tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30200705
Những bài báo
17.09.2014
Thu Tứ
Phạm Quỳnh yêu nước và cứu nước

Giữ nòi, yêu nước


Thời thương lấy cùng!


Đằng nào cũng dở


Nghĩ mà buồn thay


Không thể tưởng tượng


Một sự khả quái


Phạm Quỳnh cũng như Trần Trọng Kim, là một học giả xuất sắc trong nửa đầu thế kỷ 20 ở nước ta. Đề tài “học” của hai ông có chỗ giống chỗ khác. Cả hai đều rất mến và hay nghĩ về đạo Phật. Nhưng ngoài ra, Trần Trọng Kim chú trọng chính trị và lịch sử, còn Phạm Quỳnh quan tâm nhiều đến văn chương và học thuật.


Phạm Quỳnh cũng tha thiết với nước như Trần Trọng Kim.


Và lại cũng như Trần Trọng Kim, ông không chỉ yêu suông mà có tích cực hành động vì nước. Cái “hành” của ông là kêu gọi mọi người cố gắng giữ gìn tiếng Việt, riêng thanh niên thêm phải hết sức lo học.(1)


Đây đại khái cũng là một bi kịch như “chính phủ Trần Trọng Kim”!


Giữ tiếng và lo học thì làm sao cứu được nước!


Cái ngây thơ phi thường của Phạm Quỳnh có lẽ bộc lộ rõ nhất trong lời phàn nàn rằng mình đã cố hết sức chứng tỏ với người Pháp rằng tiếng Việt rất hay, thế mà họ vẫn không chịu cho người Việt Nam học bằng tiếng Việt (xem Một Sự Khả Quái). Trời đất ôi! Thằng giặc kia nó bắt dân ta học bằng tiếng Pháp là để trước tiện cho việc cai trị của nó và sau đồng hóa dân ta, chứ đâu phải vì nó chưa biết tiếng Việt là hay!


Phạm Quỳnh không góp được gì vào công cuộc giành lại độc lập cho nước, nhưng có vai trò nhất định trong bước đầu tìm hiểu văn hóa mình của người Việt Nam.


Đã gần bảy thập kỷ từ ngày cuộc đời ông kết thúc bi thảm. Đọc lại những lời tâm huyết sau đây, không khỏi bùi ngùi...


Giữ nòi, yêu nước


“Khu khu giữ nòi, yêu nước”: lý tưởng nào hơn.


Nhưng nước đã mất rồi. Phải lo cứu nước sao cho có hiệu quả, chứ chẳng lẽ cứ yêu suông mãi!


Cứu nước cũng chính là cách giữ nòi hay nhất đó.


Làm nhà văn ở đời này, cái trách nhiệm cũng khá to, mà cái tình cảnh cũng khó xử. Mỗi khi nghĩ đến, không khỏi giật mình. Ðương lúc cả quốc dân im hơi lặng tiếng, một vài người gắng gỏi hô hào. Dẫu ngắn hơi, dẫu xấu giọng, nhưng giữa đám thanh âm tịch mịch, tiếng kêu cũng truyền động đến xa. Bấy giờ ở chốn chân trời nơi góc bể, dần dần có người hưởng ứng mà họa theo (...) tự nhiên gây ra một cuộc âm nhạc vô hình. Cuộc hòa nhạc nay còn âm thầm não nuột như khúc “Nam ai”, nhưng mối đồng cảm hiện đã dằng dịt khăng khít như tình bè bạn (...) càng được các bạn đồng chí (...) kỳ vọng cho bao nhiêu, lại càng thêm lo mà thêm sợ bấy nhiêu (...) Nay muốn cảm ơn cái lòng yêu mến đó, chỉ xin tự nguyện theo mấy lời (...) của (...) một ông nho cận đại ở nước Tàu giải nghĩa cái chức vụ của kẻ (kẻ sĩ?) bên Ðông phương nên thế nào (...) Ông văn sĩ Tàu (...) nói rằng: “Hạ sĩ khu khu bảo chủng, ái quốc, tồn học chi chí dã” - “Kẻ hạ sĩ tôi chỉ khu khu có một cái chí giữ gìn cho nòi giống, thương yêu lấy nước nhà, và bảo tồn lấy sự học.”(2)


Thời thương lấy cùng!


Tiếng nói không phải chỉ là âm thanh.


Tiếng Việt vô cùng gợi cảm chẳng những ở âm thanh mà còn ở cách đặt câu nữa.


Gì chứ để diễn cảm thì cái “ao ta” nó chắc chắn “trong” hơn hẳn “ao người”, bất cứ người nào.


--


Tôi bình sinh chỉ có một chút nhiệt thành, là nhiệt thành với chữ quốc ngữ (...) nghe thiên hạ phẩm bình về văn quốc ngữ, người khen thời hởi dạ, người chê thời đau lòng (...)


Người Tàu cai trị ta trong hơn ngàn năm (...) tiếng ta ta nói, ta không nói tiếng Tàu... Đương khi (...) những hàng thượng lưu trong nước còn mài miệt về chữ Nho (...) thời trong dân gian (...) nói năng với nhau bằng gì (...) Há chẳng phải là cái tiếng quốc âm rất quý báu của ta rư? (...) Văn chương truyền khẩu (của nước ta) tôi dám quyết là một cái văn chương rất phong phú, tưởng không có nước nào có một cái văn chương truyền khẩu giàu như thế (...) giữa khi (...) những người trí thức trong nước không ai chịu luyện tập đến tiếng Nôm mà tiếng Nôm còn sinh hoạt được mạnh như thế (...)


Mục đích của tôi trong bài diễn thuyết này là muốn chứng rỏ rằng tiếng quốc âm ta phong phú là dường nào, và cái văn chương truyền khẩu của ta thanh thú biết bao nhiêu. Tiếng nước ta hay lắm, các ngài ạ. Người ngoại quốc cũng phải khen là một thứ tiếng êm như ru, vui như hát, mỗi vần đánh ra năm dấu, đọc thành sáu giọng khác nhau, như trong cung đàn vậy, tưởng không có mấy thứ tiếng hòa bình êm ái bằng (...) Vậy thời bọn ta phải nên trân trọng lấy cái quốc âm quý báu ấy, ra công tập luyện trau dồi cho mỗi ngày một hay một đẹp hơn lên. Dù ta học chữ Tây hay học chữ Tàu, ta cũng chớ nên quên bỏ tiếng Tổ quốc, là cái tiếng từ khi lọt lòng ra đã học nói, và đến khi hấp hối chết cũng còn nói. Ta nên nhớ lấy câu ca dao của nước nhà:


“Ta về ta tắm ao ta,


Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn!


Nhiễu điều phủ lấy giá gương,


Tiếng của Tổ quốc thời thương lấy cùng”!(3)


Đằng nào cũng dở


Lời nói, tưởng chỉ chót lưỡi đầu môi, mà không phải.


Người Việt dùng toàn tiếng Tây lâu ngày sẽ thấy lòng mình đã hóa lòng Tây, óc mình đã hóa óc Tây, mình đã hóa thành một “bản phóng” của Tây.


Còn người Việt dùng nửa tiếng Tây nửa tiếng Việt lâu ngày sẽ thấy lòng với óc mình dở Tây dở Việt, mình đã trở nên một thứ bánh chưng nhân thịt bò hay một thứ phó-mát bay mùi mắm tôm, “dở dang thay”!


Đằng nào cũng dở, vậy người Việt phải dùng tiếng Việt.


Mượn lời nói của giống khác, thì tức là mượn tư tưởng của giống khác, vì là đem cái óc của mình khuôn vào từ điệu cú pháp của người, đem cái hồn của mình nhiễm lấy tính tình phong vị của người, đem cốt cách tinh thần của mình mà hy sinh đi để chuốc lấy cái cốt cách tinh thần của người (...) thành công (...) thì (...) thành một bản phóng của người (...) không thành công (...) ấy mới dở dang thay!(4)


Nghĩ mà buồn thay


Thấy Tàu mạnh, quý chữ Tàu. Thấy Pháp mạnh, quý chữ Pháp. Thấy Mỹ mạnh, đua nhau “OK”!


Dĩ nhiên có phải chỉ quý chữ thôi đâu. Hễ thấy ai mạnh, là quý lấy quý để tất cả mọi thứ của người ta!


Không phải chỉ riêng dân tộc Việt Nam “sành cái thuật đó lắm” đâu. Giống người nào cũng thế cả. Chẳng qua ta bị lâm vào hoàn cảnh yếu hơn Tàu, hơn Pháp, hơn Mỹ.


Sống còn, sống còn... Còn xác mà mất hồn, có đáng còn không?


Người ta hay có tính về bè với bên mạnh mà ruồng rẫy kẻ yếu. Bên mạnh bao giờ cũng được phần hơn, bên yếu bao giờ cũng phải chịu kém. A dua với người mạnh chẳng lợi hơn là đeo đẳng với kẻ yếu ru? Ở đời nên vì lợi hơn vì tình; cái thuật sinh tồn là ở đó. Người mình đã sành cái thuật đó lắm, nên đối với quốc âm thường chểnh mảng, đối với chữ Pháp hay đậm đà (...) Nghĩ đến mà buồn thay!(5)


Không thể tưởng tượng


Năm 1930, Phạm Quỳnh băn khoăn: “Nước Nam năm mươi năm nữa thế nào? (...) Tôi không thể sao tưởng tượng được rằng có ngày (...) cái nguồn sâu sinh hoạt (...) cái thi vị thâm trầm (...) cái hồn thơ phảng phất của một dòng giống (...) có ngày biến mất hẳn”.


Năm 1990, “những cái đó” tuy đã nhòe nhưng vẫn chưa có vẻ sắp “biến”.


Năm 2010, “những cái đó” đang tiến mạnh tới chỗ “mất hẳn”!


Hai mươi năm qua, cả một cuộc bể dâu lớn chưa từng thấy trong lịch sử dân tộc. Một mặt, điều kiện vật chất cải tiến rõ rệt. Mặt khác, “những cốt cách tinh thần (...) tạo thành ra chúng ta” bị khẩn trương triệt hạ!


Cốt cách cũ đã giúp người Việt cũ đạt những đỉnh cao về văn hóa tinh thần không nhường bất cứ dân tộc nào.


Chưa thấy cốt cách mới nào cả, để người Việt mới có thể dựa vào mà xây dựng một nền văn hóa tinh thần mới có thể sánh được với thành tích của cha ông.


Tôi không thể sao tưởng tượng được rằng có ngày bao nhiêu cái nguồn sâu sinh hoạt của dân tộc này sẽ tiêu tan đi hết cả (...) rằng (...) cái thi vị thâm trầm nó chan chứa trong những bài dã ca, khúc cổ điệu của nước nhà (...) cái hồn thơ phảng phất của một dòng giống (...) đời đời cày sâu cuốc bẫm nhọc nhằn trên thửa ruộng của ông cha, nhưng nghe con chim oanh học nói, thoảng chút gió đồng thổi qua, cũng biết rùng mình mà cảm động. Tôi không thể tưởng tượng những cái đó có ngày biến mất hẳn đi được (...)


(...) trân trọng giữ những cốt cách tinh thần cũ đã tạo thành ra chúng ta bây giờ (6)


Một sự khả quái


Chính sự ngây thơ của Phạm Quỳnh mới là khả quái!


Pháp cần gì tiếng Việt hay hay dở!


Pháp muốn ta học tiếng Pháp là để trước tiên tiện cho việc cai trị nước ta và sau đó, là để đồng hóa dân tộc ta!


Tôi diễn thuyết cả thảy năm lần (...) lần thứ ba ở Hội “Ðông Phương ái hữu hội” là một hội những nhân sĩ ở Paris có lòng yêu mến cái cổ văn hóa của các nước Ðông phương, lần này nói về thi ca Việt Nam, dịch những câu ca dao hay của ta và giảng về Truyện Kiều, kết luận rằng tiếng An Nam cũng là một thứ tiếng hay, chớ không phải là một cái thổ âm man mọi gì, và (cái sự) các trường của Quý Chính phủ đặt ra để dạy học cho người An Nam không hề lấy tiếng An Nam mà dạy cũng là một sự khả quái (7).


___________


(1) Phạm Quỳnh có bài “Độc thư cứu quốc”, viết năm 1920, để “mừng các ông tân khoa (đầu tiên) của trường Đại học (Đông Dương)”, có in lại trong Thượng Chi văn tập.


(2) “Chơi Lạng Sơn, Cao Bằng”, viết năm 1925, đăng trên tạp chí Nam Phong, in lại trong Du ký Việt Nam, nhiều tác giả, Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, nxb. Trẻ, VN, 2007, tập II.


(3) “Tục ngữ ca dao”, đăng trên tạp chí Nam Phong năm 1921, in lại trong Mười thế kỷ bàn luận về văn chương, nhiều tác giả, nxb. Giáo Dục, VN, 2007.


(4) “Quốc học với quốc văn”, đăng trên tạp chí Nam Phong năm 1931, in lại trong Luận về quốc học, nhiều tác giả, nxb. Đà Nẵng, VN, 1999.


(5) Bài không biết tên, đăng trên tạp chí Nam Phong số 22, tháng 4-1919, in lại trong Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934, Phạm Thị Ngoạn, nxb. Ý Việt, Pháp, 1993.


(6) “Nước Nam năm mươi năm nữa thế nào?”, đăng trên tạp chí Nam Phong số 154, tháng 9-1930, in lại trong Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934, Phạm Thị Ngoạn, nxb. Ý Việt, Pháp, 1993.


(7) “Thuật chuyện du lịch ở Paris”, viết năm 1925, đăng trên tạp chí Nam Phong, in lại trong Du ký Việt Nam, nhiều tác giả, Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, nxb. Trẻ, VN, 2007, tập II.


TT.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết "Cõi mê" của nhà văn Triệu Xuân làm xôn xao dư luận! - Thanh Chung 13.11.2019
Khi người Anh Hùng lên tiếng - Phạm Thành Hưng 12.11.2019
Nhớ thời học Ngữ Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội - Triệu Xuân 11.11.2019
Chuyện cuối tuần: Chính trị, như gai nhọn dưới chân trần - Tư liệu 08.11.2019
Trung Quốc: Chiến lược trở thành cường quốc biển - Nguyễn Hải Hoành 08.11.2019
Cát: Vũ khí bí mật của Trung Quốc tại Biển Đông - Vince Beiser 08.11.2019
Hành trình xuyên Việt đi tìm báu vật địa phương của Đỗ Quang Tuấn Hoàng - Tư liệu 08.11.2019
Lại “Mời đọc chơi” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Tản mạn về J.J. Rousseau: Cái gì của Trời thì tốt - Phạm Đình Lân 07.11.2019
Nhà văn Triệu Xuân: Ăn mặc, đi đứng, nói năng quyện vào nhau mới thành mốt - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 03.11.2019
xem thêm »