh lên như nước chè tươi đặc. Tài thế chứ lại! Đang thèm rỏ rãi ra, đánh mấy chén vào là đứng nghiện ngay. Chả phải nó láo chứ chứ… mụ ấy mà hai năm mươi, cứ gọi là cái làng này, nhiều thằng phải áo sò, mũ chuối, chống gậy đưa mụ ấy ra đồng mới phải!.. ông Lược có nhà không, mà chả thấy đèn đóm gì thế kia?


Chó lại sủa ông ổng. Bất thần lão Mấu thét:


- Ai kia? Đứng lại, giơ tay lên!


- Tôi - Tiếng đáp dõng dạc làm lão Mấu giật mình.


- Chết chết! Ông lý, lại cứ tưởng ai. Ông đi tuần sớm thế?


Lý Mực giơ tay toan bịt mồm lão Mấu:


- Sẽ chữ! Đêm hôm mà cứ bô bô cái mồm lên! Chúng nó lại thịt cho bỏ mẹ bây giờ. Tưởng ở gần bốt mà chúng nó hốt à? Lý Bầu ở Bình - lâm, đêm hôm xưa đi tuần, chúng nó choảng cho hòn đá vào mặt, gãy mấy cái răng kia kìa! Say rồi thì về đánh giấc đi, không, nhỡ ông đội Tế mò sang kiểm soát tuần giờ, ông ấy bắt gặp, lại ăn báng súng nhọc.


Lão Mấu đưa tay gãi cái mũi đỏ lựng như quả nhót chín, líu ríu bước đi. Vừa đi, lão ta vừa lảu bảu:


- Sợ cái đếch! Trên răng dưới dái, chứ làm ông lý, ông phó gì mà phải sợ ông đội Tế?


Bóng lý Mực đã khuất sau bụi tre. Cặp mắt ốc nhồi giương lên nhìn sâu vào bóng đêm; quai hàm bạnh ra, căng đôi má nung núc và cái cằm sệ mỡ, nối liền với cổ. Hắn bước lò dò; bước chân êm như bước chân kẻ trộm đi "ăn sương". Thỉnh thoảng hắn quay phắt lại, khẩu súng lục đập vào đùi lách cách. Rồi hắn lại thấp thỏm bước đi.


Chợt lão Mấu hát rống lên:


- Ngày xưa... có anh Trương Chi... Người thì thậm xấu… hát thì thậm hay!


Cái lão hung thần ra vẫn lẩn quẩn ở đây! Xóm Giếng lại bực mình. Có những ngọn đèn vừa vặn nhỉnh lên lại vặn tụt xuống.


Lão Mẫu người làng này. Ngày xưa, lão ta làm lính lệ trên huyện. Gần hơi hớm quan, lão ta kiếm ăn được. Cái trò "no cơm ấm cật thì dậm giật mọi nơi". Lão ta đâm cờ bạc rượu chè. Được ít lâu, lão ta nợ như chúa chổm. Bí quá, lão ta phải bỏ trại lệ, trốn về nhà.


Từ đấy, mụ Mấu phải nai lưng chạy cho chồng ngày hai bữa rượu. Rượu sáng, rượu chiều, lúc nào lão ta cũng say khướt. Được vài năm, gia tư điền sản sạch như chùi. Vừa lúc ấy, mụ Mấu lăn cổ ra chết. Túng thì phải tính. Sau cái lần rạch đầu ăn vạ ở nhà trưởng bạ Khoan, lão Mấu xoay ra cái nghề "đầu bò đầu bướu" và khâm liệm, canh xác người chết trong làng kiếm ăn. Thế mà rồi lão ta sống lay lứt đến bây giờ.


Giặc về đóng bốt bên kia sông. Lý Mực ra mặt lập tề. Hắn dỗ ngon dỗ ngọt lão Mấu đến làm môn hạ cho hắn. Lão ta bùi tai nghe theo. Thế là lão ta lại có "danh phận". Tính nết lão ta vẫn vậy. Say mềm rồi thì ông lý, ông phó, cũng coi bằng con chó ghẻ. Được một cái lão ta ruột để ngoài ra, đối với dân làng, không có tâm địa nào cho nên bà con xóm mạc không ai oán ghét.


Giờ thì chiều nào cũng thế, vác cái loa sắt tây đi rao các ngõ xong, lão Mấu sà vào hàng mụ Luyến ở cổng làng, đánh một chai "con hươu" rượu ngang, nhắm mấy quả chuối xanh chấm muối ớt. Đến lúc mi mắt mòng mọng, da mặt bực ra, cấu một cái là vãi rượu, lão ta vươn vai đứng dậy, các khớp xương nổ lục cục. Lão ta loạng choạng đi vào lang, lang thang các xóm đến khuya mới mò về miếu.


- Anh Trương Chi vốn ở dưới sông… Chở đò ngang dọc suốt đêm đông dãi dầu… Hớ hớ! Chở đò như cái thằng… cái thằng cu Kẹo làng ta ấy.


Cái giọng ồm ồm như tiếng mõ tre của lão Mấu nhỏ dần. Lão ta đang đi xuống xóm Đình. Xóm Giếng thở từng hơi dài như thể cắt được cái bướu kềnh kệnh trên người. Có những ngọn đèn lại loé sáng, ánh lửa rọi lên phên liếp. Tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng chó căn hóng, chốc chốc lại cắt ngang tiếng chân bọn dõng bước rào rạo ngoài đường.


Bên kia sông, bất thình lình lại có một tiếng nỏ. Tia lửa nhỏ và dài bay qua ngọn gạo. Con cú đậu ở cành cây đang rúc bỗng loàng choàng, mắt lấc láo. Tiếng kẻng cầm canh lảnh lên, át tiếng gió chạy vù vù trên mặt sông. Ánh đèn pha lia một vệt sáng quắc lên bãi đê, cánh đồng và chân luỹ tre. Bóng tối vừa giạt ra, lại tụ vào. Rồi bóng đêm lại phủ lên làng Phượng - lâu, giá lạnh như tấm vải liệm.


Vắng lặng. Chỉ còn tiếng gió huýt sáo và tiếng sóng vỗ vào bờ ì uộp, ì uộp…


Khắc trườn qua con đê cánh cung, luồn vào bãi ngô. Tàu lá, cạnh sắc như lưỡi liềm, cứa vào cổ, vào mặt buốt nhói. Khắc vẫn lặng lẽ buồn, nhanh nhẹn như con rắn. Vào đến giữa bãi, Khắc ngồi thụp xuống. Và Khắc đưa tay xoa mặt. Bàn tay nhơm nhớp một chất gì nhầy nhầy, âm ấm. Có lẽ là máu, mồ hôi và bụi cát. Khắc hít một hơi găng lồng ngực rồi thở từ từ. Cơn mệt mỏi dịu đi.


Đêm về khuya. Gió săn lạnh hơn ban tối. Trên nền trời, một vầng sáng mỏng, nhợt nhạt hoe lên sau cụm mây xám. Sương rơi lả tả như rắc bột.


Khắc căng mắt nhìn ra phía bờ sông. Vắng ngắt. Dòng sông Trà lý lao xao: những vệt sáng xám bệch xô nhau chạy vòng vèo, từng đợt từng đợt sóng đuổi nhau, dềnh lên bãi cát. Bãi cát hút vội làn nước đang hối hả rút ra xa và bật lên những tiếng xèo xèo rất nhỏ.


Bến bề yên tĩnh. Khắc đứng vụt dậy cởi quần áo quấn lên đầu, gài cỏ xung quanh. Đoạn Khắc cầm qủa lựu đạn, lom khom bước ra khỏi bãi ngô. Một cơn gió lạnh buốt từ mặt sông hắt lên, phả vào người. Khắc thít một tiếng khe khẽ. Cơn gió xoáy vào da thịt, khắp người Khắc sởn gai ốc.


Ra đến bờ sông, Khắc ngồi thu hình, đảo mắt nhìn quanh một lượt. Vẫn vắng ngắt. Phượng - lâu, Nhân hoà bên này sông, Bình - Lâm, Cát lăng bên kia sông, không còn một đốm lửa. Chắc mấy làng ven hà đã ngủ say. Duy có cái bốt là còn đang chập chờn. Các ngọn đèn trên chòi gác, đỏ kè, giống những con mắt gắt ngủ, đang cố giương lên dòm ngó vào bóng đêm. Và con sông cũng vẫn thao thức. Tiếng sóng trầm và đều đều nghe như hơi thở.


Bỗng chốc có tiếng loạt xoạt trong bãi ngô. Khắc quay phắt lại. Động chăng? Khắc siết chặt tay vào quả lựu đạn. Tiếng loạt xoạt lại vẳng lên. Rồi đến tiếng chít chít… chít chít gọn và sắc. Khắc nhếch mép cười thầm. Ra mấy chú chuột đồng mò ra gặm ngô sữa!


Khắc tuồn xuống nước. Về đêm, nước phù sa buốt ngăn ngắt. Cái cảm giácgiá buốt leo từ từ lên đùi, lên bụng, lên ngực. Rồi mình mẩy Khắc tê cóng. Khắc nhoài người, bơi vun vút. Tiếng sóng, tiếng gió chạy là là trên mặt sông, hút vào tai nghe trờn trợn như tiếng gầm thét.


Đây là đâu? Còn ở bờ bên này, hay đã ra giữa sông, hay sắp sang đến bờ bên kia rồi? Không rõ. Dòng sông rộng ra, rộng mênh mông. Bốn bên chỉ có tiếng sóng vỗ, tiếng gió rít và một màu đen kịt, loang loáng những vệt xám xanh. Khắc chuyền quả lựu đạn sang tay bên kia, áp má xuống nước, rướn lên.


Bất chợt ánh đèn pha trên bốt lừ lừ quét một vệt sáng rực lên mặt sông. Tia sáng ngả rạp trông như một ngọn chổi dài. Dòng sông đỏ lừ. Khắc dừng lại, khẽ động chân cho người đứng yên một chỗ. Toàn thân Khắc chỉ còn là một búi cỏ loà xoà nổi lập lờ trên mặt nước. Tia lửa điện hừng hực sắp lia tới nơi. Bất giác Khắc nín thở, lồng ngực căng lên. Một đám bọt nước trôi lại, quấn vào cổ Khắc, quay tròn. Thoáng chốc, một cảm giác nhớt nhát, nhày nhụa chạy khắp người, tựa hồ một đàn rán nước đang tranh nhau quấn vào cổ. Khắc rùng mình luôn mấy cái cà người lạnh toát. Tia sáng xói vào mặt; Khắc nhắm nghiền mắt. Mi mắt vẫn nhức nhối. Bỗng dưng dòng sông như bốc lửa. Lửa cháy ngùn ngụt. Người Khắc nóng hập lên. Giây phút sau, ánh đèn pha lia đến đầu đằng kia và tắt ngấm.Mặt sông lại tối sẫm và rộng mênh mông. Tiếng sóng dội lên, tiếng gió dội lên, lay động bóng đêm im lìm.


Khắc nghiêng người, bơi vun vút.


Ánh đèn trên chòi gác mỗi lúc một tỏ. Lô - cốt, ụ súng, nòng khẩu bảy mươi lăm ly, lá cờ tam tài bay lất phất trên ngọt cột cờ rõ dần. Hình như có cả tiếng giày đinh lạo xạo và tiếng chó lài sủa ông ổng vẳng lại. Khắc vừa sải vừa lắng nghe. Vẫn chỉ có tiếng gió và tiếng sóng vỗ óc ách vào mặt và trườn lên đầu. Bất chợt khắc đạp phải bãi cát, người bềnh lên. Đến bờ rồi! Khắc rẽ nước, bước vội lên bờ, nhón gót chạy qua bãi đê. Vừa chạy, Khắc và nhìn cái bốt, sương đêm phủ mờ mờ. Qua ánh đèn đỏ ửng, lô cốt, ụ súng khẽ động đậy. Và cái nòng súng mở choàng con mắt cay sè, ngó lơ láo, Khắc lẩn vào bụi chuối. Mùi chuối thơm thơm, ngai ngái gây một cảm giác đầm ấm, thân thuộc Khắc trấn tĩnh lại.


Khắc vò nắm lá răm, xoa vào mình mẩy, quần áo cho chó lài khỏi đánh thấy hơi người. Đoạn Khắc nằm sát xuống rệ cỏ, trườn lên. Con đường đất đỏ viền cỏ úa tối đen như nét mực tàu vẽ bằng bút lông, chạy ngoằn ngoèo đến cổng bốt, đột nhiên dài ra tưởng chừng không bao giờ bò tới nơi. Không một bóng người. Trống ngực Khắc đập thình thịch.


Gió lùa vào rặng chuối. Tàu lá quật đi quật lại nghe rõ mồn một. Tiếng phần phật khô khỏng vẳng lên giữa tĩnh lặng, khiến bãi đê càng hoang vắng.


Cánh tay Khắc mỏi rời. Khắc vẫn mải miết trườn lên. Bỗng chốc Khắc chạm phải hàng rào dây thép gai. Trống ngực Khắc đập mạnh hơn khi nãy và một giọt mồ hôi ròng xuống thái dương. Khắc nằm ẹp xuống đống cỏ lác cao đến thắt lưng. Phút sau, Khắc trở lại bình tĩnh. Khắc nghếch đầu nhìn vào. Trong sân, bóng người thấp thoáng. Nòng khẩu đại bác nhô ra như con mắt trột nhìn hau háu vào đêm tối. Ngoài cổng, một tên lính bảo an, cầm ngang cây súng trường, cắm chiếc lưỡi lê sáng xanh, vừa đứng gác vừa ngủ gật. Chốc chốc gã lại choàng mắt, nhớn nhác nhìn xung quanh. Rồi gã lại gà gà ngủ, đầu ngoẹo sang một bên, miệng há hốc. Nét mặt gã trở nên ngờ nghệch, thơ dại và hồn nhiên như một đứa bé.


Dưới ánh đèn từ đằng xa hắt lại, Khắc bắt đầu ghi sơ đồ cái bốt vào trí nhớ. Một lát, chợt có tiếng chó lài sủa ồm ồm. Khắc giật mình. Động rồi chắc? Bất giác Khắc áp mặt vào cánh tay áo, hít một hơi, mùi lá răm thơm hắc. Trong sân, vẫn có bóng người đi lại, dáng điệu bình thản, và tiếng chó ồm ồm trong buồng cũng đã im bặt. Khắc yên tâm. Khắc lại mở to mắt nhìn cái bốt, ghi nhớ từng căn nhà, từng ụ súng, từng lối đi ngóc ngách một.


Bất thần có tiếng rên rỉ từ căn nhà xây bằng đá hộc vẳng ra. Rồi đến tiếng ằng ặc tắc trong cuống họng. Khắc nhíu mày. Chắc chỗ ấy là buồng giam. Sự ước đoán đó vụt hiện lên trong óc, khiến Khắc vừa căm thù vừa lo sợ. Khắc chớp chớp mắt cho bình tĩnh lại rồi lại chăm chú nhìn.


Kẻng cầm canh trên chòi gác, ré lên một tiếng bất thình lình. Tên lính gác cổng mở choàng mắt, đứng thẳng người, gót giầy rập vào nhau đánh cộp một cái. Người gã cứng ngắc như cây gỗ, mi mắt hùm hụp. Một thoáng, đầu gã lại ngoẹo đi, mắt díp lại. Và trông gã lại khù khì và chất phác một cách lạ.


Tiếng nói lao xao và tiếng miệng bát siết vào lòng đĩa từ gian nhà hẹp, sát hàng rào dây thép gai, vẳng ra, thốt nhiên nghe dẽ dọt hơn lúc nãy.


- Bán chẵn!


- Tổ sư mày, sẽ mồm cho cụ xếp ngủ, không, ăn cặc bò nhọc!


- Cụ xếp sang nhà chung, uống rượu với Cha xứ đã về đếch đâu. Bán chẵn!


- Để đấy tao!


- Tiền cược đâu, đặt ra đã! Hết mẹ nó tiền rồi, lại định mở bửa. Thôi, đi về ngủ với vợ cho được việc!


Aanh chàng "để đấy tao" cáu kỉnh:


- Mẹ kiếp, lại chắc lép à! Thằng nào mại còn Mẫn, ông bán cho! Ba bách thôi. Mới cưới bốn tháng nay, rẻ thối ra.


Có tiếng cười hự hự như gập người lại:


- Tổ sư nó! Cờ với bạc! Ông đến chết với nó!


- Mày về hỏi xem nó có bằng lòng không đã.


- Không bằng lòng, ông tẩn cho om xương! Hồi này ông đét, nó cũng ngấy ông rồi. Thằng nào mua, đưa tiền đây, ông cay cái chẵn này lắm.


Tiếng cười lại hực hực, cố nén trong cuống họng. Khắc cắn môi, thương xót và bực giận.


Đột nhiên một phát súng nổ. Đêm khuya, tiếng nổ rắn đanh. Trong lúc bất ngờ Khắc giật bắn người. Và Khắc có ấn tượng viên đạt xuyên vào mình. Bất giác Khắc đưa tay xoay mặt, xoa ngực. Không việc gì! Khắc liếc mắt nhìn tên lính gác cổng. Gã đang đứng thẳng, cây súng trường chống dưới đất, bàn tay để lên mang tai, toàn thân cứng ngắc và khô xác như cái cây chết đứng. Mắt gã lộ vẻ ngạc nhiên và sợ hãi.


Giữa lúc ấy, một thằng ở gian buồng gá bạc, lạch bạch chạy ra cổng. Hắn béo ị, đầu múp, rau củ ấu, má bóng nhẫy. Hắn vừa chạy vừa thở rốc, bụng phưỡn ra đằng trước, đôi ống chân lùn tịt như khẽ nhích từng bước. Ra đến nơi, hắn hầm hầm túm ngực áo tên lính gác:


- Mày vừa bắn phải không?


 Tên lính gác ấp úng đáp:


- Dạ… dạ… vâng…


- Sao lại bắn?


- Thưa ông cai… tôi… tôi thấy có bóng người.


- Đâu… đâu?


Tên cai bụng phệ nhìn nhớn nhác. Khắc dán người xuống đống cỏ, tay để vào chốt lựu đạn. Chúng nó sục vào đây, cho chúng nó ăn quả lựu đạn này rôì mới lao xuống sông! Khắc nghĩ thầm và nằm đợi. Giây phút căng thẳng. Khắc cảm thấy bóng đêm như nhạt đi, bãi cỏ lác biến mất và tia mắt tên cai xoáy vào mặt mình. Khắc cắn môi nhìn tên cai đầu múp trừng trừng.


- Đâu, bóng với dáng đâu? Mả mẹ mày! Lại ngủ gật, tay chạm vào cò súng chứ chó gì?


Tên lính gác đứng yên, mặt ngay như phỗng, mi mắt húp híp.


- Có đúng thế không? - Tên cai trợn mắt, bộ râu củ ấu khẽ giật giật, nhưng nét mặt hắn vẫn trộn ra.


- Dạ… vâng….


- Được rồi, mai khác biết! Mả mẹ mày!


Dứt lời, hắn hắng giọng, phưỡn bụng khệnh khạng quay vào. Trong căn buồng gá bạc, có tiếng hỏi xầm xì:


- Cái gì thế bố cai?


- Đứa nào bắn thế, bố Luận?


Cai Luận lủng bủng:


- Thằng Tào chứ còn thằng nào? Ngủ gật, tay chạm bố nó vào cò súng. May ông xếp với ông đội chưa về, không lại hỏi mẹ cả lũ. Canh với gác! Canh gác thế thì bỏ mẹ với Việt - minh sớm. Mẹ bố khỉ! Bắt cái bọn dân ngu cu đen ra lính làm gì không biết!


Tiếng mấy đồng tiền bằng vỏ diêm lại nẩy lách xách trong lòng bát.


- Đôi bên cái cân, lẻ thừa…


Khắc căng mắt, cố ghi nhớ nốt vị trí dẫy nhà giam xây bằng đá hộc còn đang văng vẳng tiếng rên rỉ. Sơ đồ các bốt Phượng - lâu đã thu gọn trong đầu óc Khắc. Khắc khẽ trút một hơi thở nhẹ nhõm. Khắc quay về rặng chuối, cởi quần áo buộc lên đầu và tuồn xuống nước.


Đêm đã khuya. Có lẽ sắp gà gáy nửa đêm. Vòm trời tối mịt mùng, lúc cao thăm thẳm, lúc rà soát xuống mặt sông. Dòng sông đen ngòm như bát ngực. Nước phù sa lẫn sương muối, tê buốt.


Khắc đã bơi ra đến giữa sông.Trên bờ, phía rặng chuối, hình như có tiếng chân bịch… bịch. Khắc vừa bơi, vừa ngoái lại lắng tai nghe. Gió bỗng đưa giọng hát ồ ồ ra giữa sông: Con chó sồm cắn con chó lài… Gâu gấu gâu… gâu gâu gầu gầu… Tiếng chân nghe càng rõ. Chắc có một toán lính vừa đi tuần bên kia sông đang đi về bốt. Khắc mừng thầm trong bụng. May quá, suýt chạm trán chúng nó! Khắc dìm người, bơi rất khẽ.


Chợt tiếng gà gáy xào xạc vẳng ra bãi đê. Nửa đêm rồi. Từ chỗ này đến khu du kích, ít ra cũng mất bốn tiếng. Dạo này, tề dõng ở mấy làng ven sông sục sạo suốt ngày đêm. Phải đi miết mới về tới nơi, trước khi trời sáng rõ. Đến đấy, nghỉ một lúc cho đỡ mỏi chân rồi đi về chỗ trú quân của tỉnh đội. Chặng đường này cũng phải năm tiếng, đi cật lực. Khắc đang tính toán thì chân chạm đất. Nước chỉ còn ngang bụng. Khắc rảo bước lên bờ, mặc quần áo. Bấy giờ Khắc mới thấy rét, rét buốt.


Gió ở dưới sông thốc lên, lá ngô cứa vào nhau loạt xoạt. Bãi đê vắng lặng. Giờ này, chắc bọn lính bảo chinh đoàn, lính bảo an chuồn về với vợ, hay chúi vào đám bạc cả rồi. Khắc cầm quả lựu đạn, thong thả vượt qua bãi cát. Đêm về khuya, bước chân giẫm lên cát nghe rào rạo. Khắc kiễng gót bước vội. Bất thình lình ánh đèn pin bên kia sông loang loáng rọi sang. Bóng Khắc ngả dài trên bãi cát. Bãi cát trơ trụi. Không một bóng lá. Ánh đèn xói vào lưng Khắc. Khắc luống cuống toan nằm xuống lại chạy vụt đi. Con đê đất đỏ ở ngay trước mặt. Chạy dấn mấy bước, nấp vào sườn đê, chắc dạ hơn. Bóng Khắc nhấp nhô gạch chéo trên bãi cát lấp lánh ánh điện. Khắc vừa leo lên mặt đê, tức thì mấy phát súng nổ liên tiếp. Khắc kêu "ối" một tiếng khe khẽ rồi ngã vật xuống sườn đê bên kia.


Khắc sa xẩm mặt mày. Bãi đê, dòng sông tối xâm xi. Tiếng sóng rộ lên dữ dội. Tất cả đều quay cuồng, đảo lộn trước mặt Khắc. Giây phút sau, Khắc định thần và chống tay ngồi dậy. Cái cảm giác tê dại ở ống chân phải vừa rồi đột nhiên biến đi. Bây giờ nó buôn buốt và đau chói lên óc. Khắc sực nhớ đến quả lựu đạn khi nãy cầm ở tay. Chắc lúc ngã, đánh rơi mất rồi! Khắc quờ tay lên bãi cỏ: không thấy đâu cả. Có lẽ nó văng ra xa. Khắc nghiến răng cố nén cơn đau, bò xuống cái vũng trâu đằm rồi men ra bờ ruộng. Mấy phút sau, Khắc mới tìm thấy quả lựu đạn. Khắc mừng rỡ. Lúc này, quả lựu đạn đã trở thành người bạn chiến đấu, gắn liền với cái sống, cái chết của Khắc. Khắc vội vàng lấy vạt áo lau sạch sẽ, giắt vào người.


Vết thương mỗi lúc một đau. Khắc cúi xuống nắm ống chân. Xương ống chân đã gãy rời. Máu đang rỉ ra ướt đẫm ống quần. Thoáng chốc Khắc nhớ lại cái biến cố vừa xảy ra. Và Khắc lấy làm lạ. Nằm sát hàng rào dây thép gai, nòng súng bao vây tứ phía thì không sao, đến khi xa tầm đạn, lại dính đạn. Sao lại có chuyện bất ngờ như vậy? Nhưng lúc đi qua bãi cát, giá chạy vụt đi, đừng đận đà thì đâu đến nỗi. Chủ quan quá! Chủ quan quá! Khắc cau mặt lực giận với mình.


Tiếng gà gáy trong làng lại vẳng ra. Khắc choàng người. Đêm nay thế nào cũng phải trở về khu du kích! Khắc cởi áo trấn thủ quấn vào ống chân, lấy thắt lưng buộc lại. Đoạn Khắc chống tay đứng dậy. Vừa nhổm lên, Khắc ngã khuyụ xuống. Bấy giờ Khắc mới nhớ đến vết thương. Làm thế nào bây giờ? Khắc cắn môi đến rơm rớm máu.


Gió hú; tiếng hú đều đều và kéo dài. Cánh đồng loang lổ bóng tối và những vùng ánh sáng xám ngắt từ cá vũng nước ánh lên, như rộng ra, hoang vắng thêm. Bóng đêm rét buốt. Trán Khắc vẫn nhơm nhớm mồ hôi. Và người Khắc gai gai như sắp lên cơn sốt.


Đêm nay phải trở về khu du kích! Ý nghĩ đó làm dịu bớt cơn đau. Khắc chống tay xuống đất, lết. Vừa lết được mấy bước, bỗng dưng Khắc chừng lại, để ý nghe… hình như có tiếng mái chèo. Đúng tiếng mái chèo đang bơi roàn roạt. Hay bọn lính sang lùng? có thể thấy Khắc đưa mắt nhìn quanh quất. Nấp vào bãi ngô hay lẩn vào làng? Bãi ngô trống trải. Mà làng thì lại là làng tề ác. Và ở ngay cạnh nách bốt giặc. Mồ hôi vã sau lưng áo Khắc. Khắc rút quả lựu đạn, cầm lăm lăm ở tay lúc nào không biết.


Tiếng mái chèo, thuận chiều gió, nghe càng rõ. Ánh đèn pin loang loáng trên mặt sông; tia sáng với lên con đê nằm thẳng đờ như con trăn đất. Khắc bối rối.


Khắc để tay lên ngang trán, nheo mắt nhìn về phía làng Phượng - lâu. Không còn một ánh đèn. Mái nhà, lùm cây in những nét mờ nhạt lên nền trời. Khắc phân vân.


Giặc đóng bốt bên kia sông đã ba bốn năm. Vừa xây xong bốt, chúng liền sang càn. Lần nào qua sông, chúng cũng phải nộp mạng mươi thằng, để lại một số súng ống cho du kích Phượng - lâu. Ròng rã gần một năm như vậy. Giặc điên cuồng như con thú dữ bị thương. Rồi bom đạn đại bác trút như mưa xuống làng Phượng - lâu. Người chết, Đảng viên, du kích hy sinh, nhà cửa sập đổ. Phượng - lâu tan hoang. Giặc đưa lý Mực ra lập tề. Rồi lại khủng bố, lại đàn áp. Người dân Phượng - lâu như thỏi sắt nằm trên đe, dưới búa. Thỏi sắt quằn đi, nhưng không hề gãy nát.


Nhớ đến đây, một ý nghĩa thoang qua đầu óc Khắc, tựa hồ trong bóng đêm, bất chợt có một tia sáng loé lên. Khắc vội vàng trườn xuống ruộng, lết về phía xóm giếng.


Vừa lết, Khắc vừa chăm chú nghe. Tiếng mái chèo vẫn roàn roạt, roàn roạt hối hả. Đúng chúng nó sang lùng rồi! Khắc đưa tay áo quệt mấy giọt mồ hồi cay sè ở mi mắt. Rồi Khắc nghiến răng lết.


(còn tiếp)


Nguồn: Làng tề. Tiểu thuyết của Đỗ Quang Tiến. NXB Văn học, 1962. Bản điện tử của nhà báo Đỗ Quang Hoàn - con trai tác giả - gửi cho www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »