tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 25767600
Những bài báo
24.10.2014
Ngô Vĩnh Bình
Nhớ và tiễn biệt anh Phạm Ngọc Cảnh

Nhà anh ở gần sông Đuống (nay là số 44, ngõ 486 - Ngô Gia Tự, phường Đức Giang, quận Long Biên, Hà Nội). Lần ấy, cách nay đã 30 năm tôi dong xe đạp đạp theo dọc đường số Một đến thăm anh. Anh đang lững thững đi dạo dưới một giàn gấc quả rất sai và đang độ chín... Chúng tôi ngồi đối diện với nhau bên cái của sổ con nhìn ra những chân mạ đang kỳ “bánh tẻ”  xanh đến lạ lùng. Cảnh sắc ấy làm tôi liên tưởng tới những vần thơ sắt lửa của anh in trong hai tập Gió vào trận bão và Đêm Quảng Trị, anh viết trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ cứu nước ác liệt nhất. Mới vậy đấy mà đã “xa lắm rồi anh ơi”!. Hôm ấy, dù  anh  đã bước vào tuổi 50, vậy nhưng tóc chưa ngả màu sương và cái cười thì vẫn trẻ trung, hào phóng...Vậy mà hôm nay, anh đã đi về nơi rất xa, xa lắm!


Phạm Ngọc Cảnh thuộc lớp nhà thơ xuất hiện ở những năm sắp vào cuộc Kháng chiến chống Mỹ, nhưng cuộc đời cầm súng của anh thì sớm hơn. Anh tạm biệt cái thị xã Hà Tĩnh nhỏ và nghèo quê anh vào bộ đội lúc còn ở tuổi 13 và khoác áo lính liên tục từ đó tới ngày về hưu, hơn bốn mươi năm dòng dã,  đi gần trọn các cuộc chiến tranh vệ quốc. Bây giờ bạn đọc biết anh là người làm thơ, nhưng đã có một thời người ta biết anh là một diễn viên kịch nói, một diễn viên khá quen thuộc với khán giả của Đoàn kich Quân đội những năm sáu mươi, ví như vai Trung úy Phương trong vở Nổi gió...


Hãy khoan nói về quãng đời hoạt động sân khấu của anh để nói về một Phạm Ngọc Cảnh – nhà thơ, dẫu biết rằng anh duyên, nợ với sân khấu, với văn xuôi không ít.


Phạm Ngọc Cảnh yêu thơ và làm thơ từ khi nào? Điều đó chính anh cũng không còn nhớ nữa. Chỉ biết rằng những năm 1957 – 1958 ở khu văn công quân đội có một diễn viên trẻ ham đọc các sách báo văn nghệ đến lạ lùng. Sau mỗi buổi tập, sau mỗi suất diễn lại thấy anh mải mê đọc. Đầu gường cá nhân cuả anh ở phòng tập thể lúc nào cũng có sách, báo. Anh theo dõi không sót một số tạp chí Văn nghệ và Văn nghệ quân đội nào. Tôi còn lưu giữ được tờ tạp chí Văn nghệ số 20 (tháng 1-1959). Không phải ký dưới bài thơ mà là dưới mấy dòng rất ngắn trong mục Bạn đọc với Văn nghệ. Anh viết rằng: “nhìn cuộc sống như chuyến xe tốc hành mà chưa thấy cuộc sống đó trên báo chí tôi rất sốt ruột”. Có phải vì sự “sốt ruột” đó mà anh đến với thơ?.  Có phải vì anh yêu cuộc sống mà anh yêu thơ?. Và, dường như sau cái lần “sốt ruột” đó, người ta thấy anh bắt đầu bước vào cuộc đời thơ. Cái tên Phạm Ngọc Cảnh đồng thời được ghi vào trong các bảng phân vai và ký dưới các bài thơ. Cái tên giàu nữ tính đó xuất hiện đều đều vừa như một sự chỉn chu, kiên nhẫn lại vừa như có sự bứt phá, khác người . Cùng làm thơ một lớp với anh dạo ấy đã có không ít người bỏ cuộc. Anh thuộc số rất ít người giữ được tấm lòng trước sau và hết mình với thơ. Anh tâm sự: “Ba bể, bốn bên của thơ đều rộng, chăm đi mà chẳng dễ thấy bờ”. Đến năm này Phạm Ngọc Cảnh đã in cả chục tập thơ. Tiêu biểu là các tập: Gió vào trận bão (in chung với Ngô Văn Phú, Hoài Anh - 1967), Đêm Quảng Trị (bút danh Vũ Ngàn Chi -1972). Ngọn lủa dòng sông (1976). Một tiếng Xa-ma-khi (in chung với Xuân Miễn, Duy Khán - 1981), Lối vào phía bắc (1982), Trăng sau rằm (1985), Đất hai vùng (1986), Nhặt lá (1995), Miền hương lặng (1992),  Bến tìm sông (2001),  Khúc rong chơi (2002), Thơ Phạm Ngọc Cảnh (tuyển, 2003, 2013)... Và cũng có lẽ không có một tờ báo nào được xuất bản từ những năm bảy mươi đến hết thế kỷ XX  mà thiếu vắng tên anh. Tôi có lần bảo với anh như vậy. Anh cười và nói rằng: các cụ dạy “quí hồ tinh bất quí hồ đa”, nhưng anh nói anh chủ trương “dĩ đa vi tinh”, nghĩa là phải làm thật nhiều để lọc lấy ít. Và anh nói thêm, mình có trăm bài, tức là mình có rất nhiều sự lựa chọn, có thể mạnh tay bỏ đi tới 90 bài, nhưng chỉ có 10 bài thì sự lựa chọn ít lắm, chắc gì dám bỏ đi 9?... Và quả đúng như thế , cả đời Phạm Ngọc Cảnh đã sống cùng thơ, trăn trở cùng thơ; và thơ đã không phụ anh. Anh có nhiều bài thơ câu thơ sống được cùng năm tháng, trong số ấy có bài được những người yêu thơ chép vào sổ tay, đưa vào các tuyển thơ hay, in trong sách giáo khoa, đưa các diễn đàn văn chương luận bàn như các bài Sư đoàn, Trăng lên, Đêm Quảng Trị ( bút danh Vũ Ngàn Chi), Lý ngựa ô giữa hai vùng đất...


Trăng lên anh làm năm 1984 là bài thơ viết về Bác dung dị và thành kính, tha thiết và giàu nhạc điệu. Có thể xem đây là một trong số những bài thơ hay viết về Bác. Vầng trăng Lăng Bác đẹp như vầng trăng cổ tích và Bác của chúng ta lại rất gần gũi đời thường, hai hình ảnh Bác và trăng gần gụi và cùng toả sáng:


... Con thấy cõi vô biên


Không như lòng đã nghĩ


Khi gặp nét thần tiên


Trong khuôn vàng dung dị


Trong lăng Bác chợt nghỉ


Như sau mỗi việc lam


Trăng ơi trăng biết thế


Nên trăng bước nhẹ chăng!


 Bài thơ đã gieo vào lòng người đọc một nỗi xúc động, một niềm thành kính thiết tha. Ngay khi bài thơ mới viết xong, nhạc sĩ Thuận Yến đã phổ nhạc và cho đến tận hôm nay bài hát Vầng trăng Ba Đình (nhạc Thuận Yến, thơ Phạm Ngọc Cảnh) vẫn là một trong những bài hát hay nhất viết về Bác Hồ được nhiều thế hệ người nghe ưa thích.


Là một người có may mắn làm việc cùng một đơn vị với nhà thơ Phạm Ngọc Cảnh trong nhiều năm, tôi được biết sau khi rời sân khấu kịch anh đã từng lăn lội ở chiến trường Trị - Thiên, rồi có mặt tít trên Tây Nguyên, tận  ngã ba Đông Dương xa sôi mà ác liệt. Và cũng lại có một dạo, có dễ đến gần mười năm anh làm biên tập viên rồi phụ trách phần thơ của Tạp chí  Văn nghệ Quân đội. Trong thời gian “trấn giữ” cửa thơ nơi “nhà số 4”, anh  đặc biệt chú ý đến những mầm non văn nghệ trẻ, các cây bút thơ chiến sĩ đang rèn luyện học tập và chiến đấu ở các đơn vị cơ sở. Anh vừa chỉ cho họ về nghề, vừa động viên họ trên tình bạn bè, đồng chí. Bây giờ nhiều cây bút trẻ dù đã thành danh vẫn còn giữ nguyên những kỷ niệm đẹp về anh. Mới đây thôi, dịp tháng bảy chúng tôi có nhận được một lá thư của một bạn viết đang công tác ở thành phố Hồ Chí Minh cung cấp thêm tư liệu về nhà thơ – liệt sĩ Vũ Đình Văn. trong lá thư ấy có kể về những lần anh Văn đến ngôi nhà số 4 và cùng anh Phạm Ngọc Cảnh trò chuyện rất bình đẳng tâm đắc về thơ, bất luận tuổi tác cấp bậc, thâm niên nghề nghiệp. Phạm Ngọc Cảnh còn được coi một trong số không nhiều nhà thơ có tài diễn thuyết. Anh đã có hàng  trăm buổi đăng đàn nói chuyện thơ với công chúng. Anh nói với sinh viên văn khoa các trường đại học, nói với các thày cô giáo giảng dạy văn học ở các trường phổ thông ... và  có nhiều buổi khác anh dành thì giờ để tâm đắc với các cụ về hưu, các cựu chiến binh. Anh cũng chẳng chối từ khi đứng trước hàng trăm học trò nhỏ. Nhưng có lẽ nhiều hơn cả là các buổi nói chuyện với cán bộ chiến sĩ các lực lượng vũ trang. Anh đến các học viện, nhà trường, lên vùng biên giới phía bắc, vào thành phố Hồ Chí Minh, ra biên giới Tây - Nam và sang cả chiến trường Cămpuchia... gặp gỡ các chiến sĩ và tâm sự cùng họ. Biết anh là người hóm hỉnh và có duyên với công chúng, tôi đùa nói anh là “ông Maia của Việt Nam”. ( Maia - nhà thơ Xô viết Maiacốpxki chủ soái phong trào “đưa thơ ra quảng trường” và “xuất bản miệng” thơ)


Một con người trẻ trung và giàu nhiệt huyết với thơ, với đời, với người lính như vậy có ai biết, ai ngờ lại lâm vào những hoàn cảnh quá éo le! Sau cả chục năm chăm sóc vợ - chị Tỵ, người con gái làng Bưởi,  một nữ văn công một thời xinh đẹp nằm liệt giường... lại đến chính anh mắc bạo bệnh ấy!. Và, sau những năm tháng gồng mình chống trả bệnh tật, “vịn câu thơ mà đứng dậy” tưởng anh đã qua được chặng hiểm nguy. Nào ngờ anh đột ngột ra đi!. Được tin anh mất, tôi đang nằm trong bệnh viện, không kịp cùng những  bạn đồng nghiệp và đông đảo bạn đọc đến viếng anh. Những kỷ niệm về anh chợt hiện... và tôi viết vội mấy dòng này thay cho một bông hoa tiễn biệt anh!


Quân y viện 354, ngày 21/10/2014


N.V.B


vannghequandoi.com.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cố tình tiếp tục phủ nhận lịch sử Quốc gia Nam Việt đến bao giờ? - Vũ Bình Lục 11.02.2019
Mừng Xuân Kỷ Hợi - Triệu Xuân 04.02.2019
Phản biện giúp ta tỉnh lại trong những cơn say… - Trần Đăng Khoa 04.02.2019
Tòa án Nhân dân TP Hòa Bình xử 42 tháng tù BS Hoàng Công Lương - Tô Lan Hương 31.01.2019
Những ông thơ áo dài làng Trạch Xá - Vũ Thị Tuyết Nhung 31.01.2019
Người Việt ở Mỹ những ngày cuối năm âm lịch: Đôi khi muốn đánh đổi tất cả... - Nguyễn Hữu Tài 29.01.2019
Nghề khen thơ - Nông Hồng Diệu 28.01.2019
Về nhà văn Kim Dung - Nhiều tác giả 24.01.2019
Hà Nội đã vội vã bỏ đi biểu tượng văn hóa một thời - Tư liệu 24.01.2019
‘Hương thầm’ - ký ức về mùa hoa bưởi năm ấy - Anh Trâm 23.01.2019
xem thêm »