tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28856940
19.08.2014
Khúc Hà Linh
Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (2)


* Người gieo hạt giống quốc văn


Trước khi làm báo Nam Phong, Phạm Quỳnh đã viết cho Đông Dương tạp chí, một tờ báo sang trọng thời ấy. Khi trở thành chủ bút tờ báo riêng, Phạm Quỳnh vẫn không dời công việc sáng tạo. Ông viết nhiều thể loại, với các  bút danh khác nhau.


Nói về Phạm Quỳnh chủ bút Nam Phong, giáo sư Huệ Chi cho rằng”Ông có thiên hướng thích loại văn chương nghị luận hơn là văn chương cảm hứng”. Quả thế, là người biên khảo, Phạm Quỳnh lần đầu tiên cho người đọc nước ta có khái niệm bước đầu về mỹ học nói chung cũng như về thơ và tiểu thuyết nói riêng. Huệ Chi còn xác nhận “ông  là người rèn luyện câu văn quốc ngữ sao cho kịp trình độ văn chương quốc tế, diễn đạt những phạm trù trừu tượng, như tư tưởng, tâm lý, triết học...”. Có lẽ vì thế có người nhận xét ông có dáng một học giả, nhà văn hoá hơn nhà văn. Thế nhưng văn Phạm Quỳnh đầy chất suy tư, bộc lộ nhân sinh, tư tưởng và quan điểm về văn hoá. Ông muốn sống dung hoà cả trên thực tại và chữ nghĩa văn chương. Phạm Quỳnh không ít lần nói ý rằng nếu một dân tộc mới có thì tây hoá cũng được. Nhưng đằng này dân tộc Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì lên đó cũng được. Nghĩa là vẫn kiên trì bảo vệ quan điểm giữ gìn bản sắc dân tộc, để không bị đồng hóa hoàn toàn.


Có người tỉ mỉ  cho rằng Phạm Quỳnh viết khá tạp, nghĩa là  không có công trình to tát, đồ sộ và thuần nhất như người khác. Chúng tôi lại nghĩ rằng nếu có, thì Tạp ở đây phải hiểu là sự phong phú đa dạng, chứ không phải tạp chất hỗn độn. Vì thế khi tổng hợp hàng nghìn bài viết, rồi phân loại như kiểu phân ra thể loại ngày nay, người ta thấy giật mình bởi những vấn đề ông nêu ra bình phẩm, bàn thảo quá xúc tích đến mức uyên bác.


Với quan niệm như thế, quả là Phạm Quỳnh viết có tạp. Ông viết tất cả các vấn đề mà ông biết, ông quan tâm. Ông dịch thuật, truyền bá tinh hoa tư tưởng dân chủ tư sản phương Tây, đồng thời giới thiệu di sản tinh thần của ông cha phiên âm ra tiếng Việt trong kho sách của Trường Viễn đông bác cổ. Ông nghiên cứu truyện Kiều, nghiên cứu  về văn hoá, giáo dục. Từ chuyện sức khoẻ con người, đến cái ăn cái mặc, đến chuyện thi cử học hành từ trong nước ra ngoài nước. Ông viết từ lịch sử nghề diễn kịch nước Pháp, bàn về hí kịch của Môlie, đến triết học Auguste Comte, triết học Bergson. Ông chọn và dịch ra Việt ngữ 132 câu  cách ngôn của vua La mã Marc - Eurele (121 – 181) sau đức Gia Tô giáng sinh. Ông đã chọn lọc một cách có chủ ý rồi dịch những câu cách ngôn không chỉ cho mình mà là cho bạn đọc suy ngẫm. Nói cách khác ông đang truyền bá những tư tưởng hay của văn hoá phương tây cho người Việt Nam. Chẳng hạn  như câu số 1: “Cái gì hợp lẽ trời đất là hợp cho ta. Cái thuận với trật tự thiên nhiên thời đối với ta không có thể sớm quá hay muộn quá được. Thời tiết thay đổi, vật gì cũng là thời trân (vật sản quý báu trong một mùa- KHL chú) cho ta cả. Ôi thiên nhiên, hết thảy đều tự thiên nhiên mà ra, hết thảy đều    thiên nhiên mà có, hết thảy đều quy nạp về thiên nhiên”.


Đây là câu 41: Xét sự vật nên xét từ nội dung; vật nào có giá trị chân chính của vật ấy, đừng có xét lầm.


Phải chăng chọn câu này  là Phạm Quỳnh có ý nhắc khéo những người đã đánh giá ông một cách vội vàng chủ quan, không chịu xét tới nội dung công việc của ông đang hết lòng phụng sự quốc gia dân tộc bằng cách của riêng mình? Phạm Quỳnh có quan niệm sống rõ ràng rành mạch và hướng thiện. Dịch những áng văn từ văn hoá phương Tây, đâu chỉ cho mình, mà cho cả nhân quần chiêm nghiệm”Sống ở đời đừng nên tưởng như mình sống được trăm năm nghìn năm gì. Phải nên biết cái chết không thể tránh được, nó vẫn chờ đợi mình ở đầu đường nọ. Vậy trong khi sống trong khi đương có thể được, nên cố mà làm người lương thiện- câu thứ 16- sdd". Còn đây là câu thứ 42 thì thật là thâm thuý: “ Không có cách gì báo thù những kẻ làm ác với mình diệu kỳ bằng cách này: là đừng giống họ!


Phẩm cách người quân tử là ở chỗ ấy!. Chúng tôi cho rằng ngay cả khi trích dịch châm ngôn nước ngoài, ông cũng có ý thức  tài bồi  ngôn ngữ và đạo đức cho con người


Phạm Quỳnh  bàn đến cả những tác phẩm cụ thể của từng văn nhân. Khi  tác phẩm “Giấc mộng con”của thi sĩ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu ra mắt bạn đọc, ông đã dành thì giờ để đọc và nêu ý kiến của mình. Cả khi ông chê bạn cũng với tấm lòng trung thực, thành tâm chứ không bốc thơm hoặc dìm bạn của mình. Ông viết: “Chê ông lần này, mong rằng lại có dịp khen ông, khen bấy giờ càng có giá trị… Tôi rất là hi vọng  cho ông, nhưng tôi khuyên ông đừng nên mộng mị nữa:


                 Xưa nay mộng ảo cứ đâu


                 Bỗng không mua não chác sầu, nghĩ nao!”


                 (Nam Phong số 144- Novembre 1929 )


Ông bàn luận từ một nhà văn hào Pháp Anatole France cho đến  sự dùng chữ nho trong văn quốc ngữ(Nam Phong số 20, tháng 2 năm 1919) bằng lý luận   sắc sảo. Ông viết” Quốc văn do Hán văn mà ra, không thể bỏ chữ Hán mà không dùng được, cũng không dời khuôn phép của Hán văn mà thành lập được…Xét cho cùng, bấy nhiêu cái chỉ do một cớ như sau này: là trong nước ta chưa có một nền quốc dân giáo dục, nghĩa là cái giáo dục chung cho cả dân trong nước, ai cũng phải qua đấy rôì mới lên các bậc khác, qua đấy rồi tất thông thuộc tiếng nước mình, biết làm văn bằng lời mình, hiểu các lẽ cương thường luân lý của tổ tiên, tỏ các công nghiệp lớn lao của đời trước, nghĩa là trước nhất đủ cái tư cách làm dân, bấy giờ mới ra học các tiếng nước ngoài và thâu nhập lấy những điều hay lẽ phải mình chưa biết.”Rồi  Phạm Quỳnh kết luận”Tôi đây cũng là nhiệt thành thương tiếng nước nhà, lâu nay đã tự nguyện hi sinh một đời để gây dựng cho cái tiếng ấy thành văn chương, cho nước ta có một nền quốc văn đứng riêng được một cõi, cho người mình khỏi phải cái cực đi học mướn, viết nhờ!”


 Phạm Quỳnh có tấm lòng ưu thời mẫn thế, kiểu của một trí thức xuất thân từ dòng tộc nho gia. Những năm gần về cuối trong cuộc đời làm tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh càng chín chắn với độ nhìn của người trí thức trước nền quốc học nước nhà. Khi đã vào tuổi 40, độ tuổi tứ thập nhi bất hoặc- không còn gì phải nghi ngờ giữa cuộc đời- trong tạp chí số 163 năm  1931, ông đã thẳng thắn viết ra những gì tâm đắc nhất, những câu chữ như có máu thịt của mình, với nhận định về nền quốc học nước nhà: “Nước Nam ta mấy mươi thế kỷ theo học nước Tàu, chỉ mới là một học trò khá, chưa hề thấy dám thoát cửa thầy mà lập nên môn hộ riêng…Anh hùng ta có, liệt nữ ta có, danh sĩ cao tăng ta cũng có, nhưng trong cõi học nước ta, cổ kim chưa có người nào có tài sáng khởi, phát minh ra những tư tưởng mới, thiết lập ra những học thuyết mới, đủ có cái vẻ một “nhà”đối với “nhà”khác như bách gia chư tử bên Tàu ngày xưa…Ta học của Tàu mà chỉ học thuần về một phương diện cử nghiệp, là cái học thô thiển, không có giá trị về nghĩa lý tinh thần cả. Mài miệt về một đường đó trong mấy mươi đời, thành ra cái óc tê liệt đi mà không sản xuất ra được tư tưởng gì mới lạ. Nói như thế không phải bội bạc với tiền nhân(..). Ta vẫn có nước, nước ta vẫn có tiếng là ham học, nhưng cả nước ta ví như một cái trường học lớn, cả năm thầy trò chỉ cùng nhau ôn lại mấy quyển giáo khoa cũ, hết năm này đến năm khác, già đời vẫn không khỏi cái tư cách làm học trò!”.


Đọc đoạn văn này, chúng ta có thể liên tưởng như là một nhà quản lý giáo dục, xã hội vừa nói ở một hội nghị khoa học giáo dục gần mới đây, chứ không phải từ những thập niên đầu thế kỷ trước.


Hoá ra vấn đề giáo dục, vấn đề học tập để vươn lên sánh vai cùng năm châu, bốn bể..Phạm Quỳnh đã ý thức và gióng hồi chuông từ khi đó. Nhưng ý tưởng ấy, bị đương thời cho là xa lạ, nên không được chấp nhận, thậm chí còn coi ông là kẻ thù, ông vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của sĩ phu cho rằng ông lái vấn đề sang một sự mơ hồ…


Sự kiện năm 1924, suy tôn Truyện Kiều với câu nói bất hủ Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, Tiếng ta còn, nước ta còn, Phạm Quỳnh đã gặp phải  búa rìu dư luận nặng nề. Các chí sĩ Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng gọi ông là kẻ gieo rắc tà thuyết, Phan Khôi, cây bút chính luận chủ yếu của Phụ Nữ tân văn sau này gọi ông là học phiệt và lên tiếng cảnh cáo. Nhưng, chính bạn đọc của báo này vẫn tỏ ra công bằng, ghi nhận những đóng góp của ông trong sự nghiệp canh tân văn hóa.


            Báo Phụ Nữ tân văn ra đời ngày 2 tháng 5 năm 1929. Kỷ niệm một năm chẵn, họ tổ chức một cuộc thi mà báo gọi là cùng chung vui với độc giả. Họ nêu ra đề thi gồm ba phần, trong đó có một  câu hỏi xem như “trưng cầu ý kiến”độc giả. Câu hỏi ấy như sau:


“Nếu có cuộc tuyển cử 10 vị Việt Nam Nhân dân đại biểu, mà những vị kể tên sau nầy ra ứng cử,  thì quý độc giả sẽ cử những vị nào.?


 


1- Nguyễn Hữu Bài, Thủ tướng Nam triều


2- Bạch Thái Bưởi, Chủ hãng tàu và mỏ than.


3- Bùi Quang Chiêu, Lãnh tụ đảng Lập hiến


4- Vương Tứ Đại, Thượng thư Lễ bộ


5 –Dương Văn Giáo, Trạng sư


6 –Huỳnh Thúc Kháng, Chủ báo Tiếng Dân


7 – Trần Trọng Kim, Thanh tra sơ học


8 – Diệp Văn Kỳ, Nhà làm báo


9 – Lưu Văn Lang, Kỹ sư Sở tạo tác


10 –Nguyễn Phan Long, Chủ báo Đuốc nhà Nam


11 –Lê Quang Liêm, Hội đồng Quản hạt


12 –Hoàng Trọng Phu, Tổng đốc Hà Đông


13 –Phạm Quỳnh, Chủ báo Nam Phong


14 –Nguyễn Hữu Thu, Phó nghị trưởng kinh tế hội nghị


15 –Nguyễn Trác, Nghị trưởng ND đại biểu viện Trung Kỳ


16 –Nguyễn Bá Trác, Bố chính tỉnh Bình Định


17 –Trần Trinh Trạch, Điền chủ ở Bạc Liêu


18 –Lê Quang Trinh, Y khoa Tấn sĩ


19 –Phan Văn Trường, Luật khoa Tấn sĩ


20 –Nguyễn Văn Vĩnh, Chủ báo Trung Bắc tân văn


 


Vì các vị ấy đều là người có danh trong xã hội cho nên bản báo có ý tôn mà đem ra, chứ không phải lấy danh hiệu của những bực hữu danh mà làm trò du hí đâu. Bản báo không theo đảng phái nào hết, cho nên mới chọn lựa 20 vị ở trên, là người thuộc về đủ các chức nghiệp, để chất vấn lòng khuynh hướng của các độc giả đối với các vị ấy ra sao. Nói tóm lại, bản báo tưởng tượng ra cuộc tuyển cử ấy là do ở thành tâm, xin các vị có phương danh trong ban ứng cử kia, cùng các độc giả biết cho.


Cách tuyển cử thì quý độc giả phải làm như vầy:


Phải sắp thứ tự theo ý mình muốn, như ông X xứng đáng hơn hết thì sắp đứng số 1, ông Z xứng đáng thứ nhì thì biên vào số 2; biên như vậy cho đủ số 10 vị”


Với cách làm việc trung thực và cẩn trọng, các ủy viên của Báo Phụ nữ tân văn ngày ấy đã công bố, kết quả cuộc trưng cầu ý kiến, có mười vị  trúng tuyển, trong số này có ông chủ bút tạp chí Nam Phong Phạm Quỳnh:


1. Phan Văn Trường               1133 phiếu


2. Huỳnh Thúc Kháng            1062 -


3. Nguyễn Phan Long             1057-


4. Diệp Văn Kỳ                       986 -


5. Lưu Văn Lang                     910 -


6. Bùi Quang Chiêu                885 -


7. Trần Trọng Kim                  794 -


8. Dương Văn Giáo                 788 -


9. Trần Trinh Bạch                  671 -


10. Phạm Quỳnh                      667 -


 


 


* Nhà báo có hạng, văn sĩ tài danh.


Chỉ tính thời gian 16 năm làm chủ bút Nam phong tạp chí và Tổng thư ký Hội khai trí tiến đức,  Phạm Quỳnh đã gây những làn sóng mạnh mẽ trong tư tưởng và phán xét của người đương thời đầy nghiệt ngã! Mặc dù cho đến nay hơn sáu chục năm qua đã có nhiều  tài liệu viết về ông, dù có những bất đồng ý kiến, nhưng tất cả đều ghi nhận, Phạm Quỳnh là người thông tuệ, am tường cả Hán văn, Pháp văn, và chữ quốc ngữ. Ông tiên phong trong quảng bá chữ quốc ngữ và dùng tiếng Việt, thay chữ nho và chữ Pháp để viết lý luận, nghiên cứu. Ông biết tiếp thu những cái tốt đẹp của báo chí phương tây, báo chí Trung Hoa nhưng vẫn giữ được cốt cách văn chương dân tộc. Ông là người chiến đấu không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên phạm vi cả nước; chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ nghĩa quốc gia với thuyết quân chủ lập hiến.


Trong “Phê bình và cảo luận",  Thiếu Sơn (Lê Sĩ Quý) đã phẩm bình: “Ông là một nhà hiếu cổ thủ cựu, xuất thân ở tây học mà lại ưa đạo lý Khổng Mạnh, cái triết lý lãng mạn của Lão trang, cái thi vị của ca dao nơi thôn dã, cái êm đềm của nền văn hoá cũ nước nhà. Ông cho những cái đó là cái gia sản về tinh thần của tiền nhân để lại, ta phải phát huy nó ra, giữ lấy nó làm căn bản cho cái văn minh nước nhà"


Ngay từ 1913 khi 21 tuổi, Phạm Quỳnh đã viết hàng loạt bài trên Đông Dương tạp chí  và được giới học giả đương thời đánh giá là nhà báo có hạng, văn sĩ tài danh. Đến năm 1917 Phạm Quỳnh đi hẳn vào lĩnh vực văn chương báo chí. Từ năm 1924, dù có làm giảng viên Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France-Indochine … nhưng Phạm Quỳnh vẫn xông xáo trực tiếp viết báo, viết sách. Ông dịch thuật, khảo cứu. Ông chắt lọc tinh dân tộc và tiếp thu cái văn minh của phương Tây và đặc biệt đi tiên phong trong thể du ký sinh động, sâu sắc. Đọc lại những bài ký ấy đã cách đây trên dưới chín chục năm nhưng vẫn còn hấp dẫn. Bởi những trang văn không chỉ đầy ắp tính chân thực bộn bề chất liệu đời sống mà ngôn ngữ miêu tả uyển chuyển, phong phú giàu chất suy tư, cùng những quan sát tả cảnh thiên nhiên, khác xa lối văn trước đó khô cứng, khuôn phép lối biền ngẫu. Ông đi về  vùng đất phương nam, mỡ màu đang sinh thành.. lấy tư liệu viết bài và bình phẩm: Một tháng ở Nam Kỳ. Ông vào kinh đô Huế để viết 10 ngày ở Huế. Ông lên Cao Bằng, Lạng Sơn ghi chép cuộc sống vùng biên viễn rừng núi, tràn ngập vẻ đẹp và phong tục nhân gian…Có khi đi thăm đất phật để rồi cho ra đời tác phẩm Trảy chùa Hương và với đôi mắt tinh tế, nhạy bén luôn phát hiện cái mới, ông có những nhận xét thật sắc sảo. Nhưng câu chữ dùng từ thế kỷ trước, đậm đặc tính tân văn đến thời nay đọc lại vẫn mới. Ông phát hiện ra mặt trái của những nét sinh hoạt trong hành lễ và cảnh báo, bình luận”Người ta đối với thánh thần chẳng khác gì lũ dân ngu xử với bọn quan tham, tưởng cứ lễ lót nhiều là được ơn huệ to”. Sau khi đi Pháp về ông có chùm bài Pháp du hành trình nhật ký v.v.đăng tải trên tạp chí gây ấn tượng lạ lẫm cho người trong nước. Bằng cách vừa kể, vừa tả có xen vào những đoạn bình luận sắc bén, những bài du ký của Phạm Quỳnh đã tạo ra một sự hấp dẫn, mới lạ trong đời sống văn chương thời bấy giờ.


 


            * Tiếng mẹ đẻ và Truyện Kiều


            Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng từ nhỏ, Phạm Quỳnh đã sống trong vòng tay yêu thương của bà nội, rồi khi trưởng thành sống giữa tình yêu của người vợ trẻ gốc nông dân có năng khiếu văn chương bình dân, được nghe nhiều chuyện cổ tích,, dân gian, ca dao tục ngữ, lời ăn tiếng nói dân quê, nên Phạm Quỳnh ngấm dần cái vẻ đẹp nét hay của ngữ ngôn dân tộc.


Ngày 21 tháng 4 năm 1921 Hội khai trí tiến đức đã tổ chức một cuộc sinh hoạt tại trụ sở Hội phố Hàng Trống.  Phạm Quỳnh đã diễn thuyết về tiếng Việt gây xúc động cử toạ- một điều từ xưa chưa từng có. Ông nói: “Dù học tây hay tầu, ta chớ bỏ tiếng Việt là cái tiếng từ lọt lòng ra đã nói. Và đến khi chết vẫn nói. Ta nên nhớ tới câu “Ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Với sự uyên thâm trải nghiệm cuộc đời, ông đặt câu hỏi rồi tự trả lời: “Hàng ngàn năm qua người nông dân không biết chữ, vậy họ lấy gì để tả nỗi lòng? Đó là quốc âm, tục ngữ, ca dao, phong dao, là văn chương truyền khẩu. Chình nhớ có tiếng Việt ấy họ mới tìm thấy  tình yêu, mới có chuyện ân ái vợ chồng, mới có cảnh âu yếm lứa đôi. “


Năm 1932, tức  hơn chục năm sau, ông cho xuất bản cuốn Tục ngữ ca dao thành sách ở Nam Phong tùng thư, mà ông là chủ biên. Điều này Phạm Tuyên từng kể rằng đại bộ phận nhờ có người mẹ thông minh, nhớ lại đọc ra cho người cha của mình biên khảo. 


Năm 1922, tròn ba chục tuổi, Phạm Quỳnh sang Pháp dự  Hội chợ triển lãm Marseille với tư cách Tổng thư ký Hội khai trí tiến đức. Ông có bài diễn thuyết rất nổi tiếng trước Ban luận lý chính trị Viện hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục. Đứng trước các trí thức thượng lưu Pháp, Phạm Quỳnh trong bộ quốc phục, khăn đóng rất tự tin bước lên khán đài. Phạm Quỳnh đã làm rạng danh quốc thể qua  lòng tự tôn tiếng mẹ đẻ. Thực dân Pháp tuyên truyền rằng dân Việt Nam nhược tiểu, ngu muội, tiếng ta là thứ tiếng thấp hèn, văn hoá Việt Nam nghèo nàn. Ông chẳng e dè, nói giọng đanh thép:


           Dân tộc Việt Nam không thể là một thứ giấy trắng. Chúng tôi là quyển sách dầy đầy chữ viết băng thứ mực không phai, từ mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới, cho phù hợp thời trang, nhưng không thể mang một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là làm thế nào để tiếp nhận học thuật cao thượng mà không bị mất giống, không còn quốc tính, biến thành một dân tộc vô hồn.”


Sang năm 1924 Hội khai trí tiến đức tổ chức kỷ niệm ngày mất của thi hào Nguyễn Du, Phạm Quỳnh đã có bài diễn văn thật đặc sắc, trong đó có đôi câu đối:


            * Trăm năm để tấm lòng, còn nước còn non, còn truyền cổ lục


            * Tấc thành dâng một lễ, nhớ người nhớ cảnh, nhớ buổi hôm nay.


            Thấm nhuần giá trị văn hoá Việt Nam, ông coi trọng truyện Kiều và coi là quốc bảo. Tôn vinh ngôn ngữ nước nhà, ông nói “Truyện Kiều là cái văn tự của giống Việt Nam ta đã “trước bạ”với non sông dân tộc. Thế kỷ mới rồi mới có một “đấng quốc sĩ”vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế rỏ máu làm mực viết trên một thiên văn khê tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được đích đáng làm chủ cõi sơn hà gấm vóc. Quốc sĩ ấy là Nguyễn Du, thiên văn tuyệt bút ấy là Truyện Kiều, nó kết tinh từ giọt máu, giọt lệ mà ra…”.


Với Phạm Quỳnh, truyện Kiều có giá trị xã hội cao hơn cả những tác phẩm vĩ đại của nền văn học Pháp. Ông cho rằng, chẳng có tác phẩm nào của văn học Pháp, lại có tính phổ thông trong đời sống cộng đồng như truyện Kiều ở Việt Nam. Ông viết: Từ người bình dân có kiến thức thô thiển, đến bậc thượng lưu trí thức, khi ngâm ngợi truyện Kiều đều thấy khoái trí, vui tai, tỉnh hồn, sướng miệng.


Và kết thúc diễn văn, ông đã xuất thần một câu bất hủ: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn.


Phạm Quỳnh giống như một loại hoa xương rồng có gai. Người thích thì ngợi ca mang về đặt vào vị trí trân trọng thưởng lãm. Kẻ chê gai góc, ai vô ý có thể gây chảy máu xước da. Tài năng, nhiệt tâm suốt đời đi theo lý tưởng nhân văn, nhưng ông lại chịu nhiều búa rìu dư luận. Những cuộc tranh luận, phẩm bình về ông  trái ngược nhau như hai mảng tối sáng trong một bức tranh thuỷ mặc.


Là một nhà báo tây học, thức thời không chịu cổ hủ, ông thích cái mới, xô đẩy cái cũ. Không ít lần ông tỏ thái độ tôn trọng văn hoá Pháp, và không ít lần dùng từ “nước mẹ Pháp “khi hành văn. Ấy là lúc đơn thuần ông nghiêng về khía cạnh công lao khai hoá của Pháp. Nhưng nhìn thật công tâm lật đi lật lại các mặt thì nó cũng chỉ là ý nghĩa giao lưu, mối quan hệ các nền văn hoá mà thôi.


Có phải vì thế chăng mà có người phê phán ông là tên tay sai phản động, ôm chân Pháp ; có người khen ông là nhà báo có hạng, văn sĩ tài danh. Ngay từ năm 1933, nghĩa là chỉ sau một năm ông thôi chèo lái con thuyền tạp chí Nam Phong, thì trong cuốn “Phê bình và cảo luận”, Thiếu Sơn đã ghi công cho Phạm Quỳnh: ”Những công trình về văn học, triết học của Âu châu và nhất là của nước Pháp, ông diễn dịch ra quốc văn rất nhiều, mà dịch thật đúng thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý của tác giả, lại vừa lựa theo cái giọng điệu của quốc văn...”. Đồng thời, từ năm 1941, Phạm Quỳnh từng được giáo sư Dương quảng Hàm đưa vào một chương trong sách Việt Nam văn học sử yếu trong phần chương trình dành cho năm thứ ba Ban Trung học Việt Nam. Giáo sư Dương đã đánh giá rất công bằng khi ông viết: “Cả cái văn nghiệp của ông Phạm Quỳnh đều xuất hiện trên tạp chí Nam Phong, tạp chí ấy trong một thời kỳ, đã thành được một cơ quan chung cho các học giả cùng theo đuổi một chủ đích với ông…”. Rồi với con mắt sắc sảo đầy khám phá, Dương Quảng Hàm đã so sánh cặp bài trùng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh thế này: “Ông Vĩnh có công diễn dịch những tiểu thuyết và kịch bản của Âu Tây và phát biểu những cái hay trong tiếng Nam ra; ông Quỳnh thì có công dịch thuật các học thuyết tư tưởng của Thái Tây và luyện cho tiếng Nam có thể diễn đạt được các ý tưởng mới… Ông Vĩnh hay khảo cứu những phong tục tín ngưỡng của dân chúng, mà ông Quỳnh thường nghiên cứu đến chế độ, văn chương của tiền nhân. Văn ông Vĩnh có tính cách giản dị của một nhà văn bình dân, văn ông Quỳnh có tính cách trang nghiêm của một học giả”.


            Về nhận định ấy, Dương Quảng Hàm thực là tinh tế và sâu sắc! Không chỉ trong học thuật mà tính cách, nét sinh hoạt giữa đời thường của hai người cũng khác nhau, mặc dù họ từng rất thương quý nhau. 


Phạm Quỳnh  sống  giản dị, không phô trương hình thức và thế lực.  Giáo sư Phạm Thế Ngũ có lần đã trích hai đoạn phóng sự của Đào Hùng đăng trên Phụ Nữ Tân Văn ngày 18 - 6 -1931 và ngày 16 - 7 -1931 để so sánh hai phong cách sống và làm việc của hai người:


 “Hai căn phố lầu rộng lớn ở ngay đầu con đường Hàng Da, giữa có cổng sắt làm lối ra vào, qua phía tay mặt thì thấy tấm bảng có đề hai chữ Nam Phong bằng Hán tự, đó là nơi toà soạn báo Nam Phong; còn qua bên tay trái thấy có bóng đàn bà con nít - tức nhà riêng của ông chủ nhiệm Phạm Quỳnh…Buổi chúng tôi đến thăm thì tiên sinh tuy trong người khó ở nhưng ngài cũng gắng gượng khăn áo chỉnh tề ngồi tiếp chuyện chúng tôi trong hai giờ đồng hồ. Phạm tiên sinh tuổi ngoài 40, vóc vạc ốm o, dáng người hoà nhã, ăn nói cử chỉ mỗi điều đều có ý tứ giữ gìn, tỏ ra một người đã có công luyện tập tính nết cũng như câu văn theo cái khuôn khổ mực thước riêng. Sau đôi mắt kiếng, cặp mắt vui vẻ pha với nụ cười luôn trên miệng đã làm cho mất cái vẻ kiêu căng tự cao mà thông thường người ta vẫn có ý trách tiên sinh…”,


Đoạn này kể về Nguyễn Vĩnh: “Tầng trên lầu là toà soạn báo Trung Bắc Tân văn, Học báo và L’Annam Nouveau, người làm đông đúc, tiếng máy chữ rền tai, rõ là một nơi công việc bộn bề khác với cảnh tịch mịch trong toà soạn báo Nam Phong của Phạm Quỳnh. Thấy cảnh đủ biết tính người khác nhau như đen với trắng, bên ưa hoạt động, bên thú êm đềm. Vậy thì hai bên không hợp tác được với nhau cũng không lấy chi làm lạ và người xướng lên vấn đề lập hiến người tán dương trực trị cũng là lẽ thường… Nguyễn Văn Vĩnh tiên sinh đang ngồi nơi bàn giấy đọc các thư từ thì chúng tôi vào thăm. Tiên sinh năm nay tuổi đã ngũ tuần mà người coi sức lực mạnh mẽ lắm. Diện mạo khôi ngô, đôi mắt long lanh, cử chỉ tự nhiên, nói cười vui vẻ…”


Học giả Phạm Quỳnh trong con mắt của Vũ Ngọc Phan- tác giả cuốn Nhà văn hiện đại xúât bản năm 1942 - là một người tài năng siêu việt. Vũ Ngọc Phan  đã dành cho Phạm Quỳnh hơn ba mươi trang sách với những lời ca ngợi: “Một điều mà người đọc nhận thấy trước nhất trong những bài biên tập và trước thuật của ông là ông không cẩu thả… Phạm Quỳnh là một nhà văn có thể bàn luận một cách vững vàng và sáng suốt bất cứ về một vấn đề gì, từ thơ văn cho đến triết lý, đạo giáo, cho đến chính trị, xã hội, không một vấn đề nào là ông không tham khảo tường tận trước khi đem bàn trên mặt giấy. Trong lịch sử văn học hiện đại, người ta sẽ không thể nào quên được tạp chí Nam Phong, vì nếu ai đọc toàn bộ tạp chí này, cũng phải nhận là rất đầy đủ, có thể giúp cho người học giả một phần to tát trong việc soạn một bộ bách khoa toàn thư bằng quốc văn”. Vũ Ngọc Phan khi đánh giá về văn khảo cứu của ông đã coi ông  là”một người có cái học vừa sâu sắc vừa quảng bác”.


Tạp chí Nam Phong là một phần đời của Phạm Quỳnh, và Phạm Quỳnh có mối quan hệ máu thịt với Nam Phong tạp chí từ khi nó ra đời cho đến khi ông vào Huế làm quan. Quan điểm, việc làm của ông về văn hóa, chính trị cũng đều được phô bày trên tạp chí. Nó không chỉ biểu hiện ở nội dung thâm thuý mà còn trực diện ra hình thức. Bạn đọc thời ấy còn nhớ rõ dưới tên Nam Phong có ghi một dòng chữ Pháp L’information française (thông tin Pháp).


Có người suy luận cực đoan cho rằng: tờ báo này do người Pháp lập ra chủ yếu phục vụ cho chính sách cai trị của người Pháp?


Cần phải xem tất cả 210 số tạp chí, trải qua 15 năm (tính đến khi Phạm Quỳnh thôi chức Chủ nhiệm) và hàng nghìn bài báo, đủ các loại thể loại khảo cứu, bình luận, du ký …mới thấy có phải tờ Nam Phong chỉ là công cụ tuyên truyền cho chính sách thực dân hay không?!


 


*Tháp  đa diện- Phạm Quỳnh


Cần mẫn, trân trọng thời gian, Phạm Quỳnh đã nắn nót nâng niu những ý tưởng của vua La Mã để tự răn mình”Thời gian ví như một con sông, mọi vật ví như một cái thác cuồn cuộn chảy. Vừa mới nhác trông thấy một vậy, thời nó đã bị cuốn trôi rồi; vật khác lại đến, lại sắp bị trôi đi nốt"…


Cũng nhờ đam mê tận tụy làm việc, Phạm Quỳnh đã để lại một sự nghiệp văn hóa đồ sộ. Tạp chí Nam Phong ra trong 17 năm được 210 số, riêng Phạm Quỳnh viết có tới vạn trang.  Ông trở thành một nhà ngôn luận có khả năng bàn một cách rành mạch và có sức thuyết phục về nhiều mặt. Một loạt bài biên dịch, khảo cứu, du ký có giá trị của ông thuộc về sau đã được sắp xếp lại để in thành sách trong bộ Nam Phong tùng thư. Riêng bộ Thượng Chi văn tập gồm năm quyển chỉ là một phần nhỏ được chọn lọc từ hàng trăm bài báo viết ra trong giai đoạn đầu Nam Phong (1917-1922), hầu hết có liên quan đến các vấn đề văn hóa, ngôn ngữ, văn học, giáo dục, chính trị, kinh tế, triết học…mà bây giờ đọc lại vẫn còn có nhiều điều bổ ích.


Cuộc đời Phạm Quỳnh có những phần được ánh sáng rọi vào và có phần nằm trong  góc khuất. Có thể ví như một toà tháp đa diện toạ lạc giữa không gian. Nếu thiếu đi phương pháp nhìn bao quát tổng thể tất tạo ra những nhận xét trái chiều nhau. Một quãng thời gian dài,  ông bị mờ nhạt  vào dĩ vãng vì những lý do tế nhị của lịch sử. Tên tuổi ông không được nhắc tới trong chương trình văn học của nhà trường. Nếu có nhắc đến cũng chỉ vài dòng nhận xét cực đoan. Quyển Từ điển Văn học bộ cũ của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1983 của thế kỷ trước cũng không thấy có mục tên ông. Mãi đến năm 2000, sau khi đã có độ lùi xa, nhìn lại một cách trầm tĩnh hơn về quá khứ, tên Phạm Quỳnh mới được nêu thành mục từ trong quyển Từ điển Nhân vật lịch sử Việt Nam của Nhà xuất bản Giáo Dục.


Có nhiều quan điểm, phẩm bình về Phạm Quỳnh, nhưng phổ quát nhất  người ta có mấy hướng nhìn khác nhau. Một xu hướng phủ nhận thành tựu và cống hiến mà suốt đời ông theo đuổi.


Nhóm khác trong  đó có Vương Trí Nhàn, Nguyễn  Trần Huân, và Xuân Ba thì cho rằng Phạm Quỳnh chiết trung, chiêu tuyết, có phẩm cách yêu nước kiểu Phạm Quỳnh.


Nguyễn Trần Huân viết: “Sự xoay sở tế nhị của Phạm Quỳnh để dung hoà đôi bên (tức Việt-Pháp, KHL chú) rút cuộc có lợi cho Việt Nam. ….Đó là một sự xấu xa cần thiết tương đối bé nhỏ so với những công lao to tát mà tạp chí đã làm cho tiếng Việt…. Nhóm Phạm Quỳnh đã tạo những huy hiệu cao cả cho nền văn chương Việt Nam trẻ tuổi đang hình thành và tìm kiếm con đường của mình”.


Còn một xu hướng khác cởi mở và thận trọng thì cho rằng: Ông có lập trường dân tộc, chủ nghĩa quốc gia, trọng di sản văn hoá, truyền bá  dịch thuật tinh hoa của nước Pháp, chăm chút ngôn ngữ nước nhà. Những người có tinh thần thận trọng không vội vàng kết luận ấy, tiêu biểu là Vũ Ngọc Phan, Thanh Lãng, Trịnh Bá Đĩnh, Phạm Thế Ngũ, và Từ Điển bộ mới do Đỗ Đức Hiểu chủ biên.


Phạm Thế Ngũ cho rằng: “Ngày nay chúng ta có nghiên cứu Phạm Quỳnh là nghiên cứu nhà báo và nhà văn của tạp chí Nam Phong, con người và tư tưởng trước năm 1932, con người tốt đẹp đã đóng một vai trò tương đối tiến bộ  trong một giai đoạn lịch sử chính trị nhất là đã dày công xây đắp cho nền học và nền văn mới.”(Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập III, Quốc học tùng thư 1965).


Ý kiến ấy hơn bốn chục năm trước kia đã là thoả đáng. Chẳng ai có thể nghi ngờ. Nhưng chúng ta nhìn lại một cách toàn diện và thấu đáo hơn, thì cả khi Phạm Quỳnh ra làm quan, tấm lòng ông với quốc dân với nền hoà bình của dân tộc vẫn còn nhiều điểm đáng bàn, chứ không chỉ trong thời kỳ làm báo.


Gần đây, trong bộ Từ điển Văn học bộ mới (Nhà xuất bản Thế Giới, tháng 10 năm 2004), khổ 19 x 27cm, dày 2190 trang, tên ông đã được bổ sung trong mục Phạm Quỳnh do Nguyễn Huệ Chi viết, dài 3 trang (từ trang 1364 đến 1366),  với một sự trình bày khá khách quan và trân trọng. Tác giả thừa nhận hầu hết công lao đóng góp của ông đối với nền văn hóa nước nhà. Trong sách thí điểm phân ban môn văn học thực hiện từ năm 2005, Phạm Quỳnh lần đầu tiên mới được đưa vào sách giáo khoa nhà trường phổ thông. Tuy còn ít, nhưng chỗ nói về cuộc tranh luận Truyện Kiều giữa Ngô Đức Kế với Phạm Quỳnh, tạo ra sự thú vị, cũng  là một điểm tiến bộ rất đáng khích lệ trong quá trình điều chỉnh nhận thức.


Trước đó,  Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin và Trung tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây cũng đã xuất bản một tuyển tập gần 30 bài viết của ông, lấy tên Phạm Quỳnh, luận giải văn học và triết học (do Trịnh Bá Đĩnh tuyển chọn, giới thiệu). Mấy tập du ký của ông như Mười ngày ở Huế, Pháp du hành nhật ký cũng được Nhà xuất bản Hội Nhà văn lần lượt cho in lại tháng 4 năm 2004 một cách trân trọng. Có thể coi vấn đề Phạm Quỳnh đến nay đã được xã hội nhận thức lại một cách thỏa đáng, công bằng hơn.


Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng, Phạm Quỳnh là một trong những người Việt viết tiếng Pháp hay nhất, một thứ tiếng Pháp trang nhã, sang trọng, trong sáng và đầy âm vang”


Quả vậy, Phạm Quỳnh là một học giả có tên trong Hàn lâm viện Pháp, tự do dân chủ Pháp, một người được giới trí thức đương thời đánh giá cao. Nhưng ông cũng là đề tài gây ra nhiều cuộc tranh luận. Ở miền Nam trước năm 1975, trong vài sách văn học sử tiêu biểu như của Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng…, Phạm Quỳnh và Nam Phong tạp chí được giới thiệu khá chi tiết với đầy đủ góc nhìn. Rồi những năm đầu thập niên sáu mươi của thế kỷ trước từng diễn ra cuộc tranh luận kéo dài gọi là “Vụ án truyện Kiều”, có sự tham dự của rất nhiều nhà nghiên cứu văn học, mà giáo sư Nguyễn Văn Trung đã tập hợp lại để giới thiệu cho các sinh viên đại học văn khoa Sài Gòn thời đó.


 Đành rằng thế, nhưng sự thật khi nói tới Phạm Quỳnh, nhiều người vẫn e dè về quan điểm chính trị của ông. Họ cho rằng, trong khi có bao nhiêu văn thân chí sĩ đi theo chủ kiến chống Pháp bằng con đường bạo lực, thì Phạm Quỳnh lại theo chủ nghĩa cải lương bảo thủ, một chủ trương chính thể quân chủ lập hiến. Rằng tìm kiếm giải pháp xây dựng một nước Việt Nam mới tự trị có nền giáo dục và quốc học dung hoà tư tưởng đông tây. Rằng phải  đào tạo một tầng lớp trí thức mới theo những điểm tiến bộ trên cơ sở chấp nhận chế độ thuộc địa và có sự giúp đỡ của người Pháp. Nói cách khác, nhà văn, nhà báo, nhà giáo dục, học giả Phạm Quỳnh theo đường lối Pháp Việt đề huề.? Thật vậy, đã nhiều lần Phạm Quỳnh tự nhận mình chỉ suốt đời  vun đắp quốc văn, chứ không làm chính trị:“Tôi vốn là nhà làm văn, nhà học vấn. Cái chủ nghĩa tôi phụng sự bấy lâu nay – kể có trên dưới mười lăm năm trời thật là dốc một lòng, chuyên một dạ – chính là chủ nghĩa quốc gia, nhưng chỉ mới phụng sự về phương diện văn hóa, chưa hề chuyển di sang phương diện chính trị”.  Có một điều minh bạch là, tuy Phạm Quỳnh không làm cách mạng, nhưng ông rất kính trọng các chí sĩ hoạt động yêu nước, chấp nhận những chí hướng riêng của mỗi người. Đối với ông, ông có nỗi niềm riêng…Và trên thực tế ông chưa bao giờ tỏ một thái độ nào không nể phục những người cách mạng, ái quốc.


Còn nhớ, năm 1922 khi sang Pháp với tư cách là Tổng thư ký Hội Khai trí tiến đức, dự triển lãm tại Marseille(Pháp), cũng là lúc nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động tại Pháp. Phạm Quỳnh đã có những tiếp xúc với Nguyễn Ái Quốc và Phan Văn Trường. Bà Phạm Thị Ngoạn con gái Phạm Quỳnh còn giữ được cuốn sổ của cha, ghi lại sự kiện này. Cuốn sổ ghi nhật ký năm 1922, chữ Phạm Quỳnh ghi: “ Thứ 5 ngày 13 tháng 7, ăn cơm An nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường". Một trang khác: “Chủ nhật ngày 16 tháng 7: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi “.


Đến năm 1945, sau khi xẩy ra vụ gia biến không ngờ, khi biết tin này Hồ Chủ Tịch đã cho thứ trưởng bộ Nội vụ Hoàng Hữu Nam, cử người vào Huế đón cả gia đình Phạm Quỳnh ra Hà Nội. Người từng nói “…Tôi đã từng gặp, từng giao tiếp với cụ Phạm ở Pháp. Đó không phải là người xấu.”


 


 


* Dũng khí và khẩu khí Phạm Quỳnh


 Phạm Thế Ngũ trong cuốn “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên- 1965”khi nói về bút pháp Phạm Quỳnh, ông cho rằng Phạm Quỳnh “đã tranh đấu cho câu văn quốc ngữ..Nam Phong ra đời, Phạm Quỳnh viết lách tạo cho câu văn Quốc ngữ(Việt văn) một thực chất, một sinh lực.. Tạo dựng một nền văn chương Việt ngữ sống động và phong phú, thừa sức diễn đạt những ý tưởng thâm thúy cao siêu, không kém gì văn chương của những nước văn minh tiên tiến...”. Bên cạnh đó Phạm Quỳnh còn có bản lĩnh của một cây bút phóng sự, nhanh nhạy và tinh tế.


Thời kỳ tạp chí Nam Phong, Phạm Quỳnh thể hiện dũng khí và  khẩu khí của một nhà báo hóm hỉnh, một cây bút ghi chép những chuyện đáng ra phải nghiêm túc. Năm 1922 có cuộc đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille(Pháp), vua Khải Định được Khâm sứ Trung kỳ Pasquier gợi ý đi, đã chấp thuận ngay. Một là để ra ngoài xem nước Đại Pháp thế nào, hai là có dịp mua sắm hàng ngoại quý hiếm. Khi tới Pháp, vua Khải Định bị dân Việt công kích làm cho mất mặt.


Cụ Phan Chu Trinh gửi tới Khải Định một bức thư gọi là “Thư thất điều đón giá như Tây”. Trong thư cụ Phan đã kể vua 7 tội: Tôn bậy quân quyền, lạm hình thưởng phạt, thích chuộng sự quỳ lạy, xa xỉ quá độ, ăn mặc lố lăng, chơi bời vô độ và chuyến đi Tây có điều ám muội.


Dân Việt ở Pháp rất hoan nghênh những điều cụ Phan kể ra. Vì chính mắt bàn dân thiên hạ đều chứng kiến cảnh vua Khải Định ăn mặc không nghiêm chỉnh đã làm mất quốc thể. Họ kể cho nhau nghe chuyện vua An Nam mặc áo có gắn các bóng đèn nhỏ, màu sắc thì loè loẹt, trong áo có gắn cục pin. Thành ra trên vai trên cổ Khải Định đều sáng chói, trông như một anh đang làm ảo thuật. Nhiều người ngoại quốc thấy lạ đổ xô đến xem vua An Nam. Chính thời gian này Nguyễn Ái Quốc cũng đang ở Pháp. Để đón chào vua, Nguyễn đã kịp thời sáng tác và cho diễn vở kịch “Con rồng tre “rất ý nghĩa…


Chuyện ấy nhiều người biết. Có một thú vị là, chính những việc mà Khải Định diễn ra ở bên Pháp ngày ấy có một “phóng viên”có hạng đi theo. Đó là Phạm Quỳnh. Với tư cách là Tổng thư ký Hội Khai trí tiến đức, Phạm Quỳnh cũng đi Pháp chuyến này. Ông cùng trở về Việt Nam trên cùng con tàu có Khải Định. Người Việt Nam ở bản xứ dẫu xa nước Pháp nghìn trùng, nhưng tại thời ấy cũng biết tường tận các hoạt động của vua Khải Định tại Pháp. Họ chỉ cần mua và chịu khó đọc Nam Phong tạp chí, qua  thiên kí sự Pháp du hành trình nhật ký in rải rác gần năm chục số, bắt đầu từ số 58 tháng 4 năm 1922 kéo dài đến số 100, vào tháng 11 năm 1925!


Từ sau ngày vua Duy Tân vì khởi nghĩa chống Pháp, bị phế truất và lưu đầy, thực dân Pháp đã đưa hoàng tử Nguyễn Phúc Bửu Đảo, con vua Đồng Khánh lên ngôi, lấy tên hiệu là Khải Định.Trước khi làm vua, Bửu Đảo ham ăn chơi, thích sòng bạc và nợ như chúa chổm. Khải Định lại rất chuộng trang sức, thích bình yên để hưởng những lạc thú ở đời. Các đồ dùng của Pháp, vua đều lấy làm thích thú, cho đó là tân tiến, nước mình không thể có được. Pháp thấy Khải Định không có ý chí, phẩm cách kém hẳn Thành Thái và Duy Tân nên rất mừng.


Quả nhiên, sang tới Pháp, hình ảnh vua Khải Định đã bộc lộ khá sinh động, dí dỏm pha chút hóm hỉnh dưới ngòi bút Phạm Quỳnh.


Xin trích vài đoạn trong Pháp du hành trình nhật ký:


Thứ bảy, 24 tháng 6 năm 1922: 10 giờ sáng, Hoàng thượng đến Paris…  Mình không được biết thành Paris xưa nay đón các bậc đế vương các nước thế nào, nên không thể so sánh được lần này với các lần kia khác nhau thế nào. Nhưng nhận ra người đứng xem ít lắm. Nghe khách qua đường thấy đám lạ dừng lại xem, chỉ thấy nói: “Ồ! họ ăn mặc hay nhỉ! kỳ nhỉ!”; có người lại hỏi lẫn nhau: “Người nước nào vậy?”.


Đúng như nhận định của người Pháp, vua Khải Định đi Tây chủ yếu là sắm đồ. Điều này được Phạm Quỳnh ghi khá tỉ mỉ: “Thứ sáu, 11 tháng 8 năm 1922 :  …Gần bốn giờ thì Hoàng thượng xuống tàu, kèn trống thổi mừng, quân quan đứng tiễn.  Ngài đi Tây chuyến này sắm được vô số đồ, chở xuống tầu từ 2 giờ đến 4 giờ, hết kiện ấy đến kiện khác, cái cần máy trục cứ  giơ lên hạ xuống hoài mà không dứt. (…)


Có một câu chuyện Phạm Quỳnh ghi được về Khải Định mà đọc lên ai cũng phải cười thầm. Đó là chuyện nhà vua đến thăm Hội Đông Pháp hỗ trợ, ở đường Sommerard. Khi người ta xin chữ ký, thì ông vua  cầm quản bút ra dáng nghĩ ngợi và “cái quản bút quằn quại trên tay, mà không thấy viết chữ gì. Năm phút, mười phút, mười lăm phút, người đứng chung quanh đã thấy thì thào động đậy…. Sau mới thấy ngòi bút chuyển động; ai nấy thở dài! Hỏi ra thì không phải thơ ngũ ngôn tứ tuyệt  gì,  chỉ có  một câu chữ Hán  rằng:  năm ấy, tháng ấy, đức  Hoàng đế Việt Nam đến ngự nhà Hội, thế mà thôi. Ấy đức Chí tôn ngài viết một chữ một câu cũng thận trọng như thế…”


Và một đoạn khác: Thứ ba, 29 tháng 8- 1922: Cùng anh em đi chơi phố, vào các cửa hàng bán ngọc thạch, xem được nhiều thứ ngọc xanh, biếc, đỏ, vàng, màu sắc rất đẹp mà giá tiền cũng rẻ. Hoàng thượng cũng xuống bộ, thời cơm với Lãnh sự Pháp, nghe đâu ngài sắm được nhiều đồ chơi và ngọc thạch.


Cũng với sự hài hước như thế, ngòi bút Phạm Quỳnh tỏ ra sắc sảo và có dũng khí khi thể hiện trong bài “Cuộc tiến hoá của tiếng nước Nam”. Ông đã dí dỏm kể một câu chuyện về những vị đại thần nước Việt không biết tiếng Pháp, khi nghe tin người mới được bổ nhiệm Toàn quyền tên là Doumer(Dume), thì coi đó là cái tên tục tĩu. Bởi theo tiếng Việt, nhất là tiếng Huế thì Dume giống như một tiếng chửi thề tục tĩu mà thôi. Một nhà báo có khẩu khí và dũng khí như vậy chẳng ăn nhập với cái dáng ngoài nhã nhăn và thận trọng như quan Khâm sứ Trung kỳ nhận xét về ông.


 


* Phạm Quỳnh- và lòng  tự tôn dân tộc.


Nhờ nhân cách và học vấn,  ông đã có khả năng thu hút nhiều trí thức vào hàng khoa bảng  trong nước, trở thành cộng tác viên của tạp chí Nam Phong: Hoàng giáp Đinh Văn Chấp, Phó bảng Hoàng Yến, cử nhân Bùi Kỷ, cùng những quan chức như: Tuần vũ Trần Mỹ, Tế tửu Quốc Tử Giám Ưng Trình, Án sát Nguyễn Đình Chi,  Đốc học Trần Thất Phán… rồi các học giả, nhà văn, nhà thơ: Phan Khôi, Dương Quảng Hàm, Phạm Duy Tốn, Tương Phố …vân vân


Để đáp lại thịnh tình ấy, Phạm Quỳnh thể hiện lòng tôn trọng và tế nhị của người gốc nho học, thấm nhuần văn hoá đông phương  có sự giao hoà  văn hoá tây phương. Vì thế, trong hoạt động báo chí, làm chủ một tờ báo có đối tượng rộng lớn và đa dạng, tránh sao những lời thị phi, đố kỵ? Những lúc ấy,  hoặc là ông im lặng, hoặc bất đắc dĩ mới nói lại một cách xa xôi, mát mẻ chứ không bộp chạt của con người lấy kiến thức ra dạy đời.


 Báo Phong Hoá số 14 ngày 22- 7- 1932 xuất hiện một bài vè  châm biếm Phạm Quỳnh và Nguyễn Vĩnh:


Nước Nam có hai người tài


Thứ nhất xừ Ĩnh, thứ hai là xừ Uỳnh


 Một xừ béo núng rung rinh


 Một xừ lểu dểu như hình cò hương


 Không vốn liếng chẳng ruộng nương


 Chỉ đem dư luận bán buôn làm giàu…


 Phạm Quỳnh im lặng. Đó là thời điểm trước 4 tháng ông vào Huế nhậm chức.


Đến khi ông đã là Lại bộ Thượng thư, thì Đổng lí Ngự tiền văn phòng Phạm Khắc Hoè cũng không thích Phạm Quỳnh. Khi  Bảo Đại sai ông này soạn đạo dụ cử Phạm Quỳnh làm người thay mặt Chính phủ Việt Nam giao thiệp với Tối cao Cố vấn Nhật và các nhà chức trách, thì ông Hoè lại thảo tờ Chỉ (nghĩa là thấp hơn 2 cấp trong văn bản  luật hành chính- Chiếu, Dụ, Sắc, Chỉ) cử Phạm Quỳnh tạm thời làm nhiệm vụ liên lạc giữa hai bên.  Sau này Phạm Khắc Hoè


 kể “Làm như vậy, tôi chắc rằng những chữ Chỉ, tạm thời, liên lạc thế nào cũng làm cho Phạm Quỳnh căm thù mình. Ấy thế nhưng sáng ngày 14- 3-1945, khi gặp tôi trong buổi lễ cáo yết Liệt thánh, Phạm Quỳnh lại tỏ ra ngọt ngào với tôi hơn bao giờ hết. Và vào lúc buổi lễ kết thúc, ông thiết tha căn dặn tôi chiều hôm ấy trên đường đi vào Đại Nội, ghé qua bộ Lại nói chuyện.”


Năm 1922 Phạm Quỳnh đi dự cuộc đấu xảo ở Pháp, ông có dịp diễn thuyết ở một số trường học lớn tại Paris và đăng đàn 4 lần  về các đề tài  khác nhau: Về thi ca Việt Nam, Sự tiến hoá chữ Quốc ngữ,  Sự tiến hoá của dân An Nam, và Tình trạng giáo dục của dân An Nam.


Năm sau những bài nói ấy được tập hợp in thành sách,  xuất bản ở Pháp, rồi được chuyển về Đông Dương. Có một trí thức Pháp có bút danh Sérénus đọc, khen hay đã viết bài bình phẩm  bằng tiếng Pháp đăng trên tờ France-Indochine. Có người đề nghị ông dịch bài ấy ra Quốc ngữ để đăng lên tờ Nam Phong tạp chí. Ông đã từ chối. Nhưng sau này nhiều bạn bè phân tích, cuối cùng Phạm Quỳnh đã suy nghĩ lại”Lời khen của vị quan ấy không phải khen riêng một mình tôi, mà có ý khen cả dân tộc Việt Nam, tưởng cũng nên in lại và dịch ra để công chúng cùng lãm”(Chú thích NPTC số 75 tháng 9 năm 1923- theo Nguyễn Thục Chuyên- Huế xưa và nay - số 94)


Phạm Quỳnh ý thức rằng,”tiếng là nước, tiếng còn thì nước còn, tiếng mất thì nước mất, mà mất đó mới thật là mất hẳn, không sao vãn hồi được nữa”.


Tâm niệm ấy dường như đi suốt chặng đường hoạt động sau này của ông. Phạm Quỳnh cũng từng nung nấu, trăn trở về quan niệm chính trị và văn hoá của dân tộc. Trên Nam Phong tạp chí số 107 năm 1925 ông viết bài “Văn hoá và Chính trị”một bài luận thuyết khá sâu sắc “Chính trị và Văn hoá một đàng là gốc, một đàng là ngọn, gốc có vững thì ngọn mới tốt được. Nước Nam ta hiện chưa được là nước chân chính, hiển nhiên ai cũng biết. Sở dĩ chưa được là một nước chân chính là bởi vì không có chủ quyền về chính trị, điều đó hiển nhiên ai cũng biết…Một nước đã mất quyền chính trị mà muốn thu phục lại, thời chỉ có hai cách: Một cách bạo động, một cách ôn hoà”


Và trong hoàn cách của Phạm Qùynh, ông đã đi theo cách thứ hai.


Nhân cách của Phạm Quỳnh còn thể hiện ông có một cách nhìn sâu sắc về văn hoá dân tộc.


Thời kỳ đầu, tạp chí Nam Phong  sử dụng logo (biểu trưng) trên bìa 1 có hình con gà trống Gôloa(gauloi) đứng trong hình vành khăn với 3 từ tiếng Pháp dàn quanh vòng: Liberté(tự do) Égalité(bình đẳng) Fra ternité (bác ái), cũng là biểu trưng nước Pháp, để  che mặt nhà cầm quyền. Nhưng ba năm sau, ông bỏ logô này  thay vào biểu trưng hình bầu dục với hai đường viền xung quanh, ở giữa có hai chữ Việt “Nam Phong”, kiểu chữ Triện. Sự thay đổi ấy ngầm ý tự tôn dân tộc, tự hào về tổ quốc của mình. Và vào năm 1931, khi Tổng trưởng Bộ Thuộc địa Pháp P.Reynaud nhân dịp ghé thăm Hà nội ngày 6- 11- 1931, ông đã gửi một bức thư ngỏ, nói  rõ ràng, thẳng thắn yêu cầu chính phủ Pháp”hãy cho chúng tôi một Tổ quốc để tôn thờ, ví đối với dân tộc Việt Nam, Tổ quốc đó không phải là nước Pháp”. Thời đó, không phải ai cũng dám làm, dám nói.


            Với một bản lĩnh của con người trí thức, được đào tạo cơ bản, lại mang dòng máu Phạm tộc nho gia, Phạm Quỳnh đã có những ứng xử mà sau này nhìn lại mới thấy là nghĩa hiệp.


            Chuyện về Nguyễn Phước Bửu Đình, chắt trai của hoàng tử Tỉnh Gia, con vua Minh Mạng là ví dụ. Tuy là tôn thất Hoàng tộc, nhưng Bửu Đình có ý thức  tiến bộ mang lòng yêu nước yêu dân tộc. Từng là chủ bút tờ Tân thế kỷ, ông đã viết loạt bài chỉ trích  thái độ khiếp nhược của quan lại triều đình, tổ chức những cuộc nói chuyện chính trị tại tư thất của Phan Bội Châu ở Huế (1927) trước đông người, để công kích chế độ. Ông bị bắt, bị đày đi Lao Bảo (Quảng Trị ) bị xóa tên trong hoàng phái, bị đổi thành Tạ Đình, họ của thân mẫu.


            Bửu Đình đã 2 lần vượt ngục Côn Lôn. Lần thứ nhất, ông phải trôi nổi trên biển rồi bị nước sở tại bắt, tống vào nhà lao Xiêm. Nhà cầm quyền Thái Lan  đẩy trả ông về Sài Gòn, rồi thực dân Pháp ném vào Côn Đảo. Cuối năm 1932, ông vượt ngục lần nữa và mất tích giữa bể khơi..


            Giữa lúc dư luận đang xôn xao hơn thiệt, thì tờ báo Phụ nữ tân văn số 225 ngày 23-11- 1933 đăng tin, lại có sự đóng góp  của Phạm Quỳnh:


                                    ÔNG BỬU ĐÌNH ĐƯỢC ÂN XÁ


            Nhân dịp vua Bảo Đại về nước, bà Nguyễn Thị Hiếu tức là bà Bửu Đình ở Gò Công có xin ân xá cho ông Bửu Đình.


            Bà Bửu Đình có cho bản báo hay là đã được chỉ dụ ân xá; song bản báo chưa có bằng cớ gì quả quyết, nên có viết thư hỏi ông Thượng Phạm Quỳnh. Ngày nay bản báo đã được trả lời, xin đăng nguyên văn để làm bằng cớ chắc chắn và cảm ơn quan Thượng Phạm có lòng tốt cùng bản báo.


 


                        Huế, le 4 Novembre - ngày 4 tháng 11 năm 1933


                        Palais Impérial (Hoàng Cung )


                        Cabinet Civil de Sa Majesté (Ngự tiền văn phòng)


                        A Monsieur  Nguyễn - Đức-Nhuận,


                        Directeur du  Phụ Nữ Tân Văn


                        48- Rue  Vannier – SAIGON


                        Quí ông Nguyễn Đức Nhuận,


            Tôi có tiếp được thư của quí ông đề ngày 21 Octobre (tháng 10 ) 1933, hỏi thăm việc Tạ Đình (tức Bửu Đình) được Hoàng Thượng ân xá và có đính theo bản sao lục Chỉ Chuẩn về việc ấy.


            Tôi sức cứu bản sao lục ấy quả y như nguyên bản và Tạ Đình đã được Hoàng Thượng gia ân cho huyền án tha về giao cho phủ Tôn Nhân kiểm cố, đợi ngày sau xét ra thiệt có lòng hối quá, thời phủ Tôn Nhân sẽ tâu xin cho phục hồi Tôn tịch.


            Vậy xin phúc lại để quí ông biết.


            Nay kính phúc


                                                                                                PHẠM QUỲNH


 


            Mới hay, dù đã vào Huế làm quan trọn một năm, Phạm Quỳnh vẫn giữ nguyên tác phong nghề nghiệp và phẩm chất của một nhà báo. Ông coi trọng và thấu hiểu  tâm nguyện của công chúng là khát khao tin tức. Ông không hề né tránh cái việc vốn tế nhị có liên quan đến Hoàng gia và  thế lực cầm quyền, có thể gây ra rắc rối cho mình, đã gửi công văn phúc đáp cho báo Phụ nữ tân văn. Mặc dù  chỉ mươi dòng chữ, nhưng thể hiện trách nhiệm của mình trước  sự quan tâm của xã hội.


 


* Những tác phẩm tiêu biểu:    


Theo sách Lược truyện các tác gia Việt Nam- (NXB KHXH- năm 1972 ) thì Phạm Quỳnh đã xuất bản nhiều tác phẩm, với nhiều lĩnh vực văn hoá và triết học. Đó là những bản dịch về triết học, văn học, cách ngôn, ngụ ngôn, tuồng hát tiếng Pháp dịch ra tiếng Việt. Nhiều bài nghiên cứu in trong Đông Dương tạp chí, Nam Phong tùng thư, Thượng chi văn tập, tạp chí của Trường Viễn Đông bác cổ, Nha học chính Đông Dương, Tạp chí Thái Bình dương, Tạp chí Pháp Á v.v…Trong đó phải kể đến 18 tác phẩm lớn bằng tiếng Pháp và tiếng Việt. Những tác phẩm in bằng tiếng Việt đáng chú ý: Chính trị nước Pháp, Lịch sử thế giới, Phật giáo đại quan, Ba tháng ở Paris, Văn học nước Pháp, Nhân nguyệt vấn đáp, Văn minh luận, Tài liệu bách khoa đại từ điển v.v…


Những tác  phẩm của Phạm Quỳnh phần nhiều là những bài viết đăng trên báo chí. Năm 1942,  làm quan ở Huế đã được 10 năm ông mới để tâm tập hợp một số bài có giá trị và in thành hai bộ sách: “Thượng Chi Văn Tập”và “Nam Phong Tùng Thư”. Ngoài ra các bài viết chính yếu khác của ông vẫn còn rất nhiều đang nằm rải rác trong 210 tập báo Nam Phong. Ngày nay, muốn tổng quát  những gì ông đã viết, người ta cần phải làm liệt kê phân loại khá phức tạp.  GS. Phạm Thế Ngũ, (tác giả sách Việt Nam Văn học sử giản ước tân biên), có ý kiến cho rằng văn phẩm Phạm Quỳnh có thể chia gọn ra 3 loại:


* Dịch thuật:


Bao gồm các tác phẩm luận thuyết, phương pháp luận, sách cách ngôn, kịch bản và thơ văn…


* Khảo luận:


- Về Tây học, như:Văn minh luận, Chính trị nước Pháp.Lịch sử thế giới, Luận lý học thuyết Thái tây, Lịch sử và học thuyết Rouseau, Montesquieu, voltaire; Triết học Auguste Comte, Triết học Bergson, Văn học sử Pháp, Khảo luận về tiểu thuyết, Bình luận tác phẩm của P. Bourget, H. Bordeaux, G. de Maupassant, Alfred de Vigny.


- Về Đông học và Quốc học: Phật giáo lược khảo, Người quân tử trong đạo Nho, Tục ngữ ca dao, Việt Nam thi ca, Khảo cứu về truyện Kiều, Bàn về thơ Nôm, Hát ả đào, Khảo về chữ quốc ngữ, Chữ Nho với văn quốc ngữ, Hán Việt văn tự, Bàn về quốc học, Quốc học và quốc văn.


 


* Văn du ký:


Gồm những bài Trảy chùa Hương, Mười ngày ở Huế, Pháp du hành trình nhật ký, Du lịch xứ Lào…


Từ thế kỷ trước cho đến nay, giới nghiên cứu phê bình trong và ngoài nước đã có nhiều công trình bình phẩm phê bình, với đủ cả giọng điệu khen chê với nồng độ đậm nhạt khác nhau. GS.Trịnh Vân Thanh, tác giả sách “Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển”nhận xét Phạm Quỳnh là một kiện tướng: “Trên lãnh vực văn hóa, Phạm Quỳnh xứng đáng là một kiện tướng có đủ năng lực, tài ba để điều khiển một cơ quan ngôn luận và có công rất lớn trong việc phát huy những khả năng tiềm tàng của Việt ngữ và xây dựng một nền móng vững chắc cho quốc văn, bằng cách tô bồi với những tinh hoa mà ông đã rút tỉa trong những tư tưởng và học thuật Âu Tây.”Các giáo sư Lê Kim Ngân, Võ Thu Tịnh, và Nguyễn Tường Minh, tác giả sách “Văn học Việt Nam Thế kỷ 20”,  lại cho rằng Phạm Quỳnh có công lao to lớn đối với xã hội về việc dịch thuật,khảo cứu vun đắp chữ quốc ngữ,  có ý nghĩa xã hội sâu sắc”Phạm Quỳnh là người chiếm công đầu trong việc vun đắp chữ quốc ngữ. Nhờ ông mà chữ quốc ngữ đã từ thời ấu trĩ bước sang giai đoạn trưởng thành. Cái công dịch thuật và khảo cứu của ông thật đáng kể. Nhờ đó mà các thanh niên tân học hiểu được nền cổ học Đông Phương, các người cựu học thấu rõ nền Tây học và cũng vì vậy họ thông cảm nhau được, học hỏi được nhiều cái hay của cả hai nền học vấn để đi tới chỗ dung hợp mà xây dựng nền văn hóa nước nhà.”Trong khi đó giáo sư Phạm Thế Ngũ, lại đi sâu vào khía cạnh tư tưởng dung hoà và bảo tồn của Phạm Quỳnh và khẳng định Phạm Quỳnh đóng góp về mặt văn học. Phạm Thế Ngũ viết “Về đường tư tưởng, Phạm Quỳnh là tiêu biểu cho một giai đoạn bán cựu bán tân ở nước ta trước 1932. Với một căn bản tham bác Á Âu, ông đã đưa ra cái giải pháp dung hòa và bảo tồn làm thỏa mãn được nhiều khuynh hướng trong xã hội bấy giờ. Cái chủ nghĩa quốc gia của ông về đường chính trị đành rằng không đưa tới đâu, nhưng về văn hóa không phải không nuôi được một tinh thần dân tộc làm nơi trú ẩn cho nhiều tâm trí băn khoăn thời ấy và có thể để lại hậu quả tốt về sau nữa.. Về đường văn học, hiển nhiên ông đã làm nhiều việc cho công cuộc xây dựng văn học mới....”.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Tác giả: Khúc Hà Linh. NXB Thanh niên, 2012. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


           


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »