tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27181879
20.08.2014
Khúc Hà Linh
Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (3)

CHƯƠNG V.  PHẠM QUỲNH GIỮA CUỘC ĐỜI


 


Phạm Quỳnh trong cuộc đời văn chương là thế, mẫn cảm nhạy bén, khẩu khí và dũng khí, hóm hỉnh và sâu sắc. Sống giữa những người thân yêu, ông càng đa cảm đa tình.


Từ khi bước vào cuộc sống gia đình, được người vợ nết na  thuần hậu, Phạm Quỳnh trong lòng  phơi phới như ngọn cỏ gặp mưa xuân. Thanh niên dòng dõi nho học, tốt nghiệp trường Thông ngôn tây học, nhưng vợ không biết chữ, mới nghe chẳng mấy người tin. Mà thật. Lê Thị Vân tuy con ông ký, nhưng thời ấy do lề thói cũ, con gái nhà quê không được đi học. Bù lại, bà thông minh và có trí nhớ đặc biệt, mỗi khi nghe và thuộc nhiều truyện nôm, truyện cổ tích dân gian mà người cha thường kể.  Bà thuộc ca dao tục ngữ, những câu chuyện về trung hiếu tiết nghĩa, ca ngợi vẻ đẹp quê hương.. Những câu hát ví, hát đúm, hát quan họ tràn ngập tình yêu đôi lứa, tình yêu làng xóm ruộng vườn cứ bám riết lấy tuổi thanh xuân. Thuở ấu thơ, Phạm Quỳnh mồ côi mẹ, đã từng được nghe bà hát những bài ru con trong những đêm hè, đã thấm sâu vào tâm trí. Bây giờ đây, những khi ở công sở đi làm về, lại được  nghe những lời ca, những câu dân ca giàu tiết tấu giai điệu từ người vợ thảo hiền, Phạm Quỳnh thấy lòng mình thư thái. Những bữa ăn, bên mâm cơm, bà cháu, vợ chồng chuyện trò thân thiết, mời chào, nghe những câu chuyện vợ kể, Phạm Quỳnh càng thấy ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ thật sống động. Sự phong phú tiếng Việt cứ ngấm dần trong máu thịt Phạm Quỳnh có dịp tuôn trào nơi đầu bút càng làm tăng thêm giá trị của văn chương.


Làng Nhân Vực,  tổng Xuân Cầu cách Hà thành cũng chẳng bao xa, từ ngày chiếc cầu sắt mới xong bắc qua sông Cái, làm cho quê vợ như gần lại. Những ngày được nghỉ hoặc có công việc ở quê, Phạm Quỳnh thường đưa vợ về thăm cha mẹ vợ và các em. Phạm Quỳnh  bước đi trên con đường làng, hai bên là cánh đồng xanh ngắt lúa ngô, ra đồng thăm cảnh ruộng vườn, chứng kiến người nông dân hát những câu ví, hát giao duyên hát trống quân, được nghe họ trò chuyện với nhau có pha nhiều dân ca  tục ngữ.. Cứ như những giọt mưa thấm dần vào đất, trong tâm hồn mình bao vẻ hay nét đẹp của tiếng Việt đã thấm thía tự lúc nào. Thời ấy, Lê Thị Mai cô em vợ đã nương nhờ cửa Phật chùa Cầu Bây, Phạm Quỳnh ít khi gặp mặt. Nhưng mỗi lần gặp, hai anh em chuyện trò thân mật trong tình cảm gia đình. Những ngôn ngữ nhà Phật mà Phạm Quỳnh nhận được từ em cũng góp thêm nhiều trong vốn kiến thức phật gia mà sau này ông có dịp đưa vào sử dụng. Có lẽ vì thế mà trong cuộc đời hoạt động văn hoá, những tinh hoa của tiếng mẹ đẻ, của quốc văn  vừa phong phú lại có dịp xuất thẩn?


Ngôi nhà số 1 Hàng Trống đã có bốn người sinh sống: Hai bà cụ đã già yếu và đôi vợ chồng trẻ đang dào dạt sức xuân. Ngày đó người hàng phố đi qua nhìn vào căn nhà hình ống, mà tưởng như nhìn vào một vườn hoa sau những ngày đông ảm đạm, bắt đầu có dương khí xuân về. Lấy nhau năm trước, thì năm sau, tức 1911, họ sinh con đầu lòng. Tiếng khóc chào đời của một bé trai bụ bẫm báo hiệu một thời kỳ sung mãn của gia đình họ Phạm. Đứa bé ấy được cha mẹ nâng niu và đặt tên là Giao. Cha Quỳnh, con Giao là ước mong có gia đình đầm ấm, quấn quýt bên nhau để xua tan những tháng năm đứt đoạn, tẻ nhạt giữa đường đời.


Căn nhà bắt đầu bừng lên sức sống mới. Phạm Quỳnh đã đi làm ở Trường Viễn đông bác cổ,  thấy cuộc đời như dào dạt men say. Hai năm sau lại một bé gái nữa ra đời, đó là Phạm Thị Giá, sau này trở thành hôn thê của Tôn Thất Bình, là quan đốc học Trường Thăng Long Hà Nội. Lại một năm nữa qua đi, ngôi nhà phố hàng Trống thêm tiếng khóc bé thơ. Ấy là Phạm Thị Thức, mấy chục năm sau trở thành người bạn đời của giáo sư Đặng Vũ Hỷ.


Tính ra ông bà đã sinh hạ được 16 người con, 11 gái, 5 trai. Nhưng bỏ mất ba gái lúc mới sáu đến tám tháng tuổi. Còn lại 13 người.


Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên, thứ tự anh chị em của ông như sau:


- Anh cả Phạm Giao sinh năm Tân Hợi 1911


- Chị thứ hai Phạm Thị Giá sinh năm Quý Sửu 1913


- Chị thứ ba Phạm Thị Thức sinh năm Ất Mão 1915


- Anh thứ tư Phạm Bích, tiến sĩ luật, sinh năm Mậu Ngọ 1918,


- Chị thứ năm Phạm Thị Hảo sinh năm Canh Thân 1920, dược sĩ sinh sống tại Hoa Kỳ


- Chị thứ sáu Phạm Thị Ngoạn sinh năm Tân Dậu 1921, tiến sĩ văn chương, vợ nhà văn Hán Thu- Nguyễn Tiến Lãng, có thời kỳ quản lý tờ Nam Phong tạp chí, lại có thời kỳ làm việc với tướng Nguyễn Sơn ở Thanh Hóa.


- Anh thứ bảy Phạm Khuê sinh năm Ất  Sửu 1925, sau này là giáo sư, Nhà giáo nhân dân, Chủ tịch Hội người cao tuổi Việt Nam, Chủ tịch Hội Lão khoa và Hỗ trợ người tàn tật Việt Nam, Đại biểu Quốc Hội khoá X, Uỷ viên Uỷ ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ viên Uỷ ban về các vấn đề Xã hội của Quôc hội.


- Chị gái thứ tám Phạm Thị Hoàn sinh năm  Mậu Thìn 1928 là ca sĩ một thời.


- Người thứ chín  là Phạm Tuyên sinh đầu năm 1930- Kỷ Tỵ, nay  là Chủ tịch Hội âm nhạc Hà Nội


- Em gái thứ mười    Phạm Thị Diễm (Giễm ) sinh năm Tân Mùi 1931, định cư tại Pháp


- Em gái thứ mười một là Phạm Thị Lệ, sinh năm Giáp Tuất 1934, định cư tại Pháp


- Em trai thứ mười hai là Phạm Tuân, sinh năm Bính Tý 1936, định cư tại Mỹ


- Em út thứ mười ba  là Phạm Thị Viên, sinh năm Mậu Dần 1938, định cư tại Pháp


16 tuổi đi làm, rồi lấy vợ, Phạm Quỳnh bước vào đời khá suôn sẻ. Bao nhiêu gian nan khốn khó đã lùi về phía sau. Sống với người hiền thê  gần ba mươi sáu năm, nhưng mới 27 năm đầu ông bà Phạm Quỳnh có 13 người con đều trưởng thành và hiển đạt theo cách tư duy của người gốc Hoa Đường. Người con trai trưởng Phạm Giao(sinh năm 1911) cách cô gái út Phạm Thị Viên (sinh năm 1938- Mậu Dần) tính ra đến 27 tuổi!


Tuy đông con như thế nhưng ông yêu thương từng người một, không hề phân biệt. Theo nhạc sĩ Phạm Tuyên, người con thứ 9 thì trong nhà các con gọi cha mẹ bằng tên âu yếm: thầy, me.


Năm 1922 Phạm Quỳnh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa với tư cách Tổng thư ký Hội Khai trí tiến đức, ông đã có sáu người con(Phạm Giao, Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức, Phạm Bích, Phạm Thị Hảo, Phạm Thị Ngoạn).


Xa quê nhớ vợ con là lẽ thường tình, nhưng cái chuyện vốn tế nhị ấy, Phạm Quỳnh lại thích chia sẻ với mọi người. Ấy cũng là cái riêng của người trí thức thức thời, giao hòa văn hóa đông tây. Ông đến thăm và ăn cơm nhà bạn, thấy con người khác lại liên tưởng đến con mình. Ông ra hiệu ảnh chụp hình gửi về cho vợ cho con. Hình như làm từng ấy việc ông cảm thấy bớt đi nỗi nhớ thương. Đi diễn thuyết, báo chí nước ngoài đã  xin đăng bài, còn xin đăng ảnh người thân của ông trên báo, ông cũng không từ chối. Chính vì thế bây giờ gia đình ông mới còn được tấm ảnh cha bế con rất thú vị. Sống nơi đất khách quê người, hình ảnh đất nước quê hương Việt Nam vẫn không phai mờ trong tâm trí. Ông nhớ tết trung thu cổ truyền dân tộc; nhớ tới những người con đang tầm tuổi vui chơi nhí nhảnh dưới ánh trăng mát rượi của quê nhà. Bây giờ đọc lại những trang nhật ký mới thấy rằng, Phạm Quỳnh là người cha chu đáo. Ngay từ 24 tháng 6 năm 1922 dương lịch, tức là ngày 29 tháng 5 âm lịch, còn cách xa rằm trung trung thu hai tháng rưỡi, ông đã nhớ đi mua quà, đồ chơi gửi về cho con: “Thứ bảy, 24-6: cơm trưa rồi đi chơi cửa hàng Bon Marché ở đường De Sèvres… Nhân vào khu bán các đồ chơi trẻ con, mua mấy thằng phệnh, con thú, cái xe để gửi về lũ trẻ ở nhà cho vừa kịp tết tháng tám. Nhà hàng nhận gói, gửi cẩn thận, chỉ phải chịu thêm tiền bưu phí mà thôi. Lũ trẻ nhận được mấy gói này chắc là mừng lắm. Nghĩ đến chúng nó lại càng thêm nhớ.”


Năm ấy sáu đứa con yêu còn  rất nhỏ: Phạm Giao lớn nhất mười một tuổi, Phạm Thị Ngoạn nhỏ nhất mới được một năm. Bây giờ chúng làm gì, ăn sáng, đi học, hay vui chơi? Có ai đưa con đi xem xinê? Ông nhớ những bữa ăn trong gia đình, con trai ngồi bàn với cha, các con gái ngồi sập với mẹ. Tiếng bát đĩa, muôi thìa va chạm lách cách vui tai, thảng hoặc có lần chúng sơ ý làm vỡ, ông chỉ nhìn mỉm cười độ lượng. Những hình ảnh ấy bây giờ chỉ còn trong tưởng tượng mà thôi. Chính vì thế, khi đến chơi nhà bạn bè, nhìn những đứa con vui cùng cha mẹ, lòng ông lại dạt dào niềm thương nhớ.


Cuộc đời ông cũng từng trải qua những giây phút thương đau, ấy là sau này có ba lần chứng kiến cảnh phải xa lìa những đứa con dại. Cả ba lần đều là những con gái mệnh yểu. Đứa thì chín tháng đã bỏ cha mẹ mà đi, có đứa năm tháng, đứa sáu tháng đều mắc bệnh hiểm nghèo, thuốc thang chạy chữa đều vô hiệu. Sau những lần ấy ông trở nên thảng thốt, hay nhìn vào khoảng không ngẫm nghĩ mông lung. Yêu quý con, ông nói vui rằng mình có 5 chú voi và 8 nàng tiên(5 con trai và 8 con gái). Ông cũng  có thú riêng là  tự tay chăm sóc các con nếu như có thể làm được. Ông pha cà phê cho con, mua dầu cá cho con bồi bổ, mà tự tay ông rót từng thìa đưa cho từng đứa uống, để sau đó chúng ăn xôi rồi đến lớp. Ông biết vợ mình cũng vất vả nuôi con, nên có điều kiện  ông có thể giúp bà. Được cha yêu quý, những người con cũng gần gũi với cha. Phạm Quỳnh biết lo toan trước công việc, ở nhiệm sở làm chưa xong lại mang về nhà làm tiếp. Những đêm viết lách tới khuya, cô con gái lớn thức dậy thấy cha căm cụi đèn sách, nhẹ nhàng đẩy cửa vào phòng, Phạm Quỳnh âu yếm bảo con chép sách hộ. Rồi ông nằm trên ghế xích đu mở sách ra dịch. Ông dịch và đọc thẳng chẳng cần nháp, giống như một người đọc cho người kia chép lại. Càng khuya, ông càng tỉnh và say mê, đến khi chợt nhận ra con đã mệt, ông mới bảo con dừng lại. Ông cũng vui bảo vào sờ túi áo xem có gì, ông thưởng. Ấy là vài hào lẻ. Những kỷ niệm ấy các con ông đều ghi nhớ và kể lại với một tấm lòng thành kính người cha. Năm 1932, cô con gái cả ấy lấy chồng rồi sinh cháu gái đầu lòng. Năm ấy ông chuẩn bị vào kinh thành Huế nhận chức quan của triều đình Bảo Đại. Ông nói rất vui”Sang năm con cho cháu về Huế chơi, thì đủ cả bên nội bên ngoại “. Con rể ông là người gốc Huế.


Ông có bệnh kinh niên đau dạ dày, chỉ ăn thứ mềm như xôi với ít thịt kho. Bữa ăn bao giờ cũng để dành cho con trai một ít giữa đĩa. Người con trai ấy sau này là nhạc sĩ Phạm Tuyên, hiện là Chủ tịch Hội âm nhạc Hà Nội, người có gần  700 ca khúc được phổ biến hơn nửa thế kỷ qua.


Hỏi về kí ức của mình những năm tháng sống ở biệt thự Hoa Đường với cha mẹ mình, nhạc sĩ Phạm Tuyên thoáng một chút bâng khuâng …khi xem lại tấm ảnh đại gia đình năm 1942, khi ấy Phạm Tuyên tròn 12 tuổi.


Biệt thự Hoa Đường nằm bên bờ sông An Cựu - Huế. Đây là tổ ấm của Phạm Quỳnh. Một lần  đi  Quảng Trị, ông mua một ngôi nhà gỗ lớn, tháo dỡ về lắp trong biệt thự làm nơi sinh hoạt của gia đình. Xung quanh biệt thự, chạy một hàng hiên tráng xi-măng xanh. Tiếp là dãy phòng xinh xắn bao quanh một hội trường nhỏ. Giữa cảnh thiên nhiên thoáng mát, ngôi nhà là nơi sinh hoạt vừa dịu dàng và trong sạch. Ngay phía sau biệt thự là một bến tắm. Một cây sung già ngả sát xuống mặt nước như thể một chiếc ô che cho những người đang khoả mình giữa dòng nước trong veo..Sau những giờ làm việc hoặc những ngày đi công cán, lúc trở về đây, ông trở thành một con người thật giản dị và chan hoà với tất cả thành viên trong đại gia đình. Các con ông mỗi người một phòng riêng, và độc lập suy nghĩ theo sở thích riêng. Nhưng họ có một niềm đam mê chung, một đặc thù của gia đình Phạm Quỳnh là hầu như  ai cũng biết vẽ, và ham đọc sách báo, thơ, văn. Phạm Tuyên người con thứ chín (con trai thì đứng hàng thứ tư) say mê cả ghi ta lẫn phong cầm., sau này suốt đời gắn bó với âm nhạc.


Những sở thích riêng của các con, bao giờ ông cũng tôn trọng, không gò ép. Họ có thể chơi trò chiếu phim, hoặc đan len, chơi thể thao, bơi lội,  chơi quần vợt…câu cá, săn bắn. Gia đình ông có  một thư viện với hàng vạn cuốn sách, lại có tờ báo riêng của gia đình gọi là Gia đình tuần báo. Lại có hẳn một ban nhạc, ai đó cất giọng lên, thì mọi người hoà âm theo. Ông còn  mời thầy đến dạy các con, cháu nhỏ học thêm các buổi chiều và buổi tối.  Ông  tìm thấy niềm vui giữa đàn con cháu thuận hoà ngoan ngoãn hiếu học và sớm có ý thức tự lập. Những việc ông làm là tất cả cho tương lai của các con sau này. Sâu xa hơn là vì xã hội cộng đồng. Vì thế ông cứ lặng lẽ làm việc, làm những việc theo tiếng gọi của lương tâm, mà sau này càng tìm hiểu, các con mới biết rằng ông không muốn các con liên luỵ tới công việc của ông và  người đời càng thấu hiểu ông !


Phạm Quỳnh tuy là viên quan đại thần, nhưng trước hết ông là một nhà báo có hạng, một trí thức tân học. Ông hành xử trong cuộc sống có nhiều điểm khác với các bạn đồng liêu. Các con ông đều tự tìm người mình yêu thương, không hề có cảnh cha mẹ ép đặt, và  ông  cũng không quá câu nệ  phải “môn đăng, hộ đối”trong việc hôn nhân của các con. Phạm Thị Giá là  con gái lớn mang lòng yêu  một thanh niên nghèo người Huế nhưng có chí, ông cũng không cản ngăn. Khi trở thành mệnh quan triều đình, có ông thông gia là quan huyện thanh liêm, về hưu sớm,  mang quà mừng sinh nhật ông chỉ là một buồng chuối tiêu cắt ở vườn nhà, ông vẫn  đưa hai tay đón nhận  lễ với một niềm trân trọng. Cũng vì thoáng như thế, nên cũng có khi ông khổ tâm, vừa giận vừa thương con. Đó là chuyện Phạm Giao người con trưởng đã có vợ, có hai con trai, lại yêu thương và lấy cô gái Huế. Anh chị dẫn nhau vào Sài Gòn sống khi ông bố đương là quan đại thần.  Ông biết vậy, cũng không nỡ phạt con, chỉ âm thầm chịu đựng rồi tìm mọi cách giúp đỡ tận tình các con dâu, các cháu nội, những giọt máu của mình.  Ông yêu quý các con, và không hề phân biệt các cháu nội cháu ngoại. Ông cho lập quyển sổ ghi tên từng người con, lúc sinh cân nặng bao nhiêu,  bệnh tật thế nào, tính tình, đến khi trưởng thành lấy vợ gả chồng,  nghĩa là rất tỉ mỉ, y như một bản trích ngang lý lịch vậy.


Phạm Quỳnh yêu thương các con, và các con một niềm kính yêu cha, khâm phục vì tài năng đức độ. Chỉ kể chuyện người con dâu út Hoàng Hỷ Nguyên, nữ sinh trường Đồng Khánh- Huế(vợ Phạm Tuân) đối với ông cũng thấy. Năm 2000, trong lần giỗ Phạm quỳnh, con dâu  đã viết một bài văn khấn vô cùng xúc động: “đời thầy là cả một cuộc hành trình dở dang, đầy phiêu lưu, gian truân. ….Từ thuở tấm bé thầy đã sớm lìa xa bậc sinh thành, lầm lũi đơn độc trong bàn tay nuôi dưỡng bao bọc của bà nội. Tình nội tổ thay cho tình mẫu tử. Thầy đâu được biết thế nào là tuổi thơ. Thần định mạng đã đoạt đi tuổi thơ ngây vô tư lự ở thầy.! Thầy miệt mài học tập, ngày thì theo đuổi nền tây học, giữa buổi giao thời Đông Tây….Đêm tối sắp  xuống lại vùi đầu vào sách vở thánh hiền.


Lạy thầy! Con kính yêu thầy không chỉ ở phận dâu con. Người thiếu nữ đất Thần kinh(đất kinh đô, Huế - KHL chú), tầm thường nhất trong nhiều thế hệ  nữ  sinh sáng chói ở ngôi trường Đồng Khánh- như con đây, là chỉ vì có cơ duyên được đọc đầy đủ hàng nghìn trang báo ở toàn tập Nam Phong  và nhiều tác phẩm của thầy in ra khiến con bàng hoàng, hết lòng nể trọng…Chữ nghĩa quả là có hồn. Nó biểu lộ tư tưởng. Và từ tư tưởng dẫn đến truyền cảm…Lời nói, có thể theo gió bay đi. Nhưng tư tưởng được khắc bằng chữ cứ còn mãi. Nó là bằng chứng trung thực, trơ trơ cùng tuế nguyệt."


Thương quý con, chăm sóc nâng niu con, Phạm Quỳnh càng yêu vợ, một lối yêu của người Á đông sâu sắc mà kín đáo. Vào thời điểm năm 1909 Phạm Quỳnh  đã được Trường Viễn Đông bác cổ Hà Nội cử sang Pháp làm chức trợ giáo ở khoa tiếng An Nam trường Đông Phương bác ngữ (Ecole des Langues Orientales), quả là một điều đặc biệt đối với một người Việt Nam, là khát vọng thời ấy của trí thức. Vậy mà ông đã không đi chỉ vì không muốn xa vợ, khiến cho nhà trường phải cử Phan Văn Trường đi thay. Sau này, năm 1922 có dịp sang Pháp thăm trường ấy, ông không hề tỏ ý tiếc…


Người phương Tây có một quan niệm về  thẩm mỹ riêng. Họ thường bình phẩm đàn bà Việt Nam nhuộm răng đen, giữa đôi môi nhỏ nhắn hồng tươi là một màu tối thẫm mỗi khi cười là xấu.Ngược lại, ông cho như thế là đẹp. Phạm Quỳnh đã không hề dấu diếm khi tỏ nỗi lòng nhớ vợ qua một bài báo cho đăng trên Nam Phong tạp chí. Ông viết: “Tôi xin thú thật rằng, tôi không thể trông được một người đàn bà An Nam để răng trắng, dẫu đẹp mười mươi mà xem bộ răng đủ chán ngắt rồi. Vì người đẹp là người thế nào? Là một người hệt với hình ảnh một kẻ “ý trung nhân”của mình. Kẻ “ý trung nhân”của người An Nam ta là một người đàn bà da trắng, tóc dài, hình dáng yểu điệu… mà phải có bộ răng đen nhay nháy  mới được. Nếu răng trắng thời hỏng toẹt, không hệt với người trong mộng nữa.”


Ngày được gọi là ý trung nhân trong đoạn báo này, chắc là hình ảnh bà Lê Thị Vân - vợ ông. Rồi từ nước Pháp xa xôi, Phạm Quỳnh cắt tóc, bỏ hẳn búi tó củ hành, mặc bộ đồ  jaquette, vào hiệu ảnh chụp ảnh gửi về nhà cho vợ. Thời ấy Phạm Quỳnh quan niệm về cái đẹp như vậy.


 Ông cũng biết khéo léo gợi ý để bà đọc cho nghe nhưng câu ca dao, hò vè những lời ca từ các làn điệu quan họ hoặc những câu thơ trong truyện nôm mà bà thuộc khi còn sống với cha  mẹ ở làng Nhân Vực tổng Xuân Cầu. Ông còn biết tạo ra không khí đầm ấm trong gia đình những buổi chiều sùi sụt mưa dài xứ Huế. Để đáp lại, bà Lê Thị Vân một mực thương quý chồng, với một tình cảm nồng nàn thiết tha người đàn bà Kinh Bắc.


Với gia đình nhà vợ, Phạm Quỳnh là chàng rể hiếu thảo, kính yêu cha mẹ và nhường nhịn, chăm lo các em. Có phải vì từ ấu thơ đã chịu sống côi cút thiếu mẹ, rồi mất cha nên bây giờ có dịp sống gần gũi với mẹ vợ với các em, dù chỉ ít ngày ông vẫn cảm thấy hạnh phúc đầm ấm của một gia đình? vẫn cảm thấy mình được bù đắp. Sau này các em nhiều lần sang Hà Nội chơi thăm anh chị và các cháu, vợ chồng ông đều tỏ lòng quý mến, thắm thiết đon đả mời chào, níu kéo. Sợ các em ở nhà quê ra tỉnh e dè, bao giờ anh rể cũng chủ động hướng dẫn để các em không thấy xa lạ, ngượng ngùng. Khi cuộc sống khá hơn, ngày còn ở Hà Nội, Phạm Quỳnh mua lại một chiếc nhà ở ấp Thái Hà mời mẹ vợ đến ở với em trai Lê Văn Tốn, còn gia đình ông vẫn ở chỗ cũ, thỉnh thoảng tới thăm..


Tháng 9 năm Kỷ Sửu chúng tôi về Nhân Vực, được nghe nhiều mẩu chuyện về Phạm Quỳnh và tấm lòng của ông với quê vợ. Sau khi vào Huế làm quan, mùa đông năm Đinh Sửu (1937), với tư cách Ngự tiền văn phòng, Cơ mật đại thần kiêm thượng thư bộ Học, Phạm Quỳnh đi kinh lý Bắc Hà. Ông đã tranh thủ về thăm quê vợ, làng Nhân Vực. Lần ấy các bô lão trong làng chứng kiến trước việc làm của ông quan Thượng thư, cũng là giai tế của làng, trịnh trọng cung tiến đình làng một đôi câu đối và bức hoành phi. Đôi câu đối đến nay đã hư hỏng, chỉ còn bức hoành sơn son thếp vàng với bốn chữ đại tự”Thông minh chính trực”. Bên phải bức hoành còn rõ  dòng chữ Hán chạy dọc: Bảo Đại Đinh Sửu đông(Mùa đông năm Đinh Sửu 1937, triều vua Bảo Đại – KHL  chú). Bên trái có 2 dòng: “Tả đại học sĩ  lãnh giáo dục bộ thượng thư  sung Ngự tiền văn phòng Tổng lý cơ mật đại thần Phạm Quỳnh bái". Bức hoành phi của ông Thượng thư Bộ học(tương đương Bộ trưởng Giáo dục thời nay) có nội hàm thâm thuý: Thông minh và chính trực, đó là ước vọng của trí thức thời nào cũng vậy trên con đường học vấn để sau này nhập thế. Bức hoành phi được treo trang trọng gian giữa đình. Đã qua hơn bẩy chục năm trải qua bao nhiêu biến cố, những sự đẽo gọt của thời gian, rồi chiến tranh, giông bão mà tấm hoành phi vẫn còn đó vàng son như lòng người.Và mỗi lần làng quê vào đình đám, mỗi lần thắp hương, ngước trông lên tấm hoành phi, lại nhớ tới người con rể của làng, thấy tự hào, và bâng khuâng..


Các cụ già trong làng kể, đấy là lần cuối cùng Phạm Quỳnh về quê vợ.


Cùng tuổi Nhâm Thìn với chồng(bà sinh đầu năm, còn ông sinh cuối năm), bà Vân là người phụ nữ có số “vượng phu ích tử”. Lấy chồng năm 18 tuổi, thì chỉ một năm sau bà sinh con trai. Hai năm sau, lại một bé gái Phạm Thị Giá chào đời. Tiếp năm sau bé gái Phạm Thị Thức được sinh ra. Qua 5 năm, nhà số 1 phố Hàng Trống – Hà Nội đã thêm ba nhân khẩu, suốt ngày rộn rã tiếng trẻ thơ..Tuy không biết chữ, nhưng có trí nhớ  tuyệt vời. Khi còn ở Hà Nội, bà từng tham gia làm thủ quỹ cho Hội tế sinh, chuyên làm từ thiện, trông con nhỏ cho những người lao động đi làm ban ngày. Hội Tế sinh do cụ Cả Mọc là cháu của người thiếp của Dưỡng Am Phạm Hội sáng lập. Hội mở trại dưỡng lão ở Phúc Yên, gúp các cụ già neo đơn không nơi nương tựa. Nhiều khi đi làm trở về, Phạm Quỳnh lại giúp vợ làm thư ký, ghi chép tiền nong, và chưa bao giờ sai lệch…


Bà Vân sống trong một gia đình có  chồng là công chức, nổi tiếng một nhà báo có hạng, văn sĩ tài danh và hơn một chục năm, trở thành mệnh phụ phu nhân đầy uy quyền…nhưng bà Vân vẫn chỉ là một người vợ đảm đang và một người mẹ hiền từ. Tất cả hy sinh cho chồng con thi thố tài năng với cuộc đời với bao nhiêu sóng gió. Bà sinh nở theo quy luật tự nhiên, hình như thiên định sắp bầy.


Phạm Quỳnh là người cởi mở và tâm lý. Một người  khiêm nhường chu đáo như vậy khiến cho trong nhà, ngoài xóm, cả những người giúp việc đều tỏ lòng kính phục. Thời ở Hoa Đường, có những buổi chiều mát  có một người làng An Cựu bán chè đậu quen vào nhà, biết tin các con cháu  xô lại. Họ thi nhau ăn chè, chẳng mấy chốc đã hết cả gánh hàng của bà cụ. Người bán hàng vui lắm, quý gia đình ông quan Thượng sao mà giản dị thân tình. Có khi bà cho cả con cháu vào Hoa Đường chơi với các cậu ấm cô chiêu như người nhà chẳng mảy may e ngại.


Phạm Quỳnh thân thiết với những người giúp việc gia đình hằng ngày như người nhà.  Sau này khi gặp cảnh gia biến, họ vẫn tận tình thuỷ chung, gắn bó. Ngược lại, con cháu Phạm Quỳnh cũng coi họ như người trong nhà thân quý, tôn trọng, tuyệt đối không hề bạc đãi. Theo Phạm Tuyên, đến mấy chục năm sau có người giúp việc từ trần, gia đình ông vẫn coi như người thân lo hậu sự đủ đầy hương khói chu đáo.


             Năm 1917, có người thanh niên Nguyễn Văn Hạt, tuổi Nhâm Thìn, quê Đức Triêm, Kim Động, Hưng Yên, chỉ vì nơi quê nhà bệnh dịch, mất mùa, đói khát, người thân chết dần, còn sót lại một mình, anh theo người cùng quê kéo lên Hà Nội kiếm sống. Anh  mệt lả, nằm ở trước cửa nhà Phạm Quỳnh tự lúc nào không biết.


            Thương cảm, Phạm Quỳnh gọi người nhà chăm sóc cho hồi sức,  rồi tìm việc làm cho anh Hạt ở tòa báo Nam Phong,  giao cho việc đưa bài vở đến nhà in. Nhưng anh Hạt không làm được, bởi tuy thật thà, nhưng thường đãng trí.


            Rồi anh thành người giúp việc trong nhà. Năm tháng trôi đi,  cái tên anh Hạt, ông Hạt, rồi cụ Hạt, rồi bác Già  trở nên thân quen trong  đại gia đình Phạm Quỳnh suốt mấy thế hệ


             Năm Phạm Quỳnh đưa cả nhà vào Huế, thì ông Hạt  đã 40 tuổi, được ở lại nhà số 5 phố Hàng Da - Hà Nội, sống cùng gia đình bà Giá. Ông đã chứng kiến bao nhiêu  thăng trầm, gian khổ cùng gia đình tản cư trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp, những thiếu thốn chắt chiu trong những ngày hòa bình, lao động khôi phục hàn gắn vết thương chiến tranh, nơm nớp lo sợ trong những ngày máy bay Mỹ bắn phá  Hà Nội. Nửa thế kỷ  bao niềm  vui và những không thiếu giọt nước mắt buồn đau.  


            Năm 1972, cụ Hạt -  bác Già vào tuổi bát tuần, đổ bệnh phải nằm bệnh viện Bạch Mai, được bác sĩ Phạm Khuê và con cháu bà Giá tận tụy chăm sóc. Nhưng Bác đã ra đi vào mồng bốn tết giá lạnh. Từ đó, gia đình bà Giá, con cả Phạm Quỳnh có thêm một cái giỗ vào mùng 4 tết hàng năm….


Con người Phạm Quỳnh như thế, nhưng rất nhẫn chịu, điềm tĩnh và sâu sắc.


Cuộc đời ông, ông chỉ coi mình là người cúc cung tận tuỵ tài bồi cho quốc văn, cổ động cho quốc văn, gây dựng cho quốc văn thành một nền văn chương đích đáng. Khi bị công kích vì quan điểm yêu nước và mục đích dấn thân theo phong cách riêng mình, Phạm Quỳnh tỏ rõ  là người có phẩm cách đàng hoàng, lòng vị tha đến lạnh lùng. Xuất thân từ một gia đình  nho học, được cách tân theo xu thế thời đại, Phạm Quỳnh mang trong mình đức tính điềm đạm. Bình tĩnh và điềm đạm, nên khi ứng xử với đồng nghiệp báo chí Phạm Quỳnh tỏ ra thật nhã nhặn. Tưởng cũng nhắc lại chuyện Phan Khôi có một bài”Cảnh cáo các nhà học phiệt”đăng trên báo Phụ nữ tân văn, công kích Phạm Quỳnh. Tạp chí Nam Phong, có đăng bài Phạm Quỳnh trả lời và kèm theo lời toà soạn như sau: “Nhân báo Phụ Nữ tân văn gần đây có đăng một bài của ông Phan Khôi bình phẩm về cái thái độ của kẻ học giả nước ta ngày nay mà có đả động đến bản chí chủ bút, vậy bản chí chủ bút có gửi bài trả lời cho báo ấy. Nay lục đăng ra đây để công đồng lãm- NP”.  Phạm Quỳnh thận trọng bình tĩnh cả khi bị lên án là đã suy tôn quá đáng truyện Kiều năm 1924 thành thậm xưng, có dụng ý xấu. Ấy là khi ông đối thoại với ông nghè Ngô Đức Kế trên mặt báo. Những lời lẽ sau đây có thể gọi là rất khiêm nhường đúng mực“Họ Ngô đối với tôi vốn không hiềm khích gì. Ông là người quốc sự phạm cũ, vì việc nước mà long đong chìm nổi trong bao năm, dẫu người không đồng tư tưởng, đồng chánh kiến với ông, cũng phải kính trọng cái thân thế của ông. Tôi cũng vậy, thủy chung vẫn coi ông như bậc đàn anh”.


Phạm Quỳnh chưa bao giờ coi mình để chí vào việc chính trị, ông chỉ chuyên chủ về một việc tài bồi quốc văn. Ông viết “ai  bình phẩm tôi về chính trị là bình phẩm sai cả. Tôi cho là bất túc kính trọng, nên không hề đối đáp, không hề cải chính bao giờ”. Và cứ thủng thẳng giãi bày cái chí cúc cung tận tuỵ “là cổ động cho quốc văn, tài bồi cho quốc văn, gây dựng cho quốc văn thành một nền văn chương đích đáng, có thể dùng làm cái lợi khí để truyền bá văn minh trong nước”tuỳ cho đối thủ suy ngẫm: “Tôi vốn là nhà làm văn, nhà học vấn. Cái chủ nghĩa tôi phụng sự bấy lâu nay – kể có trên dưới mười lăm năm trời thật là dốc một lòng, chuyên một dạ – chính là chủ nghĩa quốc gia, nhưng chỉ mới phụng sự về phương diện văn hóa, chưa hề chuyển di sang phương diện chính trị. Tôi thiết nghĩ rằng muốn cho nước nhà được độc lập, thì phải gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân. Muốn gây lấy cái hồn độc lập cho quốc dân thì phải có khí cụ để tuyên truyền giáo dục. Cái khí cụ để tuyên truyền giáo dục là ngôn ngữ văn tự trong nước. … Các bạn đồng chí trong Nam ngoài Bắc cũng đã công nhận cho cái công phu ấy không phải là vô ích.


Phạm Quỳnh đã nói thực lòng.Trước khi đứng ra làm chủ bút và chủ nhiệm Nam Phong tạp chí, Phạm Quỳnh từng là một trong những cây bút  trụ cột, xuất sắc của Tạp chí Đông Dương, do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút. Ngay từ thời đó, Phạm Quỳnh đã có ý tưởng rằng làm sao để chữ quốc ngữ sớm trở thành một nền tản văn hóa nước nhà. Đến khi làm chủ bút tờ Nam Phong, trên số 67, ra tháng 1 năm 1923 trong bài Làm văn,  Phạm Quỳnh đã bộc bạch:


“Tôi còn nhớ năm sáu năm về trước, hồi tôi mới lập ra báo Nam Phong này, ngoài mấy anh em làm báo, không thấy mấy người làm văn quốc ngữ. Có lẽ không ai nghĩ đến rằng chữ quốc ngữ có thể làm thành văn chương được. Trước tôi, ông Nguyễn Văn Vĩnh từ hồi báo Đăng Cổ đã hết sức hô hào, ông thường nói: “Hậu vận nước Nam hay dở thế nào là ở chữ quốc ngữ”. Vì ông với tôi trước sau vẫn có một chủ nghĩa là biết rằng ở nước ta chữ Nho không thể giữ được hết, chữ Tây không thể học được khắp, muốn dùng để phổ thông giáo dục cho quốc dân, duy chỉ có chữ quốc ngữ, nhưng muốn cho chữ quốc ngữ dùng được việc thì phải rèn tập cho mỗi ngày mỗi hay hơn lên. bởi thế nên chúng tôi gia công gắng sức trong bao nhiêu năm, không quản công phu khó nhọc, không quản có kẻ chê bai, chỉ ước ao có một điều là có ngày người mình cũng “làm văn”được như người, nghĩa là làm văn bằng tiếng mình, không phải mượn tiếng người. Ngày ấy có lẽ đã tới đây...”.


 Gan ruột của nhà văn hoá Phạm Quỳnh đã thể hiện rõ trong chữ nghĩa và trong cuộc đời.


 


CHƯƠNG VI. BƯỚC  ĐƯỜNG  HOẠN  LỘ


Ngày mồng 8 tháng Giêng năm 1926, Nguyễn Phúc Vĩnh Thuỵ được tôn lên làm vua, lấy niên hiệu là Bảo Đại, thay vua cha Khải Định từ trần. Nhưng ông lại bay sang Pháp để học tập tiếp, mãi 6 năm sau- 1932 mới hồi loan và chính thức ở ngôi. Bảo Đại là ông vua Tây học, cho nên khi lên ngôi việc đầu tiên là tìm cách cải tổ triều đình, bằng cách thay thế người già, và sắc phong cho bốn vị thượng thư vốn là học giả và thuộc diện hành chính: Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Ngô Đình Diệm  và Phạm Quỳnh.


Tháng 11 năm 1932 Phạm Quỳnh vào Huế tham chính.  Đây là bước ngoặt trong lịch sử cuộc đời ông. Làm báo Nam Phong, ông đã gặp phải những lời chê bai đàm tiếu. Bây giờ làm quan lại phải chịu nhiều búa rìu dư luận. Trong lòng ông vẫn chỉ một niềm vì quốc dân đồng bào, vì quốc văn và quốc học, vì tiếng mẹ đẻ, rộng hơn vì văn hóa của dân Việt.  Ban đầu ông làm Ngự tiền Văn phòng, rồi từ 2-5-1933 làm Thượng thư bộ Học, và từ năm 1942 làm Thượng thư bộ Lại. Trong thời gian làm quan, Phạm Quỳnh cùng Bảo Đại sang Pháp, xin Pháp trả Bắc Kỳ cho triều đình Huế cai trị nhưng không đạt mục đích.


Nhận chức chỉ sau 2 tháng 7 ngày, với tư cách một quan Ngự tiền văn phòng, Phạm Quỳnh đã làm một việc có thể coi là mạo hiểm với ông trên chốn quan trường. Sự việc như sau:  Nguyễn Công Nghi mười tám tuổi, em ruột Nguyễn Công Kính, là con rể làng Nhân Vực, bị Pháp coi là một chiến sĩ Cộng sản, bắt giam tại nhà tù Hỏa Lò - Hà Nội, chờ ngày đi đầy viễn xứ. Phạm Quỳnh đã viết bức thư đề ngày  18 -1-1933 gửi Louis Marty, Giám đốc Vụ chính trị phủ Toàn quyền Đông Dương nhờ can thiệp xin khoan hồng giảm án cho anh.


Tiêu đề góc bức thư ghi rõ bằng tiếng Pháp: Palais impérial  Cabinet Civil de Sa Majesté  (Có nghĩa là: Hoàng cung, Ngự tiền Văn phòng) và dòng chữ Hán viết theo chiều dọc: Ngự tiền Văn phòng dụng tiên (nghĩa là: giấy viết thư dùng trong Ngự tiền Văn phòng). Không biết kết quả sự can gián của Phạm Quỳnh đến đâu, nhưng chỉ một việc làm ấy cũng đủ thấy tấm lòng ông trước con người..


6 năm sau, (ngày 15 tháng 2 năm 1939), Phạm Quỳnh còn có một việc làm mà bây giờ ở thế kỷ 21 này, trong hoàn cảnh lịch sử hiện tại của đất nước, chúng ta càng phải đáng trân trọng.


Đó là Tờ tâu trình lên Bảo Đại phê chuẩn tặng huân chương Long Tinh đệ Ngũ đẳng cho đơn vị lính khố xanh lập đồn phòng thủ ở đảo Hoàng Sa.


Tài liệu quan trọng này vừa được  báo Lao Động đưa tin và ảnh ngày 29 -6-2009. Theo đó, ngày 26-6-2009 tại văn phòng UBND Thừa Thiên Huế  nhà nghiên cứu Huế- Phan Thuận An - vừa trao cho Bộ Ngoại giao nước ta  Bản tâu của quan Ngự tiền văn phòng Hoàng đế, Phạm Quỳnh với nhà vua,  để khen thưởng cho những người lính có công bảo vệ chủ quyền đảo Hoàng Sa.


Nguyên văn bản tấu như sau:


"Huế, ngày 27 tháng 12 năm Bảo Đại thứ 13


(15 Février 1939)


Ngự tiền văn phòng kính tâu:


Nay văn phòng chúng tôi có tiếp thơ số 177s-sp, ngày 10 tháng 2 năm 1939 của quý Khâm sứ đại thần thương rằng, ngạch binh thanh khố Trung Kỳ có nhiều công lao trong việc dẹp yên các miền man di dấy loạn và việc lập đồn phòng thủ ở đảo Hoàng Sa, nghĩ nên thưởng Ngũ hạng Long tinh cho hiệu kỳ ngạch ấy và nhờ chúng tôi tâu lên Hoàng đế ban chuẩn. Phí ngân cấp chỉ và thiệt chất huy chương ấy sẽ do ngân sách Trung Kỳ đài thọ. Chúng tôi có phụng nghĩ dạng bản dụ ngữ ban chuẩn huy chương ấy cho ngạch binh thanh khố Trung Kỳ, kính tâu lên Hoàng đế tài định, như mông du doãn, hậu chỉ lục tuân.


Nay kính tâu.


Tổng lý đại thần


 Thần


(Ký tên:Phạm Quỳnh)


Bên lề trái của bản tâu, có chữ”Chuẩn y”và ký tắt hai chữ BĐ(Bảo Đại) bằng mực đỏ của nhà vua triều Nguyễn.


Theo ông Phan Thuận An,Tờ châu bản nói trên được ông tìm thấy tại tủ sách gia đình ở phủ thờ Công chúa Ngọc Sơn ở đường Nguyễn Chí Thanh, thành phố Huế. (Công chúa Ngọc Sơn là con Vua Đồng Khánh, em Vua Khải Định và là cô ruột vua Bảo Đại, là bà nội của vợ ông Phan Thuận An). Phủ thờ Công chúa Ngọc Sơn hiện cũng là nơi sinh sống của gia đình ông Phan Thuận An. Tờ châu bản được viết trên một mặt giấy, có cỡ 21,5x31cm, với nội dung như trên. Có thể nói đó là một tài liệu quý, không chỉ đối với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nước nhà mà đối với chúng ta, có thêm một thông tin để làm rõ tấm lòng ái quốc của Phạm Quỳnh.


Không phải chỉ đến khi làm quan trong triều đình Huế, Phạm Quỳnh mới có những việc làm có tính động trời như vậy.


Thời còn làm Chủ nhiệm kiêm chủ bút tạp chí Nam Phong, ông đã có việc làm gây chấn động trong báo giới. Năm 1925 nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu bị Toà đề hình Hà Nội  xử kết án tử hình. Phạm Quỳnh đã viết bài bằng tiếng Pháp trên báo”Indochine Républicaine”(Đông Dương cộng hoà) để bênh vực Phan Bội Châu”chỉ có một tội là tội yêu nước như bao anh hùng liệt sĩ Pháp chống giặc ngoại xâm”và yêu cầu được khoan hồng. Cùng với  làn sóng đấu tranh trong nước, nhà cầm quyền phải giảm án thành quản thúc Cụ Phan ở Huế, và Cụ  trở thành”Ông già bến Ngự”trong trái tim dân Việt.


Một chuyện khác cũng thể hiện tấm lòng của Phạm Quỳnh  sống rất vị tha. Đó là ngày 7-12-1926, ông đã viết thư gửi thống sứ Bắc kỳ Robin về việc từ chối nhận một khoản trợ cấp của Chính phủ Pháp dành cho mình và xin chuyển món trợ cấp ấy cho một đồng nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính là nhà báo nổi tiếng Nguyễn Vĩnh.


 


Tiêu đề bức thư ghi rõ bằng tiếng Pháp: Revue Nam Phong Directeur- Rédacteur En Chef: Pham Quynh- direction: 5. Rue des Cuirs, Hanoi (Có nghĩa là Tạp chí Nam Phong - Chủ nhiệm kiêm chủ bút: Phạm Quỳnh, địa chỉ: 5 phố Hàng Da, Hà Nội.)


     Năm 1945 tháng 3, sau vụ Nhật đảo chính Pháp, ông không tham gia chính phủ Trần trọng Kim, cũng không chạy theo Pháp, về sống ẩn dật trong biệt thự Hoa Đường, ông dành thời gian dịch những bài thơ Đường tâm đắc nhất.


Tháng sáu năm 1945, nhà báo Nguyễn Vạn An, đại diện nhóm Tri Tân, được cụ Nguyễn Văn Tố, người đồng sự với ông ngày trước ở Trường Viễn Đông bác cổ, giới thiệu đến thăm ông. Sau này, khi viết bài Khi danh vọng về chiều: Tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, ông An có thuật lại những lời ông nói bấy giờ: Hiện thời, tôi phải tĩnh dưỡng trong ít lâu, rồi tôi sẽ trở lại hoạt động cho văn học… Tương lai nước ta sau này là do ở chữ quốc ngữ…Trong một thời gian ra làm quan, tôi tự nhận thấy thâu thái học hỏi thêm được “nhân tình thế thái”rất nhiều. Ngày nay, trở lại nghiệp cũ, có lẽ ngòi bút của tôi sẽ được dồi dào, phong phú hơn xưa…Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học, thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở.”


Theo nhà báo Phạm Tôn, thì lần ấy Phạm Quỳnh đã nói với nhà báo Nguyễn Vạn An  “Trong trường hợp nào, chúng ta cũng phải đặt quốc gia lên trên hết, dù trong địa hạt văn hoá cũng vậy.


            Phạm Quỳnh mất đi là cú sốc với giới trí thức và  bạn bè. Gia đình càng tiếc thương.


27 năm sau ngày Phạm Quỳnh mất, chính quyền Việt Nam cộng hoà đã đặt tên cho một con đường mang tên Phạm Quỳnh. Đường dài 900 mét, rộng 8 mét, nối liền đường Bến Lò gốm với đường Lê Quang Hiển(Quận 6 Sài Gòn).  Sở cảnh sát lưu thông có công văn số 450 / 13-1-1972 gửi tới các cấp để”phổ biến đến thuộc viên am tường tên đường mới, hầu hướng dẫn dân chúng. Riêng phòng Nghiên Kế cho sửa lại tên đường mới trên bản đồ".


Hơn năm chục năm sau khi ông mất, vẫn còn người nhớ và khóc thương. Nhà giáo Nguyễn Phúc Vĩnh Ba ở Huế đã có bài Văn tế Nam Phong chủ bút Phạm Thượng Chi tiên sinh. (Xem ở phần phụ lục)


 


 


CHƯƠNG VII. NHỮNG NGÀY ẨN DẬT


 


Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc với sự kiện phe phát xít Đức-Ý- Nhật đầu hàng vô điều kiện phe Đồng minh. Ở Việt Nam, quân đội và chính quyền thân Nhật tan rã hoang mang tột độ. Nhân dịp ấy, dưới sự lãnh đạo của Việt Minh, nhân dân cả nước vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay người lao động.


 Ngày 23-8 – 1945 tại thành phố Huế, hàng ngàn vạn người dân lao khổ, cùng thợ thuyền, học sinh xuống đường  cầm cờ, vũ khí hô vang khẩu hiệu ủng hộ cuộc khởi nghĩa. Gia đình Phạm Quỳnh hầu hết đều hòa trong khí thế cách mạng của quần chúng, ủng hộ cách mạng. Riêng Phạm Quỳnh và mấy người con gái hôm ấy ở  biệt thự Hoa Đường không ra ngoài.


Từ 9-3-1945 Nhật đảo chính Pháp đến bấy giờ, trong thời gian gần nửa năm trời, Phạm Quỳnh đã xa rời chốn quan trường, về ẩn dật và sống cùng con cháu. Ẩn dật là ở ẩn mà tự vui. Ông chẳng nuối tiếc những tháng năm tuy mang trên người phẩm phục triều đình, mang danh đại thần mà lực bất tòng tâm trước cảnh non sông  bị ngoại bang thao túng.


Trước đó, thấy tình hình trong nước có nhiều biến động, có lần  người em vợ là ông Lê Văn Tốn (Cửu Xuân) gợi ý là: “Lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian. Có thể sang Lào, vì vua Lào mến mộ anh lắm, để tránh những  rắc rối có thể xảy ra”. Người anh rể nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để có cơ giúp nước.”Phạm Quỳnh ở lại và từ quan.


Những ngày tháng từ quan ấy,  ông tập trung vào suy ngẫm sự đời, viết sách và chọn dịch lại thơ Đường, mà chỉ là thơ Đỗ Phủ...Rồi, một nhóm người vào biệt thự, xưng là người của chính quyền cách mạng đến, mời ông đến tòa Khâm để làm việc. Ông bình thản, tự tin, ôn tồn như tính vốn có từ thời còn làm Chủ bút Nam Phong,  từ giã vợ con người thân trong gia đình ra đi. Phạm Quỳnh có bệnh dạ dày,  người con gái đưa cho cha mấy viên  thuốc dự phòng, ông không cầm, nói: “Thầy đi rồi lại về, không cần đâu”. Cũng giữa buổi giao thời, cảnh nhà bối rối, lòng người ngơ ngác  như vậy,  Phạm Thị Ngoạn, con gái thứ 6 của Phạm Quỳnh đã tìm thấy một cuốn sách ngoài bìa có dòng chữ “Kiến văn cảm tưởng- Hoa đường tùy bút I ”. Biết là tài liệu của cha, người con gái đã kín đáo dấu đi, và giữ được cho đến bây giờ trở thành báu vật, một di cảo quan trọng của thân phụ.


            Tập sách ấy có 47 trang là một cuốn vở học trò. Bên trong Phạm Quỳnh đã viết và đánh số 11 bài với những tiêu đề riêng, như: Thế thái nhân tình, Văn học và chính trị, Muốn sống, Con người hiểm độc, Anh chàng khoác lác, Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường..


Đây là mấy dòng trong phần Thế thái nhân tình- Mùa hạ năm 1945: “…Đã để mình trong vòng danh lợi, mới biết rõ những trạng thái ô uế ở đời. Kẻ xu nịnh mình buổi sáng là người phản bội mình buổi chiều…Kẻ tâng bốc mình hôm qua, là người thoá mạ mình hôm nay… Mà kẻ hàm ơn nhiều nhất lại là người quy oán hơn cả. Không kể phần nhiều thời lợi gió theo chiều, thấy không có lợi đến gần nữa, liền linh lỉnh lảng xa ngay...”.


Những dòng chữ ngay ngắn, thẳng thăn, rõ rành, nghiêm cẩn của Phạm Quỳnh như là lời tự sự, những nỗi niềm ông ghìm giữ từ đáy lòng muốn chia sẻ cho người sau. Bìa ghi Kiến văn cảm tưởng- Hoa đường tùy bút I, như thế  có phải chăng ông muốn viết tiếp..nữa?


Mấy chục năm sau khi đã ra nước ngoài, năm 1992 tiến sĩ Phạm Thị Ngoạn, con gái ông mới công bố 10 bài(bỏ một bài Chuyện một đêm một ngày) cho rằng đó là một trang nhật ký, ghi chép không có tính văn học. Riêng bài “Cô Kiều với tôi”chỉ có ba trang viết dở. Đấy là bài thứ 11 và ở chính cái trang dở dang ấy bên trên có một chiếc bút máy nhãn hiệu waterman còn chặn ngang. Bài tùy bút thứ 11 dang dở,  cũng là bài văn cuối cùng của đời ông. Bởi vì sau cái ngày 23-8-1945 ấy, ông ra đi và không trở về nữa! Âu cũng là số phận đã sắp bầy?


Bài viết “Cô Kiều với tôi “coi như một tự sự.  Phạm Quỳnh vô tình hay cố ý chọn những câu thơ thế này:


                                    Người từ lánh gót vườn hoa


                                    Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng


                                    Nhân duyên đâu nữa mà mong


                                    Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thời thôi..


            Đây là bốn câu thơ từ 1925 đến 1928 trong đoạn nói về nàng Kiều bị Hoạn Thư đoạ đày và đưa vào cửa Phật.


            Phạm Quỳnh chép lại mấy câu Kiều như gửi nỗi niềm tâm sự với cuộc đời, với người thân bầu bạn? Hình ảnh nàng Kiều phải chăng có mối giây giàng buộc hai con người với nhau?


Và ông bình luận: Sao mà truyện Kiều có lắm câu thiết tha, thấm thía như vậy! À tưởng giá tự mình than thở cũng than thở như thế mà thôi. Mà bất cứ câu nào đoạn nào; hễ ngẫu nhiên thích hợp là có có cái âm hưởng lạ lùng như thế à”.


Ngay từ khi còn trẻ, đọc truyện Kiều Phạm Quỳnh đã say mê và liên tưởng đến nhân tình. Trong”Tuỳ bút Hoa Đường”, ở bài cuối cùng viết dở, có đoạn, nghe day diết: Hồi tưởng từ thuở nhỏ, mỗi khi nghe đọc một câu thơ Kiều, dù chưa hiểu nghĩa, đã thấy cái âm hưởng lạ lùng nó vang động trong lòng. Rồi từ đó nó văng vẳng luôn bên tai, càng ngày càng tha thiết, thấm thía, có khi âm thầm não ruột như tiếng gọi xa xăm của một âm hồn tri kỷ tự chín suối đưa lên”.


Phạm Quỳnh đề cao truyện Kiều còn một lẽ nữa đó là cuốn tiểu thuyết bằng thơ, mỗi câu đều chan chứa tình đời tình người được diễn tả bằng tiếng Việt, tiếng dân tộc. Ông viết: “Có tiếng mới là nước, có quốc văn mới có quốc gia. Quốc văn ta thời tuyệt phẩm là truyện Kiều, trước sau chỉ có truyện Kiều, may có truyện Kiều, đáng quý vô cùng. Cho nên năm 1924, lần đầu tiên kỷ niệm cụ Tiên Điền, trước hai nghìn người họp ở sân Hội Khai trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn.”


Trong số 11 bài của tập di cảo Kiến văn cảm tưởng - Hoa Đường tuỳ bút 1, có một bài ngắn”Lão Hoa Đường- Thiếu Hoa Đường". Mới nghe không ai hiểu được. Hoá ra Phạm Quỳnh kính trọng và nể phục Phạm Quý Thích tự là Dữ Hạo, hiệu Lập Trai, người Hoa Đường, cố hương của ông, nhưng sinh sống ở phường Báo Thiên, huyện Thọ Xương. 20 tuổi cụ đỗ Tiến sĩ Tam giáp, khoa thi Kỷ Hợi niên hiệu Cảnh Hưng 40(1799) đời vua Lê Hiển tông. Gia Long lên ngôi triệu cụ vào Phú Xuân bổ chức Thị trung học sĩ, tước Thích An hầu, sau cáo quan về nghỉ và mất ở quên nhà. Phạm Quỳnh có viết ra, mới hiểu vì sao ông lấy bút hiệu Hoa Đường: Tôi mộ cái tài danh  học danh tiết. Một bậc tiền bối, lại vừa là một vị chân nho ôn hoà thuần tuý, cũng lạm lấy tên Hoa Đường làm biệt hiệu. Tên cụ là "Lão Hoa Đường", mà cho  mình là "Thiếu Hoa Đường”vậy.


Cùng với việc viết tuỳ bút, thời gian về ẩn dật bên dòng sông Phú Cam, Phạm Quỳnh đã để tâm vào dịch thơ Đường. Ông đã chọn và dịch xong 51 bài thơ của Đỗ Phủ, một ông quan nhà Đường nhưng chán ghét chiến tranh lý tan, lê dân điêu linh, tha hương.


Đỗ Phủ người huyện Củng, tỉnh Hà Nam, là hậu duệ dòng quan lại quý tộc đã  sa sút. Thông minh dĩnh ngộ từ nhỏ nhưng đỗ đạt muộn mằn. Năm 40 tuổi mới làm chức quan nhỏ. Ông là một thi sĩ thiên về tả thực, nghiêng về trường phái nghệ thuật vị nhân sinh. Ông thương đời, thấm thía nỗi đau đời thể nguyện muốn cứu dân khỏi lầm than khốn khổ. Phạm Quỳnh chọn Đỗ Phủ hay là tìm sự đồng điệu của tâm hồn và giãi bầy sẻ chia? Ông dùng thời gian tĩnh lặng ấy mà chép lại chữ Hán, rồi bình chú tỷ mỷ và dịch từng bài, theo kiểu một chọi một. Nghĩa là thơ nguyên tác theo thể ngũ ngôn, thất ngôn, tứ tuyệt, hay bát cú, hay trường thiên Phạm Quỳnh thủy chung giữ nguyên không hề thêm câu thêm chữ. Ông từng trải, lịch lãm thông thuộc sử Tàu, với vốn Hán ngữ tự học, (mà tự học là truyền thống gia đình) ông  đã làm công việc  chuyển ngữ thơ Đỗ Phủ sang tiếng Việt. Âu đó cũng là cách giãi bầy nỗi lòng bấy nay ấp ủ của ông?


Ông làm việc cẩn trọng như thế, rồi gửi cho người bạn văn chương là Đông Hồ Lâm Tấn Phát, trước từng là cộng tác viên thân thiết của Nam Phong, người mở trường Trí Đức học xá chuyên dạy chữ quốc ngữ. Một con người có vốn hiểu biết sâu sắc và một thi sĩ tài năng ấy đã được ông ký thác. Rồi cuộc đời dâu bể tang thương..Đông Hồ mất, bản thảo ấy được thi sĩ Mộng Tuyết, người bạn đời của ông gìn giữ, nâng niu. Trong khi đó ở Pháp, người con gái của Phạm Quỳnh là Phạm Thị Ngoạn làm luận án Tiến sĩ tại Paris năm 1972 với đề tài “Tìm hiểu tạp chí Nam Phong”, vẫn chẳng hề biết gì về sự trôi nổi của tập thơ dịch của cha, vẫn dè dặt viết: “Hình như Phạm Quỳnh có dịch thơ Đỗ Phủ”. Hóa ra, tập dịch viết tay ấy đã chịu số phận lăn trải từ biệt thự Hoa Đường- Huế vào Đồng Nai- Gia Định để tới tay Đông Hồ, và cuối cùng Mộng Tuyết đã trao lại cho Phạm Thị Ngoạn.


Bây giờ đây, di cảo ấy đã xuất hiện với bạn đọc. Qua một tài liệu của gia đình Phạm Tuyên,  chúng tôi đã có được bản sao nguyên chữ Hán viết tay của dịch giả Phạm Quỳnh, để có  thêm một góc nhìn về một nhà báo có hạng, văn sĩ tài danh..Mới hay Vũ Ngọc Phan khi viết Nhà văn hiện đại năm 1942, rất tinh tường nhận định về Phạm Quỳnh thế này: “Ông dịch nhiều đoạn văn vừa có duyên vừa sát nghĩa, đáng làm khuôn mẫu cho những nhà dịch truyện”. Hoặc: “Đọc những đoạn văn trước thuật của ông, người ta phải nhận là đủ giọng: Nhẹ nhàng vào chỗ nhẹ nhàng, có duyên vào chỗ cần có duyên, chua chát cần phải chua chát...”.


Vẫn theo Vũ Ngọc Phan: “Ông đọc Tây để thâu thái lấy tư tưởng, lấy tinh thần văn hóa Âu Tây để bồi bổ cho nền quốc văn còn khiếm khuyết, để chọn lấy cái hay của người mà dung hòa với cái hay của mình, ngõ hầu giữ gìn cho cái học của mình không mất bản sắc mà còn có cơ tiến hóa được”.


“Ít khi người ta thấy dưới ngòi bút ông những bài phù phiếm có giọng tài hoa bay bướm và chỉ có một tính cách thuần túy văn chương...”.


 Phải đặt vào tình cảnh ấy mới thấy cái tài chỉ huy, và sức lôi cuốn của Phạm Quỳnh. Chẳng thế mà văn Vũ Ngọc Phan cũng phải bình phẩm: “Văn ông ai cũng phải nhận là hùng, là dồi dào, thường thường lại có cái giọng thiết tha kêu gọi”.. Đến cái công của Phạm quỳnh đối với quốc dân, thì ai cũng phải nhận là một công lớn..Nam Phong tạp chí rực rỡ như thế cũng vì được người chủ trương là một nhà văn, học vấn uyên bác, lại có biệt tài, có lịch duyệt..


Gần đây Trung tâm văn hoá ngôn ngữ Đông Tây có cuộc giao lưu về con người và tập tiểu luận bằng tiếng Pháp được dịch ra tiếng Việt do Nhà xuất bản Tri thức xuất bản. Cuốn sách này được một nhóm là những  dịch giả, nhà nghiên cứu văn học, như Phạm Toàn, Nguyên Ngọc, Nguyễn Xuân Khánh, Phạm Xuân Nguyên, Ngô Quang Chiến thực hiện. Nguyên là, năm 2000 nhạc sĩ Phạm Tuyên khi sang Pháp thăm chị gái là tiến sĩ văn học Phạm Thị Ngoạn đã mang về tập bản thảo của thân phụ. Đó chính là khởi nguồn của tập sách quý khiến dịch giả Phạm Toàn phải kinh ngạc: “Phạm Quỳnh tiêu biểu cho một trí thức có nền Hán học, Việt Nam học uyên thâm trước khi ông tiếp thu phương Tây học. Tôi kinh ngạc về phương Đông học của ông...”. Trong khi đó Nguyên Ngọc thì khẳng định: “ là người uyên thâm cả Đông lẫn Tây, mỗi tiểu luận của ông đều có giá trị như một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh (..) Con người Phạm Quỳnh là hiện thân của quá trình giáp mặt Đông Tây, đó là số phận phương Đông nói chung và của Việt Nam nói riêng”.


Cũng trong cuộc giao lưu, người ta thấy giáo sư Nhà giáo nhân dân Nguyễn Đình Chú đã thành thực nhận rằng, từ năm 1960 ông đã là một trong những người nhìn nhận Phạm Quỳnh quá bất nhẫn. Sau khoảng thời gian có độ lùi suy nghĩ lại, giáo sư coi “Phạm Quỳnh là người mở đầu cho văn hoá Việt hiện đại. Ông có cả một lý thuyết hẳn hoi về độc lập và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa dân tộc (quốc gia) và nhân loại, thế giới. Đó chính là hạt nhân của lý thuyết hội nhập hiện đại. Nhờ lý thuyết đó, Phạm Quỳnh không bị văn hoá phương Tây áp đảo, ông dõng dạc tuyên bố bằng tiếng Pháp cho người Pháp đọc vào năm 1931: Người An Nam không thể coi nước Pháp là tổ quốc được, vì chúng tôi đã có một tổ quốc”.


Với giám đốc Nhà xuất bản Tri thức, giáo sư Chu Hảo tỏ ra rất tự hào khi xuất bản cuốn sách này, vì đã làm sang trọng cho Nhà xuất bản. Vì nó uyên thâm về học vấn, rất hay về văn chương.Rằng, đây là cuốn sách gối đầu giường về văn hoá nước ta..


Trong khi đó ở Mỹ, tháng 6 năm 2009 vừa rồi đã có một sự kiện đáng chú ý xung quanh Phạm Quỳnh và  Tạp chí Nam Phong.


Cũng vì trân trọng tài năng nhà văn hoá lớn Phạm Quỳnh, Viện Vịêt học(Instittute of Vietnamese Studies, CA. 92683-USA) sau 6 năm hợp tác với gia đình Phạm Quỳnh mà người đại diện gia đình là Phạm Tuân con út của học giả, đã hoàn thành bộ DVD Tạp chí Nam Phong. Ông Phạm Tuân đã đưa cho Viện toàn bộ những số Nam Phong tạp chí mà  gia đình giữ được sau nhiều năm chiến tranh ly tán. Các số tạp chí này có ghi chú, nhận xét của chính học giả Phạm Quỳnh, ngay sau khi báo mới ra, viết bằng bút chì. Những phần quá mục nát, mất mát ông Tuân đã báo cho anh ở Hà Nội là nhạc sĩ Phạm Tuyên, nhờ Viện Văn học Việt Nam bổ sung đầy đủ.


Nghe kể, hơn 50 chuyên gia điện toán, sống rải rác khắp các bang nước Mỹ tình nguyện thực hiện. Bây giờ họ đã thu gọn trong 6 đĩa với các chủ đề sau: Đĩa 1 giới thiệu bộ DVD-ROM có mục lục phân tích tạp chí Nam Phong 1917-1934 của Nguyễn Khắc Xuyên, Trung tâm học liệu Bộ giáo dục Sài Gòn. Tìm hiểu tạp chí Nam Phong 1917-1934, Phạm Trọng Nhân dịch từ Introduction au Nam Phong của Phạm Thị Ngoạn, Ý Việt, Yerres (Pháp) và số tết báo Nam Phong năm 1918, cũng là báo tết đầu tiên của nước ta. Đĩa 2: Từ số 1 đến số 42. Đĩa 3: Từ số 43 đến số 84. Đĩa 4: Từ số 85 đến số 124. Đĩa  5: từ số 125 đến số 163. Đĩa 6: Từ số 164 đến số 210.


Ngày 28-6-2009 hơn một trăm văn nghệ sĩ, nhân sĩ đã tham dự buổi ra mắt công trình này và đầu tháng 9 năm 2009, những DVD toàn bộ 210 số Tạp chí Nam Phong đã có mặt tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Đó là những bản đặc biệt gửi tặng gia đình học giả Phạm Quỳnh ở trong nước.  


                  


(còn tiếp)


Nguồn: Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Tác giả: Khúc Hà Linh. NXB Thanh niên, 2012. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


           

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
Sương Xuân và hoa đào - Vũ Thư Hiên 27.01.2019
Doãn Mẫn - “Biệt ly” mà không biệt ly - Hoài Anh 22.01.2019
Lê Yên - nhạc sỹ thuộc thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam - Hoài Anh 22.01.2019
Dương Thiệu Tước và “Tiếng Xưa” - Hoài Anh 21.01.2019
Phù Dung ơi, vĩnh biệt! (tên cũ là "Cai" -Kỳ cuối) - Vũ Bằng 20.01.2019
Về miền an lành - Triệu Xuân 12.01.2019
Nguyễn Xuân Khoát - Người mở ra buổi “bình minh” của lịch sử tân nhạc - Hoài Anh 11.01.2019
xem thêm »