tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29370372
Những bài báo
01.10.2014
G. G. Marquez
Cái giá để trở thành nhà văn, hồi ký của Grabriel Garcia Marquez

Hồi ức đầu tiên của tôi - đó là chính bản thân tôi đang gào toáng lên trong chiếc nôi rộng mênh mông để đòi có người đến thay tã lót mà tôi đã bĩnh ra đấy. Salvador Dali(1) đã khẳng định ngay từ lúc còn nằm trong bụng mẹ. Về bản thân tôi, tôi cũng có thể nói gần như thế. Lúc tôi chừng một tuổi, tôi ở trong phòng ngủ của ngôi nhà cũ của ông bà tôi ở Arakataka là nơi tôi đã chào đời và đã đứng lên được một cách vất vả sau khi bíu chặt lấy thành nôi. Sáu mươi bảy năm trôi qua, nhưng tôi nhớ rất rõ rằng việc tôi tha thiết muốn được thay tã bẩn không phải do cảm giác khó chịu gây ra mà là do nỗi sợ làm bẩn bộ quần áo ngủ in những bông hoa nhỏ màu xanh da trời mà tôi được mặc vào buổi sáng hôm đó. Nói một cách khác, cơ sở của niềm mong muốn đó là ý thức thẩm mỹ, và do chỗ hồi ức đó được lưu giữ rất lâu trong tâm trí tôi, tôi rút ra kết luận cho rằng chính hồi đó lần đầu tiên tôi đã bộc lộ mình như một nhà văn.


Những ai biết tôi vào những năm đó đều nói rằng tôi là một đứa trẻ đăm chiêu, thích đắm mình trong suy tưởng và chỉ mở miệng để phun ra một điều gì nhảm nhí. Bây giờ tôi hiểu rằng tại sao tất cả mọi người lại nghĩ như thế: tôi đã tô điểm những cảnh đời thường bằng những chi tiết hoang đường để người lớn chú ý đến tôi. Cội nguồn cảm hứng chủ yếu đối với tôi là những câu chuyện mà họ nói trước mặt tôi vì họ cho rằng tôi chẳng hiểu gì cả. Ngược lại, tôi đã nhào nặn lại để dấu đi cội nguồn, rồi sau đó đem dâng lên cho vẫn những người lớn ấy đang ngỡ ngàng về sự trùng khớp giữa những câu chuyện bịa đặt của tôi và những cuộc nói chuyện của chính họ. Họ đâu có hay rằng tôi đã giấu họ một điều là tôi hiểu hết tất cả và tôi thường nháy mắt. Kết quả là một người thông minh nào đó trong gia đình tôi đã quyết định đem tôi đến khám bác sĩ. Ông ta đã giải thích hiện tượng nháy mắt của tôi là căn bệnh amiđan và khuyên cho tôi uống nước củ cải pha iốt, điều này đã khiến cho người lớn hoàn toàn thoả mãn.


Bà ngoại tôi, một người phụ nữ rất cả tin và đa cảm mà tôi từng được biết, đã đi đến một kết luận vô cùng thuận lợi cho tôi - rằng cháu bà là một nhà tiên tri. Kết quả là bà đã biến thành vật hy sinh ưa thích nhất của tôi cho đến một ngày kia bà bị bất tỉnh nhân sự, do trong giấc mơ tôi thấy một con chim bay vọt ra từ trong mồm ông tôi. Nỗi lo sợ rằng do lỗi của tôi mà bà tôi có thể qua đời đã phần nào làm giảm đi trí tưởng tượng phong phú của tôi. Bây giờ thì tôi hiểu rằng đó không phải là những trò tai quái của trẻ con như người ta có thể nghĩ ra như vậy, mà là những cố gắng của nhà văn sống trong tôi ở dạng phôi thai muốn làm cho hiện thực trở nên dễ hiểu hơn và hấp dẫn hơn.


Tôi thường xuyên nghe nói rằng gia đình - dù đó là điều may mắn hoặc bất hạnh - là một nhân tố quyết định trong việc phát triển năng khiếu và sở trường. Tôi không thể hình dung được một gia đình thích hợp hơn đối với tôi như gia đình của tôi. Ngôi nhà nơi tôi sống và những tính cách của rất nhiều người phụ nữ đã nuôi dạy tôi khôn lớn, dường như đã được tạo ra để cho tôi. Những người đàn ông duy nhất là ông tôi và tôi, nhưng ông tôi bao giờ cũng mê mải công việc của mình và không có thì giờ chăm sóc tôi cho đến khi ông phát hiện ra rằng những người đàn bà không thể cho tôi tất cả những gì mà tôi cần. Chính con người chưa học hết tiểu học đó vì đã tham gia những cuộc nội chiến của thế kỷ trước đã dẫn tôi vào cái thế giới ảm đạm của người lớn bằng cách kể cho tôi nghe những trận huyết chiến và giải thích ở trình độ sách giáo khoa của nhà trường là tại sao chim lại biết bay và tại sao đến chiều tối thường có sấm rền. Ông tôi cũng khuyến khích việc tôi ham thích vẽ. Tôi nghĩ rằng ông tôi là người đầu tiên đã xác định sứ mệnh thực sự của tôi. Lúc đầu tôi vẽ trên tường, sau đó ông cho tôi giấy và bút chì màu và dạy tôi vẽ trên sàn tại xưởng của ông là nơi ông làm ra những con cá vàng nổi tiếng. Một lần ông nói với một người nào đó trước sự hiện diện của tôi rằng cháu ông sẽ kiếm sống bằng chiếc bút lông, nhưng tôi không chú ý lắm đến những lời ông tôi. Với cách hiểu của tôi thì chiếc bút lông được liên tưởng với người thợ sơn.


Khoảng năm lên bốn, tôi đã vẽ nhà ảo thuật Risacdin mà tôi đã nhìn thấy trước đó trong nhà hát; ông ta cưa cụt đầu người đàn bà rồi sau đó chắp lại như cũ. Trên một số tranh tôi đã lần lượt miêu tả những công việc chuẩn bị trọng thể, việc cưa đầu, việc phô bày cái đầu đẫm máu một cách thắng lợi và cuối cùng là người đàn bà với cái đầu chắp lại ở vị trí cũ bước ra cúi chào khán giả. Loại tranh liên hoàn đã được phát minh, nhưng mãi sau này tôi mới được biết về chúng. Chúng xuất hiện ở trong nhà cùng với một tờ báo chủ nhật, và ông tôi vừa đọc vừa giảng giải cho tôi. Thế là tôi bắt đầu vẽ tranh liên hoàn. Không có những câu thoại bởi vì tôi chưa biết viết. Một buổi tối trong lúc đưa cho ai đó xem những tác phẩm ấy, ông tôi đã nói về năng khiếu của tôi khác với lần trước: “Nó đã sáng tác truyện từ lúc còn quấn tã”. Hiển nhiên ông tôi đã nhận thấy rằng sau khi làm quen với bộ tranh liên hoàn, những bức vẽ của tôi đã mang tính chất tự sự. Trong khi đó, tôi đã làm ông tôi mệt lử bởi những câu hỏi của tôi về các từ khiến cho ông phải tra từ điển. Thế là lần đầu tiên tôi đã mở ra cho mình một cuốn sách mà đã trở thành cuốn sách chủ yếu trong đời tôi.


MỘT HỌC TRÒ KÉM NHẤT CÓ THỂ TRỞ THÀNH NGƯỜI ĐỨNG ĐẦU LỚP NHƯ THẾ NÀO


Khi một câu chuyện cổ tích nào đó đã thu hút sự chú ý của đứa trẻ thì thật khó mà bắt nó phải quan tâm tới một câu chuyện khác. Nó muốn luôn luôn được nghe đi nghe lại vẫn một câu chuyện đó. Tôi nghĩ rằng điều đó không thể xảy ra với các chú bé kể chuyện: Về mình, tôi có thể nói một cách chắc chắn. Tôi say sưa nghe những câu chuyện cổ tích và ngày hôm sau bao giờ cũng chờ đợi một điều gì lý thú hơn, nhất là khi đụng chạm đến Kinh Thánh. Mọi câu chuyện lịch sử cũng không kém phần hấp dẫn tôi. Mọi sự việc xảy ra ngoài đường phố đều được bàn luận sôi nổi trong nhà; những người phụ nữ trong bếp đã kể lại điều đó cho những người khác - họ đến đây bằng xe lửa, và họ cũng có chuyện để kể - và tất cả cùng nhau hoà thành một dòng thống nhất của truyền thống truyền miệng. Một số sự kiện thoạt đầu được những người chơi đàn phong cầm biết đến và biến thành những bài hát được trình diễn trong những ngày hội, còn khách du lịch thì truyền đạt cho nhau bằng những lời của mình, do đó đã bổ sung và tô vẽ thêm.


Truyện ngắn thực thụ đầu tiên trong đời tôi là truyện “Zheneveva Bratbantskaja”. Tôi được nghe chuyện này do một phụ nữ Vênêzuêla kể, bà ta cho chúng tôi làm quen với những kiệt tác của văn học thế giới bằng cách biến chúng thành những truyện kể cho thiếu nhi như “Ôđixê”, “Đôn Kisốt”, “Bá tước Môngtê Crixtô” và nhiều cốt truyện rút ra từ kinh thánh.


Tôi gặp may là vào những năm đó ở Arakataka được mở một trường học dạy theo hệ thống Montessori(2). Các cô giáo đã làm cho các giác quan của chúng tôi phát triển bằng những bài tập thực hành. Trong khi chơi, chúng tôi đã hiểu biết thêm về cuộc sống. Chính hồi đó tôi đánh giá cao khứu giác mà theo tôi không gì có thể so bì được trong việc tái hiện lại những hồi ức buồn nhớ quê hương, còn vị giác thì được hoàn hiện tới mức là trong những cuốn sách của mình, tôi đã miêu tả những thứ rượu vang gây nên ở trong miệng cảm giác mát lạnh từ khuôn cửa sổ được mở toang, ổ bánh mỳ phảng phất mùi thơm ngậy toát ra từ lớp vỏ thô nhám và thứ nước trà khiến ta nhớ tới lễ misa. Về mặt lý thuyết thì khó nhận thức được điều đó, nhưng những ai đã nếm trải nó thì lập tức hiểu tôi ngay. Tôi cho rằng không có phương pháp nào tốt hơn bằng phương pháp của Montessori để dạy trẻ em cảm thụ được vẻ đẹp của thế giới và khơi gợi ở chúng óc tò mò đối với những bí ẩn của cuộc sống. Người phụ nữ Italia này bị quở trách là hệ thống của bà làm phát triển ở trẻ em ý thức độc lập và chủ nghĩa cá nhân, và điều đó quả thật đã xảy ra với tôi, nhưng tôi không lấy làm tiếc. Cho dù điều này có kỳ cục đến mấy đi nữa thì cái duy nhất không làm tôi hài lòng trong trường học không thể quên ấy - đó là cách dạy đọc và viết.


Bằng mưu mẹo và trò nghe lỏm nên tôi đã đỗ tú tài trong trường Quốc học Sipakira, nơi mà tôi trúng tuyển nhờ số tiền học bổng tôi nhận được qua cuộc thi tuyển. Toà tu viện cổ này được xây từ thế kỷ 17, nó trông ảm đạm và lạnh lẽo, nằm trong một thị trấn ngái ngủ, ở đó ngoài việc học hành ra thì chẳng còn biết làm gì cả.


Vào những năm ấy, tôi có một cái tật dễ sợ là ngốn tất cả những sách gì lọt vào tay. Những lúc rỗi rãi cũng như trong giờ học, tôi đọc không biết mệt mỏi. Năm mười ba tuổi, tôi thuộc nhiều bài thơ sáng tác dân gian được lưu hành ở Colombia hồi đó cũng như những tác phẩm tuyệt vời được tạo ra ở Tây Ban Nha trong thời hoàng kim và thời kỳ của chủ nghĩa lãng mạn. Tôi đọc đi đọc lại những trước tác ấy một cách không có hệ thống, chỉ cần có sách trong tay, thậm chí đọc lén trong lớp học.


Lúc đầu, tôi quan tâm đến học bổng không phải vì nó tạo điều kiện cho tôi học tập mà vì nó cho phép tôi có được sự độc lập hoàn toàn đối với gia đình mà tôi giữ quan hệ rất tốt, đối với những hạn chế khe khắt của nó, và được đọc thả sức... Sau đó ít lâu tôi đã nghĩ ra được cách khắc phục vô vàn trở ngại xuất hiện trên đường đi và đã đạt được điều mong muốn mà không mất gì và không phải hy sinh những buổi học. Tôi đã phát hiện ra rằng nếu tôi chú ý nghe giảng trong lớp thì lúc rỗi có thể tha hồ đọc sách và không phải học đêm trước mỗi kỳ thi tam cá nguyệt và trước kỳ thi lên lớp hàng năm. Thế là mọi sự đã thông đồng bén giọt và kết quả là tôi đã đỗ đầu trong kỳ thi tốt nghiệp mặc dầu đám bạn bè của tôi và ngay chính bản thân tôi biết rằng tôi không phải là học sinh giỏi.


KIẾM SỐNG HÀNG NGÀY BẰNG HAI NGÓN TAY


Tôi có thể đọc tất cả những gì mà tôi thích trong cái thư viện mênh mông của trường trung học vốn được hình thành từ những đầu thừa đuôi thẹo của các thư viện khác, từ những bộ sách chính thức và từ những cuốn sách rất tình cờ không rõ rừ đâu tới, y như những mảnh vụn của một con tàu bị đắm. Trong số sách đó có tập thứ hai trong toàn tập tác phẩm của Freud mà không hiểu sao lại lọt vào đây một cách đơn thương độc mã. Qua sự phân tích của tác giả tôi chả hiểu gì cả, nhưng những trường hợp lâm sàng đã khiến tôi theo dõi chăm chú đến cùng, y như những chuyện phiêu lưu kỳ diệu của Juyn Verner.


Tôi nghĩ rằng một cái tật hầu như bí ẩn nữa đã đóng một vai trò không kém phần quan trọng trong sự định hình của tôi với tư cách là một nhà văn - đó là niềm say mê âm nhạc. Tôi bao giờ cũng khoái nhạc dân gian, bắt đầu từ âm nhạc vùng Caribe, và những tác phẩm của các bậc thầy vĩ đại kể cả Belu Bactoc. Tôi có một quan điểm riêng: Tất cả những gì phát lên thành tiếng đều là âm nhạc, có điều phải biết nghe nó. Tôi cũng có một phương pháp riêng để xác định xem đó là nhạc của ai - ấy là căn cứ vào nhạc cụ: Cây đàn violoncel yêu thích của tôi - từ Vivaldi đến Brancher, cây đàn violon- từ Corelli đến Schonberg, Clavesin và cây đàn pianô - từ Bach đến Bartok... Thật ra tôi rất ít đến dự các buổi hoà nhạc vì tôi không thích cái kiểu thấy sang bắt quàng làm họ.


Khi tôi tốt nghiệp trung học, tôi đã viết được mấy cái truyện ngắn mà tôi chỉ đọc cho mấy vị nữ tu sĩ thuộc dòng khất thực nghe để xem phản ứng của họ ra sao. Ngoài ra, tôi không cho ai đọc cả vì tôi chúa viết sai chính tả. May mà mẹ tôi đã giải quyết cho tôi vấn đề ấy bằng một phương pháp độc đáo là kiểm tra từ xa: Bà gửi lại trả tôi những bức thư của tôi đã được bà sửa lại. Sau đó một năm, khi tôi bắt đầu học luật tại trường đại học quốc gia, truyện ngắn đầu tay của tôi được công bố.


Thật tình mà nói, tôi vào khoa luật để chiều theo ý nguyện của bố mẹ, nhưng tôi vẫn không muốn từ bỏ những món “đồ chơi ưa thích” của mình. Trong những phòng trọ bẩn thỉu ở Bogota vào những năm 40, nơi tôi chuồn khỏi môn luật dân sự và chính trị kinh tế học, tôi bắt đầu bơi tự do trên những trang sách của các tác giả Hylạp và Latinh mà tôi đọc qua các bản dịch, mà những ấn phẩm tình cờ khác nhau do tụi bạn cũ đem đến. Tôi chúi đầu vào đọc các tiểu thuyết gia của Nga và Anh thế kỷ XIX mà cho đến nay tôi vẫn coi là những nhà văn vĩ đại nhất của mọi thời đại, tôi cũng đọc sơ sơ Balzac, Flaubert và Stendhal, nhưng không thích mấy. Ngoài ra, như trước đây, tôi vốn ngốn không thương xót những tập thơ hay và dở. Tuy vậy cái của quý chủ yếu đã khiến tôi ném luật học vào sọt rác là các nhà văn Bắc Mỹ thuộc “thế hệ bị ruồng bỏ”. Trong vòng mấy năm, tôi đã đọc ngấu nghiến họ trong căn phòng bé xíu của một khách sạn nhỏ ở Barankile, nơi mà đêm không bao giờ kết thúc, và các nhà văn này đã làm thay đổi đời tôi. Chính trong thời gian đó tôi đã đạt được tới sự hoà nhập hẳn với nền văn hoá dân gian Caribe mà tôi thừa nhận là chủ yếu và không thể thay thế trong sự hình thành của tôi với tư cách là một con người cũng như với tư cách là nhà văn.


Từ đó trở đi, tôi đọc không chỉ để thoả mãn sự khoái cảm mà còn xuất phát từ tính tò mò đang thôi thúc là xem những cuốn sách của người khác được viết ra như thế nào. Tôi đọc chúng từ đầu đến đuôi và từ đuôi đến đầu, mổ xẻ chúng ra cho đến khi tôi thâm nhập được vào những bí quyết thầm kín và rối rắm của cái nghề đó. Bởi vậy thư viện của tôi đối với tôi bao giờ cũng chỉ là một thứ công cụ làm việc mà nhờ nó tôi có thể nhanh chóng tìm ra được một chương cần thiết từ cuốn sách của Dostoevski hoặc làm rõ thêm một điều gì đó về chứng bệnh động kinh của Julia Cesar, hoặc hiểu được cách cấu tạo của bộ chế hoà khí. Thậm chí tôi có quyển sách giáo khoa dạy cách giết người siêu đẳng, nếu như điều đó cần cho một nhân vật nào đó của tôi.


Những cái còn lại do bạn bè tôi làm nốt. Họ hướng dẫn việc đọc của tôi, cung cấp những cuốn sách cần phải đọc vào chính thời điểm ấy và sửa chữa các bản thảo của tôi một cách không thương xót trước khi tôi đem chúng đến nhà xuất bản. Cái duy nhất mà tôi chịu ơn nhà nước - đó là 40 pêxô - số tiền học bổng hàng tháng của trường Quốc học, và tôi cũng biết ơn nó như vậy. Tôi không bao giờ kiếm được một xu bằng cách nào khác ngoài sự hỗ trợ của chiếc máy chữ. Nói một cách khác, nhờ hai ngón tay trỏ mà tôi chỉ biết đánh mổ cò thế thôi. Món tiền nhuận bút đầu tiên mà tôi được lĩnh bởi cuốn Một trăm năm cô đơn là khi tôi đã ngoài 40 tuổi và đã có 4 cuốn sách được in nhưng người ta không trả cho tôi một đồng nào. Trước đó tôi làm báo, viết cho sân khấu truyền thanh, viết những mục quảng cáo, kịch bản cho điện ảnh và vô tuyến - tất cả những thứ đó không vượt ra ngoài cái công việc mà tôi yêu thích. Nhưng ngay cả khi tôi bắt đầu sống bằng tiền nhuận bút của mình thì cuộc đời tôi là một chuỗi những trò lừa đảo và mưu kế để thoát ra khỏi vô số những thiên la địa võng được giăng bủa nhằm biến tôi thành bất kỳ một người nào đó trừ nhà văn. Trong tôi bao giờ cũng nung nấu một khát vọng mãnh liệt, da diết và vô trách nhiệm là trở thành người giỏi nhất trên thế giới. Nhưng việc tôi không đạt được cái đó chưa nói lên một điều gì cả. Điều quan trọng là trong cuộc sống của tôi, cuộc sống riêng tư cũng như cuộc sống xã hội, không có một hành động nào là không được thôi thúc bởi khát vọng duy nhất đó.


Lê Sơn dịch, theo báo “Literaturnaja gazeta”


____


(1) Salvador Dali - hoạ sĩ và nhà văn Tây Ban Nha (1904-1989)


(2) Maria Montessori (1870 - 1952), nhà sư phạm Ý chủ trương phương pháp giáo dục tự do.


Nguồn: Văn nghệ số 39/2014/vanvn.net

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những ý kiến tâm huyết về Biển Đông và Trung Quốc - Nhiều tác giả 10.09.2019
Thương nhớ Lê Mai! - Vũ Ngọc Tiến 06.09.2019
Xúc động bức thư Chủ tịch Phú Yên gửi giáo viên và học sinh nhân ngày khai giảng - Tư liệu 06.09.2019
Bức thư "lạ" đầu năm học của Chủ tịch tỉnh Phú Yên gây xúc động mạnh - Tư liệu 06.09.2019
Rất nên đọc: Thư gửi thầy cô giáo và học sinh nhân ngày khai giảng năm học mới - Phạm Đại Dương 06.09.2019
Về nhà thơ Nguyễn Mỹ - Nhiều tác giả 28.08.2019
Sự cô đơn đĩnh đạc và một đồng bằng gai góc trong văn chương - Trịnh Bích Ngân 28.08.2019
Theo dấu tích trống đồng - Trần Mai Hưởng 26.08.2019
Đôi lời về tiểu thuyết đổi mới ở Trung Quốc - Vũ Ngọc Tiến 26.08.2019
Pablo Neruda nói về Gabriela Mistral - Pablo Neruda 23.08.2019
xem thêm »