tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27221555
21.08.2014
Khúc Hà Linh
Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (4-hết)

CHƯƠNG VIII. ẨN TÌNH


 


Dẫu là người hết lòng vì công việc, lý tưởng ; chân thành với người thân đến mức có thể giãi bầy gan ruột… nhưng từ sâu thẳm đáy lòng, Phạm Quỳnh vẫn có ẩn tình mà ông giấu kín…


Sinh thời Phạm Quỳnh và Nguyễn Vĩnh có mối quan hệ gắn bó đặc biệt trên con đường canh tân văn hoá, phát triển chữ quốc ngữ và sự nghiệp báo chí.


Nguyễn Vĩnh, Phạm Quỳnh cùng học trường Thông ngôn, nhưng mỗi người tốt nghiệp mỗi khoá khác nhau. Từ năm 1913 khi Nguyễn Vĩnh làm chủ bút Đông Dương tạp chí, tuần báo xuất bản vào thứ năm, thì Phạm Quỳnh mới 21 tuổi, đã trở thành một trong 11 biên tập viên có danh phận của tạp chí. Tuy hơn Phạm Quỳnh 10 tuổi, nhưng  Nguyễn Vĩnh vẫn coi ông  là một người cộng sự tin cậy có tài năng sánh vai với các bậc đàn anh như Tản Đà, Nguyễn Văn Tố..


Năm 1922, họ cùng nhau có duyên may đi  tham dự Hội chợ Quốc tế (đấu xảo ) ở Macxây(Marseille) Pháp. Trong chuyến này Nguyễn  Vĩnh đã lái xe ô tô cho Phạm Quỳnh đi thăm nhiều nơi  nội thành và ngoại vi đất Pháp, tạo cho ông điều kiện thâm nhập đời sống thực tế, để sau này có những bài  Pháp du hành trình nhật ký đăng tải trên Nam Phong  rất sinh động.(trên Nam Phong số 23-7-1922, Phạm Quỳnh  đã nói việc này)


Năm 1932, Nguyễn  Vĩnh gặp rủi ro nghề nghiệp. Ông bị vỡ nợ trong vụ vay tiền dựng toà soạn báo An Nam Nou veau(nước An Nam mới). Ông phải phiêu dạt sang Lào đào vàng….


             Năm 1936, sau khi vào Huế làm quan được 4 năm, biết tin sửng sốt đau thương Nguyễn Vĩnh chết đột ngột bên sông giáp biên giới Việt Lào, Phạm Quỳnh thương tiếc làm thơ khóc bạn.


Tháng 9 năm 2009, giáo sư Nguyễn Đình Chú gửi cho Phạm Tuyên con trai Phạm Quỳnh một bài viết ngắn.  Bài viết với hàng tít: “Cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh”,  bên dưới có dòng chữ nhỏ: Về một bài thơ bây giờ mới được biết.


Bài viết có đoạn: “Quỳnh, Vĩnh, Tốn, Tố (Phạm Quỳnh, Nguyễn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Văn Tố) một thời được dư luận xã hội tôn là 4 học giả sáng giá nhất của đất nước. Nguyễn Văn Vĩnh chủ bút Đông Dương tạp chí, Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong tạp chí. Cuộc đời hai Cụ mỗi người một vẻ, nhưng số phận lại có chỗ na ná nhau, với người đời, kẻ đặt lên cao, người hạ xuống thấp. Có điều là thời gian xem ra đang ủng hộ hai cụ. Chẳng biết sinh thời hai cụ gắn bó với nhau tới đâu, nhưng cứ vào bài thơ cụ Quỳnh khóc cụ Vĩnh năm 1936 thì tình bạn của hai cụ chắc là thắm thiết lắm.  Bài thơ này còn được hôm nay là do cụ Nguyễn Đình Khang quê Nghi Lộc, Nghệ An làm thư viện ở Huế trước cách mạng tháng Tám năm 1945 và từng tham gia việc biên tịch gia sản cụ Quỳnh hồi tháng 9 năm 1945 tại Huế, nhân đó mà thấy bài thơ trong tập bản thảo của cụ Quỳnh, nay đọc lại cho chép (chúng tôi nhấn mạnh- KHL). Bài thơ thất ngôn bát cú luật Đường “Khóc Nguyễn Vĩnh”của ông nghe xót xa, mà như có chứa cả ẩn ức nỗi niềm:


Vừa mới nghe tin vội giật mình


Thôi thôi thôi cũng kiếp phôi sinh


Trăm năm sự nghiệp bàn tay trắng


Bảy thước tang bồng nắm cỏ xanh


Sống lại như tôi là sống nhục


Chết đi như bác chết là vinh


Suối vàng bác có dư dòng lệ


Khóc hộ cho tôi nỗi bất bình.”.


            Quả là một bài thơ mới tìm thấy! Bởi chỉ có người biết thuộc nhập tâm đọc lại chép ra thì người ngoài mới biết. Nếu không nó vẫn nằm trong yên lặng mà thôi. Cứ như bài thơ này, người đời mới càng hiểu thêm về nỗi lòng cụ Phạm.


Từ khi Nguyễn Vĩnh mất, 9 năm sau nhà họ Phạm mới xảy ra chuyện gia biến, nhưng hình như có linh cảm mà Phạm Quỳnh khóc bạn vẫn phảng phất nỗi niềm ẩn ức riêng mình. Hết sức bình sinh đem tài năng ra phụng sự cho một nền văn hóa, giữ gìn tiếng mẹ đẻ, nâng cao vị thế tiếng Việt mong sao  không bị thua kém ngôn ngữ Âu Tây, vậy mà vẫn bị mỉa mai, châm chọc. Người đời đâu có biết ông đang đi dưới hai làn đạn. Một làn là sự soi mói rình mò của kẻ ngoại bang, và một làn là miệng lưỡi nhân gian, có khi lại còn ác độc hiểm nguy hơn nhiều. Nỗi bất bình ấy, Phạm Quỳnh nín nhịn, và chịu đựng nỗi khổ tâm, dày vò cho đến sau cái ngày mồng 13 tháng 3 năm 1945, khi đã thành lập được chỉnh phủ Trần Trọng Kim thân Nhật, ông về ở Hoa Đường, suy ngẫm thế cuộc, suy ngẫm thế thái nhân tình. Nhưng đó là chuyện sau. Bây giờ khóc bạn, cũng là giải tỏa nỗi cay đắng trong lòng.


Cả đến khi thất sủng, về ở ẩn, ông vẫn đau đáu khôn nguôi về kỷ cương xã hội. Trong bài “Chỉ buộc chân voi", Phạm Quỳnh còn da diết: Tục ngữ có câu”Chỉ buộc chân voi". Chỉ mà buộc được chân voi, một cái hãm rất mong manh mà cầm được một cái sản  rất to mạnh…Nền nếp gia đình, trật tự trong xã hội, kỷ luật của cá nhân phần nhiều cũng chỉ căn cứ ở mấy sợi chỉ vô hình do đạo đức  tôn giáo đời đời dùng để ngăn chặn cái thị dục vô nhai(không  bến bờ- KHL chú) của người ta, ngăn sự ngu xuẩn vô ý của quần chúng. Nếu sợi chỉ ấy mà chùng, mà đứt thời có nguy hiểm đến văn minh loài người."


Có lẽ vì thế mà sau này có lần Phạm Quỳnh tự vấn”Tôi là một người của buổi giao thời và tôi sẽ chẳng bao giờ được cảm thông. Tôi là giao điểm giữa Đông và Tây, giữa quá khứ và tương lai(..) Là một người ái quốc Việt Nam, tôi yêu nước tôi với tất cả tâm hồn tôi, thế mà người ta buộc tôi, bảo tôi là phản quốc, đã cộng tác với kẻ xâm lược và phụng sự chúng!..Là một thân hữu chân thành của nước Pháp, một đằng khác, người Pháp trách cứ tôi đã che đậy một tinh thần quốc gia cực đoan chống Pháp dưới một bề ngoài thân Pháp!”


Những đoạn trích trên đây thật bất ngờ được trích từ một thư riêng của Ngự tiền Văn phòng đại nội Phạm Quỳnh gửi ông Louis Marty, Giám đốc chính trị vụ Phủ toàn quyền Đông Dương. Thư đề ngày 30 -12-1933. Thư được giữ trong gia đình Louis Marty, do bà quả phụ  Marty gửi cho bà Phạm Thị Ngoạn con gái Phạm Quỳnh để sao y năm 1960. Lúc đó bà Marty sống tại Cahors, Département du Lot (Theo tài  liệu gia đình Phạm Tuyên).


Phạm Quỳnh là người yêu nước, trân trọng nền văn hoá dân tộc đặc biệt tiếng Việt, thể hiện qua việc tôn vinh áng thơ bất hủ truyện Kiều. Thời kỳ làm quan, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, ông chống Pháp một cách không khoan nhượng, theo kiểu của trí thức nho học bấy giờ. Ông dám trách cứ Pháp trưng dụng lúa gạo để cung cấp  cho Nhật, và đòi Pháp trả quyền cai trị Bắc Kỳ cho Nam triều.Ông bị tên cáo già thực dân theo dõi,  liệt vào đối tượng đối địch bất khả quy.


Theo một tài liệu mật ở Bảo tàng Pháp Ai xen Provene được công bố, ngày mồng 8 tháng Giêng năm 1945, trong báo cáo gửi  đô đốc Decoux và cho Tổng đại diện Mordant, Thống sứ Trung Kỳ khi ấy là Healewyn đã viết về Phạm Quỳnh như sau: "Vị thượng thư này vốn đã chiến đấu suốt cuộc đời mình bằng ngòi bút và bằng lời nói, không bao giờ bằng vũ khí chống sự bảo trợ của Pháp và cho việc khôi phục quyền hành của Triều đình Huế trên cả ba kỳ (Bắc, Trung, Nam) và cho việc người Việt Nam nắm trong tay vận mệnh của chính mình.. Những yêu sách của Phạm Quỳnh đòi trở lại việc chấp thuận một chế độ tự trị hoàn toàn cho hai xứ bảo hộ (Trung kỳ và Bắc kỳ) khước từ chế độ thuộc địa ở Nam kỳ và thành lập một quốc gia Việt Nam. Tôi xin lưu ý ngài một điều là, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, con người đó là một chiến sĩ không lay chuyển nổi cho nền độc lập của Việt Nam và đừng hòng có thể làm dịu những tình cảm yêu nước chân thành và kiên định của ông ta bằng cách bổ nhiệm ông ta vào một cương vị danh dự hoặc trả lương một cách hậu hĩ. Cho tới nay đó là một địch thủ thận trọng nhưng cương quyết chống lại sự đô hộ của nước Pháp và ông ta có thể sớm trở thành một kẻ thù không khoan nhượng.


Lần khác, trong một mật thư của Khâm sứ Trung Kỳ gửi Toàn quyền Đông Dương Đơcu, có đoạn “Ông Phạm Quỳnh trách cứ Pháp trưng dụng lúa gạo để cung cấp  cho Nhật, và đòi Pháp trả quyền cai trị Bắc Kỳ cho Nam triều...”.


Phạm Quỳnh có thể sẽ trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta(tức Pháp - KHL chú).


Ngày 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp. Phạm Quỳnh từ nhiệm về ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường, không tham gia chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật, cũng không chạy theo Pháp. Ông để tâm đến văn học mà mấy chục năm ông say mê tâm huyết. Có nhà báo phỏng vấn ông, rằng sắp tới ông làm gì, ông trả lời “Một đời tôi hoạt động văn học, nay tôi trở lại văn học”. Nhưng trớ trêu thay, một cái chết đến với ông trong những ngày đầu cuộc khởi nghĩa Tháng Tám. Nhà thơ Huy Cận, người từng thay mặt chính phủ lâm thời vào Huế thu ấn tín và chứng kiến lễ thoái vị của vua Bảo Đại khi trở về kể chuyện Phạm Quỳnh với Hồ Chủ Tịch. Nghe xong, Người đã nói với  Huy Cận “Việc đã lỡ mất rồi”.


Khi tìm hiểu về Phạm Quỳnh, không ít người đặt câu hỏi: Vì sao nhà văn hoá lớn đầy uy tín và nhiệt tâm như Phạm Quỳnh  lại nhận lời làm quan cho triều đình Huế, một triều đình thực chất bị thao túng của thực dân Pháp?


Phạm Quỳnh mất năm 1945, sau đấy 26 năm nhà văn Nguyễn Công Hoan đã có lời chia sẻ "..Bấy giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan không phải vì danh. Quốc dân biết tên Phạm Quỳnh hơn nhiều Thượng thư Nam Triều. Mà cũng chẳng phải vì lợi. Đơn cử làm chủ bút Nam Phong, Phạm Quỳnh được cấp 600 đồng một tháng. Món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan chỉ đổi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam Triều đòi Pháp trở lại Hiệp ước 1884(nghĩa là Pháp chỉ đóng vai trò bảo hộ còn công việc trong nước thì để vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Trên thực tế Pháp đã lấn quá sâu vào nội bộ triều đình Huế- KHL). Vậy là một người yêu nước như Phạm Quỳnh sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua là một việc miễn cưỡng trái với ý mình để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn chứ thực lòng một người dân mất nước ai không đau đớn ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ ra được truyện Kép Tư Bền tả một anh kép nổi tiếng về bông lơn đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà lên sân khấu nhà hát làm trò cười ngay cái tối cha mình đang hấp hối"(Đời viết văn của tôi- NXB Văn học Hà Nội năm 1971).


 


* Khoảng trống Phạm Quỳnh


Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện sử học, trong bài”Phạm Quỳnh- chủ bút báo Nam Phong", đăng trên tạp chí Khoa học và  Ứng dụng Hải Dương, số tháng 2 năm 2005, có đoạn: “Còn xét về hành động, Phạm Quỳnh không có hành vi nào tàn ác với nhân dân, không đàn áp các cuộc khởi nghĩa nông dân như nhiều quan lại thời Nguyễn, không ra lệnh bắt bớ tù đầy các nhà yêu nước(…) Nhưng mặt khác ông lại có công chuyển tải văn hoá Đông- Tây trên văn đàn, báo giới Việt Nam, góp phần làm phong phú thêm cho ngôn ngữ, văn hoá dân tộc Việt Nam thời đầu thế kỷ XX, công lao đó đáng được ghi nhận. Nếu không xảy ra việc ông qua đời năm 1945 thì có thể ngày nay chúng ta dễ dàng đánh giá ông hơn"


Vậy sự việc "qua đời”của Phạm Quỳnh  mà giáo sư Văn Tạo nói là thế nào?  Giáo sư Văn Tạo viết:


“Năm 1945, sau khi Bảo Đại vừa thoái vị, trao ấn kiếm cho Chính phủ lâm thời, thì Pháp thả dù biệt kích và gián điệp xuuống ngoại vi thành phố Huế, mang theo chỉ thị mật của chính phủ Đờ Gôn là phải tiếp xúc cho kỳ được với Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh. Lúc đó Bảo Đại đã được đưa ra Thanh Hoá, còn Ngô Đình Khôi và Phạm Quỳnh vẫn  ở Huế nên có lệnh cấp tốc phải di dời hai nhân vật này ra khỏi Huế. Chuyến di dời đó có 4 người là Ngô Đình Khôi(anh ruột Ngô Đình Diệm), Phạm quỳnh, con trai Ngô Đình Khôi(tức Ngô Đình Huân- KHL chú), và Nguyễn Tiến Lãng- con rể Phạm Quỳnh. Nhưng phương tiện dời đi chỉ có chiếc ô tô cũ, ọc ạch đưa được ba người là Phạm quỳnh và cha con Ngô Đình Khôi cùng du kích áp tải.…Chẳng may du kích áp tải đến một quãng rừng cách xa Huế thì xe bị hỏng, lại có tiếng ì ầm như tiếng máy bay biệt kích Pháp thả dù. Các chiến sĩ du kích bí quá, sợ không hoàn thành trách nhiệm di dời, đã tự động thủ tiêu ba người, không chờ chỉ thị cấp trên."


11 năm sau, vào đầu năm 1956, bấy giờ Ngô Đình Diệm đã lên làm Tổng thống Việt Nam Cộng hoà, cho người nhà đi tìm di hài và cải táng anh ruột và cháu mình là cha con Ngô Đình Khôi. Khi ấy hai người con của Phạm Quỳnh là  Phạm Tuân và Phạm Thị Hảo đi theo nhận di hài cha. Tại đây họ  mới biết thêm nơi giam giữ cuối cùng của thân phụ. Đó là xưởng ép dầu tràm cách làng Văn Xá chừng 5 cây số về phía Tây, cách Huế khoảng 15 cây số về phía bắc, trên đường Huế- Quảng Trị.


Ngày 9 tháng 2 năm 1956 di hài Phạm Quỳnh được cải táng. Khi đào lên người ta nhận ra ông nằm dưới cùng, bên trên là cha con Ngô Đình Khôi. Các con  nhận ra người cha kính yêu nhờ chiếc kính cận nằm trên hai hốc mắt. Phạm Quỳnh sinh thời bị cận nặng. Chiếc kính luôn thường trực trên mặt ông. Nếu mất kính, ông chỉ có thể sờ soạng như người mất phương hướng và không thể làm gì được. Vì thế, trong sinh hoạt, làm việc, đăng đàn diễn thuyết kể cả chụp ảnh …kính chẳng khi nào rời.


Mộ ông được đặt trong chùa Vạn Phước -  Huế. Chùa Vạn Phước nằm trên đường Điện Biên Phủ (xưa là đường Nam Giao) bên phải chùa Từ Đàm. Khi còn sống, Phạm Quỳnh thường lui tới chùa này đọc sách, nghỉ ngơi hoặc suy ngẩm nên rất thân tình với Hoà thượng trụ trì. Nhà chùa dành cho ông một gian nhỏ để làm thư phòng. Ông thích nghiên cứu đạo Phật và đã viết cuốn Phật giáo lược khảo.  Sát ngay cổng ngoài của chùa về phía trái là mộ được cải táng của Phạm Thượng Chi. Hai trụ cổng vào mộ có hai hàng chữ Nôm khắc trên đá hoa cương “Truyện Kiều còn tiếng ta còn”bên phải,  và “Tiếng ta còn, nước ta còn”bên trái,  do con cháu ông trùng tu năm 1992. Mộ ông nằm dưới một tàn cây râm mát. Tấm bia đá bên trong ghi chính giữa dòng chữ Hán “Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi di thể”( 遺體  Thân thể còn lại của chủ bút báo Nam Phong tức Phạm Quỳnh hiệu Thượng Chi). Nghĩa là  chức vị, họ tên và bút hiệu thường dùng của một nhà báo. Chẳng hề liên quan gì đến ông quan đại thần. Bên phải là dòng chữ “Ất Mùi niên thập nhị nguyệt thập bát nhật ( ngày 18- 12- năm Ất Mùi) tức ngày cải táng ông từ làng Hiền Sĩ, Phong Điền, Thừa thiên-Huế vào Huế. Bên trái trên bia là hàng chữ “Nam, Phạm Bích đồng đệ muội đẳng cung chí”(   Con trai Phạm Bích cùng em trai em gái cung kính ghi).


Cái chết của Phạm Quỳnh nói theo duy tâm là do số phận, định mệnh đã sắp bầy. Nếu không có sự tình cờ biệt kích Pháp nhảy dù, khi di dời  xe không bị  ọc ạch cản trở đường đi, và dọc đường không  có tiếng ì ầm  máy bay giữa cái thời  khắc nhạy cảm ấy, như giáo sư Văn Tạo kể?..


Bây giờ ở góc đồi xóm Bình An, ngoại ô Huế còn ngôi mộ Phạm Quỳnh. Dưới vòm lá xanh hàng cây muối, mộ ông yên lặng rung rinh hoa nắng. Trước cửa vào mộ là đôi hàng chữ Nôm, người đời sau sắp xếp lại câu nói của ông trong đêm kỉ niệm ngày mất thi hào Nguyễn Du tại trụ sở Hội khai trí Tiến đức năm 1924, giống như hai vế đối:


           Truyện Kiều còn, tiếng ta còn


           Tiếng ta còn, nước ta còn.


Đã có lần nhạc sĩ Phạm Tuyên, con thứ chín của ông  bàn với gia đình ý nguyện đưa ông về Lương Ngọc- Hoa Đường tỉnh Hải Dương, để bên cạnh người cha là tú tài Phạm Hữu Điển, để con cháu chắt tiện bề hương khói. Nhưng có người kính yêu Phạm Quỳnh khuyên, nên cứ để ông ở lại chốn này. Tấc đất   Phạm Quỳnh đang yên nghỉ có thế đất thiêng. Ở đây ông thi thố tài năng, đem kiến văn sức lực hiến dâng cho quốc dân đồng bào, sự nghiệp quốc học, sự nghiệp tôn vinh tiếng mẹ đẻ, mà bạn bè trong nước và ngoài nước từng biết đến vẫn luôn ngưỡng mộ. Mấy chục năm sau, có bao nhiêu biến đổi, nhiều khách nước ngoài tới Huế, còn nhớ và tìm đến đây thắp hương tưởng niệm ông Chủ bút tạp chí Nam Phong.


Có nhà hoạ sĩ sinh sống ở nước ngoài trở lại Huế, nhìn bến sông An Cựu, nghe dân chúng nhắc đến tên bến cụ Phạm, đã xúc động vẽ bức tranh về bến nước này và trưng bày triển lãm. Thực ra bến nước còn đây, cây sung ngày xưa xoà ra mặt nước chỉ còn trong kí ức thời gian. Ngôi biệt thự Hoa Đường sau những ngày tao loạn, chiến tranh nay không còn nữa, chỉ là một xóm nhỏ của những cư dân mới đến sau này. Riêng cái tháp nước thì vẫn trơ trơ cùng tuế nguyệt.?


Thật ra hiếm có một người nặng lòng với cố hương như Phạm Quỳnh. Tổ tiên sinh ra từ đất Hoa Đường, sau đó di cư đi nơi khác sinh sống. Đối với mảnh đất quê cha đất tổ, bao giờ cũng trĩu nặng trong trái tim ông. Phòng làm việc của Phạm Quỳnh luôn treo bức tranh có hai chữ đại tự Trung Hiếu, như nhắc ông luôn nhớ bổn phận với tổ quốc và gia đình. Ngay từ còn nhỏ ông có ý thức đặt bàn học tập ở gần gian thờ tổ tiên để luôn nhớ cội nguồn mà phấn đấu vươn lên. Khi dọn nhà từ phố Hàng Trống sang phố hàng Da, ông cũng mang theo bài vị tổ tiên và kê bàn ghế gần đúng như chỗ cũ.


Làm văn viết báo, ngoài tên thật, ông còn bút hiệu Thượng Chi, Hồng Nhân, Phạm Quỳnh còn có bút danh  Hoa Đường. Mỗi lần cầm ngòi bút ký Hoa Đường, dường như ông nhớ về nơi nguồn cội, nhớ về cái mảnh đất phong thổ, có hơn mười vị tiên hiền đại khoa. Nhớ về tiên liệt đã bỏ máu xương, xây đắp. Ngày vào Huế đem tấc lòng báo đáp ý nguyện mở mang quốc văn quốc học, ông vẫn đau đáu nghĩ về làng xưa. Với vị thế của ông, Phạm Quỳnh đã về cố hương cho lập trường Tổng sư ngay trên bản quán. Ở kinh thành Huế vàng son, nhưng Phạm Quỳnh vẫn nhớ tới cố hương. Đó là làng Hoa Đường bên sông Cửu An, thuộc phủ Bình Giang tỉnh Hải Dương miền Bắc. Còn ở đây, bên dòng sông  An Cựu, trên trụ cổng biệt thự ông cho đắp hai chữ Hoa Đường, để khuya sớm hàng ngày đi đi về về sống với vợ con, ngước nhìn lên hai chữ thiêng liêng ấy, ông có cảm giác quê hương như ở bên mình.  Ông không thể và chẳng bao giờ dám quên mảnh đất tổ tiên. Ở đấy tuy không phải nơi ông chôn rau cắt rốn, nhưng có mộ phần của thân phụ ông - cụ tú Phạm Hữu Điển, một sợi dây vô hình, níu ông lại để không bị quên lãng cội nguồn.


Những tháng ngày từ nhiệm chức quan, nằm trong ngôi biệt thự dịch thơ Đổ Phủ và viết bút ký, ông vẫn không quên Hoa Đường, và vì thế mới có Kiến văn cảm tưởng, tuỳ bút Hoa Đường! Phạm Quỳnh nghĩ tới người cha một đời vất vả, nằm trên đất cố hương Hoa Đường, mà vì việc nước lâu lâu ông mới có dịp về viếng thăm.


Thế là cha ở Hoa Đường xứ Bắc và con đang ở Hoa Đường phương nam. Vậy là hai chữ ấy cứ bám riết lấy cuộc đời Phạm Quỳnh cho đến khi ông về với đất.


 


Trong khi ở  Huế Phạm Quỳnh bị bắt, thì  ở ngoài bắc, sáng 23 -8-1945, Hồ Chủ Tịch mới từ Tân Trào trên đường về Hà Nội. Trải qua những chặng đường Đa Phúc, Phúc Xá, Từ Liêm, Gạ.. chiều 25 -8 Người mới vào Hà Nội. Hồ Chủ Tịch triệu tập chủ trì hội nghị Thường vụ trung ương Đảng rồi họp Ủy ban Giải phóng Dân tộc, đề nghị thi hành chính sách đại đoàn kết rộng rãi, thành lập Chính phủ Thống nhất Quốc Gia, bao gồm những đảng phái, những người có danh vọng.


Rồi Người viết Tuyên ngôn Độc lập. Khi nghe báo cáo là Trần Huy liệu cùng phái đoàn đã vào Huế nhận ấn tín của Bảo Đại thoái vị, người nói với Hoàng Hữu Nam: “Chú tìm một người thay chú vào Huế gặp Phạm Quỳnh đưa thư tôi mời cụ Phạm...”. Theo tác giả Sông Hương trong bài “Góp phần tìm hiểu và làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: Bất Tự Nhiên”(sách “Để tìm hiểu thêm về Bác Hồ “- NXB Lao Động xuất bản 2009) thì ngày 30-8-1945 Hoàng Hữu Nam thưa với Bác là ông  Phạm Quỳnh đã bị bắt, Bác nói: Thật là  Bất tự nhiên- (thực ra là Bất tất nhiên- KHL chú), tức là không nhất định phải như thế, có thể ra cách khác được. Tác giả Sông Hương  phân tích “Nếu không có tư liệu nào bổ sung, đây có thể là câu nói duy nhất mà ta có được của Bác Hồ trong trường hợp duy nhất về ứng xử với Phạm Quỳnh và suy ra cũng không phải chỉ với một con người, một sự việc ấy” (trang 117).


Còn nhớ: Từ 1932 đến 1945, gia đình Phạm Quỳnh vẫn ở Huế từ  khi ông vào Huế làm quan. Lúc bấy giờ  Phạm Khuê đang học đại học Y khoa Hà Nội, ở  số 5 phố Hàng Da với gia đình chị cả Phạm Thị Giá cùng chồng là giáo sư Tôn Thất Bình, hiệu trưởng Trường Thăng Long. Nhưng khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ thì Phạm Khuê lại ở Huế vì đang dịp nghỉ hè. Lúc cha bị bắt thì Phạm Khuê, Phạm Tuyên và đám người nhà trai trẻ đang đến sân vận động dự cuộc mít tinh do Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh tổ chức. Ở nhà, chỉ còn ông bà Phạm Quỳnh, vợ chồng Phạm Thị Ngoạn - Nguyễn Tiến Lãng,  Phạm Thị Hoàn và mấy em gái. Phạm Tuân, con trai út của Phạm Quỳnh và mấy đứa cháu nội, ngoại thì chơi tha thẩn ở sân nhà.  Mấy hôm trước, biết tin Cách mạng  thành công ở Hà Nội, Phạm Quỳnh đã bảo người nhà, vợ và các con gái lấy hết vải đỏ, vải vàng nhà hiện có, để may gấp cờ đỏ sao vàng treo khắp mặt tiền nhà. Ông bảo “Nước ta độc lập rồi, thế là việc đáng mừng nhất”.


Chiều hôm ấy, Phạm Khuê dự mít tinh về đến nhà, tay vẫn còn cầm cờ đỏ sao vàng, mới biết cha và anh rể vừa bị bắt.


 Phạm Khuê lên tàu hỏa ra Hà Nội, báo tin chẳng lành. Cả nhà cùng bàn để hai chị lớn là Phạm Thị Giá và Phạm Thị Thức (là vợ Giáo sư Đặng Vũ Hỷ) xin lên gặp Cụ Hồ, mang theo thư do Phạm Khuê chấp bút, theo ý kiến của gia đình.


 Phạm Thị Giá tìm gặp ông Hoàng Hữu Nam tức Phan Bôi, và hai bà được Hồ Chủ tịch tiếp từ 11 giờ trưa ngày 31- 8- 1945. Người hứa là sẽ cho tìm hiểu kỹ sự việc đã xảy ra.


Theo Vũ Đình Huỳnh, về sau này khi nghe chuyện về  Phạm Quỳnh, Bác đăm chiêu suy nghĩ bảo: “Giết một học giả như vậy nhân  dân ta được gì, cách mạng được gì. Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu”. Cũng qua nhà thơ Huy Cận, Bác có nhắn lại gia đình là: “Cụ Phạm là người của lịch sử sẽ được lịch sử đánh giá lại. Con cháu cứ vững tâm đi theo cách mạng...”.


Sự việc này được bà Thức thuật lại trong một bức thư đề ngày 28-10- 1992 gửi các em bên Pháp năm 1992. Trong thư có đoạn: “Tháng Tám năm 1945 thầy tôi ra đi!! Than ôi cả thầy me tôi và các con đều không có thể ngờ rằng thầy tôi ra đi mãi mãi!!! Chúng tôi khóc tưởng như có thể chết đi sống lại!! Sau đó, chị tôi (bà Phạm Thị Giá- KHL chú) và tôi nhờ một anh bạn là ông Vũ Đình Huỳnh ngày ấy làm garde corps (bảo vệ ) cho cụ Hồ, giới thiệu đến thăm Cụ và hỏi chuyện. Cụ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về, và trong thời kỳ khởi nghĩa quá vội vã có thể có nhiều sai sót đáng tiếc!!” và tôi nghe một bà bạn tôi là nữ sĩ Hằng Phương đến dâng cụ ít cam và một bài thơ, nhân nói đến Thầy tôi, cụ Hồ bảo: “Thật là đáng tiếc, dẫu sao cũng là một nhà văn học…".


                                   


            Vậy mà có một khoảng thời gian dài các nhà nghiên cứu  đã đánh giá về ông thiếu phần công tâm, cực đoan, phiến diện có phần bất nhẫn: Cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam, Tập 2, NXB - KHXH, 1972 viết:


            “Năm 1917 Quỳnh được tên Giám đốc sở mật thám Mácty uỷ cho lập ra tạp chí Nam phong, với mục đích phục vụ cho chính sách văn hoá nô dịch của thực dân Pháp lúc ấy… Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, rồi Nhật đảo chính Pháp, Quỳnh thân Pháp, bị chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim gạt ra ngoài…


            Phạm Quỳnh là một tên tay sai đắc lực của đế quốc Pháp trên lĩnh vực văn hoá, một tên Việt gian lợi hại, chống cách mạng… Trong những ngày đầu tổng khởi nghĩa thắng lợi, tháng 8 năm 1945, chính quyền nhân dân cách mạng đã xử tử Phạm Quỳnh”.


            Còn cuốn Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam của Nguyễn Bá Thể và Nguyễn Quang Thắng, NXB Văn hoá – 1999, có lời lẽ khiêm tốn hơn, nhưng vẫn theo chiều hướng các sách trước đó: “Ông có tài học nhưng lại cộng tác chặt chẽ với thực dân Pháp về văn học và chính trị. Do đó năm 1917 ông được Lui Macty (Giám đốc chính trị kiêm Trưởng mật thám Đông Dương) cho ra tờ tạp chí Nam Phong… tuyên truyền về học thuật, chính trị cho Pháp ở Đông Dương… Hoạn lộ của ông lên nhanh như diều gặp gió vì gắn bó mật thiết với các quan thầy thực dân… Đương thời Phạm Quỳnh bị các nhà yêu nước, nhà văn hoá chân chính như Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi lên án về việc tán dương truyện Kiều với ý đồ đen tối và có tính cách thậm xưng”.


 


            Nhưng lịch sử có tính công bằng.


Những năm gần đây, bình tĩnh nhìn lại quá khứ, người ta đã có lối nhìn toàn diện, khoa học, và nhận định về con người, sự nghiệp của Phạm Quỳnh khách quan  hơn. Từ điển văn học bộ mới- 2004, của nhà nước ta có những dòng  viết về ông khá xác đáng và trung thực”Ông là người có tinh thần dân tộc, ôm ấp chủ nghĩa quốc gia theo xu hướng ôn hoà lấy việc canh tân văn hoá để làm sống lại hồn nước”.  Cũng từ năm 2000 đến nay, ở Việt Nam đã liên tiếp xuất bản những tác phẩm của Phạm Quỳnh, như:  Mười ngày ở Huế, Luận giải văn học và triết học, Du ký Việt Nam, Phạm Quỳnh- tiểu luận viết băng tiếng Pháp, Mục lục Nam phong…Đặc biệt năm 2006 bộ sách Thượng Chi văn tập, vừa được tái bản  sau lần xuất bản đầu tiên 1943. Cách đây 63  năm nhà xuất bản Alexandre de Rhodes đã in 5 quyển, lần này Nhà xuất bản Văn học đã in trọn bộ vào một tập dày tới 1129 trang sách, bao gồm các bài triết học, khái niệnm làm báo, tư tưởng Đông Tây, văn hoá Việt Nam, Ngôn ngữ Việt Nam, một số câu chuyện cá nhân..


Thực ra không phải “Phạm Quỳnh là tay sai đắc lực của đế quốc Pháp trên lĩnh vực văn hoá, một tên Việt gian lợi hại, chống cách mạng”như các tác giả cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam đã viết. Ông cũng không phải là người  tán dương truyện Kiều với ý đồ đen tối và có tính cách thậm xưng như hai tác giả trong Từ Điển nhân vật lịch sử Việt Nam đã dẫn. Phạm Quỳnh là người yêu nước, trân trọng nền văn hoá dân tộc đặc biệt tiếng Việt, thể hiện qua việc tôn vinh áng thơ bất hủ truyện Kiều. Thời kỳ làm quan, dưới vẻ bề ngoài nhã nhặn và thận trọng, ông chống Pháp một cách không khoan nhượng, theo kiểu của trí thức nho học bấy giờ. Ông dám trách cứ Pháp trưng dụng lúa gạo để cung cấp  cho Nhật, và đòi Pháp trả quyền cai trị Bắc Kỳ cho Nam triều.Ông bị tên cáo già thực dân theo dõi,  liệt vào đối tượng đối địch bất khả quy.


 Có thể coi Phạm Quỳnh là con người có tầm tư tưởng khác với xu thế chung thời bấy giờ. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ trước, ông đã có một quan niệm chấp kinh tòng quyền, mà đến bây giờ khi đọc lên, ta tưởng là quan niệm của Việt Nam trong thế kỷ 21. Ông viết “Chúng ta hãy khép lại quá khứ, và bởi vì chúng ta phải chung sống, nên chúng ta hãy tránh những cuộc va chạm vô ích và hãy tổ chức cuộc sống chung của chúng ta dưới một khẩu hiệu một cuộc sống thực sự tôn trọng lẫn nhau”. Có lẽ với ý tưởng này mà Phạm Quỳnh bị coi là tay sai, là thoả hiệp không dám đấu tranh, là đề huề với Pháp?


Đã có nhiều học giả để tâm nghiên cứu về Phạm Quỳnh với nhiều tình cảm khác nhau. Tác giả bài thơ Ông đồ vang bóng thời gian, nhà thơ Vũ Đình Liên đồng hương Bình Giang với ông vẫn có tình thắm thiết qua bài thơ cảm xúc:


Cụ Phạm Quỳnh ơi, cụ Thượng ơi!


Tài hoa như cụ có đâu hai


Truyện Kiều còn mất- dân còn mất


Ngọn gió Nam phong mát đất trời


Lưỡng quốc trạng nguyên xưa đã có


Tam bang uyên bác bây giờ ai


Lương Đường, Mộ Trạch và Chu Xá


Phạm, Vũ công danh sự nghiệp đời


                                                        28-8 – 3-9 - 1992


Một nhà thơ Đan Mạch từng nhiều lần sang Việt Nam và nghiên cứu về văn hoá Việt Nam, đã có một bản trường ca “Phạm Quỳnh và câu chuyện còn tiếp tục”. Bài thơ dài hơn 300 câu viết về Phạm Quỳnh. Tháng 7 năm 1997  nhà thơ Phạm tiến Duật đi công tác ở Đan Mạch về có tặng cho nhạc sĩ Phạm Tuyên bài thơ ấy. Câu mở đầu thật ấn tượng: Chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai lầm với Phạm quỳnh, chúng ta không nên gọi ông ta là kẻ phản bội như trên những tờ truyền đơn hoặc bích chương. Xin hãy quan sát việc làm của ông ta như nhận xét công việc của chính bản thân mình.


Thật vậy, đánh giá công bằng và khoa học về một nhà văn hoá lớn Phạm Quỳnh là trách nhiệm của lịch sử. Giáo sư Văn Tạo viết về Phạm Quỳnh đã từng nói: “Đối với quê Hải Dương tôi, nếu làm rõ được sự kiện này(tức cái chết của Phạm Quỳnh- KHL chú) cũng có lợi cho việc thực hiện tính công minh lịch sử nhằm đảm bảo tính công bằng xã hội, đúng với mục tiêu mà các Đại hội Đảng đã đề ra là”Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ văn minh"


 


 


LỜI  CUỐI  SÁCH


Sau ngày gia biến ở Huế, 23 tháng 8 năm Ất Dậu 1945, gia đình bà quả phụ Phạm Quỳnh được lệnh của Ủy ban Giải phóng dân tộc Trung ương bảo vệ và đưa ra Hà Nội sinh sống. Bà Lê Thị Vân sau những ngày đau thương đã lấy lại được trạng thái bình tĩnh và ở với người con gái là Phạm Thị Giá tại số nhà 16 Hàng Da. Kháng chiến chống Pháp, bà theo các con đi tản cư về Xuân Trường, Nam Định. Pháp đánh chiếm Nam Định, bà trở lại Hà Nội cư trú cho đến ngày quy tiên vào năm 1953. Mộ bà  an táng tại nghĩa trang Yên Kỳ, Sơn Tây. Thế là chồng nam vợ bắc đôi nơi. Bà có 13 người con, thì 8 người định cư ở nước ngoài. Họ không tham gia hoạt động chính trị, chỉ mục đích làm ăn buôn bán sinh sống. Trong số đó Phạm Bích con trai thứ hai là tiến sĩ luật, Phạm Thị Hảo con gái thứ ba là dược sĩ, Phạm Thị Ngoạn con gái  thứ tư là tiến sĩ văn chương.


Những người ở lại trong nước một lòng đi theo kháng chiến, vững vàng trên muôn nẻo cuộc đời, trụ vững được trên những cương vị công tác, cống hiến những tài năng với truyền thống dòng họ và gia đình. Người con trai thứ 3 là giáo sư, bác sĩ Phạm Khuê suốt đời phụng sự đất nước. Ông là Nhà giáo nhân dân, Chủ tịch Hội người cao tuổi Việt Nam, Chủ tịch Hội Lão khoa và Hỗ trợ người tàn tật Việt Nam, Đại biểu Quốc Hội khoá X, Uỷ viên Uỷ ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban về các vấn đề Xã hội của Quốc hội. Phạm Tuyên, con trai thứ tư, ngày xảy ra gia biến mới 15 tuổi, đang là học sinh trường Quốc học Huế, hăng hái đi tham gia biểu tình mừng ngày Huế khởi nghĩa, sau này tự rèn luyện phấn đấu trở thành cán bộ của Đảng, một nhạc sĩ nổi tiếng có hơn 700 ca khúc cách mạng, là Chủ tịch Hội  âm nhạc Hà Nội, người được giải thưởng Nhà nước về VHNT năm 2000.


Các cháu nội ngoại của ông bà cũng nối dõi truyền thống gia đình, học hành thành đạt, trở thành các nhà trí thức, các nhà khoa học:  Đặng Vũ Minh cháu ngoại, con trai của Phạm Thị Thức và giáo sư tiến sĩ Đặng Vũ Hỷ, hiện là giáo sư tiến sĩ, từng là Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ  Quốc hội, Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, Chủ tịch Liên hiệp các hội KHKT Việt Nam; Đặng Kim Chi (em Đặng Vũ Minh) cũng là giáo sư tiến sĩ về công nghệ môi trường. Giáo sư tiến sĩ Tôn Thất Thân, (con Phạm Thị Giá và Tôn Thất Bình) là nhà giáo nhân dân.


Còn phải kể tới cháu nội là Phó giáo sư tiến sĩ Phạm Thắng, con giáo sư Phạm Khuê, bây giờ cũng thay chức vị của cha làm Viện trưởng Viện Lão khoa. Cháu nội Phạm Thị Thanh Tuyền (con gái nhạc sĩ Phạm Tuyên và Phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết) là tiến sĩ, Phó Viện trưởng Viện dầu khí Việt Nam


Con dâu con rể của ông bà Phạm Quỳnh đều là những người trí thức. Đó là nhà văn Nguyễn Tiến Lãng, là Tôn Thất Bình, Hiệu trưởng trường Thăng Long, là giáo sư  Đặng Vũ Hỷ, là nhạc sĩ Lương Ngọc Châu, là Phó giáo sư tiến sĩ Nguyễn Ánh Tuyết, là nhà giáo Hoàng Hỷ Nguyên..


Gia đình ông  không chỉ lan quế sum vầy theo nghĩa đông con nhiều cháu mà còn ở sum sê trí tuệ, phong phú nghĩa nhân văn.


Biết được con cháu, chắt trên trần gian đang sống vui vầy hạnh phúc như thế, chắc suối vàng ông bà cũng thấy yên lòng. Ông cũng không ngờ rằng, những đứa con mà ông yêu quý ngày nào, bây giờ lớn nhất đã suýt soát trăm tuổi(Phạm Giao- sinh năm 1911) và người bé nhất Phạm Thị Viên (sinh 1938) nay đã quá tuổi thất thập cổ lai hi. Đã quá nửa các con theo ông về chầu tiên tổ. Còn Phạm Tuyên, người  con trai mà ông chiều chuộng, bây giờ đã sang bát tuần. Có thể gọi là trang vở cuối cùng ở lại trong nước giữ gìn hương hoả. Những người con ông bà dù ở trong hay ngoài nước Việt vẫn có một niềm đau đáu khôn nguôi là muốn cho người cha được thanh thoả nỗi lòng nơi chín suối.


Trong mục trò chuyện cuối tháng 10 năm 2009 của tờ báo An ninh thế giới có bài “Trong cái rủi có cái may”của nhà báo Hồng Thanh Quang. Phạm Tuyên người con trai của Phạm Quỳnh đã thêm một lần giãi bày tâm sự”Khát vọng của mình thì còn nhiều..Cái nữa là mình mong được chứng kiến(chúng tôi nhấn mạnh- KHL) một sự giải toả về gia đình(ý là cái chết của Phạm Quỳnh- KHL chú). Cái đấy gần đây mình bắt đầu thấy..Hàng nghìn trang sách của cha tôi đã được in lại rồi nhé. Tôi rất mong sẽ có ngày ấy, mình không ảo tưởng có sự đính chính gì đâu, nhưng chỉ cần có một..Khi phóng viên ngắt lời: Cái nhìn đầy đủ hơn và thoả đáng hơn và nó hợp với sự phát triển hơn? thì Phạm Tuyên: Đúng thế. Quan trọng nhất là có một chỗ đứng trong tình cảm của quần chúng".


Quả là Phạm Quỳnh đã và đang có chỗ đứng trong tình cảm của nhân dân Việt Nam, như đã trình bầy những phần trên.


Cách mạng đã đổi đời dân tộc, trong quá trình tiến hành cách mạng, không thể không có mất mát thương đau. Trong đó có cả cái ngẫu nhiên, ngoài ý muốn con người gây nên. Sự ra đi quá sớm của Phạm Quỳnh là một trong những cái đau đớn ấy. Ông chưa được chứng kiến một ngày nước nhà độc lập, chưa hưởng thành quả của các công trình nghiên cứu cho một nền văn hoá dân tộc mà ông tận sức tài bồi. Ông mất đi nhưng vẫn còn để lại nhiều di vật quý, để người đời sau tìm hiểu và suy ngẫm. Trong số đó vẫn còn gần chục thứ tuy nhỏ bé về vật chất mà lại to lớn về giá trị tinh thần: Đó là đôi mắt kính cận của ông được tìm thấy trong lần gia đình đi tìm hài cốt, mà con gái ông- Phạm Thị Hảo đang gìn giữ. Hai bức tượng đồng đen đúc chân dung Phạm Quỳnh và bà Lê Thị Vân, được người con gái khác là Phạm Thị Giễm cất giữ từ năm 1975 đến 1988, nay gia đình giáo sư Phạm Khuê cúng thờ. Quyển vở học trò bìa có hình Bảo Đại mà Phạm Quỳnh dùng ghi chép tập bản thảo Kiến văn cảm tưởng - Hoa Đường tuỳ bút 1, mới ghi được 47 trang, hiện do Phạm Tuân (nhà số 14017 Village Gate Drive Silver Sping, MD 20906- 1954-USA ) giữ làm gia bảo….


Sáu mươi lăm năm trôi qua.


Khép lại quá khứ, nhưng không có nghĩa là chôn vùi đi lẫn lộn giữa vàng thau. Sự công minh của lịch sử, công bằng của  xã hội có thể đem đến cho con người niềm tin sức mạnh và ngược lại làm thui chột niềm tin và sức mạnh. Với Phạm Quỳnh, thời gian là nhân chứng cao cả, trung thực nhất. Đến tại thời điểm cuốn sách ra đời, đã chứng minh điều đó. Công chúng và giới trí thức nước nhà vẫn đinh ninh một Phạm Quỳnh yêu nước, yêu nước bằng trái tim khối óc bằng tình cảm của một trí thức xuất thân là nhà nho; yêu nước từ phong thái Phạm Quỳnh, hoàn cảnh Phạm Quỳnh. Chỉ có thế mới tạo nguồn cảm hứng cho ông hoạt động và sáng tạo


Hàng loạt tác phẩm của Phạm Quỳnh được tái bản, nhiều bộ sách được giới thiệu và đây đó trên thế giới những ai yêu văn chương Phạm Quỳnh, họ vẫn tổ chức kỷ niệm, tôn vinh. Có thể thấy công sức của ông tài bồi văn hoá nước nhà cũng không vô ích. Chứng tỏ lòng người vẫn tâm phục khẩu phục. Nếu  nhìn nhận một cách bình tĩnh, thì ngay bây giờ có những đường đi nước bước của chúng ta có những nét tương đồng từ thời Phạm Quỳnh, từ con người Phạm Quỳnh manh nha, khởi xướng: Hãy cùng nhau chung sống! Hãy cùng tôn trọng lẫn nhau.


 


Có một điều ngẫu nhiên là: ngày 12 tháng 6 năm 2010, đúng vào dịp chuẩn bị kỷ niệm Ngày báo chí Cách mạng Việt Nam 21-6-2010, Đài Phát thanh – Truyền hình và Hội Nhà báo tỉnh Hải Dương có sáng kiến đồng tổ chức một cuộc tọa đàm về “Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong”, như để tri ân người có công trong làng baó chí một thời…


            Cuộc tọa đàm đã thu hút một số nhà khoa học, các tiến sĩ, giáo sư, nhà văn, nhà sử học, nghiên cứu ở trung ương và địa phương. Trong đó có  giáo sư Văn Tạo- nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam, giáo sư Huệ Chi; giáo sư, Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú; tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan, một số cơ quan thông tin ở Hà Nội và các cán bộ lãnh đạo, biên tập viên của 2 Nhà xuất bản Lao Động và Thanh Niên.


Ở địa phương, các Tổng biên tập báo Hải Dương, Đài phát thanh truyền hình, tỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Báo,   Hội Sử học, Hội Văn nghệ, tạp chí Văn hoá thể thao- Du lịch tỉnh và các nhà báo trong tỉnh.


Bí thư  huyện uỷ Bình Giang, lãnh đạo xã Thúc Kháng,  quê hương của nhà báo Phạm Quỳnh,  và nhạc sĩ Phạm Tuyên, Chủ tịch Hội âm nhạc Hà Nội, con trai của học giả Phạm Quỳnh cũng có mặt tại cuộc toạ đàm làm cho không khí càng thêm thân mật


Bà Đặng Thị Bích Liên, uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hải Dương, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh có bài phát biểu chào mừng và Giáo sư Văn Tạo phát biểu có tính cách đề dẫn, đã làm cho không khí thêm sống động và cởi mở của một hội nghị mang tính học thuật, mà không phải khi nào cũng tổ chức được.


Giáo sư Huệ Chi đã say sưa nói về giá trị to lớn của Nam Phong và vị thế của nhà báo Phạm Quỳnh. Ông phân tích bối cảnh ra đời của tạp chí Nam Phong và những tư tưởng tiến bộ của Phạm Quỳnh thể hiện trên 210 số Nam Phong. Giáo sư Nguyễn Đình Chú rất xúc động khi nhắc lại có một thời ông nhìn nhận tạp chí Nam Phong và vai trò của Phạm Quỳnh với thái độ chưa công bằng còn phiến diện, ông thấy mình thật có lỗi và ngượng ngùng khi nhắc lại bài viết thời đó.


Tiến sĩ sử học Nguyễn Văn Khoan phân tích về lòng yêu nước của Phạm Quỳnh theo cách của mình. Ông  có quan điểm coi trọng thiên chức nghề báo, đề cao giá trị của báo chí. Tiến sĩ Khoan còn phân tích quan điểm của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh làm cách mạng là đổi cũ ra mới, từ xấu ra tốt, nghĩa là không phủ định sạch trơn. Phạm Quỳnh đã dùng phương châm Thổ nạp Âu Á, nghĩa là thu nhận cái tốt của (Âu) vào Việt Nam và phô bầy những giá trị tốt đẹp của (Á )với bên ngoài. Đó là giao lưu văn hoá như bây giờ ta thường nói.


Các đại biểu giới báo chí Hải Dương đều có chung ý kiến đánh giá cao sự cống hiến của nhà báo Phạm Quỳnh với báo chí nước nhà, nhưng trước nay chưa được giới thiệu đầy đủ và thấu đáo trong giới học sinh sinh viên và xã hội …Nhạc sĩ Phạm Tuyên tỏ ra rất cảm động trước cuộc tọa đàm về người cha của mình, dẫu có muộn, vẫn là rất quý.


Lại thêm một sự ngẫu nhiên nữa, đó là Nhà xuất bản Thanh niên - Hà Nội vừa phát  hành cuốn sách “Phạm Quỳnh-con người và thời gian”đầu tháng 6 năm 2010, đúng vào dịp cuộc tọa đàm  diễn ra. Thế là với 15 lượt phát biểu ý kiến của các vị khách mời dự,  còn có lời giới thiệu đầy tâm huyết về tác phẩm “Phạm Quỳnh-con người và thời gian”do tác giả trình bầy. Cuộc tọa đàm đã khẳng định: Trong sự nghiệp báo chí nước nhà, những năm 1917 đến 1932, tạp chí Nam Phong xứng đáng được tôn vinh, và Phạm Quỳnh là chủ nhiệm kiêm chủ bút đã rất có công trong việc chuyển tải văn hoá phương tây vào Việt Nam và tiếp thu những giá trị văn hoá để hội nhập làm cho ngôn ngữ nước nhà càng phong phú mà không làm mất đi vẻ đẹp của tiếng Việt. Nhà báo Phạm Quỳnh yêu nước trong điều kiện của ông, với cách suy nghĩ của ông. Ông muốn tài bồi một nền quốc văn quốc học theo phương pháp lấy cái tốt đẹp của phương tây, để bổ sung vào cái tốt đẹp của phương đông, cụ thể là Việt Nam


Nhà báo Nguyễn Thanh Cải, Tỉnh uỷ viên, Giám đốc Đài Phát thanh Truyền hình, Chủ tịch Hội nhà báo tỉnh Hải Dương, cho rằng qua bẩy chục năm, đủ để kiểm chứng, nhận định về một con người và sự nghiệp, với những trước tác khá đồ sộ để lại cho đời sau. Nhà báo Nguyễn Thanh Cải  sẽ báo cáo với lãnh đạo tỉnh tiếp tục nghiên cứu và đề xuất có những hình thức kỉ niệm tương xứng với học giả Phạm Quỳnh và tạp chí Nam Phong, coi đó là sự tri ân của các thế hệ làm báo của tỉnh với học giả, nhà văn nhà báo Phạm Quỳnh- một người con của quê hương Hải Dương.


Cuộc Hội thảo về “Học giả Phạm Quỳnh và báo Nam Phong”được các cơ quan truyền hình, báo chí TƯ và địa phương đưa tin, và một phóng sự dài tới 55 phút được Đài PTTH Hải Dương sản xuất và trình chiếu trên sóng địa phương đã góp phần làm cho người dân quê hương có thêm những thông tin về một nhà văn hóa, một nhà báo tài năng phát tích từ đất xứ Đông văn hiến.


 


Năm 1932, Phạm Tuyên mới 2 tuổi đã theo cha mẹ vào Huế cùng người thân thuộc. Hình ảnh quê mẹ, làng Nhân Vực nào đó  ở Kinh Bắc với ông cứ nhạt mờ. Rồi gia biến, người cha ông mất tích, phải 11 năm sau mới tìm thấy thi hài.Rồi chiến tranh chống Pháp 9 năm kéo dài, gia đình phân ly, kẻ nam người bắc. Hai anh em trai trong gia đình Phạm Khuê và Phạm Tuyên đi theo kháng chiến, lên chiến khu Việt Bắc. Đến tin tức người mẹ và các chị ở Hà Nội cũng không biết, huống chi là quê mẹ trong vùng tạm chiếm, ai mất ai còn… Năm tháng cứ như ánh nắng chảy qua cửa sổ mà con người thì tất bật với bát cơm manh áo.


Cha mất, mộ táng nơi thành Huế. Mẹ mất, yên nghỉ ở Sơn Tây. Vẫn đinh ninh ở Nhân Vực chẳng còn ai thân thích, nên bao năm nay Phạm Tuyên chẳng nghĩ rằng sẽ có dịp thăm quê mẹ.


Rồi một hôm Tạp chí Xưa Nay(Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) đăng bài báo “Làng Nhân Vực còn lưu giữ nhiều kỷ vật của gia đình chủ bút Báo Nam Phong”, Phạm Tuyên mới giật mình..


 Sau bao lần, thấp thỏm, đợi chờ, xếp đặt… người con trai họ Phạm, cháu ngoại họ Lê làng Nhân Vực, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, Hưng Yên mới  biết đường  về …Đó là một buổi sáng cuối năm Canh Dần, trời se lạnh, Phạm Tuyên cùng con gái Phạm Thị Thanh Tuyền và người cháu ruột tìm về quê mẹ. Ông bồi hồi xúc động, bước chân lên con đường về chùa làng, và ngôi đình lịch sử.  Đoạn đường xe ô tô đi chỉ  khoảng hai mươi cây số, nhưng Phạm Tuyên  phải mất gần  tám chục năm ?!


 


Ông bồi hồi đứng trước bức hoành phi “Thông minh chính trực”treo chính giữ ngôi đình, mà thân phụ ông- Thựơng thư bộ Học, Ngự tiền Văn phòng triều đình Huế, năm 1937 về đây, cung tiến đình làng. Trong ngôi chùa còn lưu giữ một chiếc khám của gia tộc họ Lê, bên trong còn 5 bài vị tiền nhân đã sinh thành ra ông ngoại và thân mẫu của Phạm Tuyên.


Ông trưởng ban Di tích Lịch sử thôn cho biết, tại nghĩa trang nhân dân xã vẫn còn những ngôi mộ gia tiên của họ Lê. Và chính trên mảnh đất này, còn có cả mộ người liệt sĩ, mang dòng họ Lê – Lê Thị Tâm  người em con cậu ruột của Phạm Tuyên.


Thì ra, những năm đầu chiến tranh, Lê Thị Tâm là con gái cụ Lê Văn Tốn, ở làng tham gia du kích, và đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu chống giặc Pháp ngày 27-12-1946.


Trong khói hương nghi ngút, bóng người nhạc sĩ già đổ xuống bên ngôi mộ người em con cậu. Nắng chiều vàng vọt, heo heo gió lạnh, làm cho cái bóng  cứ lung linh chập chờn. Tôi bỗng nhớ tới câu thơ của Hạ Tri Chương đời Đường (Trung Quốc):  một người phải ly hương từ  nhỏ, đến lúc tìm về quê, thì quá già. Tiếng nói không đổi, còn búi tóc trên đầu thì rụng hết. Cháu chắt nhìn thấy mà chẳng biết là ai, lại còn hỏi cụ từ đâu đến? nghe thật xót xa.


Phạm Tuyên về thăm quê mẹ đã giải toả trong lòng ông những ẩn ức, dằn vặt của con người trước tổ tiên. Nhẽ đời, đứa con về  quê mẹ, ngọt ngào  như câu hát ru in đậm tuổi thơ, với những cánh chuồn kim sà trên ao bèo, toạc quần khi trèo cây hái quả, nhảy tùm xuống ao tắm mát trưa hè… hay đuổi chộp con cào cào trong mưa và ngồi gốc cây sung nhai khoai sống mọc mầm… Nhưng với Phạm Tuyên, người nhạc sĩ tài năng mà cuộc đời đầy thao thức, dằn vặt trước nhân thế, nay đã vào tuổi bát tuần, buổi chiều tà vẫn đang ngơ ngác tìm đường về quê mẹ, với ngổn ngang cảm xúc lạ lẫm, thì quả là tồi tội.


                                   


                             PH Ụ  L ỤC


 


  Văn tế Nam Phong chủ bút Phạm Thượng Chi tiên sinh.


 


Hỡi ơi!


Trời còn nổi gió phương Nam


Đất đã khóc người xứ Bắc


Những tưởng xông xáo trường văn trận bút,


cho thỏa lòng mong muôn thuở: tiếng ta còn


Ai hay vắng hoe gò trống đồi hoang,


mà thắt ruột đau một đời: tiên sinh mất


Con trẻ Tạo sao quá đành hanh


Lão già Thiên nỡ nào quá quắt


 


Nhớ tiên sinh xưa:


U oa khóc, tấm dư đồ đà ba mảnh bốn nơi


Chập chững đi, đoàn dân tộc thì chín người mười tật


Buổi ly loạn can qua trùm sông núi,


                   người chém giặc bắn tây, kẻ trừ gian giết đạo,


                                      mối hận thù ngun ngút mấy tầng mây


Thời nhiễu nhương quan cách ép lương dân,


                  đứa ăn gan hút máu,   thằng bóp cổ đè đầu,


                                               nỗi bần khổ âm thầm bao tấm cật


Xếp cẩm, xếp tù múa roi da súng lục,


ôi thôi thì bạch quỷ tung hoành


Quan văn quan võ mang áo thụng bài ngà,


ngao ngán nỗi hoàng triều bất nhất


Sóng Duy Tân đẩy cao dân trí,


ơi ngắn ngủi ơi Đông Kinh nghĩa thục,


 Phan Châu Trinh gánh đứt nửa đường


Lửa Cách Mạng đòi lại nhân quyền,


hỡi thảm thiết hỡi Yên Bái Đầu Đài,


Nguyễn Thái Học đầu rơi mặt đất


Đau đớn nhìn sơn hà gấm vóc, ngày lại ngày xương máu tuôn trào


Xót xa thương bách tính dế giun, tháng nối tháng thuế sưu cao chất


Có phải chăng quốc vận đến hồi cùng?


Hay có lẽ tiền đồ không lối thoát


 


Thôi đành,


Phận dại nương phép thi thư


Tuổi thơ neo đòi nghiên bút


Giữ nếp nhà gia giáo, bền chí dùi mài kinh sử,


Trường Thông ngôn tốt nghiệp lộ tài hoa


Tiếp dòng dõi trâm anh, quyết tâm rèn luyện văn chương,


Viện Bác cổ tiếp thu thêm kiến thức


Đạo học xưa Khổng Trang Lão Phật,


    với dân ta bao đời gắn bó, hiểu cho tường để thấy được tinh hoa


Văn minh nay Mỹ Pháp Anh Nga,


   cùng thế giới từng ngày đổi thay, học phải rõ mà tiếp thêm sinh lực


Chí đã quyết nâng cao văn hoá, Thổ nạp Á Âu


ấy đúng phương châm


Lòng toan mưu lập lại thái bình, Lập hiến Hoàng triều,


chọn làm chiến lược


Yêu quốc gia phải lo quốc sự, trước tiên là xây nền quốc học,


mới toan cầu độc lập hùng cường


Nâng dân trí tất trọng dân quyền, kế tiếp phải cải tạo dân sinh,


hầu sớm đạt an bang tự lực


Tài nào đợi tuổi, biên tu khảo cứu,


bài nối bài trau chuốt tiếng dân ta


Lực giúp cho tâm, diễn thuyết đăng đàn,


 buổi rồi buổi phục hồi hồn Tổ quốc


Khai Trí Tiến Đức, với đồng môn miệt mài bản thảo:


sưu tầm, sáng tác, biên tu, khảo luận lắm môn


Tạp chí Nam Phong, cùng văn hữu ra sức tuyên truyền:


khoa học, văn chương, chính trị, canh nông đủ thức


Mực đen giấy bản, nơi Hà Nội lắm lần diễn thuyết,


Ta da vàng gan lớn lớn gan


Khăn đóng áo dài, giữa Ba Lê cao tiếng luận đàm,


Tây mũi lõ mắt xanh xanh mắt


Mộng Vị Thuỷ phò trợ minh vương


Giấc Nam Kha viễn trình bắc khuyết


Rời Nam Phong Tạp Chí,


xếp bút nghiên mà lo chuyện tế thế an bang


Nhận Lại bộ Thượng Thư,


đem tâm huyết để tính việc chấn hưng Tổ quốc


Minh quân lương tướng, biết bao lần cải cách duy tân


Bản quốc ngoại bang, đã lắm cuộc nghị hoà thương thuyết


Ỳ chí ấy, nhân cách ấy, đời trăm năm dễ có được ru!


Công lao này, sự nghiệp này, sách vạn chữ khó mà kể xiết!


 


Hay đâu,


Chí bình sinh sớm tắt, đành dở dang sự nghiệp văn chương


Bầu tráng chí vụt tan, vèo ngắn ngủi một đời quan chức


Rừng cờ thắm tung bay toàn thôn phố,


bao mừng vui được sức thổi bùng lên


Vành khăn tang trùm kín một gia đình,


mỗi đau xót thôi đành ghìm nén chặt


Uy vũ bất năng khuất, bút Nam Phong nay hết quét ngang trời


Lương mọc kỳ hoại hồ, gươm Văn Khúc cam đành chôn dưới đất


Ôi thôi,


Lắm đắng cay, những tưởng chỉ là mơ


Nhiều nuối tiếc, hoá ra toàn có thật


Ngậm ngùi nhớ bậc hùng tài


Xót xa khóc người đã khuất.


Hỡi ơi!


Hồn có linh thiêng


Niệm tình thượng hưởng.


       Tháng 3-2009


Nguyễn Phúc Vĩnh Ba


 


 


 *  Lược giản gia phả họ Phạm


Hiện nay gia đinh nhạc sĩ Phạm Tuyên còn lưu giữ bản ghi gia phả họ Phạm.


Chúng tôi chỉ trích trực hệ 5 đời họ Phạm Hoa Đường để bạn đọc biết thêm về dòng họ này


Nếu coi cụ Phạm Hợp là đời thứ nhất, thì phả hệ Ngũ đại Phạm tộc như sau:


           Đời thứ nhất: Phạm Hợp (năm sinh chưa rõ).


*   Đời thứ hai: Con trai cụ Phạm Hợp là Phạm Tốn (tức Thịnh, tức Cụ Cả) làm nghề dạy học


           Đời thứ ba: Con trai cụ Phạm Tốn là Phạm Hữu Điển, tú tài.


           Đời thứ tư: Con trai cụ Phạm Hữu Điển:


           Phạm Quỳnh


           Phạm Bái (mất sớm)


           Đời thứ năm: Các con cụ Phạm Quỳnh:


1- Phạm Giao


2- Phạm Thị Giá


3- Phạm Thị Thức


4- Phạm Bích


5- Phạm Thị Hảo


6-Phạm Thị Ngoạn


7- Phạm Khuê


8- Phạm Thị Hoàn


9- Phạm Tuyên


10- Phạm Thị Diễm (Giễm)


11- Phạm Thị Lệ


12- Phạm Tuân


13- Phạm Thị Viên


 


* Ngày tháng, nơi sinh của Phạm Quỳnh.


Tài liệu phổ biến nhất đều viết Phạm Quỳnh sinh ngày 17-12-1892. Nhưng bà Phạm Thị Ngoạn, con gái của Phạm Quỳnh, định cư và mất tại Pháp, tác giả Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (Introduction au Nam Phong), thì có ba “thuyết”về giấy khai sinh của Phạm Quỳnh. Bà Ngoạn cho rằng khi sinh ra, ngày sinh của thân phụ không được khai ngay, khiến sau đó mọi chi tiết đều căn cứ vào giấy “thế vì khai sinh” thiết lập nhờ các chứng nhân. Tuy nhiên một điều các con ai cũng nhớ là cha mẹ cùng tuổi Nhâm Thìn.


Nhưng còn có một bằng chứng khá thuyết phục, là thẻ căn cước của Phạm Quỳnh làm tại Hà Nội ngày 13-3-1918 (trước khi đi Pháp-1922-bốn năm, ảnh còn giữ búi tó củ hành). Trong thẻ ghi rõ rành ông sinh ngày 17-12-1892, có con dấu của nhà chức trách.


Thông thường để định danh một con người, chỉ cần ghi một cách khái quát năm sinh và nơi sinh là xã, huyện, tỉnh cũng cho là đủ. Nhưng với một nhân vật lịch sử như Phạm Qùynh không thể chỉ ghi ông sinh năm Nhâm Thìn 1892 ở Hà Nội. Bởi xác định đúng cái tấc đất chôn rau và  cái thời khắc con người chào đời rất có ý nghĩa. Có khá nhiều tài liệu chỉ viết Phạm Quỳnh sinh tại Hà Nội, nhưng không biết ông được sinh ra trong ngõ phố nào.


Ngược lại một chút để nói cho ngọn ngành. Cụ Dưỡng Am Phạm Hội có một người con trai là ông tú tài Phạm Ngạch. Ông tú sinh được hai con trai nhưng đều mất sớm cả. Cho nên khi ông Phạm Ngạch mất, người được thừa tự là cụ Cả (ông nội Phạm Quỳnh). Ông nội sinh ra Phạm Hữu Điển, thân phụ Phạm Quỳnh. Khi cụ Cả mất, thì cụ bà và Phạm Hữu Điển, hai mẹ con vẫn ở ngôi nhà này,  sống chung với bà cụ tú Ngạch. Đến khi ông Điển trưởng thành, lấy vợ và sinh Phạm Quỳnh cũng tại nhà số 1 Hàng Trống. Thời xưa thường sinh con tại nhà, chứ không có thói quen đến nhà thương.


Nhưng trong Luận văn tiến sĩ Sorbonne viết bằng tiếng Pháp, của bà Phạm Thị Ngoạn, con gái Phạm Quỳnh (Phạm Trọng Nhân dịch ra tiếng Việt là “Tìm hiểu tạp chí Nam Phong (1917-1934)” thì bà Ngoạn viết là: “Phạm Quỳnh sinh tại Hà Nội, số nhà 17 phố Hàng Trống”.


Tại sao người con lại có sự nhầm lẫn ấy? Có thể bà Ngoạn thấy thẻ căn cước của cha mình lập ngày 13- 3- 1918, ghi: “Domicile 17 Rue Jules Ferry - tức nơi ở  17 phố Hàng Trống” mà viết như vậy chăng?


Tháng 7 năm 1991, bấy giờ đã 91 tuổi, cụ Hoàng Đạo Thúy, một học giả, cũng là người bà con,  bạn thân của Phạm Quỳnh, đã mời nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh đến nhà và đưa cho một sơ đồ viết tay, ghi chú rõ ràng, có những dòng như sau: “Mỗi năm tôi chỉ đến (nhà) hai lần: mồng một Tết và ngày giỗ cụ Giáo (tức giáo thụ Dưỡng Am Phạm Hội) nên không biết rõ. Chỉ nhớ thế này: Khoảng 1914-1915, ở Hàng Trống, nhà thế này: “Ở sơ đồ có mấy chữ “Đường phố Hàng Trống, nhà số 1”.


Cụ Hoàng Đạo Thúy còn cho biết: Khoảng trước hoặc sau năm 1918, cái nhà này bán cho ông Nguyễn Bá Trác để làm toà báo, và chuyển đi chỗ khác. Vì thế, thẻ căn cước trên của Phạm Quỳnh có thể làm khi đã đến ở nhà số 17 cùng phố. Nhà số 1 là do học trò góp nhau dựng lên để có chỗ thờ phụng thầy, sau khi thầy qua đời. Trong lần gặp ấy, cụ Thúy còn kể là sau này cụ có đi thăm, nhưng đến đầu phố Hàng Trống, thì không còn căn nhà ống nữa. Thay bằng một nhà cao tầng. Cụ hỏi ra mới biết người chủ mua nhà này, thấy bên trong có bàn thờ nên khi xây nhà mới xong, đã chuyển lên thờ ở tầng trên dù không biết thờ ai. Cụ bảo đích thị nhà số 1 chính là nhà gia đình cụ Cả được thừa tự.


 


           Về ngày mất của Phạm Quỳnh:


Xung quanh ngày mất  của Phạm Quỳnh có nhiều tài liệu khác nhau.


* Sách Từ điển bộ mới (2004) ghi là Phạm Quỳnh sinh 17-12-1892, mất 20-8 năm 1945


* Một số tài liệu ghi là Phạm Quỳnh mất ngày 23-8-1945, đúng ngày có người mời ông đến chính quyền mới làm việc.


* Một số tài liệu chép ông mất vào sáng ngày  6-9-1945 (tức 1-8-năm Ất Dậu)


Nhạc sĩ Phạm Tuyên cho biết, gia đình đều làm giỗ thân phụ ông vào ngày 1- 8 âm lịch hàng năm.


 


* Những mẩu chuyện về gia đình Phạm Quỳnh


 


              * Chuyện điểm "liệt” trong bài thi tốt nghiệp.


            Năm 1908 Phạm Quỳnh thi tốt nghiệp trường Thông ngôn. Vốn là người học rất xuất sắc các môn tiếng Pháp, cho nên tất cả bài thi đều đạt điểm cao.


Bài thi môn phụ ra đề bằng chữ Hán, yêu cầu thí sinh viết một bài văn ngắn bằng tiếng Pháp. Điều này đã làm khó cho Phạm Quỳnh


 Cần nói thêm, cụ tú Phạm Hữu Điển là chân Nho học, nhưng không dạy được con học chữ Hán. Ngoài hai chữ Phạm Quỳnh ra, con không nhớ được chữ nào. Cụ tú ngao ngán lắc đầu ”Dao sắc không gọt được chuôi” và  đành để cho con tự quyết  định theo học tiếng Pháp. Khi cụ mất, Phạm Quỳnh đang  học trường tiểu học hàng Đào.


Bây giờ  Phạm Quỳnh thật sự lo ngại. Nhưng là người có ý chí lại tự tin nên vẫn vững tâm. Phạm Quỳnh nhìn mặt chữ Hán và luận xem nghĩa là gì chữ gì. Và cuối cùng đã viết một bài văn bằng tiếng Pháp rất lưu loát.


Các thầy ban giám khảo trường thi bất ngờ trước một bài văn tự luận rất hay. Nhưng họ ngao ngán lắc đầu bởi đề ra một đằng, Phạm Quỳnh viết một nẻo. Bài văn bị không điểm (0 điểm).


Vị chánh chủ khảo chợt nghĩ: Nếu để điểm không, tức điểm liệt, thì theo quy chế, học trò này bị trượt. Và sẽ bất hợp lý khi có một người xuất sắc tiếng Pháp như thế bị loại? Ông chánh chủ khảo thấy tiếc một tài năng như thế đã bàn với cả Hội đồng giám khảo nâng lên cho thành 0,5 điểm  coi như thưởng công viết bài văn tiếng Pháp. Thật bất ngờ, khi cộng các môn lại thì điểm Phạm Quỳnh vẫn cao nhất, và trở thành thủ khoa kỳ thi tốt nghiệp trường Thông ngôn năm 1908 như các tài liệu đã viết.


            Chuyện chữa điểm thi được bí mật. Sau này ông chánh chủ khảo mới nói cho biết, và Phạm Quỳnh đã thuật lại trong “Pháp du hành trình nhật ký”trên tạp chí Nam Phong. Trình độ tiếng Hán của ông  có thể dịch thơ Đỗ Phủ, được các học giả đánh giá cao như sau này, chính là do Phạm Quỳnh tự nghiên cứu, tự học. Nhạc sĩ Phạm Tuyên cũng xác nhận: Tự học là truyền thống của gia đình ông.


 


           Nhờ bà Lê Thị Vân, làng Nhân Vực thắng kiện


Chuyện xảy ra vào khoảng năm 1929- 1930.


Ông Nguyễn Công Kính người làng An Định, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình là loại thương gia cự phách Hà thành. Ông này là con rể họ Lê, lấy bà Lê Thị Tĩnh làng Nhân Vực tông Xuân Cầu. Vì kinh doanh thuốc lào, có cửa hiệu tên là Giang Ký, nên  thời ấy trong dân gian đã có câu ca:


Thuốc lào Giang Ký,


ăn một tý cũng say,


chồng hút vợ say


biết ngay thuốc lào Giang Ký.


Ông Giang Ký công đức cho làng bằng ngôi đình. Ông cho mời một người trong làng là Chu Văn Bi đun gạch cho ông xây dựng. Người giao gạch nói nhiều, kẻ nhận gạch thì cho rằng ít, thiếu. Thế là đùng đùng kéo nhau đi kiện. Ông Bi là người dân quê không thể thắng được ông Ký giàu có, lại quan hệ rộng. Toà Bắc Ninh xử ông Giang Ký thắng, bắt ông Bi phải đền tiền thiếu hụt. Dân làng Nhân Vực và ông Bi không chịu, đâm đơn khiếu nại lên toà Hà Nội.


Ông  Chu Văn Tỵ,  năm nay đã 82 tuổi con cụ Chu Văn Bi, kể lại: Khi còn sống,  cha ông nhiều lần truyền rằng, cái lần ra Hà Nội theo kiện, may  nhờ có bà Vân vợ ông nhà báo Phạm Quỳnh giúp đỡ, nên toà áo đỏ,(ý nói toà thượng thẩm- KHL chú) mới tận tình phúc tra lại cho tường tận. Nếu không cụ Bi không thể thắng được. Ông Giang Ký bị thua kiện, phải đền danh dự, và thanh toán sòng phẳng tiền cho cụ Bi.


Việc ông Giang Ký công đức cho làng là một chuyện,  ông mua lại gạch ngói của ông cụ Bi là chuyện khác, cần rạch ròi phân minh. Sau đó hai bên lại thuận hoà, làng xóm đều vui vẻ.  Công trình đình hoàn thành, dân làng vẫn có ý tôn hai vợ chồng ông làm hậu thần, nhưng ông từ chối. Cuối cùng thì tạc một tấm bia cho bà Lê Thị Tĩnh làm hậu, đặt trong đình làng Nhân Vực. Thật hiếm có chuyện như thế.


 


* Gia tiên bà Lê Thị Vân được thờ trong chùa làng Nhân Vực


 


Làng Nhân Vực có đình và chùa, cảnh quan thoáng đẹp. Địa điểm  gần cánh đồng,  có nhiều ao chuôm xung quanh, bóng cây cổ thụ râm mát  lại thuận tiện đường đi để dân trong làng tế lễ.  Chùa thờ Phật, nhưng ở đây có  điều đặc biệt là  còn có một cái khám sơn son thếp vàng. Trong khám có bài vị gia tiên ông ký Lê Văn Hùng, nhạc phụ của Phạm Quỳnh. Bên ngoài khán còn đôi câu đối:


* Bách thế bản chi bằng ấm tí


* Ức niên hương hoả tuỵ huân cao


Tạm dịch:


* Trăm năm che chở cho con cháu


* Muôn đời nghi ngút giữ khói hương


Thấy lạ hỏi, thì được ông  Đào Đình Khuynh (72 tuổi), Trưởng ban di tích LSVH đình Nhân Vực, xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên  cho biết: Sau ngày  hoà bình lập lại 1954, gia đình con cháu  ông Lê Văn Hùng vào Nam cả, nhà cửa ruộng vườn không có chủ. Khi cải cách ruộng đất năm 1955, chính quyền địa phương đã trưng thu. Ngôi nhà thì làm lớp học mẫu giáo, ruộng đất chia cho nông dân. Riêng cái khám thờ của gia đình, nhân dân đã trân trọng đưa vào chùa  làng  thờ phụng. Ông Khuynh kể trong 5 bài vị  đặt trong khám, chắc chắn có hai bài vị của  song thân ông Lê Văn Hùng (thân phụ  bà Lê Thị Vân, tức nhạc phụ  Phạm Quỳnh).


Trong rủi có may. Tấm lòng người Nhân Vực quả là nhân hoà, trọng nghĩa. Sau bao nhiêu năm chiến tranh lý tán, lũ lụt bão giông, nhờ có tấm lòng người Nhân Vực mà bây giờ kỷ vật nhà họ Lê vẫn được lưu giữ. Cũng theo ông trưởng ban, thì tại nghĩa trang nhân dân xã, mộ hai cụ được an táng tại đó, gần mộ người con trai là ông Lê Văn Tốn, tức ông Cửu Xuân, em ruột bà Lê Thị Vân, vợ Phạm Quỳnh


Cách đó không xa,  tại nghĩa trang liệt sĩ của xã, có phần mộ của liệt sĩ Lê Thị Tâm, con gái ông Lê Văn Tốn. Bà Tâm là du kích đã anh dũng hy sinh trong trận chiến đấu chống giặc Pháp ngày 27-12-1946.


Lương Ngọc vọng từ bi chí


(Văn bia ghi về đình vọng Lương Ngọc)


 


Những việc hợp với lẽ phải, quan trọng với xã hội vốn dĩ được thần linh ban phúc, họ mạc đồng tình, kẻ hoài nhớ quê cha đất tổ lòng thường chung một nguyện ước.


Dân ta quê gốc là làng Lương Ngọc, tổng Ngọc Cục, huyện Năng An, phủ Bình Giang, tỉnh Hải Dương vốn phụng thờ vị Đại Vương Thành hoàng làng ta, triều trước đã có sắc phong, miếu thờ còn đó, nhưng dân thường ly tán cư trú các tỉnh, mà nhiều hơn cả là Hà thành, đều đã nhập tịch thành phố, hoặc do con đường khoa bảng mà hiển đạt, hoặc từ các chức lại mà tiến thân. Dẫu là sĩ, là thương hay là công, tụ họp được họ hàng ở đây, nên đã lâu năm làm ăn ở đây, từ triều trước chốn này còn là kinh đô đã vậy rồi.


Theo điều ước cũ, hàng năm các cụ vẫn về nguyên quán tế lễ. Kíp đến đời vua Tự Đức, giặc giã liên miên, đường đi cách trở, đành bái vọng tại nhà riêng. Do vậy các bậc phụ lão trong làng và chư vị đỗ đạt làm quan, bèn cùng bọn chức sắc bàn nhau, chọn đất lành để lập đình thờ vọng. Vào tháng 5 năm Thành Thái thứ hai (1890) đã mua được một khu đất gia cư - bề ngang sang phía nam 16 thước, bề dài như trong địa đồ - toạ lạc tại thôn Hội Vũ – nay đổi gọi là phố hàng Bông – văn khế đã trình toà Đốc lý xem xét và phê duyệt làm bằng. Lại vâng sai thay mái tranh bằng lợp ngói. Tiếp đó đã quyên góp tiền bầu hậu, rồi lựa chọn 4 viên chức dịch trong làng cùng với viên đương chức trung đình đốc công 4 tòa nhà – 1 tòa chính diện, 1 tòa bái đường, 1 tòa tiền đường và 1 tòa hậu điện - đặt tên là đình vọng Lương Ngọc. Nhân công và vật liệu chi phí đến hơn 4000 nghìn đồng. Mọi người đóng góp, nhân hoà thần giúp, trải hai năm thì hoàn thành. Ngày khánh thành toàn dân tụ tập tế lễ chiêm ngưỡng thần minh, cho khắc điều lệ vào bia đá, lại sai ghi rõ lai lịch đình này mà gian nan có thể xem rõ trong văn bia.


Theo như điều ước các cụ xưa cứ tuần tự xuân tế cầu phúc, thu lễ tạ, xin thần minh giáng thế chứng giám. Để nối liền tình thân tông tộc, thỏa lòng hoài nhớ quê hương mà làm được như thế há không phải là điều ích lợi chung sao?


Vậy nay xin ghi lại.


Các khoản điều lệ liệt kê sau đây: phủ Tiên Hưng Lê Đình Dao; vào tháng 5 năm Thành Thái thứ 2 (1890) trưởng nữ của tiên sinh là Lê Thị Uyển đã làm văn khế bán đứt cho xã dân Lương Ngọc thuộc Hà thành để lập đình vọng, có đủ chúc thư và nguyên khế đã trình tòa đốc lý phê duyệt, sau đó lại cấp một văn khế chữ Tây và một bản địa đồ giao cho đân giữ làm bằng.


 -  Đình vọng xác định thuộc đất riêng, văn khế và địa đồ - 1 bản văn khế cũ, 1 bản văn khế mới, văn khế chữ Tây và địa đồ đều 1 bản, 1 tờ chúc thư – xã ta chọn người cẩn thận trong xã giữ gìn; nếu quý toà có việc xét đòi thì người ấy phải trình với bản xã.


 -  Việc tế lễ tại đình vọng vào các dịp xuân thu bốn mùa tám tiết, các ngày sóc vọng với các điều lệ vẫn y như ước lệ cũ ở nguyên quán – trong các đời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức.


 -  Mũ đai, triều phục đều đầy đủ và trang trọng; hàng năm theo kết quả bốc thăm, mỗi giáp cứ luân phiên 3 tháng lại kiểm sát, nếu sai phạm khoản nào, việc xảy ra ở giáp nào, thì xã ở giáp đó mà xét hỏi.


 -  Đồ tế lễ ở đình vọng là do các thái ông, lão bà trong 3 hội 4 giáp nhiều lần cúng tiến, đều ghi trong sổ cái; nếu có sự mất mát thì xã trách cứ người đương chức trung đình và thủ từ phải bồi thường.


 -  Sau đình thờ cúng các vị tiên hiền với liệt vị gia tiên - của các vị khoa bảng và quan chức – còn một gian bên trống cho viên coi đình cư trú để tiện việc hương đèn; viên coi đình này phải quét dọn và giữ yên tĩnh sạch sẽ, không được cho người ngoài vào ngụ bừa bãi.


 -  Phía ngoài đình nên chọn người buôn bán cho ở thuê; trích tiền cho thuê chi bổ sung hương đèn - cả năm chi cho người coi đình 6 đồng hương đèn – và giỗ hậu- giỗ cụ Phạm Lập Trai ngày 29 tháng 3 - chi 1 đồng; giỗ bà vợ họ Phạm của quan tạo sĩ ngày 3 tháng 4- chi 1 đồng; các khoảng chi việc công cả năm và tiền cho thuê nhà thu được bao nhiêu giao cho giám chi và viên đương chức trung đình; các khoản thu chi đến cuối năm phải công khai trình bản xã ghi vào sổ cái.


 -  Bản xã lập riêng một quyển sổ cái; phàm các đồ thờ cùng tiền mua hương tân, hương bảo cho đến các khoản thu chi hàng năm đều nhập sổ cái để tiện kiểm kê, tra cứu


 -  Tiền cho thuê nhà của đình vọng cùng các khoản tiền công quỹ bản xã chọn người giữ; nếu có người nào cố tình lạm dụng thì trên có thần minh chứng giám, dưới toàn dân làng không dung.


Ngày 1 tháng 11 năm thứ 3 đời Khải Định (1918)


trùng tu đình, khắc bia này.


Toàn dân xã Lương Ngọc thuộc Hà thành cùng ghi


                            Kỳ mục làng:- Phạm Huy Phương vâng kiểm


                                                        - Vũ Tá Chính vâng viết.


                                                        - Vũ Thế Khôi dịch và ghi chú giải


                                                          - Hoàng Văn Lâu hiệu đính.


 


          *  Tác phẩm chính của Phạm Quỳnh:


           Văn minh luận


           Ba tháng ở Paris


           Văn học nước Pháp


           Khảo về tiểu thuyết


           Lịch sử thế giới


           Lịch sử và học thuyết Voltaire


           Phật giáo đại quan


           Cái quan niệm của người quân tử trong Đạo Khổng


           Thượng Chi văn tập (gồm 5 quyển do NXB Alexande - de Rhodes Hanoi xuất bản năm 1943


 


Gần đây đã xuất bản:


           10 ngày ở Huế- NXB Văn Hoá, 2001


           Mục lục Nam Phong- NXB Thuận Hoá, 2002


           Luận giải văn học và triết học- NXB Thông Tin, 2003


           Pháp du hành trình nhật ký- NXB Hội nhà văn, 2004


           Thượng Chi văn tập- NXB Văn học, 2007


           Du ký Việt Nam- NXB Trẻ, 2007


           Phạm Quỳnh tiểu luận viết bằng tiếng Pháp- NXB Tri thức, 2007


(gồm bài diễn thuyết, bài báo bằng tiếng Pháp từ 1922-1932)


 


Tài liệu tham khảo


 


1- Nhà văn hiện đại


2- Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam- NXB Văn hoá, 1999


3- Các nhà khoa bảng Việt Nam- NXB Văn học, năm  1993


4- Đời viết văn của tôi - Nguyễn Công Hoan NXB Văn học 1971


5- Từ điển văn học bộ mới, NXB Thế giới- năm 2004


6- Lược truyện các tác gia Việt Nam- Tập 2, NXB - KHXH, 1972


7- Nhà Nguyễn 9 chúa 13 vua- NXB Đà Nẵng, 2001


8- Bàn về những cuộc đấu tranh tư tưởng trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại (1930-1954)- Vũ Đức Phúc- NXB - KHXH - 1971


9- Nam Phong tạp chí


10- Báo Lao Động


11- Tài liệu của nhà báo Phạm Tôn và Blog Phạm Tôn


12- Tài liệu của gia đình nhạc  sĩ Phạm Tuyên


13- Vũ Tông Phan với văn hoá Thăng Long – Hà Nội  của Vũ Thế Khôi


14- Tài liệu của ông Vũ Đình Năng, chủ tịch UBND xã Thúc Kháng huyện Bình Giang


15- Tài liệu điền dã tại làng Lương Ngọc và Xuân Cầu


16- Tài liệu do ông Đào Đình Quynh, (72 tuổi) Trưởng ban di tích LSVH đình Nhân Vực, xã Nghĩa Trụ huyện Văn Lâm cung cấp


17- Tài liệu do ông Lê Xuân Sinh, nguyên bí thư Đảng uỷ xã Nghĩa Trụ cung cấp


18- Tài liệu do cụ Chu Văn Tị, 82 tuổi thôn Nhân Vực, xã Nghĩa Trụ cung cấp.


19- Phạm Quỳnh - chủ bút báo Nam Phong, tạp chí KH&ƯD Hải Dương 2-2005


20- Dõi tìm tông tích người xưa- tập I - Nguyễn Đức Dụ- NXB Trẻ -1998


21- Để tìm hiểu thêm về Bác Hồ- NXB Lao Động- 2009


22- Tạp chí Khoa học và Ứng dụng Hải Dương tháng 2 năm 2005


23- Nhạc sĩ Phạm Tuyên- NXB Kim Đồng, Nguyễn Thuỵ Kha- năm 2008


24- Tự Điển Hán- Việt, Đào Duy Anh- Trường Thi- 1938


 


Hết.


Nguồn: Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Tác giả: Khúc Hà Linh. NXB Thanh niên, 2012. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


           

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
Sương Xuân và hoa đào - Vũ Thư Hiên 27.01.2019
Doãn Mẫn - “Biệt ly” mà không biệt ly - Hoài Anh 22.01.2019
Lê Yên - nhạc sỹ thuộc thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam - Hoài Anh 22.01.2019
Dương Thiệu Tước và “Tiếng Xưa” - Hoài Anh 21.01.2019
Phù Dung ơi, vĩnh biệt! (tên cũ là "Cai" -Kỳ cuối) - Vũ Bằng 20.01.2019
Về miền an lành - Triệu Xuân 12.01.2019
Nguyễn Xuân Khoát - Người mở ra buổi “bình minh” của lịch sử tân nhạc - Hoài Anh 11.01.2019
xem thêm »