tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28932139
17.08.2014
Khúc Hà Linh
Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc (1)

LỜI MỞ SÁCH


Người từ lánh gót vườn hoa


Dường gần rừng tía, dường xa bụi hồng


Nhân duyên đâu nữa mà mong


Khỏi điều thẹn phấn tủi hồng thời thôi…


Bốn câu thơ trong  truyện Kiều trên đây, có thể nhiều người đã biết. Đọc nghe xót xa ngậm ngùi thân phận nàng Kiều tài hoa bạc phận, lênh đênh chìm nổi, hết lòng vì người yêu, để rồi bị Hoạn Thư dùng đòn ghen dập vùi, tách nàng với Thúc Sinh. Nhưng có lẽ ít ai biết đó là những câu thơ nằm trong bài "Cô Kiều với tôi”trong tập di cảo “Kiến văn cảm tưởng- Hoa Đường tuỳ bút I”của Phạm Quỳnh viết trong những ngày ở ẩn tại biệt thự Hoa Đường - Huế.


Đó là một ngày tháng Tám năm 1945, cách đây vừa tròn 65 năm, Phạm Thị Ngoạn con gái thứ sáu của ông đã tìm thấy trên bàn làm việc của cha tập bản thảo viết trên cuốn vở học trò dầy gần năm chục trang. Sau bao nhiêu năm nằm trong im  lặng, trải qua những biến cố của gia đình, mới đây Phạm Thị Ngoạn (tiến sĩ văn chương Đại học Sorbonne Paris Pháp) đã công bố di cảo này. Từ di cảo, người đời hiểu thêm  nỗi niềm thế sự của Phạm Quỳnh.


Mồ côi cả cha mẹ từ thuở ấu thơ, Phạm Quỳnh học giỏi, đi làm công chức từ tuổi 16. Ông làm báo rồi làm quan, đến bậc đại thần triều Nguyễn…


Đương thời ông được coi là nhà văn hoá lớn có tài năng Hán Học, Pháp văn và trân trọng tiếng Việt, “một người có cái học vừa sâu sắc vừa quảng bác”– Vũ Ngọc Phan.


Ông tiên phong trong quảng bá chữ quốc ngữ và dùng tiếng Việt, thay chữ nho và chữ Pháp để viết lý luận, nghiên cứu. Ông biết tiếp thu những cái tốt đẹp của báo chí phương tây, báo chí Trung Hoa nhưng vẫn giữ được cốt cách văn chương dân tộc. Ông là người chiến đấu không khoan nhượng cho chủ quyền độc lập tự trị của Việt Nam, cho việc khôi phục quyền hành của triều đình Huế trên phạm vi cả nước; chống lại sự bảo hộ của Pháp và kiên trì chủ nghĩa quốc gia với thuyết quân chủ lập hiến.


            Ông từng viết: “Dân tộc Việt Nam không thể là một thứ giấy trắng. Chúng tôi là quyển sách dầy đầy chữ viết băng thứ mực không phai, từ mấy mươi thế kỷ nay. Quyển sách ấy có thể đóng theo kiểu mới, cho phù hợp thời trang, nhưng không thể mang một thứ chữ ngoài in lên dòng chữ cũ. Vấn đề là làm thế nào để tiếp nhận học thuật cao thượng mà không bị mất giống, không còn quốc tính, biến thành một dân tộc vô hồn.”


Cùng với thấm nhuần giá trị văn hoá Việt Nam, tôn vinh ngôn ngữ nước nhà, ông rất coi trọng truyện Kiều và coi là quốc bảo: “Truyện Kiều là cái văn tự của giống Việt Nam ta đã “trước bạ”với non sông dân tộc. Thế kỷ mới rồi mới có một “đấng quốc sĩ”vì nòi giống, vì đồng bào, vì tổ tiên, vì hậu thế rỏ máu làm mực viết trên một thiên văn khê tuyệt bút, khiến cho giống An Nam được đích đáng làm chủ cõi sơn hà gấm vóc. Quốc sĩ ấy là Nguyễn Du, thiên văn tuyệt bút ấy là Truyện Kiều, nó kết tinh từ giọt máu, giọt lệ mà ra…”.


Và: "Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn".


Thế nhưng Phạm Quỳnh cuộc đời đầy sóng gió và chịu nhiều búa rìu dư luận, nghiệt ngã. Những cuộc tranh luận, phẩm bình về ông rất trái ngược nhau như hai mảng tối sáng trong một bức tranh thuỷ mặc.


 Có người gọi ông là tên tay sai phản động, ôm chân Pháp. Có người khen ông là nhà báo có hạng, văn sĩ tài danh. Ngay từ năm 1933, nghĩa là chỉ sau một năm ông thôi chèo lái con thuyền tạp chí Nam Phong, thì trong cuốn “Phê bình và cảo luận”, Thiếu Sơn đã ghi công cho Phạm Quỳnh: ”Những công trình về văn học, triết học của Âu châu và nhất là của nước Pháp, ông diễn dịch ra quốc văn rất nhiều, mà dịch thật đúng thật hay, vừa biết tôn trọng cái nguyên ý của tác giả, lại vừa lựa theo cái giọng điệu của quốc văn...”.


  Con người tài hoa mà chịu nhiều oan nghiệt ấy, chứa trong mình khối mâu thuẫn, ẩn chứa bao nhiêu nỗi niềm trăn trở trước thời đại và đất nước, dân tộc và gia đình, trước tình riêng và nỗi chung …


Nghiên cứu về ông trước nay đã có nhiều tác giả và tác phẩm, và quả là một việc khó khăn.


Với tấm lòng trân trọng một học giả uyên thâm nhiêu lĩnh vực, lại được bạn bè khích lệ, chúng tôi viết cuốn sách này để góp thêm thông tin về một danh nhân văn hoá, nguồn cội từ mảnh đất xứ Đông văn hiến anh hùng.   


Cuốn sách không  kỳ vọng đi sâu phẩm bình sự nghiệp trước tác của Phạm Quỳnh, chỉ chắp nối các sự kiện của cuộc đời ông, giới thiệu về mảnh đất quê hương, gia đình, dòng họ. Từ đó mong muốn góp thêm tiếng nói để bạn đọc phần nào hiểu thêm quá trình hình thành phẩm giá tính cách con người ông. Cũng từ đó, sau này bước vào đời, ông  có thêm sức mạnh tinh thần vượt qua mọi gian nan khắc nghiệt đường đời.


Trong sách, chúng tôi có sử dụng tài liệu của Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện sử học, bài viết của tác giả Sông Hương, và Hương Giang và một số ảnh tư liệu gia đình Phạm Quỳnh. Chúng tôi thu lượm được một số  tư liệu trong những lần đi điền dã về quê hương của ông (Hoa Đường, Lương Ngọc, Bình Giang, Hải Dương) của bà Phạm Quỳnh (làng Nhân Vực, xã Nghĩa Trụ, Văn Lâm, Hưng Yên). Ngoài ra còn nghe những chuyện kể đây đó của những người từng biết chuyện gia đình Phạm Quỳnh, và những lần chuyện trò với nhạc sĩ Phạm Tuyên - con trai Phạm Quỳnh, được cung cấp nhiều tư liệu quí. Ngoài ra, khi cần thiết chúng tôi có tham khảo một số tài liệu các tác giả ở nước ngoài..


 Mặc dầu vậy, chắc chắn cuốn sách này vẫn không tránh khỏi thiếu sót.  Mong rằng sẽ được bạn đọc lượng tình và chỉ giáo, để bổ sung sửa chữa, có dịp tái bản lần sau phục vụ bạn đọc tốt hơn.


Vẫn nghe câu: bể học không cùng, sức người hữu hạn.


 


Khúc Hà Linh


 


Chương I. Hoa Đường - đât cố hương


 


           Hiệu là Thượng Chi, bút danh Hoa Đường, Hồng Nhân, Phạm Quỳnh sinh ngày 17 tháng 12 năm 1892, mất ngày 6 tháng 9 năm 1945. Tuy sinh ra trên đất Hà Thành, nhưng quê quán ông lại là làng Lương Ngọc, nay thuộc xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương, một làng nổi tiếng khoa bảng, có truyền thống hiếu học.


 9 tháng tuổi tang mẹ, 9 tuổi tang cha, Phạm Quỳnh côi cút được bà nội nuôi ăn học. Phạm Quỳnh học giỏi, có học bổng, đậu thủ khoa Trường Thông ngôn, 16 tuổi đã đi làm ở Trường Viễn Đông bác cổ - Hà Nội.


Làm việc được 8 năm, tham gia viết báo cho một số tờ có uy tín đương thời, tháng 7 năm 1917 Phạm Quỳnh đứng ra làm chủ bút tạp chí Nam Phong. Hai năm sau (ngày 2 tháng 5 năm 1919, ông sáng lập  và là Tổng thư ký Hội khai trí tiến đức, Trần Trọng Kim là Trưởng ban Văn học của Hội. Với tư cách là hiệp hội tư lập, Hội nhằm giao lưu văn hoá truyền thống Việt Nam với văn hoá phương Tây. Hội có trụ sở ở phố Hàng Trống. Tại đây có diễn thuyết, triển lãm tranh, hội thảo… và trao giải thưởng văn học,  tổ chức truy niệm các danh nhân…


Năm 1922, với tư cách đại diện Hội Khai trí tiến đức, Phạm Quỳnh sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa tại Marseille. Ông đã từng lên Paris ba tháng và đăng đàn diễn thuyết nhiều lần, gây tiếng vang trong giới học giả ở Pháp, kể cả trước Ban luận lý chính trị Viện hàn lâm Pháp về dân tộc giáo dục.


Trở về nước, năm 1924, ông được mời làm giảng viên Khoa Bác ngữ học, Văn học, Ngữ ngôn Hoa Việt ở Trường Cao đẳng Hà Nội, trợ bút báo France-Indochine.


Những năm 1925-1928, Phạm Quỳnh là Hội trưởng Hội trí tri Bắc Kỳ; năm 1926 ông là nhân viên Hội đồng tư vấn Bắc Kỳ và đến năm 1929 được cử vào Hội đồng Kinh tế và Tài chính Đông Dương. Năm 1930 Phạm Qùynh đề xướng thuyết lập hiến, đòi hỏi người Pháp phải thành lập hiến pháp, để quy định rõ ràng quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, vua quan Việt nam và chính quyền bảo hộ. Năm 1931 ông được giao chức Phó Hội trưởng Hội địa dư Hà Nội, sang năm sau 1932 giữ chức Tổng thư ký Uỷ ban cứu trợ xã hội Bắc Kỳ.


Khi Pháp đưa Bảo Đại lên làm vua thay Khải Định, ngày 11 tháng 11 năm 1932 Phạm Quỳnh được triều đình nhà Nguyễn triệu vào Huế tham chính. Ông trở thành vị quan đại thần dưới thời vua Bảo Đại.


 Ban đầu ông giữ chức Ngự tiền Văn phòng, Thượng thư Bộ Học, rồi Thượng thư Bộ Lại (1944-1945). Phạm Quỳnh đã cùng với Bảo Đại sang Pháp xin Pháp trả lại Bắc Kỳ cho triều đình Huế theo Hiệp định 1884 nhưng không thành. Ngày mổng 9 tháng 3 năm 1945 Nhật đảo chính Pháp, ông từ nhiệm về ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên sông đào Phủ Cam, Huế. Tổng khởi nghĩa tháng Tám nổ ra,  ông bị bắt ở Huế ngày 23 tháng 8 năm 1945 rồi ít ngày sau qua đời ở làng Hiền Sĩ, tỉnh Thừa Thiên.


 


* Từ Hoa Đường-Huế đến Hoa Đường- Xứ Đông


Những người sống ở Huế trước năm 1945 vẫn còn nhớ bên sông An Cựu có ngôi biệt thự gắn chữ Hoa Đường. Đây là nơi ở cuối cùng của Phạm Quỳnh, từng là chủ bút báo Nam Phong, là Ngự tiền văn phòng rồi Thượng thư bộ Lại dưới triều vua Bảo Đại. Từ đây ông đi vào cõi vĩnh hằng để lại cho gia đình, bè bạn và hậu thế.đằng sau bao điều uẩn khúc


Cách Huế khoảng tám trăm cây số về phương Bắc, tại huyện Bình Giang thuộc xứ Đông xưa, cũng có một làng cổ Hoa Đường..Kỳ thay, đây chính là cố hương của Phạm Quỳnh.


Từ Quốc lộ số 5, rẽ vào thị trấn Kẻ Sặt, rồi từ tỉnh lộ số 38 đi đến ngã ba Cống Tranh thì quặt trái vào một con đường nhỏ, ven theo một dòng sông uốn lượn mềm mại tựa như một đoạn chỉ màu xanh trải ra trước mặt khách. Hai mép bờ sông bập bềnh nhiều đám bèo tây mà người dân quê gọi là lục bình. Tuy đường rải bê tông, có bóng dáng của nhịp sống công nghiệp, hiện đại hoá nông thôn, nhưng vẻ mộc mạc, bình dị  của một làng quê Việt Nam vẫn còn như căn bản. Ấy là khi làm đường, người ta không nắn uốn, cứ mặc nhiên theo dấu vết  đường làng cũ từ những thế kỷ trước. Vì thế, con đường vào làng cứ chập chờn, uốn lượn, chênh vênh tựa như chiếc dải yếm cô con gái bay theo chiều gió nội đồng. Lại một ngôi đền hoang vắng nằm sát con đường, như một dấu chấm trên trang vở. Đó là đền thờ Huyền Du Phạm Sĩ, một danh tướng được phong làm Hải Dương đạo Tiết chế bình Nguyên Thượng tướng quân. Khi ông qua đời được vua Trần Nhân Tông  cho trích công quỹ ba nghìn quan tiền để xây dựng đình thờ gọi là “Sĩ công đại vương từ”, mà người ta truyền rằng đấy chính là thầy dạy của anh hùng Phạm Ngũ Lão thời Trần. Một cụ già chắc là thủ từ đang phơi mấy quyển sách bị mưa ướt. Mái tóc cụ phất phơ bay trong ngọn gió từ ngoài sông thốc vào, càng  tăng thêm vẻ không gian cổ kính ngôi đền.


Hỏi ra đây là đất Châu Khê, trước khi vào làng văn hoá Lương Ngọc, một trong 7 thôn của xã Thúc Kháng:: Tranh trong, Tranh ngoài, Châu Khê, Ngọc Cục, Ngọc Tân, Tào Khê và Lương Ngọc, thuộc huyện Bình Giang, xứ Đông xưa, nay là tỉnh Hải Dương-


 Lương Ngọc có cánh đồng rộng. Vào mùa lúa chín, cánh đồng phẳng như một tấm sân phơi khổng lồ, choàng lên những tấm khăn tằm tơ óng vàng, xen kẽ những ô màu lá gừng hoặc những ô  xanh biếc.


Gọi Lương Ngọc là gọi tên mới. Xa xưa đất ấy có tên Hoa Đường. Chữ Hoa (            ) có nghĩa là đẹp, tinh hoa chứ không phải nụ hoa. Tháng 3 năm 1841 Hoa Đường phải đổi là Lương Đường, vì kỵ huý một trong 43 bà vợ vua Minh Mạng là Hồ Thị Hoa, người sinh ra vua Thiệu Trị, nối ngôi tháng 1 năm 1841. Cứ tưởng chỉ con người mới long đong lận đận, thay tên đổi họ. Ai ngờ đất Lương Đường cũng không được yên thân. Gần 5 năm sau, nghĩa là từ tháng 12 năm 1885, Lương Đường lại một lần phải đổi thành Lương Ngọc, vì phạm vào tên của vua Đồng Khánh huý là Ưng Đường! Bởi thế khi đọc sách báo, người ta thấy vẫn chỉ một làng, nhưng lại có ba tên gọi khác nhau: Hoa Đường, Lương Đường, Lương Ngọc.


 


*  Phong thổ: Hoa Đường


Làng Hoa Đường hình thành bao giờ không thấy sách nào ghi chép. Trong Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ (1768- 1839) danh sĩ làng Đan Loan quê phủ Bình Giang, có viết: “Còn như làng Hoa Đường, nguyên trước là thôn Bông, thuộc xã Ngọc Cục sau Lê trung hưng mới phân ra làm xã riêng...”.


Theo Vũ Thế Khôi (trong Vũ Tông Phan với văn hoá Thăng Long- Hà Nội) thì thôn Bông tách khỏi Ngọc Cục, lập xã riêng và tên Hoa Đường chắc chắn có từ đầu nhà Mạc, cụ thể là từ trước năm 1537. Còn nhớ, năm 1527 khi Mạc Đăng Dung vừa lên ngôi, muốn xây dựng căn cứ địa chống Lê - Trịnh, đã đặt Hải Dương làm Dương Kinh. Nhà Mạc có ý  bành trướng thế lực của mình đã cắt phủ Thuận An của Kinh Bắc và các phủ Khoái Châu, Tân Hưng, Kiến Xương, Thái Bình của Sơn Nam cho thuộc về Dương Kinh. Nhân cơ hội ấy cho phân định lại địa giới các phủ, huyện, xã trong phạm vị Dương Kinh và lập nên những đơn vị hành chính mới.


Trong quyển Phả họ Vũ, cũng viết: “Đến khoảng đời Trần, đất Ngọc Cục trở nên thịnh vượng, dân cư chen chúc… Sau hồi quân Mông Cổ xâm lăng đất nước, có một nhóm người họ Vũ, và họ Phạm rời khỏi luỹ tre làng tới sinh cơ lập nghiệp trên một khoảng gò đống, phá đất hoang để làm ruộng nương. Chỉ trong một thời gian mà ở đó mọc lên một thôn  trang có vườn, giàn hoa cây cảnh trông có vẻ an cư lạc nghiệp. Do cảnh vật mà thành tên, người trong vùng liền đặt tên là thôn Bông”.


Khi đã trở thành đơn vị hành chính độc lập, thì làng phải đổi tên nôm thành tên chữ để giao dịch cho chính xác. Bởi thế mà thôn Bông được gọi  Hoa Đường.


Xem ra đất Hoa Đường có từ đầu nhà Mạc, được khai phá và  có người đến cư trú sinh sống từ thời Trần (thế kỷ XIII-XIV) nhưng phải đến đời Lê sơ (thế kỷ 15) thôn Bông cùng xã Ngọc Cục cũng như lân cận xã Mộ Trạch mới thực sự phát triển trù phú về vật chất và văn hoá…


  Nằm ở phía tây phủ Bình Giang và khu cực tây tỉnh Hải Dương, Hoa Đường phía bắc giáp Kẻ Sặt và làng Châu Khê; đông và nam giáp các làng Mộ Trạch, Hoạch Trạch và Ngọc Cục; ranh giới phía tây là con sông Nghĩa Giang, gọi là sông Cửu An, ngăn cách Hoa Đường với làng Phù Ủng.


Mấy trăm năm trước, nó còn là con cừ nhỏ, có những cầu tre vắt ngang, nơi chàng trai Phạm Ngũ Lão ngồi đan sọt, mải mê suy nghĩ về thế sự, về hiểm hoạ quân giặc Mông Nguyên kéo vào Đại Việt…đến nỗi quân lính của Quốc công Tiết chế Hưng đạo đại vương  Trần Quốc Tuấn chọc giáo vào đùi không hay biết. Người Hoa Đường vẫn còn truyền tụng câu chuyện tiền nhân kể lại: Chính con cừ này là con đường thám báo từ Đại bản doanh Kiếp Bạc, Chí Linh qua Hoa Đường, Phù Ủng về tận kinh đô Thăng Long trong thời Trần đánh quân  giặc Mông Nguyên


Hoa Đường là vùng đất cổ nên còn tiềm ẩn nhiều dấu vết. Qua những tấm bia khắc bằng chữ Hán đặt rải rác trong làng, người đời sau biết được một phần về cuộc đời cụ cống Phạm Hội(Anh Sơn giáo thụ Dưỡng Am), về cụ tú tài Phạm Hữu Điển, thân phụ Phạm Quỳnh.  Ở đây còn ngôi đình thờ thành hoàng là tiến sĩ Tam giáp Vũ Thiệu, người thôn Bông- Hoa Đường với những chuyện lưu truyền. Vũ Thiệu là vị khai khoa cho bản xã, đỗ khoa Quý Sửu 1493 đời Lê Thánh Tông. Sách Đại Nam thần lục có ghi rõ việc này”Trung đẳng thần Chí Đức Ngọ Lang Vũ. Thần họ Vũ, lấy hiệu là Ngọ Lang cư sĩ, đỗ tiến sĩ khoa 1493 triều Lê, làm quan đến Giám sát ngự sử. Khi nhà Mạc cướp ngôi vua, ông không muốn làm tôi nhà Mạc, bèn về ở ẩn nơi ruộng vườn. Về sau Mạc triệu ra, ông nhảy xuống sông tự tử. Lâu năm tích tụ thành linh thiêng, dân Hoa Đường lập đền thờ cúng”. 


Thì ra thành hoàng làng Hoa Đường là một người có công mở mang thôn xóm, lại là một kẻ sĩ “uy vũ bất năng khuất”thà chết để giữ trọn khí tiết. Thần hiệu của ngài là CHÍ ĐỨC - giữ đức hạnh đến cùng, thần miếu là TIẾT NGHĨA- chết vì nghĩa lớn.


Hoa Đường còn có 3 ngôi chùa cổ. Một làng có tới ba ngôi chùa cũng là hiếm. Nhưng  đến nay  chỉ có một chùa  Sùng Nghiêm vẫn còn, mới được tôn tạo khoảng đầu thế kỷ 20. Từ tấm bia Sùng Nghiêm tự lập năm 1702 nhân dịp trùng tu ngôi chùa cũ, mới ước lượng rằng ngôi chùa xưa đã xuất hiện từ nửa sau thế kỷ 17.  Khoảng hơn chục năm nay, thôn Lương Ngọc đã dựng nhà văn hoá trên nền trường Tổng sư xưa, do thượng thư Phạm Quỳnh cho đặt ở nguyên quán mình.


 Hoa Đường có ngôi đình ở bìa làng, xanh rợp bóng cây và thơm ngát ao sen. Nhưng qua chuyện kể của ông Chủ tịch xã Vũ Đình Năng lại càng cảm động, bởi vì làng Hoa Đường xưa,  còn có một ngôi đình vọng, cách đây gần sáu mươi cây số.


Đây quả là chuyện hi hữu!


Ở Hoa Đường không biết từ bao giờ lưu truyền một câu chuyện nửa hư nửa thực. Một lần thầy địa lý Tả Ao đi qua Hoa Đường, khen đình làng đẹp, nhưng chẳng biết vì đâu mang xây ngoài luỹ tre, mới phán rằng”Đất này đãi ngoại, ai ra khỏi làng làm ăn mới phát”. Chẳng biết thật giả ra sao, nhưng bao đời người dân Hoa Đường đã tiếp nối nhau ra khỏi làng để lập thân lập nghiệp. Từ trấn Sơn Tây,  xứ Kinh Bắc, rồi đến Hà Thành..đều có mặt người Hoa Đường. Nhưng đông nhất vẫn là ở Thăng Long đô hội. “Dân đâu thần thánh đó”. Thành ra ở Hà Nội có hẳn một “Lương Ngọc xã thuộc Hà”có đến ba nghìn nhân khẩu.


Đình vọng Lương Ngọc ở số nhà 68A phố Hàng Bông, Hà Nội. Các thế hệ người dân Lương Ngọc xa quê đã cùng nhau góp công sức lập nên đình này để thờ cúng thành hoàng, khi mà từ thời Tự Đức giặc giã liên miên, binh đao khói lửa, đường đi cách trở, không thể về làng thờ phụng được. Đình vọng này là khu đất gia cư, được mua lại vào tháng 5 năm Thành Thái thứ 2(1890) có bề ngang 16 thước, bề dài như trong địa đồ. Hai năm sau, tức  tháng 5 năm 1892 niên hiệu Thành Thái 4 đình được dựng lên. Trên tường ngôi đình có gắn tấm bia kể rõ lịch sử tân tạo. Có điều lệ trông coi, thờ cúng khá tỷ mỷ rành mạch. Thế là từ đấy cứ xuân thu nhị kỳ, từ quan đến dân, các sĩ tử, các vị  chức sắc sinh sống ở Hà thành tới đây thờ vọng. Việc cúng tế  phải tiến hành theo nghi thức đúng như ở đình  nơi nguyên quán.


Cái đình ấy trở thành sở hữu của đồng hương Lương Ngọc, là một di tích lịch sử, là nơi thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của người dân Lương Ngọc tha hương. Thế rồi chẳng hiểu từ đâu, vào cuối năm 1969 đầu năm 1970, mảnh đất thiêng ấy đã bị nhượng lại cho một hợp tác xã, để họ phá đi làm chỗ kinh doanh.!? Rồi HTX nọ lại sang tên cho một tư nhân khác vào năm 1990-1991. Điều khổ tâm nhất là toàn bộ đồ thờ tự thiêng liêng trong đình không cánh mà bay đi hết. Con cháu  làng Hoa Đường- Hà Nội  bàng hoàng lo lắng, cùng với địa phương bản xã Lương Ngọc vất vả ba năm trời (1993-1996), bằng mọi cách mới chuộc được các đồ thờ tự, gồm Ngai vị bản ấp thành hoàng Chí Đức Ngọ Lang đại vương, thần vị Lịch triều Tiến sĩ Lập Trai tiên sinh, quả chuông đồng đúc từ năm Thành Thái(1891)và  vài đồ bát bửu bằng đồng còn sót lại. Cũng may người mua lại đình cũng có tâm, họ đã  đem đồ thờ cúng này vào Đền Bạch Mã gửi, nên mới còn. Tết Đoan Ngọ năm Bính Tý 1996 Ban liên lạc đồng hương Lương Ngọc - Hà Nội đã tạm mang đồ thờ về để nơi quê gốc.


Hoa Đương là đất văn chương, chữ nghĩa. Vũ Thiệu là người khai khoa như đã nói phần trên. Trong làng trước sau có 12 vị đỗ tiến sĩ. Trong đó 4 hoàng giáp, 8 tiến sĩ văn và võ. Nếu tính cả các cử nhân, thì Hoa Đường có thời kỳ trong khoảng hai trăm năm, trung bình cứ 5-6 năm lại có một đám khao vọng và vinh quy bái tổ. Năm Kỷ Hợi 1779 Hoa Đường phát cả đường văn(Tiến sĩ Phạm Quý Thich), cả đường võ  (Tạo sĩ Vũ Tá Cảnh ). Điều lạ là tuy Mộ Trạch khai khoa sớm trước chín mươi năm(khai khoa cho làng là 2 người họ Vũ đậu hoàng giáp năm 1304), nhưng từ sau năm 1754 thì cạn kiệt mạch đại khoa. Còn Hoa Đường dẫu mở khoa muộn hơn, mà nối dài như nguồn nước sông Cửu An, cứ đều đặn tuôn ra cho đến tận năm 1901. Vì thế  những năm ấy hình ảnh Hoa Đường trong thi cử sáng ngời lên rực rỡ khiến cho Mộ Trạch bị nhạt mờ…


Sự nghiệp khoa bảng của Hoa Đường bước sang thế kỷ XVIII thăng hoa không phải ngẫu nhiên. Một phần do ảnh hưởng của phong thuỷ. Người xưa nói: Nhất cận thị, nhị cận giang - thứ nhất gần chợ, thứ nhì gần sông.  Đất Hoa Đường thuận lợi cho giao thông và sinh hoạt.  Đây là vùng sóng giao thoa của  mảnh đất võ Phù Ủng và đất khoa bảng Mộ Trạch, từng được mệnh là trung tâm văn hiến cổ đại”Tiến sĩ sào”(cái tổ sinh ra tiến sĩ)


Sách cũ chép: “Mạch đất từ Mộ Trạch qua Ngọc Cục dẫn vào địa phận Hoa Đường”. Họ Vũ ở Hoa Đường chiếm đại bộ phận dân số trong làng, lại chiếm nửa phần khoa cử, có họ hàng từ họ Vũ Mộ Trạch chỉ cách một cánh đồng. Với danh hương Phù Ủng, người Hoa Đường cùng uống chung một nguồn nước sông, họp cùng một phiên chợ tết. Con gà cất lên tiếng gáy, gọi bao ngọn lửa bừng lên mỗi bếp nhà. Đến thời vụ nông nhàn, tiếng hát trống quân tha thiết ở đôi bờ sông Cửu An  đã gắn bó bao nhiêu  lứa đôi kết thành chồng vợ, cũng chứng kiến bao nhiêu tiếng than thở nhớ mong?.


Người Hoa Đừơng chỉ quen làm nghề có nguồn gốc là chữ nghĩa. Học hành hiển đạt, chỉ có cách đi làm thơ lại. Sách Lịch triều hiến chương loại chí tập I của Phan Huy Chú đã ghi các ngành nghề truyền thống như sau: Làng Hoa Đường quen việc tính toán, thông hiểu việc làm thông lại ti thuộc, ở các vệ trong kinh, ngoài trấn. Truyền thống và phong tục làng quê lại buộc phải vinh quy bái tổ, thăm viếng phần mộ tiên liệt. Đi đâu, làm gì người dân vẫn tự hào mình là người quê gốc Hoa Đường, hình ảnh làng quê đã ăn vào máu thịt con người. Có lẽ vì thế mà những năm bốn mươi thế kỷ hai mươi, khi quan thượng thư Phạm Quỳnh thất sủng bị gạt ra khỏi chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật, ông đã về sống ẩn dật tại một biệt thự bên dòng sông đào Phú Cam, vùng An Cựu - Huế, biệt thự mang tên Hoa Đường, cố hương của họ Phạm?


 


Chương II.  Họ Phạm ở Hoa Đường


 


Trong các dòng tộc ở Hoa Đường chỉ có hai họ lớn thay phiên nhau đoạt kim bảng ở các khoa thi Hội. Ấy là họ Vũ và họ Phạm. Năm Quý Mùi 1763 Phạm Dương Ưng đỗ tiến sĩ Tam giáp, thì khoa sau  Nhâm Thìn 1772 Vũ Huy Diệm đỗ ngay đại khoa. Lại khoa sau Kỷ Hợi 1779 Phạm Quý Thích đậu Tam giáp, sau đó ít lâu khoa Bính Tuất 1782 lại có Vũ Tông Phan vinh quy bái tổ. Những tiến sĩ nho học làng Hoa Đường ra làm quan, cống hiến tài năng phụng sự đất nước, làm vẻ vang dòng họ và quê hương, được ghi vào bảng vàng bia đá, lưu danh đời đời. Nhưng ở  Hoa Đường có một người chỉ đậu cử nhân, chưa từng thi Hội, không vào hàng đại khoa, vậy mà tên tuổi ông chẳng kém gì các ông nghè, ông bảng. Hơn thế, ông được xã hội và giới sĩ tử Hà thành ngưỡng mộ, và  kính trọng. Đó là Dưỡng Am Phạm Hội (1791-1854)- nhân vật có ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình Phạm Quỳnh sau này.


Như những văn thân người Hoa Đường, thấy Hà thành là nơi đô hội, Phạm Hội dời quê ra vùng đất thuộc làng Tự Tháp, xưa là tổng Tiêu Túc sau đổi thành Thuận Mỹ huyện Thọ Xương tìm kế mưu sinh, lập nghiệp. Khoa Quý Mùi niên hiệu Gia Long 12 thi đỗ tú tài trường Sơn Nam. Gián đoạn, 6 năm sau mới lại một phen lều chõng, trúng cách cử nhân kỳ thi Hương khoa Kỷ Mão, trường Bắc thành khi đã  29 tuổi. Có một học vị nhất định, hai năm sau Phạm Hội được bổ chức Hàn lâm viện biên tu rồi sung làm Quốc sử quán biên tu dưới triều vua Minh mạng 2. Năm 33 tuổi được bổ vào chức Giáo thụ phủ Anh Sơn.


Phạm Hội lúc còn nhỏ là học trò của Hộ bộ Thiêm sự Đỗ Hòe Am ở Nhân Mục, Thanh Trì, sau học ông thầy người làng Hoa Đường là Thị trung học sĩ Phạm Quý Thích (hiệu Lập Trai). Phạm Hội là người thuần hiếu, từ trẻ đến già lấy việc thờ cha mẹ làm trọng, coi tước lợi làm nhẹ, lấy đạo đức mà dạy học trò..


Dưỡng Am mồ côi cha từ khi lên 11 tuổi. Nhà có ba chị em, hai gái một trai. Thương em, hai chị không chịu xuất giá, ở nhà nuôi em ăn học. Phạm Hội kính mẹ và thương chị, nên khi mới đi làm Giáo thụ phủ Anh Sơn được trọn một năm, 34 tuổi, đã lấy cớ mẹ già xin cáo quan về quê thờ mẹ. Bà mẹ ngày một già yếu, rồi quy tiên. Dưỡng Am dạy học, thờ hai chị như mẹ, một lòng hiếu thảo trên đời ít ai bì.


            Cáo quan về quê mở trường dạy học. Trường Dưỡng Am thuộc loại lớn đầu tiên ở Hà Nội dười  thời nhà Nguyễn. Cụ cũng là thầy đồ hoàn toàn sống bằng nghề dạy học, không có bất cứ nguồn nào khác. Các thứ học trò cho, thầy cũng đủ sống cho bản thân. Cụ dạy học với phong cách riêng, hướng cho các môn sinh: văn thể phải hồn hậu, không nên ham thích việc quái đản. Viết chữ phải ngay ngắn, không viết tắt, thế mới là người tĩnh tâm.  Dạy  xong thì ngồi uống trà một mình, hay cùng con cháu, bạn bè, học trò bàn luận. Tiếng lành đồn xa, học trò cụ từ xa tìm về đông tới vài trăm người. Chí Đình tiên sinh là bạn cụ làm thơ tặng, có câu: “Bỏ quan vì thờ chị, ôn cũ nên làm thầy”.


Năm 21 tuổi, Dưỡng Am thành thân với một người thôn nữ là Trần thị. Sáu năm hương lửa nồng nàn thì Trần thị qua đời. Thương nhớ người bạn trăm năm giữa đường đứt gánh, Phạm Hội tang vợ, sống cô độc 9 năm trời rồi mới tục huyền với người họ Lưu. Năm sau thì thân mẫu từ trần.Muộn màng,  40 tuổi Phạm Hội mới làm cha, sinh con trai Phạm Ngạch.  Năm 48 tuổi, Phạm Hội một lần nữa thất nội trợ. Vài năm sau cụ tìm người thiếp họ Phạm, sinh thêm bốn con gái.


Năm Giáp Dần 1854 niên hiệu Tự Đức 7, Anh Sơn Giáo thụ Dưỡng Am Phạm Hội qua đời. Mộ cụ được táng tại Hương Viên, Thọ Xương. 17 năm sau, tức là khoảng 1871 gia đình, dòng tộc  và học trò đã đưa hài cốt của cụ về táng ở xứ Đình Môn làng Hoa Đường- Lương Đường- Lương Ngọc, nơi cố hương của họ Phạm.


Chúng tôi đã về Lương Ngọc và đến viếng thăm mộ Dưỡng Am. Nghe kể: Ngôi mộ ban đầu nằm giữa cánh đồng, phía đông bắc làng Hoa Đường. Trải hơn một trăm năm biến đổi, xê dịch, các làng xóm cứ phình ra dần, thành ra bây giờ mộ cụ Dưỡng Am nằm ở bìa làng, chứ không còn giữa đồng như trước nữa. Một con đường rải bê tông  chạy từ cánh đồng giáp đất Mộ Trạch, lao thẳng ra đường liên xã. Ngôi mộ cụ Dưỡng Am được xây cất cẩn thận, nằm yên ả dưới bóng một cây cao có thể tỏa bóng mát quanh năm. Trước mộ là con mương nhỏ dẫn nước tưới tiêu rộng ước gần hai mét, người khỏe mạnh có thể nhảy qua. Con mương nước chảy liu điu, cỏ dại mọc lòa xòa  hai mép bờ và dưới lòng mương có mâý bông hoa trang trắng nở, con chuồn chuồn kim nhỏ như cái tăm tre, chấp chới đậu rồi bay lên, như một ánh lửa chơi vơi giữa một nền xanh thăm thẳm..gợi vẻ nội ngàn dân dã, khiến cho người đi qua bỗng nao nao nhớ tới một câu thơ cổ tự thưở xa xăm..


Cụ Dưỡng Am mất rồi, học trò ở Hà Nội mới quyên góp tài lực xây nhà thờ thầy ngay trong khuôn viên đất căn nhà số 1 phố Hàng Trống - Hà Nội. Ông Phạm Ngạch con trai duy nhất của Dưỡng Am có hai người con trai. Nhưng cả hai mệnh yểu không qua được tuổi 17. Đến khi Phạm Ngạch qua đời, thì mảnh đất ấy giao cho ông nội Phạm Quỳnh thừa tự.


Theo gia phả họ Phạm mà nhạc sĩ Phạm Tuyên đang giữ, thì cụ ông Phạm Hợp và cụ bà (húy Hảo) sinh hạ được ba trai hai gái. Trong đó ông  Hai là Phạm Tốn, tức Thịnh. ( Nhưng một vài tài liệu viết là Phạm Chu hay Phạm Chuyên và gọi là cụ Cả). Có thể cụ Phạm Tốn ban đầu là thứ hai, nhưng người anh trên mình mất đi, thì được đôn lên làm Cả. Và dân làng, hoặc gia quyến quen gọi cụ Cả thành tên. Chúng tôi mang ý này ra trao đổi với nhạc sĩ Phạm Tuyên, ông cũng đồng tình.


Cụ Phạm Tốn(nay gọi là cụ Cả cho dễ theo dõi) sinh ra Phạm Hữu Điển.


Cụ Cả làm nghề dạy học, sống thanh đạm như những ông đồ làng quê, nhưng rồi mất sớm. Cụ bà ở với bà tú Ngạch vì ông tú Phạm Ngạch cũng đã mất rồi. Theo nghiệp cha, Phạm Tú Điển cũng dùi mài kinh sách. Nhưng học tài thi phận, hẩm hiu. Lần ấy anh khoá lều chõng thi Hương. Thi Hương bấy giờ vẫn còn có 4 trường. Thi xong trường một ra ngoài quán trọ đợi kết quả mới  vào được trường hai. Vượt cửa ải trường hai vào trường ba. Trúng cách trường ba đỗ tú tài mới vào trường tư để thi lấy bằng cử nhân. Tại trường ba, khi tất cả các lều đã nhổ cả,  người ta nghi ngờ không rõ vì sao có một chiếc lều vẫn còn để yên không động đậy. Quan trường đến nơi thì người thí sinh đã mất. Trên ngực còn đeo ống quyển.  Trong ống quyển có tập bài làm xong gọn ghẽ, có ý chuẩn bị mang nộp thì đột ngột qua đời. Cảm động trước nghị lực của thí sinh, quan trường cứ đưa lên và chấm. Bài xuất sắc  được trúng cách tú tài.


Người xấu số ấy chính là Phạm Hữu Điển. Học vị tú tài đến với ông khi ông về với đất. Lúc còn sống ông chưa được nghe xóm làng bạn hữu gọi mình  bằng  một tiếng anh tú, hay ông tú.  Có lẽ nơi suối vàng, ông cũng an lòng biết rằng nơi trần thế, người vợ ông được dân quanh vùng trân trọng gọi bà tú, mặc dù bà đã mất trước ông gần sau năm. Bà tú tên là Vũ Thị Đoan, con gái cụ Chiêu Tư Vũ Như Lâm, cháu nội cụ nghè Vũ Tông Phan, người làng Lương Đường- Lương Ngọc, Hoa Đường phủ Bình Giang, cư trú ở phường Báo Thiên huyện Thọ Xương Hà Nội. Bà tú chính là thân mẫu Phạm Quỳnh…


Di hài ông tú Điển được đưa về an táng tại làng Hoa Đường, quê hương của Phạm tộc. Đó là một khu đất nằm ở phía tây làng  tiếp giáp cánh đồng làng Mộ Trạch. Những năm sau này, khi Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, có dịp về quê, ông đã cho xây lăng mộ phụ thân theo phong cách lăng mộ trong cố đô Huế. Giữa cánh đồng bằng phẳng, hai trụ trước mộ như hai cánh tay thẳng giơ lên bầu trời. Trên trụ đều có những dòng chữ Hán do năm tháng bào gọt bây giờ không đọc được. Mấy năm gần đây gia đình anh em giáo sư Phạm Khuê và nhạc sĩ Phạm Tuyên đã về Hoa Đường sửa sang, tu tạo khu mộ cụ Tú Điển, ông nội của mình. Bây giờ  có đường vào lăng mộ được lát xi măng trời mưa cũng không sợ lầy lội, toàn cảnh  được khang trang rộng rãi hơn  trứơc.


            Cuối năm Canh Dần 2010, các con, cháu, chắt Phạm Quỳnh đã cùng nhau quyên góp tiền và công sức tôn tại tạo lại mộ tổ Phạm tộc chỉ cách mộ cụ tú Điển một trăm mét tại cánh đồng làng Lương Ngọc. Trước mộ có dựng một tấm bia đá trắng, trên bia không có một chữ nào. Đây là phiến đá tìm thấy khi tôn tạo lại mộ này, nằm chìm sâu dưới mặt đất. Phải chăng người xưa  dùng phiến đá có ngầm ý, bốn đời họ Phạm, từ Dưỡng Am Phạm Hội, Tú tài Phạm Ngạch, rồi Phạm Tốn và sang đời Phạm Hữu Điển sống cảnh hàn nho, dạy học, thanh bạch, và  cương trực giữa cuộc đời?


Công trình tôn tạo do Phó giáo sư Tiến sĩ kiến trúc Tôn Thất Đại, cháu ngoại của Phạm Quỳnh thực hiện, được chính quyền địa phương và nhân dân sở tại giúp đỡ, đã hoàn thành trước tết Tân Mão…


Dưỡng Am Phạm Hội tuy không phải trực hệ với ông cha Phạm Quỳnh, nhưng lại là người đồng tộc,  chắc có mối quan hệ thâm hậu từ đời trước.  Dưỡng Am Phạm Hội mất, con là Phạm Ngạch lại không còn lưu hậu, hương hỏa  nguy cơ  tuyệt tự. Bởi thế, khi ông Phạm Ngạch qua đời, thì ông nội Phạm Quỳnh, (tức cụ Phạm Tốn- tức Thịnh) ăn thừa tự. Cũng chính ở ngôi nhà này, một sinh linh đã ra đời. Và không ai ngờ  sinh linh bé nhỏ cất tiếng khóc chào đời ngày 17 tháng 12 năm Nhâm Thìn 1892,  sau này trở thành  Chủ bút tạp chí Nam Phong, một nhà văn hóa lớn,  đóng dấu son trong lịch sử  văn hóa nước nhà đầu thế kỷ 20.


 


 


Chương III. SỐ PHẬN MỘT CON NGƯỜI.


* Nơi  tiếng khóc chào đời.


Phạm Quỳnh cất tiếng khóc chào đời giữa lúc đất nước đầy biến động. Triều đình nhà Nguyễn đã vào thời kỳ suy vong, không còn đủ sức lực chống đỡ trước con bạch tuộc thực dân Pháp đang thả vòi ra toàn cõi Đông Dương.


Năm 1858 Pháp bắt đầu nổ súng tấn công Nam kỳ, triều đình nhà Nguyễn co rúm lại trước súng đạn và tàu chiến Pháp, và chẳng bao lâu đã lần lượt bị mất ba tỉnh miền đông. Rồi khi nuốt chửng  được sáu tỉnh, Pháp đơn phương tuyên bố lục tỉnh là lãnh địa của chúng. Từ đó Nam kỳ trở thành thuộc địa, đứng đầu là một thống đốc Pháp. Không chỉ thế, tháng 10 năm 1888 vua Đồng Khánh thò bút ký chỉ dụ cắt đất Hà Nội cho Pháp làm nhượng địa. Thế là mặc nhiên mảnh đất Hà thành phải sống dưới ngọn roi da của chế độ thực dân.


Lúc bấy giờ Hà Nội mới có 63 phường. Từ Hồ Tây lên Bưởi, vòng về Cầu Giấy, dọc đê La Thành qua Khâm Thiên đến hồ Thiền Quang quành sang làng Lương Yên..người từ các trấn phủ xung quanh dồn về Hà Nội tìm kế mưu sinh  ngày thêm đông đúc và các phố nghề hình thành phát triển rộng ra..


Trong ba mươi sáu phố cổ Hà Nội, phố Hàng Trống bắt đầu từ Hàng Gai, đến lối rẽ vào phố Bảo Khánh, dài ước chừng bốn trăm mét. Phố ngắn mà có nhiều nghề truyền thống tinh hoa. Như tên gọi, ở đây nhiều nhất là nghề bưng  trống. Có thể nói hầu như các loại trống đều có đủ. Từ những chiếc trống đại, trống con, trống nhà trò cho các phường hát, đến loại trống bỏi cho trẻ em chơi  rằm trung thu ở đây đều có bán. Rồi tàn, tán, võng lọng phục vụ triều đình, cho các quan lại, cho việc thờ cúng ở miếu đền, xuân thu nhị kỳ lễ hội..tất cả đều không  thiếu. Ngoài  trống,  phải kể đến một loại sản phẩm văn hóa đặc sắc, đó là tranh. Tranh Hàng Trống từng vang lừng  trong nước và thu hút sự chú ý của người phương Tây. Ấy là tranh dân gian, vẽ thủ công, lấy gia truyền làm bảo bối, có sức  truyền cảm giản dị mà cao sang, dân dã mà trí tuệ. Không chỉ là tranh vẽ nhân vật anh hùng, liệt nữ, điển tích  lịch sử mà còn có  những bộ tranh tứ bình, tứ quý, tranh tố nữ tài hoa. Tranh đề thơ chữ Hán, nét bút tao nhã như một loại thư pháp, rất quyến rũ những bậc văn nhân tài tú, những gia đình quan lại thượng lưu.Ví như bức tranh miêu tả cảnh đánh phách, gõ sênh, múa quạt uyển chuyển với màu sắc dịu dàng của bốn  tố nữ, được phụ đề bằng một bài thơ Lý Bạch:


Thuỳ gia ngọc địch ám phi thanh


Tán nhập xuân phong mãn Lạc thành


Thử dạ khúc trung văn Chiết Liễu


Hành nhân bất khởi cố viên tình


(Nhà ai tiếng sáo thật mơ màng


Theo gió xuân vào  khắp Lạc Dương


Văng vẳng đêm nay bài Chiết Liễu


Ai người chẳng chạnh nỗi cố hương)


Phố Hàng Trống là đất cũ của mấy thôn Cổ Vũ, Khánh Thuỵ và thôn Tự Tháp huyện Thọ Xương xưa. Ở đấy có đền Hàng Trống, thờ một cô đào sắc tài làm chao đảo hồn vía chúa Trịnh, được chúa yêu, vời vào phủ chúa. Cũng bởi quá tài sắc nàng đã bị các phi tần đem lòng ghen ghét đố kỵ. Họ đã tìm cách chôn sống nàng. Người đời cảm thương đã lập đền thờ. Cũng phố này còn nổi tiếng về trường học của ông nghè Vũ Tông Phan, người làng Hoa Đường, tỉnh Đông có nhiều học trò thành danh, làm quan hiển đạt..Thời thuộc Pháp, hàng Trống có một dinh của tướng Môlie, tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp mà bây giờ là Trụ sở báo Nhân dân- 71 hàng Trống..


 Cái phố ngắn ngủi ấy có ngôi nhà số Một, vốn  là điền sản mà cụ Phạm Tốn(Thịnh), tức cụ Cả  được thừa tự từ gia đình ông tú Phạm Ngạch như đã nói phần trên. Từ khi cụ Cả qua đời, ông bà Phạm Hữu Điển – Vũ Thị Đoan vẫn ở chung nhà với bà cụ tú Ngạch. Bà tú Điển sinh con trai cũng ở ngôi nhà ấy. Bấy giờ đàn bà chưa có thói quen đến nhà thương sinh nở.


Thời ấy Hà thành đang trong quá trình hình thành đô thị dưới chế độ thực dân. Ngay cả hồ Gươm ở trung tâm thành phố mà xung quanh hồ còn những túp lều chen chúc nham nhở. Dưới ngòi bút của một nhà báo Pháp, năm 1894(tức là hai năm sau khi Phạm Quỳnh ra đời), hình ảnh về hồ Gươm, chỉ cách ngôi nhà số 1 hàng Trống có mấy trăm mét về phía đông, chẳng khác một cái đầm làng: Muốn tới được bên hồ, phải bỏ những lối qua lại rất bẩn để len lỏi vào những ngõ hẹp, loanh quanh giữa những mái nhà tranh lụp xụp của người nghèo khổ, nhảy lò cò qua những vũng nước hôi hám, những đống rác, có khi đi hàng tiếng đồng hồ rồi lại trở về nơi bắt đầu. Thảng hoặc có ai đã nhìn thấy góc hồ ở cách đó rất gần thì cũng chẳng còn tâm trí đến. Thật ngán ngẩm, họ phải vấp vào một bãi lầy bẩn thỉu ở một đầu ngõ hoặc ở sau những túp lều tối om. Nhưng cũng từ đó Hà thành nhen nhóm hình thành các phố nghề thủ công. Các nhà bên đường hầu như làm theo một kiểu nhà hình ống: bề ngang hẹp, chiều dài sâu, đôi khi thông sang phố khác. Bên trong các ngôi nhà bố trí cũng gần giống nhau: Gian ngoài là nơi bán hàng hoặc làm hàng, tiếp theo là sân lộ thiên để lấy ánh sáng. Quanh sân có trồng cây ăn quả, hoặc trồng cây cảnh giàn hoa. Gian nhà trong mới là nơi ăn ở và tiếp theo là khu phụ cho sinh hoạt khác.


Nhà ông Phạm Hữu Điển có khác một chút. Gian ngoài cùng là phòng khách, phòng nghỉ, rồi tiếp đến cái sân. Đi sâu vào trong là chỗ buồng ở của cụ tú Ngạch. Tiếp đến một cái sân nhỏ và phía trong là một gian thờ cúng. Cuối cùng là một cái sân có vườn, cây bồ hòn, vài cây táo gai.


Mảnh vườn nhà số Một- Hàng Trống   là nơi chôn rau cắt rốn của Phạm Quỳnh. Từ đây đã cất lên những tiếng khóc chào đời của một con người, mà gần hai chục năm sau trở thành chủ bút tờ tạp chí nổi tiếng, chủ bút Nam Phong. Và cái phố ấy còn có thêm một địa chỉ văn hoá nữa, đó là trụ sở Hội Khai trí tiến đức do Phạm Quỳnh làm Tổng thư ký.


 


* Côi cút tuổi thơ


Thuở bé Phạm Quỳnh yếu ớt, sài đẹn. Chín tháng tuổi, đang tập bò đã chịu phận  mồ côi mẹ. Bà Vũ Thị Đoan mắc chứng bệnh hiểm nghèo mà thời ấy chẳng có phương thuốc nào chữa được. Nhiều đêm, tiếng khóc Phạm Quỳnh đến cơn khát sữa nghe như xé vải thật tội nghiệp. Bà nội nuôi cháu thay người con dâu xấu số của mình. Hàng ngày bà với bà cụ tú Ngạch thay nhau đi xin sữa cho cháu, có khi bế cháu đi bú chực. Tháng ba mùa hoa xoan rụng, ong muỗi bay như nắm cát tung lên, đứa cháu  mắc chứng bệnh đậu mùa. Nóng, sốt và những mụn nước sưng dộp rồi vỡ ra mang theo một mùi tanh nồng. Hai người đàn bà nghèo khó mặc dù hết lòng chạy chữa, nâng niu đứa cháu mồ côi, nhưng tình yêu thương của họ chỉ có thể làm cho những mụn nước xẹp dần, chứ không thể lấp đầy được những nốt rỗ hoa rải rác trên khuôn mặt cậu bé thơ dại.


Phạm Quỳnh cứ thế lớn lên trong vòng tay của hai bà, của người cha, và từ những quả táo vườn, những nắm rau tập tàng bòn mót trong chiếc vườn đất làng Tự Tháp (tức phố Hàng Trống bây giờ). Tiếng là đất Hà thành, những năm cuối thế kỷ 19, đây vẫn còn hoang sơ dáng dấp một cái làng nghèo khó.


Đoạn tang vợ, ông Phạm Hữu Điển tục huyền, sau ba năm sống cảnh gà trống nuôi con.  Người vợ kế sinh con trai đặt tên Phạm Bái. Hai anh em cùng cha khác mẹ sống với nhau chưa được mấy năm thì giông bão dồn dập ập xuống gia đình họ Phạm. Vào khoảng năm Tân Sửu 1901, Phạm Quỳnh mới chín tuổi đầu thì cha mất. Chiếc khăn tang trắng lạnh thít chặt mái tóc xanh của hai đứa trẻ. Rồi ít sau Phạm Bái còn bé dại mắc bệnh nan y cũng đi theo cha. Thế là người mẹ kế đã mất chồng bây giờ lại mất con, giữa lúc tuổi xanh, biết không thể đứng vững trước cuộc đời xô đẩy. Bà xin phép mẹ chồng đi bước nữa. Bước chân ra khỏi nhà họ Phạm, bà như cánh chim đơn lẻ giữa chạng vạng trời chiều..


Ngôi nhà số 1 Hàng Trống lúc này chỉ còn ba con người, một đứa trẻ và hai cụ già. Ba cái chấm nhỏ nhoi giữa cảnh ồn ào nhộn nhạo của cuộc sống phương Tây, cứ ngày một tới gần. Những năm tháng gieo neo ấy dần qua đi. Hai người đàn bà góa bụa nương tựa nhau, đều coi Phạm Quỳnh là niềm an ủi để di dưỡng tuổi già. Họ ngày đêm ước mong sao cho đứa cháu mạnh khoẻ để đi học, học giỏi sau này thoát cảnh khốn khó. Sớm nhận ra phận nghèo, Phạm Quỳnh ngay từ nhỏ đã biết vâng lời, ngoan ngoãn, chăm chỉ chẳng bao giờ làm phiền lòng hai bà. Cũng vì hiền lành thật thà nên thuở bé có tên “anh lý nhà quê”. Đối với Phạm Quỳnh, đó không chỉ là những người bà kính yêu, mà còn như người mẹ hiền từ. Tiếng hát ru ngập tràn tình thương yêu từ hai bà đã bù đắp phần nào thiếu hụt của tuổi thơ mất đi hơi ấm từ lòng mẹ.


Siêng năng, ham học, Phạm Quỳnh học giỏi. Ban đầu học chữ Hán nhưng không vào, vất vả lắm mới viết được hai chữ tên mình Phạm Quỳnh.  Một lần nhân ăn giỗ tại nhà thờ họ Vũ, bà nội (tức cụ Cả bà) thắp hương khấn gia  tiên cho cháu được theo Tây học để sau này  ấm  vào thân. Thoạt tiên Phạm Quỳnh  học trường tiểu học Pháp - Việt phố Hàng Đào gần nhà, không phải học phí. Rồi được vào học Pháp văn ở trường Thông ngôn, gần bờ sông Hồng. Năm 1908 trường này hợp với trường Thành chung Nam Định lập thành trường Thành chung Bảo hộ, đóng ở làng Bưởi, trong khuôn viên chùa Bà Đanh cũ. Thời ấy quen gọi trường Bưởi,  (nay là trường Chu Văn An) cũng không phải đóng tiền, còn được học bổng, đỡ người bà trong những tháng ngày túng thiếu.


Năm 1908 Phạm Quỳnh  thi tốt nghiệp, đỗ thủ khoa. Người dân Hà thành trầm trồ khen: Người gốc Hoa Đường có khác, thời nào cũng hay chữ. Xưa Nho học đỗ ông nghè, ông bảng, nay Tây học thì lại làm ông phán ông tham..Mà thực. Phạm Quỳnh có năng khiếu học Pháp văn. Hầu như tất cả các môn tiếng Pháp  đều đạt điểm tuyệt đối, nhưng Hán văn lại rất kém.


16 tuổi còn rất trẻ, Phạm Quỳnh đi làm, giữ chân thủ thư và thông ngôn ở Trường Viễn Đông bác cổ, cùng thời với Nguyễn Văn Tố và Nguyễn Bá Trác. Đi làm, có tiền lương đã giảm đi một phần nào gánh nặng của bà nội.  Hằng ngày, đi bộ từ Hàng Trống vòng qua hồ Hoàn Kiếm đến công sở làm việc, Phạm Quỳnh thường phải đi qua một cửa hiệu đồng hồ. Không biết đã bao nhiêu lần ngắm nghía chiếc đồng hồ  bày trong tủ kính,  mà không dám nghĩ đến chuyện mua. Sau này, khi nhận thêm việc dạy tiếng Việt ở trường, thu nhập khá hơn,  mới dành dụm tiền mua  và giữ luôn bên mình như một vật báu, cho tới khi đã trở thành Thượng thư, để nhớ một thời khó nghèo.


Đi làm được hơn một năm, đang độ thanh xuân, Phạm Quỳnh hăm hở như con chim xoải cánh bay vào trời rộng. Lúc bấy giờ bà nội tuy còn khỏe nhưng tuổi cao, còn bà cụ tú Ngạch đã già yếu lắm,  vẫn chưa được an nhàn. Vốn là người hiếu thuận, Phạm Quỳnh nghĩ tới chuyện phải  lấy vợ sớm để có điều kiện giúp đỡ hai bà bớt phần khó nhọc vì mình.  Rồi Phạm Quỳnh kết hôn với một  thôn nữ, thuần hậu chất quê, người làng Nhân Vực cách Hà thành khoảng hai mươi cây số.


Làng Nhân Vực (có sách chép là Thọ Vực) thuộc tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang xưa thuộc đất Bắc Ninh. Đấy là một vùng quê  văn hiến lâu đời, có làng nghề, làng buôn  và nổi tiếng về truyền thống khoa cử. Trong làng có đình, chùa, văn chỉ, giếng cổ. Vào làng phải qua cổng xây, kiến trúc trên lầu dưới vòm giống như lối kiến trúc Trung Hoa.


Sách”Biên niên sử cổ trung Việt Nam”(NXB Khoa học xã hội, xuất bản năm 1987) thì Xuân Cầu xuất hiện từ thế kỷ thứ VII. Sử cũ chép, khi nhà Đường xâm lược nước ta, đã đưa dân Trung Hoa lưu vong trên đất Đại Việt đi khai khẩn đất hoang hoá để lập hương ấp mới. Ban đầu làng có tên là Tân Kiều, nghĩa là khác nước ngoài mới đến cư trú, sau đổi là Hoa Cầu. Từ đời Trần về trước, Nhân Vực - Xuân Cầu thuộc huyện Tế Giang, đến đời Lê niên hiệu Quang Thuận mới đổi là Văn Giang. Đời Nguyễn, Mimh Mệnh thứ 13(1831) Xuân Cầu là một trong 6 xã của tổng Hoa Cầu: Bảo Vực, Vĩnh Bảo, Hoa Cầu, Đồng Tỉnh, Khúc Lộng, Đông Khúc …thuộc huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh.


Xuân Cầu được thế giao thông thuận tiện. Đi bộ chỉ non nửa ngày đường đã ra đến Thăng Long Hà Nội. Mà từ trong làng ra đường cái quan đi ngược về phía đông, trấn Hải Dương cũng chỉ trọn một ngày đường. Trong làng chủ yếu thuần nông, có pha chạy chợ. Vì gần chợ Vải của người Hoa nên làng có nghề nhuộm thâm và nghề buôn phát triển. Hàng vải thâm ở  Xuân Cầu là sản vật quý, từng được chọn đem đi cống nạp ở Trung Quốc:


Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu(tức Hoa Cầu- Xuân Cầu)


Đồng Tỉnh bán thuốc, Huê Cầu nhuộm thâm


Những ngày hội làng, có hát chèo, chơi chọi gà, đấu vật, chơi đu, rằm tháng Tám có múa sư tử, hát trống quân. Nhưng con trai con gái thích rủ nhau lên tận Nội Duệ, cầu Lim vui hát quan họ với liền anh liền chị hàng mấy ngày giời mới trở về. Xứ Kinh Bắc có nhiều làng hát quan họ dân dã, nổi tiếng kỳ diệu đắm say, có thể làm nghiêng cả tháng ngày lễ hội mùa xuân …


Làng Nhân Vực là một trong ba làng thuộc xã Thọ Vực(Thủ pháp, Nhân Thục và Nhân Vực)thuộc tổng Xuân Cầu. Thời ấy trong làng có trên mười dòng họ cùng nhau sinh sống như: họ Nguyễn, Lê, Tô, Đào, Đặng, Phạm, Vũ, Hoàng, Chu…Họ Lê đến Nhân Vực ít nhất cũng từ đời vua Lê, niên hiệu Chính Hoà 1680, tới nay ngót bốn trăm năm. Trong làng có đền thờ bà Đào Thị Ngọc Liễu, mẹ vua Lê Cảnh Hưng, tức là vợ vua Lê Thần Tôn, lại có đình do một người con rể họ Lê trong làng là Nguyễn Công Kính vợ là Lê Thị Tĩnh cung tiến.


Ông Nguyễn Công Kính người làng An Định, huyện Thuỵ Anh, tỉnh Thái Bình thuộc loại thương gia cự phách Hà thành. Ông kinh doanh thuốc lào, lấy tên hiệu là Giang Ký, vì thế thời ấy trong dân gian đã có câu ca:


Thuốc lào Giang Ký,


ăn một tý cũng say,


chồng hút vợ say


biết ngay thuốc lào Giang Ký.


Cho đến bây giờ người làng vẫn còn nhớ và truyền lại câu chuyện ông Kính có đầu óc kinh doanh. Bấy giờ trong làng ai  cần tiền chi dùng việc lớn thường tới nhà ông Giang Ký vay tiền. Ông nhìn mặt những nhà có ruộng mới cho vay, kiểu giống như thế chấp thời  bây giờ. Đến hạn, người có tiền đến trả, ông Kính chỉ cười: tôi chưa cần, cứ để mà dùng. Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống. Thế là lại vay tiếp. Khi ông cho người đến đòi thì cũng là  lúc con nợ không có tiền trả. Không có tiền thì gán ruộng. Nhẽ đời là vậy. Thành ra có chuyện: một hôm người làng Nhân Vực đã mục sở thị tại sân đình, một lúc ông Kính được sang tên tất cả 16 mẫu ruộng. Nhưng, rồi sau này số ruộng đó ông lại giao cho chùa, đình lưu hậu làm việc công ích. Các cụ già làng Nhân Vực còn hỉ hả kể rằng: Năm ấy ông Kính muốn làm đình để công đức cho làng, dân không nghe, vì ông chỉ là con rể. Làng còn thách nếu ông đóng thuế đinh đủ cho làng một năm, thì mới tin. Ông Kính bỏ tiền đóng đủ.


Giao ước làm đình xong, ông Kính bắt đầu sửa từ năm 1929-1930 đến 1932 hoàn thành, chi phí hết 15.000 phơ răng Pháp(thời giá năm 1930). Dân làng Nhân Vực nhớ ơn ông bà, đã lập một tấm bia công đức, một mặt bia viết bằng chữ quốc ngữ và mặt kia ghi chữ Hán có dòng “Bảo Đại Giáp Tuất cửu niên trọng xuân sóc đán bi thành”(Hoàn thành tấm bia năm Bảo Đại thứ 9, ngày 1 tháng 2 năm Giáp Tuất - 1934 ).


Mặt bia khắc chữ quốc ngữ, do Lý trưởng Đào Triết soạn thảo, có đoạn nghe rất tha thiết thế này: “Ôi, cùng một ngôi đình xưa thì lan can xộc xệch, bốn mặt gió mưa, nay thì quy mô rực rỡ, một lớp lâu đài, thật là một công cuộc lớn lao, mà các tấm hằng tâm hằng sản của Nguyễn quân(tức Nguyễn Công Kính- KHL chú) kia biết là nhường nào vậy. Dân thôn mong được báo đền, xin lập ông bà làm hậu thần, nhưng ông cố từ. Nên chi dân thôn mới tôn bà Lê Thị Tĩnh làm hậu, dựng bia bên tả đình, nguyên đán, xuân, thu kỳ lạp, bốn mùa hưởng tự để tỏ không quên...”.


Làng Nhân Vực ngày ấy có ông Lê Văn Chấn, hiệu Đào Hùng(có lẽ vì thế một số tài liệu chép là ông Lê Văn Hùng), vợ họ Hoàng (có tài liệu chép là Hoàng Thị Ký). Tuy chỉ là một gia đình gốc nông dân, nhưng kinh tế khá giả. Ông Chấn  làm ký lục ở làng, gia đình mát mặt, chẳng ai bắt nạt, vẫn có người còn phải cậy nhờ.  Ông bà sinh được  bốn người con, ba gái một trai. Cô gái lớn Lê Thị Vân, vào tuổi mười lăm tóc dài tha thướt, nhuộm răng đen hạt huyền, xinh xắn được tiếng đảm đang. Người con gái  quê, có vẻ đẹp thầm kín, sớm khuya  tảo tần đã làm gương cho ba đứa em để mẹ thày không phải bận lòng. Tốn, cậu em trai út được chiều chuộng lúc nào cũng làm nũng và quấn lâý chị. Sau Vân là Hợp còn gọi là Nhỡ  rồi đến Mai. Chẳng hiểu nhân duyên thế nào cô Mai lại vào nương nhờ cửa phật ở chùa Cầu Bây, còn lại ba chị em vẫn ở làng với cha mẹ. Chị Vân lớn lên thắm tươi như một bông hoa đồng nội, nhiều chàng trai con ông nọ bà kia để mắt. Nhưng rồi do duyên trời sắp đặt, nên nhận lời lấy chàng thanh niên đồng tuế, tuổi Nhâm Thìn ở Hà thành, mồ côi cả cha mẹ. Không ai ngờ rằng, hơn hai chục năm sau trở thành vị đại thần, thượng thư triều đình Huế, trước đó từng  là chủ nhiệm một tờ báo nổi tiếng của nước Nam.…


 


 


CHƯƠNG IV. PHẠM QUỲNH VÀ TẠP CHÍ NAM PHONG


 


Nam Phong tạp chí  ra mắt bạn đọc ngày 1-7-1917 và đình bản tháng 12-1934. Trụ sở toà soạn ban đầu ở nhà số 1 Hàng Trống- tức cùng nhà của Phạm Quỳnh, rồi sau này có thời kỳ (khoảng năm 1926) chuyển đến nhà số 5 phố hàng Da.


Nam Phong  mỗi tháng ra một kỳ, khổ lớn, dày 100 trang, có sức cạnh tranh với các báo khác. Về lực lượng họ có hơn ba chục người làm biên tập, có kinh nghiệm, tài ba từng  là những cây bút nổi tiếng lúc đó như Nguyễn Hữu Tiến,(1875- 1941); Nguyễn Đôn Phục,  Nguyễn Trọng Thuật(1883- 1940); Nguyễn Bá Học(1858- 1921); Đông Hồ(1906- 1969); Nguyễn Mạnh Bổng (1897- 1951)…trong đó  Nguyễn Bá Trác(1881- 1945) giữ phần chữ Hán của Nam Phong;


Về hình thức, nội dung bài vở của tạp chí  cũng phong phú và nghiêm túc. Tạp chí thiên về biên khảo văn học, triết học, khoa học, văn thơ Hán-Nôm, tiểu thuyết dịch thuật từ Pháp văn, thời sự về chính trị và xã hội đương thời, luận thuyết về vấn đề có liên hệ đến dân chúng Việt Nam. Nam Phong tạp chí có tác động mạnh mẽ đối với đời sống xã hội và chịu không ít lời chê bai, ngược lại được nhiều học giả đương thời hết lời tôn vinh, ca ngợi. Thật hiếm một tờ báo lại tạo ra dư luận xã hội trái ngược nhau như thế.


Hoạt động liên tục 17 năm, Nam Phong tạp chí có một đời sống khá sinh động, đã in dấu ấn trong làng báo chí nước ta ở thập niên ba mươi của thế kỷ trước.


Tại số 1, chủ bút Phạm Quỳnh đã có nhời đầu tiên với  bạn đọc:


“Cái mục đích của bản báo là muốn gây lấy một nền học mới để thay vào cái nho học cũ, cùng đề xướng lên một cái tư trào mới hợp với thời thế cùng trình độ dân ta. Cái tính cách của sự học vấn mới cùng cái tư trào mới ấy là tổ thuật các học vấn tư tưởng Thái tây, nhất là của nước Đại Pháp mà không quên cái quốc túy trong nước


Quả thật, mục đích của Nam Phong là  biên tập những bài bằng quốc văn, Hán văn, Pháp văn, để giúp cho sự mở mang trí thức, giữ gìn đạo đức, bảo tồn quốc hồn quốc túy, trong quốc dân Việt Nam. Đồng thời  truyền bá các môn khoa học Tây phương, nhất là học thuật tư tưởng Pháp, cùng bênh vực quyền lợi người Pháp, và người Nam trong trường kinh tế. Bên cạnh đó đã chú ý đến sự tập luyện, trao dồi văn quốc ngữ, để người Việt Nam sớm có một nền quốc văn riêng biệt.


17 năm, với 210 số, tạp chí đã trải  qua các  thời kỳ gian nan khó nhọc:  thành lập và mở rộng, đề cao mục đích giáo huấn, khai hóa quốc dân. Nó phát triển mạnh và có tiếng vang, truyền ra  nước ngoài, đặc biệt từ sau khi  Phạm Quỳnh  đi diễn thuyết ở Pháp trở về. 


Vì nhiều nguyên nhân, càng về  sau giá trị của tạp chí càng giảm dần. Kể từ tháng  11- 1932, Phạm Quỳnh được  triệu vào Huế, để Nguyễn Trọng Thuật rồi Lê Văn Phúc đứng ra  làm chủ bút. Và cuối cùng Nguyễn Tiến Lãng kế thừa, gắng gượng xoay xở lo toan..những cũng chỉ  sau hai năm Phạm Quỳnh rời khỏi Nam Phong,  tính đến cuối năm 1934 tạp chí Nam Phong bị đình bản. Vậy Nam Phong (luồng gió nước Nam) đã ra đời trong hoàn cảnh nào?


 


*  Bối cảnh  ra đời


Xã hội Việt Nam trước khi Nam Phong ra đời là một thời kỳ có nhiều biến đổi sâu sắc về lịch sử chính trị văn hoá giáo dục.


Năm 1858 Pháp nổ súng tấn công Nam kỳ và chiếm xong ba tỉnh miền đông năm 1862,, nhưng phải mất 11 năm sau (tháng 11 năm 1873) Gacniê mới có thể mang quân ra đánh Hà Nội. Năm 1874 sáu tỉnh miền Nam trở thành thuộc địa Pháp. Mười năm sau, Trung kỳ và Bắc Kỳ bị Pháp bảo hộ.  Riêng Bắc Kỳ, từ năm 1897, viên thống sứ Pháp trực tiếp nắm quyền cai trị, nên Bắc Kỳ theo chế độ bảo hộ trực tiếp


Ngay khi Pháp chiếm các tỉnh Nam Kỳ, nhân dân Việt Nam đã liên tiếp có những cuộc nổi dậy chống trả, nhưng đều thất bại. Năm 1884 vua Tự Đức phải ký hoà ước công nhận sự bảo hộ của Pháp trên toàn lãnh thổ Việt Nam, Hà Nội bước vào thời kỳ thuộc địa.


Sang đầu thế kỷ 20, những nhà yêu nước Việt Nam thay đổi chiến lược, mở cuộc vận động văn hóa chính trị. Từ đó, gần như cùng một lúc xuất hiện hai phong trào Đông du và Duy tân năm 1904. Phong trào Đông du do Phan Bội Châu lãnh đạo. Phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh đề xướng. Cả hai phong trào cuối cùng đều bị Pháp dẹp năm 1908 sau những cuộc biểu tình chống thuế của dân chúng miền Trung và cuộc đầu độc lính Pháp ở Hà Nội xảy ra năm 1908.


Vào tháng 4-1913, Việt Nam Quang Phục hội đã tổ chức hai cuộc tấn công tại Hà Nội, đều bị Pháp triệt tiêu ngay.


Năm 1914, đại chiến thế giới lần thứ I bùng nổ. Cái miệng lò lửa chiến tranh đã hút vào đó bao nhiêu nhân lực và tiền của nhân dân thế giới. Người dân Việt Nam phải chia sẻ gánh nặng chiến tranh với Pháp. Thanh niên trai tráng bị đôn quân bắt lính phải đi làm bia đỡ đạn cho Pháp ở châu Âu.


Ở Việt Nam, Phan Bội Châu bị bắt ở Trung Hoa cho mãi tới 1917 mới được thả. Dưới sự chỉ huy của Nguyễn Thượng Hiền, các chiến sĩ Việt Nam Quang Phục hội đánh đồn Pháp ở Tà Lùng - Cao Bằng, bị thất bại. Tại miền Trung bấy giờ hai nhà lãnh đạo của Việt Nam Quang Phục Hội là Trần Cao Vân và Thái Phiên đã liên lạc với vua Duy Tân (ở ngôi 1907-1916) tại hồ Tịnh Tâm để cùng  nhà vua lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp.


Cuộc khởi nghĩa bùng nổ đêm mồng 3 rạng ngày 4 tháng 5 năm 1916 bị thất bại vì Nguyễn Văn Trứ phản bội. Pháp truất phế và lưu đày vua Duy Tân đến  đảo Réunion cùng với vua Thành Thái.


Pháp khép tội những nhà cách mạng và xử chém Thái Phiên cùng Trần Cao Vân hòng đè bẹp ý chí phản kháng của dân Việt. Ít sau,  năm 1917, tại Thái Nguyên, Lương Ngọc Quyến và Trịnh Văn Cấn khởi nghĩa. Lương Ngọc Quyến là con trai Lương Văn Can (nguyên hiệu trưởng Đông kinh Nghĩa thục). Trịnh Văn Cấn là đội Khố đỏ. Hai ông đã cùng các binh sĩ  ở Thái Nguyên nổi lên tối 30-8-1917. Pháp phản công và chỉ sau 5 ngày cuộc khởi nghĩa thất bại.


Sau khi dẹp những cuộc khởi nghĩa, Pháp bắt đầu ổn định nền thống trị mới. Toàn quyền Albert Sarraut có một vài động thái để tỏ ra có nới lỏng cai trị với dân bản xứ. Ông ta cho mở các trường học để mở mang dân trí, như: Trường Cao đẳng Thú y Đông Dương (15-9-1917), Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương (15-10-1917), Trường Cao đẳng Nông Lâm nghiệp (10-12-1917).. Chính trong khoảng thời gian này, thì tờ tạp chí Nam Phong ra đời. Ấn phẩm đầu tiên ra mắt bạn đọc  ngày 1-7-1917, nghĩa là trước Cách mạng Tháng Mười Nga có bốn tháng. Cũng trong khoảng thời gian đó tình hình văn hóa giáo dục ở Việt Nam có một số điểm lưu tâm. Đó là khi đã chiếm Nam Kỳ rồi bảo hộ Trung và Bắc Kỳ, người Pháp có ý định thiết lập hệ thống giáo dục tân học bằng việc bãi bỏ học chữ Nho và các kỳ thi Nho học. Pháp có ý  đào tạo một lớp nhân viên mới cho chế độ mới, cắt đứt những ảnh hưởng tư tưởng của người Việt với văn hóa dân tộc cổ truyền, rộng hơn là đoạn tuyệt với văn hóa phương Đông, để áp đặt nền văn hóa Pháp và văn hóa Âu tây. Người Việt  không muốn bị đồng hóa, mà hòa nhập văn hóa Việt Pháp hay văn hóa Á - Âu, như họ từng  hòa đồng tôn giáo vốn có (người Việt vừa thờ cúng gia tiên, thờ Phật, thờ Khổng Tử.). Họ lựa chọn, chứ không để áp đặt, và đặc biệt là vẫn lưu giữ được những tinh hoa văn hóa dân tộc và văn hóa Á đông. Đồng thời tiếp thu những nét hay, vẻ  đẹp của văn hóa Âu tây, để làm phong phú văn hóa dân tộc.


Nam Kỳ là thuộc địa, nên sự hòa nhập văn hóa cũng sớm hơn. Tại Trung kỳ và Bắc kỳ, phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh đề xướng từ năm 1905, kêu gọi cải cách văn hóa, được giới trí thức cấp tiến hưởng ứng mạnh mẽ. Phong trào Duy tân chú trọng nhiều đến những vấn đề chính trị, nên khi những biến động chính trị năm 1908 xảy ra, Pháp nhân cơ hội đó, bắt giam và lưu đày hầu hết những nhà trí thức cấp tiến trong phong trào Duy tân.


Chính trong giai đoạn giao thời ấy, tạp chí Nam Phong  đã xuất bản bằng hai thứ chữ: chữ Nho và chữ Quốc ngữ, làm trung hòa trên con đường hòa nhập văn hóa Á Âu, như lời của Phạm Quỳnh đã kính cáo cùng bạn đọc đã nêu.


Nhiều tài liệu đã cho biết rằng đây chính là thời điểm chữ Nho, văn tự chính thức của triều đình Nam Triều sử dụng hàng ngàn năm qua, sắp bị thay thế.


Còn nhớ khi ba tỉnh miền Đông mất vào tay Pháp năm 1862, chỉ hai năm sau, kỳ thi Hương năm 1864 vẫn còn tổ chức ở Cần Thơ. Nhưng sau đó ba tỉnh miền Tây rơi nốt vào tay Pháp, thì cả Nam kỳ không còn thi Nho học nữa. Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định: kể từ 1-1-1882, ở Nam Kỳ, tất cả các giấy tờ như công văn, nghị định… đều phải viết bằng mẫu tự la tinh (tức chữ Pháp hay Quốc ngữ), đồng nghĩa với việc chữ Nho chính thức không được sử dụng!


Tại Trung kỳ và Bắc kỳ, ngày 21-12-1917, toàn quyền Albert Sarraut công bố “Quy chế chung về ngành giáo dục công cộng ở Đông Dương”(Règlement général de l’instruction publique en Indochine), quy định rằng: Các trường chữ Nho của tư nhân hay của triều đình, kể cả Quốc tử giám, đều được xếp vào loại trường tư và phải tuân theo quy chế của chính quyền Pháp ?!


Nói cách khác, giáo dục không chấp nhận chương trình Nho học. Chữ Nho bị xếp xó. Ông tú Vị Xuyên đã viết câu thơ đầy ai oán:


                         Nào có ra gì cái chữ Nho


 Ông nghè ông cống cũng nằm co


 Sao bằng đi học làm thầy phán


                        Tối rượu sâm banh sáng  sữa bò.


(Thơ Trần Tế Xương).


Sau khi quy chế này ra đời, thì kỳ thi hương tại Nam Định năm 1915 được coi như kỳ thi Nho học cuối cùng ở Bắc Kỳ. Nhưng ở  Trung Kỳ, các khoa thi Hương năm 1918 và thi Hội năm 1919 mới là số tận.


Về báo chí thời kỳ này cũng có những điểm khác trước.


Khi ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường ở miền đông Nam kỳ  bị nhượng cho Pháp bằng hòa ước năm 1862, thì ngày 15-4-1865, tờ báo Gia Định được phát hành tại Sài Gòn. Đây là tờ báo quốc ngữ đầu tiên trên toàn quốc, mỗi tháng ra một số, vào ngày 15 hàng tháng.


Như con gà đầu tiên cất lên tiếng gáy, tức thì hàng loạt tiếng gà xung quanh cũng  rộ lên giống như phản ứng dây chuyền. Hàng loạt báo chí ra đời nở rộ như nấm sau mưa:  Nhật Trình Nam kỳ (1883), Phan Yên báo (1898), Nông Cổ mín đàm (1901), Nhật Báo tỉnh (1905), Lục Tỉnh tân văn (1907), Nam Kỳ địa phận (1908, Ky-Tô giáo), Nam Trung nhật báo (1917), An Hà báo (1917 ở Cần Thơ).  Trong đó, Trương Vĩnh Ký,  Huỳnh Tịnh Của, Diệp Văn Cương …là những nhà báo nổi tiếng như cồn, thu hút sự chú ý của công chúng và những tên trùm cáo già người Pháp tất nhiên thường xuyên để mắt tới.


 Báo chí Bắc kỳ ra muộn hơn. Tờ đầu tiên tại Hà Nội là Đại Việt tân báo, vừa chữ Nho vừa quốc ngữ, thành lập năm 1905 do Đào Nguyên Phổ làm chủ bút. Hai năm sau tờ Đăng Cổ tùng báo do Đào Nguyên Phổ lo phần chữ Nho, Nguyễn Văn Vĩnh phụ trách phần quốc ngữ, ra đời.


Đặc biệt là  Đông Dương tạp chí, một  tờ báo thuần túy quốc ngữ đầu tiên ở Bắc Kỳ  ra mắt ngày 15-5-1913, do Nguyễn Văn Vĩnh làm chủ bút.


Trước khi tạp chí Nam Phong được xuất bản, ở Bắc Kỳ chưa có tiểu thuyết. Sau khi tạp chí Nam Phong xuất hiện, thì mãi đến 8 năm sau, tức là năm 1925, cuốn tiểu thuyết đầu tiên là  Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách mới được xuất bản. Cuốn sách đã gây chú ý mạnh mẽ giới độc giả lúc bấy giờ vì sự mới lạ trong đời sống văn học.


Như thế nhìn một cách toàn cục thì Nam Phong tạp chí ra cùng năm với Nam Trung nhật báo và An Hà báo. Thế nhưng tạp chí này có một sức mạnh vô cùng và đã tạo ra một màu sắc tươi tắn tân kỳ trong bức tranh báo chí Việt Nam đương thời.


*  Ngọn gió nước Nam


Sau thời gian làm việc ở Trường Viễn đông bác cổ được gần 9 năm,   Phạm Quỳnh đứng ra làm chủ bút kiêm chủ nhiệm Nam Phong tạp chí, khi vừa 25 tuổi. Từ những số đầu tiên, chủ bút Phạm Quỳnh đã tỏ ra một tay lái vững vàng  để chèo lái con thuyền Nam Phong đi theo phương hướng của mình đã vạch sẵn. Đó là  mở rộng khảo sát các đề tài lịch sử xã hội, văn hoá văn minh Việt Nam và thế giới. Về văn học: đi vào biên khảo, dịch thuật, và giới thiệu sáng tác mới. Ở đây có 8 chuyên mục, trong đó văn uyển, tiểu thuyết, văn học bình luận…cung cấp cho bạn đọc kiến thức khái quát về văn học triết học, lịch sử, địa lý và bước đầu giới thiệu văn học cổ Việt Nam bằng chữ Hán qua các triều đại, dịch ra quốc văn những tác văn học có giá trị như văn thơ Lý Trần; Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ; Thượng kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông- Lê Hữu Trác, vân vân..


Với ý tưởng Nam Phong là ngọn gió nước Nam, ngay từ đầu tôn chỉ của tờ nguyệt san đã nêu rõ:


1. Diễn đạt truyền bá  tư tưởng, học thuật đông tây kim cổ.


2. Luyện quốc văn trở nên hoàn thiện, bồi dưỡng Việt ngữ phong phú, uyển chuyển, sáng sủa và gẫy gọn.


3. Lấy đó làm nền tảng dân tộc rồi phát triển tinh thần dân tộc.


Dưới sự mềm dẻo và thâm thuý của Phạm quỳnh, các tôn chỉ đó được thể hiện sinh động trên cơ sở  8 chuyên mục của tạp chí, như:


Luận thuyết, Văn học bình luận, Khoa học bình luận,  Triết học bình luận, Văn uyển(tức là  chọn những áng thi ca đẹp, khai thác trong dân gian, những thể ngâm, ca trù, phú đối, thơ lục bát, trường thiên). Rồi mục Tạp văn, Thời đàm, Tiểu thuyết…Những chuyên mục này thường xuyên có 30 cây bút lành nghề biên tập. Vì thế tờ Nam phong tạp chí được coi là một ấn phẩm sang trọng lúc bấy giờ đã thu hút nhiều nhà văn, nhà trí thức tham gia gửi bài cộng tác.


Quan điểm của tạp chí Nam Phong là: Truyền bá chữ quốc ngữ vào Việt Nam để nâng cao trình độ ngôn ngữ có thể so sánh với tiếng Pháp và chữ Nho. Rất nhanh chóng, ảnh hưởng của Nam phong đã đi vào đời sống tinh thần xã hội. Nó đã truyền bá, bảo tồn những điều cốt yếu văn hoá Việt Nam(như văn chương, lễ nghi, phong tục). Nhà học giả Dương Quảng Hàm bấy giờ đã đánh giá: Phạm Quỳnh có công lao to lớn trong việc du nhập nhiều danh từ triết học, khoa học mới và luyện cho chữ quốc ngữ thuần thục tới mức diễn đạt được  thuật ngữ mới.


Quả nhiên Phạm Quỳnh có công lao to lớn. Nếu không có tài ứng xử khéo léo của người đứng đầu cơ quan ngôn luận khi mới 25 tuổi, làm sao ông có thể tồn tại mười lăm mười sáu năm, trong xã hội thực dân để thực hiện khát vọng mở mang dân trí, tự tôn dân tộc, phụng sự người nước Nam trong vòng cương tỏa ngoại bang? Với tài năng quyền biến của một trí thức trẻ, Phạm Quỳnh đã lãnh đạo một cơ quan văn hóa, xuất bản, thu phục tài năng, lực lượng, kể cả bậc lớn tuổi như Nguyễn Bá Học (60 tuổi), Nguyễn Hữu Tiến (43) hay bậc đàn anh khác, như Phạm Duy Tốn, Trần Trọng Kim, Tản Đà.. vẫn thuận tình cộng tác.


Hơn 40 năm sau, năm 1972 giáo sư Thanh Lãng trong cuốn Phê bình văn học, thế hệ 1932 đã viết “… Muốn hiểu văn học Việt Nam vào hồi này (1913 –1932) không gì tốt hơn cho bằng nhìn vào Nam Phong. Nam Phong là linh hồn, Nam Phong là tất cả văn hoá thế hệ 1913 –1932… Bởi vì, từ 1932 trở về trước, các nhà văn của chúng ta chưa có thói quen viết sách xuất bản sách mà chỉ có thói quen viết văn trên báo chí. Vậy Nam Phong hầu như là cơ quan ngôn luận duy nhất (Đông Dương tạp chí đã đình bản năm 1919) đã liên kết tất cả các cây bút có thế giá đương thời, đến nỗi nếu đem đốt hết Nam Phong đi, thì nền văn học thế hệ 1913 –1932 có thể nói là bị bóc lột rỗng tuếch. …Thực vậy trong mười mấy năm trường Nam Phong hầu như giữ vai trò của một Viện Hàn Lâm. Điều gì Nam Phong viết ra đều hay, văn Nam Phong viết ra là đẹp, ý kiến Nam Phong bàn là được tôn trọng, luật lệ Nam Phong đặt ra mọi người tuân theo, chữ Nam Phong chế mọi người dùng… Người ta coi Nam Phong là bực thầy.”(Sđd trang 16-17).


Nam Phong tạp chí ra đời năm 1917, tồn tại 18 năm, là một cơ quan ngôn luận chính trị và văn hóa trong đó có văn học. Mặc dù xã hội có  những phẩm bình khác nhau, thậm chí khắc nghiệt rằng: Nam Phong có khuynh hướng chịu sự chi phối của đường lối chính trị và văn hóa của thực dân Pháp, đó là tuyên truyền cho một nền văn hóa, văn học nô dịch, . Nhưng trải qua thời gian, nhìn lại suy ngẫm thấu đáo hơn, thì mới thấy  không nên đồng nhất khuynh hướng của nó với những gì đã được in trên tạp chí đó.


Trước hết, hãy nhìn lại  quan điểm  của họ về văn chương.


Mãn Châu trong bài Văn chương (số 30-1919) đã tuyên bố“văn chương là một vật quý trọng. Người làm văn phải sao cho từ nghiêm nghĩa chính. Mỗi khi cầm lấy quản bút thì trước hết phải nghĩ đến những điều ích lợi cho quốc gia, tạo phúc cho xã hội, quan hệ tới nhân tâm thế đạo, sao cho được hết cái năng sự của nhà văn. Như thế thì mới đáng gọi là một người văn sĩ cho đời được cậy nhờ”.


Phạm Quỳnh trong bài Văn chương Truyện Kiều (số 35-1920) cũng viết: “Phần văn chương hay là thứ nhất ở lời văn điêu luyện, thứ nhì ở ý tứ thâm trầm. Có ý tứ hay mà lời văn không đạt thời ý tứ cũng không biểu đạt ra được. Có lời văn đẹp mà không có ý tứ gì thời khác nào có vỏ mà không có ruột, có xác mà không có hồn”. Nam Phong còn có công  sưu tầm, bảo lưu văn học cổ của dân tộc. Từ các số đầu tiên 1917 cho đến các số  in  năm 1932, hầu như liên tục có phần đăng tải thơ văn cổ được sưu tầm, dịch thuật. Đa số người Việt Nam thuở đó, bắt đầu biết đến Hồng Đức Quốc âm thi tập của  Lê Thánh Tông, Bạch Vân thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm, thơ văn Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Lê Hữu Trác, Phạm Đình Hổ, cùng nhiều tác phẩm tác giả khác, chính là nhờ Nam Phong tạp chí đã sưu tầm, dịch thuật.  Không chỉ thế, Nam Phong còn  giới thiệu các tác phẩm mới. Tính từ số 1 ra năm 1917 cho đến 1932 họ đã liên tục đăng các sáng tác của nhiều cây bút đương thời, với đủ thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, kí, kịch, thơ… Mới ra được 6 số, thì số 7 (1-1918), Nam Phong tạp chí đã quyết định tổ chức một cuộc thi sáng tác truyện ngắn mà điều lệ ghi rõ: “Tiểu thuyết phải làm theo lối Âu châu…phải dùng phép tả thực. Trọng nhất là tả được cái tâm lí người ta cùng các tình trạng xã hội. Không nên đặt những truyện có thể phương hại đến luân lí và tôn giáo, hoặc quan hệ đến chính trị”.


Nam Phong đã đăng gần 60 truyện ngắn, trong đó có tác phẩm gây dư luận mạnh mẽ trong đời sống, như Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn, Câu chuyện một tối của người tân hôn của Nguyễn Bá Học… Rồi tiểu thuyết như Quả dưa đỏ của Nguyễn Trọng Thuật cũng  được in gây tiếng vang. Còn thể ký thời Nam phong tạp chí quả là mới mẻ và sâu sắc. Những cây bút Nguyễn Văn Kiêm, Nguyễn Thế Xương, Tương Phố đã gây xôn xao trong lòng bạn đọc đương thời. Và chủ bút Phạm Quỳnh vừa  cầm cờ tờ tạp chí, vừa xông pha viết nhiều bài nổi tiếng, như Một tháng ở Nam Kỳ, Pháp du hành trình nhật ký.


Đó là chưa kể về thể loại thơ, kịch bản sân khấu: chèo tuồng cũng được lần lượt giới thiệu với một số lượng khá lớn và phong phú với nhiều đề tài lịch sử văn hóa.


Giáo sư Nguyễn Đình Chú trong một tài liệu nghiên cứu đăng trên Tạp chí Nghiên cứu văn học-số 2-2005, đã phát hiện rằng: tạp chí Nam Phong  trong lĩnh vực dịch thuật và giới thiệu văn học thế giới, bề thế hơn các giai đoạn trước rất nhiều. Tính ra từ số 1 (năm 1917) đến số 179(năm 1932) đã có hơn 200 tác phẩm của hơn 100 tác giả nước ngoài được dịch in, trong đó văn xuôi chiếm 66%, thơ chiếm 34%, chủ yếu thuộc văn học Trung Quốc và văn học phương Tây mà Pháp là chính. Giáo sư cho rằng: đó là một khuynh hướng “muốn mở rộng nhãn quan nghệ thuật cho độc giả Việt Nam và phần nào cũng là muốn hướng văn học Việt Nam đi theo con đường mà văn học thế giới, đặc biệt là văn học phương Tây trong đó có văn học Pháp đã có thành tựu nổi trội”.


Rất đúng, chính Nam phong tạp chí khi cho ra đời mục Tiểu thuyết trên tạp chí đã tuyên bố: “Trong sự kén chọn những tiểu thuyết Tây để dịch, chúng tôi sẽ chú ý nhất một điều là chọn những sách văn chương hay, nghĩa truyện cao, kết cấu khéo, khá lấy nền cho cái lối tiểu thuyết của ta về sau này…”


 


(còn tiếp)


Nguồn: Phạm Quỳnh trong dòng chảy văn hóa dân tộc. Tác giả: Khúc Hà Linh. NXB Thanh niên, 2012. Tác giả gửi www.trieuxuan.info


           

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »