tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28887393
Tiểu thuyết
14.08.2014
Nguyễn Trần Thiết
Ông tướng tình báo và hai bà vợ

Anh không say rượu song anh đã ngủ một giấc khá say từ mười hai giờ trưa đến gần hai giờ chiều. Anh vừa vươn vai ngồi dậy, tên Bảy Cọp đã ập vào phòng:


- Anh Hai đã dậy.


Nhìn nét mặt rạng rỡ của viên thiếu tá, anh đã đoán được tất cả. Gần hai giờ qua, Bảy Cọp đã đọc toàn bộ lời khai của Hoàng Thiện và hồ sơ về vụ Nguyễn Thanh Bình để trong cặp của anh. Việc còn lại, tên đồn trưởng này đủ lo tài liệu, không cần đến mưu kế mách nước của anh. Anh vẫn giữ cương vị là người đứng ngoài cuộc. Là đại diện của Tổng nha An ninh quốc gia đến xác minh sự thật về tên Việt Cộng bị tra tấn đến chết ở đồn này. Anh lên giọng hách dịch:


- Chú Bảy. Tôi đã hỏi cung tên Hoàng Thiện nên biết rõ là tên Nguyễn Thanh Bình to con, cao. Tôi không rõ vì sao đàn em của chú chỉ tung ra có ba chưởng mà tên Bình đã chết.


- Thưa anh Hai, khi ra đòn, tụi em đã đánh trúng huyệt cấm kị. Tụi em có biên bản về vụ này.


- Tôi e rằng chú chỉ vớ được tên giao liên quèn. Nguyễn Thanh Bình thuộc loại bự đó.


- Thằng cha đó lọt vào Sài Gòn từ năm 1954. Chú có đủ tài liệu chứng minh nó là tên Việt Cộng nằm vùng hay nó đã chui vào hàng ngũ chúng ta?


- Xin anh Hai cứ nêu nghi vấn, thằng em này sẽ có lời giải đáp đích đáng.


Anh lại đưa ra những câu hỏi với dụng ý "gà" cho viên thiếu tá hoàn tất hồ sơ với đầy đủ bằng chứng xác thực, chứng minh là người bị tra tấn đến chết là Nguyễn Thanh Bình.


Anh đã khen ngợi công lao của Bảy Cọp trước viên tướng và yêu cầu ông ta trực tiếp nghe viên đồn trưởng trình bày sự việc xảy ra. Bẩy Cọp không ngờ có vinh dự này. Hắn đã báo cáo lưu loát, trưng ra toàn bộ mọi dẫn chứng không thể chối cãi nổi về Nguyễn Thanh Bình. Viên tướng lắng nghe với vẻ hài lòng thực sự và đã ký giấy thưởng cho Bẩy Cọp khoản tiền lớn, đồng thời hứa hẹn sẽ gắn thêm cho kẻ có công một bông mai nữa.


18


Thoa vác cây gỗ, lấy dao, cưa, búa và hộp đinh để trước lều. Chị chưa kịp bắt vào việc đã thấy chủ tịch nông trường xuất hiện:


- Chào cô Thoa. Cô kiêm luôn cả nghề thợ mộc cơ à?


- Em chỉ làm thợ vườn thôi. Mình làm cho mình nếu hỏng sẽ làm lại, nếu xấu cũng không bị chê. Mời anh Thắng vào nhà.


Chủ tịch nông trường cười:


- Tôi cao và to thế này, làm sao lách qua của "nhà” cô được. Cô định làm gì vậy?


- Em định đón mẹ em lên. Em nới thêm cái giường của ba mẹ con rộng hơn chừng ít phân nữa.


- Tôi sẽ giúp cô.


- Ấy chết, ai lại như thế! Anh để mặc em.


- Vẽ sự. Cô làm không khéo và nhanh bằng tôi đâu. Nào, đưa cưa đây cho tôi.


Vốn quen lao động từ nhỏ, lại có kinh nghiệm làm lán qua nhiều năm ở rừng nên ông Nguyễn Thắng thao tác rất nhanh. Ông vừa làm, vừa trò chuyện:


- Lâu nay cụ ở với ai, cô?


- Mẹ em chỉ sinh ba chị em gái. Chị Túy đón mẹ em vào Nghệ An. Gần đây, chồng và con chị cả em bị địch giết. Chị cả trốn từ miền Nam ra sống với chị Túy. Em viết thư xin phép hai chị được đón mẹ, trước là để phụng dưỡng cụ, sau nữa thêm vui cửa, vui nhà.


- Sao cô không làm riêng cho cụ một giường?


- Ăn thì nhiều, ở hết mấy, anh? Bốn mẹ con bà cháu nằm cùng một giường cho ấm cúng anh ạ.


Thoa không hiểu vì sao chủ tịch nông trường lại quá nhiệt tình với chị như vậy? Chị biết là anh chưa có vợ, có một dạo anh đã để ý đến chị. Chị không ngại điều đó vì anh trung thực, thẳng thắn, anh không sàm sỡ với phụ nữ. Đã có một thời anh xa lánh chị và chị cảm thấy có điều gì đó anh không hài lòng hoặc nói chính xác hơn là ghét chị. Tại sao? Chả ai nói rõ điều nghi vấn của lãnh đạo với chị, nên chị luôn tưởng mình được ưu ái. Giờ đây, chị lại được lên lương, được phụ trách tới 13 nhà trẻ của toàn nông trường. Chị đón mẹ lên. Xa chồng, chị vui vì có mẹ là người thân đã hiểu mọi uẩn khúc giữa hai vợ chồng chị. Mẹ sẽ giúp chị trông nom hai cháu ngoại để chị có thể đi cơ sở.


Chủ tịch nông trường đã đóng xong giường. Ông chỉ vào tấm ảnh treo trên vách, hỏi chủ nhà:


- Hai cháu đi đâu vậy, cô?


- Hôm nay chủ nhật, các cháu rủ nhau đi chơi phố.


- Các cháu đi với ai? Thằng nhỏ đâu đủ sức cuốc bộ xa tới năm ki-lô-mét?


- Hàng ngày, con chị dắt thằng em đi học. Trường cấp một cách nông trường tới sáu cây số.


Ông Nguyễn Thắng trầm ngâm. Tương lai, nếu ông không lo dựng trường, mở chợ ngay trên đất nông trường, ông không xứng đáng giữ chức vụ hiện tại. Làm như vô tình, ông hỏi:


- Cô không treo ảnh của bố hai cháu à? Anh ấy làm nghề gì?


Chị đã quen nói dối về chồng mình rồi. Trước đây, chị chả bao giờ nói sai sự thật. Lần đầu, khi phải bịa chuyện về anh, chị đã đỏ mặt, ấp a ấp úng. Cũng may mà ai cũng tin những điều mà chị đã thống nhất với bố chồng về số phận chồng mình. Chị kể lại với chủ tịch nông trường về bố của các con mình. Ông Nguyễn Thắng lắc đầu:


- Cô không giấu nổi tôi đâu. Nếu cậu ấy bị bắt, chắc chắn các con cô không nhận được học bổng do Bộ Giáo dục cấp?


Chị biết lý giải như thế nào? Từ trước tới nay, những người nghe chuyện chị đâu biết các con chị được học bổng? Ông Nguyễn Thắng cười:


- Tôi đến báo cho chị một tin vui: cháu Hạnh được nhận vào học ở trường miền Nam. Đã có ai báo tin cho cô chưa?


- Chưa ạ!


- Cô có làm đơn xin cho cháu không?


- Không ạ!


Chủ tịch nông trường định đứng dậy đi đi lại lại trong phòng, nhưng ông không làm việc đó vì đầu ông gần chạm mái nhà, và trong lều không còn chỗ để ông xê dịch bước chân. Ông hỏi lại, vẻ bực tức:


- Bí thư tỉnh ủy gọi điện thoại cho tôi, chỉ thị cho tôi phải đưa cháu Hạnh về Hà Nội sau bốn ngày. Chuyện hệ trọng như vậy mà chính cô lại không biết? Cô có định cho cháu Hạnh học trường miền Nam không?


Chuyện đột ngột quá khiến chị Thoa không biết trả lời ra sao? Con gái chị được vào học ở trường con em từ miền Nam tập kết ra Bắc ư? Đây là điều vô cùng hạnh phúc! Vào học trường miền Nam, cháu Hạnh được nuôi dưỡng nội trú với tiêu chuẩn cao và điều quan trọng là có nhiều thầy giáo, cô giáo giỏi nhất dạy. Chị hài lòng lắm! Chắc chắn là cô Tuyết Mai đã giúp chị. Cô ấy cho chị số điện thoại, khuyên chị trực tiếp gọi cho cô ấy khi thật cần thiết. Đến lúc này, chị không thể giấu cán bộ lãnh đạo nông trường được nữa. Chị trình bày:


- Vắng cháu Hạnh, chắc em buồn và nhớ cháu lắm. Đành vậy thôi anh ạ! Em là mẹ, em phải biết hy sinh cho tương lai của con. Anh giúp em! Em sẽ thu xếp về với cháu sau.


Chủ tịch nông trường chưa dễ dàng buông tha chị. Ông vẫn giữ câu hỏi cũ:


- Nếu cô không xin cho cháu Hạnh thì ai nhúng tay vào việc này?


- Thưa anh: cô Tuyết Mai.


- Tuyết Mai nào? Cô ấy có quan hệ bà con gì với cô? Cô Mai đang giữ chức vụ gì bên Bộ Giáo dục?


- Thưa anh! Em gặp cô Mai vẻn vẹn có hai lần. Cô ấy làm công tác gì ở Bộ Quốc phòng, em không rõ. Cô ấy cho em số điện thoại và dặn em gọi cho cô ấy, nếu cần thiết.


- Cô Tuyết Mai có họ hàng gì với chồng cô không?


- Không ạ !


Thật là khó hiểu? Ông Nguyễn Thắng nhíu đôi lông mày. Ông cần tìm hiểu cho rõ ngọn ngành. Ông đưa ra câu hỏi mới:


- Chồng cô có liên quan gì với Tuyết Mai không? Tôi muốn nói tới mối quan hệ công tác hoặc liên hệ tình cảm. Tôi nghiêng về ý thứ nhất. Có lẽ chồng cô nhận nhiệm vụ bí mật nào đó liên quan tới đơn vị cô Tuyết Mai?


- Em không biết! Những ngày làm vợ anh, em chưa gặp và chưa nghe ai nhắc tới tên cô Mai lần nào.


- Lạ nhỉ?


Chủ tịch nông trường chìa bàn tay to bè về phía chủ nhà:


- Chào cô Thoa, năm giờ sáng ngày quy định, cô đưa cháu Hạnh lên ban xe. Sáng mai, tôi sẽ ra lệnh cho đội một làm cho mẹ con cô chỗ ở mới.


- Em cám ơn anh! Bốn mẹ con, bà cháu em ở như thế này đủ rồi.


Ông đùa:


- Cô muốn chống lại lệnh của chủ tịch nông trường à? Tôi đã ra lệnh, cô phải chấp hành.


Chị Thoa giả bộ thở dài:


- Đành vậy thôi!


Tối ngày hôm sau, ba mẹ con chị Thoa đã dọn sang nhà mới. Sẵn gỗ, tre, nứa, lá, các chàng trai của đội 1 đã làm xong ngôi nhà hai gian đẹp, chắc chắn trong vòng bảy giờ lao động. Chị Thoa rất vui. Lần đầu tiên từ ngày xa Hà Nội, mẹ con chị có chỗ ở tạm gọi là khang trang. Chị lại sắp tiễn con đi học, đón mẹ lên ở với mình. Chị được lên lương, được đề bạt. Chị thật sung sướng, hạnh phúc.


19


Cẩm Nhung lại sinh con gái. Hai Lâm vui lắm. Anh bàn với vợ:


- Ta đăng báo thuê vú nuôi?


- Không nên anh ạ!


- Hay là em đến gặp mấy bạn quen là bác sĩ hoặc nhờ bà bạn thân nào đó giới thiệu cho cô nào có sữa tốt. Có vú nuôi, em đỡ vất vả.


- Nhà ta đã có chú bồi lo quét dọn, chăm đám vườn kiêm lái xe khi cần và một cô sen chuyên chợ búa, bếp núc là đủ rồi.


- Để em nuôi con, ba Giô-dép và má Cẩm Loan sẽ trách anh không biết săn sóc vợ, con. Em ngại cái gì nào? Chúng ta có dư tiền. Anh không đang tâm thấy em phải thức giấc hai, ba lần mỗi đêm vì con quấy khóc.


Cẩm Nhung vẫn khăng khăng:


- Nuôi lấy con bằng sữa mẹ là do em tự nguyện nên anh đừng ngại ba, má hiểu nhầm. Ôm ghì con vào lòng, lắng nghe những tiếng chụp chụp từ cứa miệng nhỏ bé của con bú và cảm giác dòng sữa từ bầu vú mình đang chảy vào miệng con, em rất thú vị, rất hạnh phúc.


- Tùy em thôi ! Em chưa lường hết nỗi vất vả của việc nuôi con mọn đâu.


- Anh nên nhớ em đâu phải đẻ con so? Em đã là má của Nguyên Thanh được sáu năm rồi.


- Anh nhớ điều đó và cũng không bao giờ anh quên em là quận chúa Công Tằng Tôn Nữ Cẩm Nhung và con đại tá Giô-dép Các-păng-chi-ê giàu có.


Cẩm Nhung đặt tay lên vai chồng:


- Anh quên một chi tiết vô cùng quan trọng: em là vợ anh, vợ một cán bộ Việt Cộng nằm vùng có tên là Nguyễn Thanh Bình.


Hai Lâm hỏi lại, giọng không giấu nổi vẻ hốt hoảng:


- Ai nói với em điều đó?


- Em đâu phải là người con gái ngu si, dốt nát, vô học? Em thường xuyên sống chung với ba em, một đại tá tình báo có tầm cỡ nên ít nhiều em cũng có kinh nghiệm. Thiếu tá Bảy Cọp tìm đến nhà ta gặp anh. Em đã thay anh tiếp thiếu tá và nghe ông ta kể về vụ Thanh Bình.


Hai Lâm thực sự bàng hoàng. Như vậy là Cẩm Nhung không chỉ cảm nhận thấy mà còn có đủ bằng chứng về anh là một Việt Cộng, tại sao cô ấy im lặng?


Thiếu tá Bảy Cọp đã đến nhà anh cách đây sáu tháng. Như vậy là từ nửa năm nay, cô ấy đã biết anh là ai mà cô ấy không biểu lộ gì qua nét mặt, qua lời nói hoặc qua thái độ để anh nhận thấy. Anh thật là khờ. Nếu trong 180 ngày qua Cẩm Nhung định gài anh vào bẫy, chắc anh không thể thoát nổi. Chà, bản lĩnh của con gái đại tá tình báo thật là cao cường? Không rõ tên thiếu ta Bảy Cọp ba hoa đã hót những gì với nàng? Chỉ cần thằng chó đẻ đó phô ra cái ảnh và kể về Hoàng Thiện, về Nguyễn Thanh Bình là mọi bí mật của anh không còn cách gì che giấu nổi.


Nên giải quyết vụ này như thế nào? Giết nàng để thủ tiêu nhân chứng ư? Đây là điều Hai Lâm không hề nghĩ đến, không đơn thuần vì nàng là vợ anh, là má của Nguyễn Thanh, Cẩm Phương mà còn vì nàng là người phát hiện ra anh trước, đã rõ tung tích của anh không chỉ trên suy luận, phân tích mà bằng thực tế hiển nhiên mà nàng không hành động.


Tại sao cô ấy không thông báo ngay cho anh khi mới nghe chuyện Bảy Cọp kể về Nguyễn Thanh Bình? Vì sao cô ấy không tố cáo anh, người đi ngược lại hoặc nói chính xác hơn là đã chống lại quyết liệt ngôi vua Bảo Đại, người đã góp phần làm cho người cha đầy quyền uy của cô phải ôm mối hận thất thủ Điện Biên Phủ, cuốn gói rời Việt Nam? Anh cần tìm ra sự thật. Cố ý khai thác điều tra bí mật của Cẩm Nhung qua đường tình cảm, anh âu yếm kéo vợ ngả vào lòng mình, hỏi:


- Em bắt đầu linh cảm hay phán đoán anh là Việt Cộng từ bao giờ?


Cẩm Nhung kể cho chồng nghe tất cả. Hôm anh hỏi cô về nghề ảnh, cô không để ý lắm vì cô coi đây là thú vui thông thường của một chàng trai ham hiểu biết nhưng chợt cô sững lại trước phòng ảnh của chồng. Anh làm việc trên gác hai, thường là vào ban đêm. Anh mua kính về, thay đổi toàn bộ hệ thống kính cũ. Vì đã sống chung với đại tá Giô- dép ở Hà Nội, ở Pa-ri nên Cẩm Nhung nhận ra ngay điều bí mật của những tấm kính. Để thử nghiệm cho nhận xét của mình, cô đã ra khỏi nhà mình nhìn lên phòng anh làm việc vào lúc nửa đêm. Không có tia sáng nào lọt ra ngoài mặc dù lúc đó anh đang sử dụng ngọn đèn trên 1.000 oát để chụp ảnh. Tại sao anh phải giữ bí mật việc làm của mình? Tại sao anh phải chụp ảnh ở nhà vào ban đêm? Vì sao anh quá bận rộn? Rõ ràng chồng cô không làm việc riêng cho cơ quan an ninh mà còn vì ai đó? Ai? Cô nhớ lại lần gặp gỡ đầu tiên với anh ở nhà Lê Thọ Đắc và chợt cười thầm vì cả cô, cả Giắc đều bị anh cho vào xiếc. Anh đâu phải thầy giáo dậy tư của Lê Tâm Trinh?


Vào những ngày đó và cả những năm tháng dài đằng đẵng sau này, cô không phút nào nghi ngờ anh, không hề có ý định lật lại trang sử cũ ở Hà Nội nếu không cô không phải là vợ anh. Ở cùng nhà, cô dễ dàng theo dõi từng việc làm nhỏ nhất của anh và cô đã rút ra kết luận: Hai Lâm tức Nguyễn Hải Phòng, tức Nguyễn Thanh Bình là Việt Cộng. Chính cô đã chui vào thòng lọng, đã môi giới để anh về làm việc với Giắc. Anh cần lớp vỏ bọc. Thất bại của quân Pháp ở Điện Biên Phủ khiến lòng cô xốn xang, trái tim cô chuyển hướng. Cô không ưa Trần Hảo, ít thích Giắc mà chuyển hướng sang anh. Anh đâu phải người của Phòng Nhì Pháp. Chính anh đã lợi dụng lúc quân Pháp sắp rút lui để làm việc này. Cẩm Nhung thấy có gì ngồ ngộ trong việc xảy ra. Một nàng quận chúa, con gái đại tá trùm tình báo Pháp lại là vợ của Việt Cộng.


Cẩm Nhung không mảy may có ý định tố cáo Hai Lâm, vì lẽ rất đơn giản: anh là chồng cô và cô yêu anh hơn bất cứ ai trên trái đất này. Cẩm Nhung ngấm ngầm bảo vệ anh. Ngay cả khi tên thiếu tá Bảy Cọp cho Cẩm Nhung biết chuyện Nguyễn Thanh Bình, cô cũng lờ đi, giữ im lặng, để tâm trạng anh khỏi xáo trộn, để anh yên tâm theo đuổi công việc của mình. Và để tên Bảy Cọp không nghi ngờ anh. Nếu cô chỉ để lộ ra một chút ít về Nguyễn Thanh Bình, chắc rằng tên Bảy Cọp sẽ vố anh ngay để tâng công với chủ, để làm sạch bóng Việt Cộng trong hàng ngũ Quốc gia. Cô quyết định im hơi, lặng tiếng, cô ngầm đứng sau, đứng xa anh để bảo vệ anh. Cô chỉ nghĩ đến an toàn của anh. Ngay chuyện thuê vú nuôi, Cẩm Nhung cũng hoàn toàn quên mình vì anh. Khác với anh bồi và cô sen chỉ lo việc và quanh quẩn ở nhà dưới, người vú nuôi, do phải săn sóc tiểu thư nên có quyền lên nhà trên. Cẩm Nhung không muốn ai bén mảng gần đến khu vực cấm địa của chồng mình, nên cô quyết định tự nuôi lấy con. Cô bộc lộ những suy nghĩ của mình với Hai Lâm và thổ lộ:


- Em yêu anh vô cùng. Em dám rời bỏ Pa-ri hoa lệ để lại đó người cha già cô đơn không chút ngần ngại là vì anh. Em tự rũ bỏ tước vị quận chúa và chả bao giờ thích nhận mình có dính dáng đến hoàng tộc cũng vì hạnh phúc của chúng ta. Em rất yêu má và má cũng yêu thương em và anh tha thiết song em chỉ về Huế mỗi năm hai lần để trọn chữ hiếu, mà không ép anh cùng đi vì em đoán nhận thấy những gì là miễn cưỡng trong lời nói, qua ánh mắt của anh. Anh là bầu trời của em, là Chúa của phần hồn em. Em không dính tới chính trị, không đủ can đảm tuân theo lý tưởng của anh nhưng em có gan đánh đổi tất cả để có anh.


Hai Lâm ôm đầu Cẩm Nhung ghì chặt vào ngực mình. Lúc này tết nhất là im lặng, vì mọi lời nói đều không diễn tả được tình yêu mãnh liệt của nàng đối với anh. Sống chung dưới một mái nhà, anh chưa hiểu hết vợ mình. Chưa hiểu chị dám hy sinh tất cả vì anh, đánh đổi tất cả để có anh. Anh không thể cải chính (mà cải chính sao nổi khi chị đã có đủ bằng chứng trong tay) nên bàn:


- Anh cảm ơn em vì mối tình em đã đem lại cho anh, vì hai con của chúng ta và những điều em vừa nói với anh. Tuy vậy anh hoàn toàn không yên tâm khi thấy em quá vất vả vì Cẩm Phương. Em cứ nuôi chị vú, cấm ngặt chị ấy lên gác và chỉ để chị ấy đến với con trong phòng em vào những giờ nhất định.


- Em xin nghe lời anh.


Chia tay với vợ, Thanh Bình về phòng làm việc của mình, ngả người trên chiếc ghế sa-lông, rít từng hơi thuốc. Anh vừa trải qua những giây phút dịu ngọt, hưởng tình yêu nồng cháy của người vợ lai Pháp, song cũng có thể gọi là cuộc hỏi cung, tra tấn khiến thần kinh anh căng thẳng. Không hiểu ngoài Cẩm Nhung ra còn có kẻ nào đó trong hàng ngũ địch nghi vấn anh không? Đại tá Giô-dép đã chuẩn bị cho anh cái vỏ bọc thật là chu đáo. Chưa một ai trong cơ quan an ninh quốc gia này có dấu hỏi nhỏ về anh. Anh có hai bảo bối tuyệt vời: Lý lịch của Cẩm Nhung và tiểu sử con chó King. Cẩm Nhung! Nàng thật là tuyệt vời.


Anh nhận lời ông Giô-dép, đồng ý cưới nàng vì yêu nàng đẹp? Vì nàng con nhà giàu, có địa vị cao? Vì lợi dụng bức bình phong là ông Giô-dép? Vì để che giấu tung tích của mình? Có lẽ vì tất cả những nguyên nhân đó đều là động cơ thúc đẩy Hai Lâm đi đến hôn nhân trong lúc anh vẫn mặc cảm là mình có tội với Thoa và con gái, con trai anh: hai bé Hạnh, Thanh. Anh vẫn giữ đôi hoa tai và lời hứa của anh với vợ vào giây phút chia tay. Lúc này đã là thời điểm anh thổ lộ với Cẩm Nhung chưa? Hoặc anh kể cho vợ hai về vợ cả hoặc không bao giờ. Anh nhớ là từ những ngày đầu sống chung dưới một mái nhà, ăn cùng mâm, ngủ chung giường với Cẩm Nhung song anh vẫn dè chừng, cảnh giác. Anh chưa bao giờ hé lộ chút gì về mình với nàng. Anh không ngờ nàng đã biết rõ về anh. Nàng đã tóm được một bằng chứng không thể chối cãi được qua lời tiết lộ của tên Bảy Cọp về vụ Nguyễn Thanh Bình. Nàng đã hiểu rõ hoàn cảnh Nguyễn Thanh Bình ở Hà Nội nên nàng tìm ra đáp số về chồng nàng hoàn toàn chính xác. Tuy biết "chuyện tầy đình" như vậy mà nàng vẫn giữ được im lặng, không chất vấn anh, không để lộ điều mình đã biết qua ánh mắt, qua lời nói, qua tiếp xúc hàng ngày. Ôi đàn bà! Họ có những gì được gọi là kín đáo, là tế nhị mà người đàn ông không thể có được. Mãi đến hôm nay, nếu không vì việc anh ép nàng thuê vú nuôi cho Cẩm Phượng, chắc nàng vẫn giữ im lặng. Qua việc này, anh đo được tình yêu của Cẩm Nhung với anh. Nàng yêu anh mãnh liệt bằng tình yêu đã vượt lên tình phụ tử, tình mẫu tử để bảo vệ anh, khi biết anh đứng trong hàng ngũ Việt Cộng và chính họ là những người làm nên Điện Biên Phủ đuổi Giô- dép về Pháp và tước mất ngôi vị của hoàng đế Bảo Đại. Cẩm Nhung thật tuyệt diệu. Nàng đã bộc lộ nỗi lòng mình với anh khá thành thật: nàng không thể giúp anh, không theo lý tưởng của anh song nàng hứa sẽ giữ im lặng không hé răng với bất cứ ai về hoạt động của anh. Anh chỉ đòi hỏi Cẩm Nhung như vậy và muốn nàng làm được việc đó anh phải đáp lại tình yêu của nàng tha thiết, chân thành. Hai Lâm trở lại phòng vợ, đắm đuối nhìn Cẩm Nhung. Anh nói với nàng bằng giọng yêu thương, nồng nàn nhất:


- Em yêu! Thuở nhỏ, anh có đọc một truyện ngụ ngôn đại ý như thế này. Có cậu bé ngoan song tham ăn. Cậu được mẹ thưởng kẹo. Cậu thò tay vào lọ bốc thêm một nắm đầy nên không rút tay ra được. Anh là cán bộ tình báo bị em bắt quả tang. Em khuyên cậu bé như thế nào?


Cẩm Nhung cười khanh khách:


- Nếu em phạt không cho cậu bé ăn kẹo, cậu sẽ giận. Trường hợp em khuyên đập vỡ bình thì lấy bình đâu để dùng lâu dài. Là điệp viên bị đối phương phát hiện thường có ba cách xứ lý: "lặn", tự sát hoặc thủ tiêu nhân chứng. Anh sẽ không làm như thế. Em khuyên cậu bé bỏ kẹo xuống, lấy từng chiếc, ăn cho đến hết.


- Vì sao?


- Anh sẽ không thủ tiêu nhân chứng vì anh yêu em, anh không đủ can đảm để giết em một khi em không hại gì tới lý tưởng của anh. Anh không cần "lặn" hoặc tự sát vì em không tố cáo anh, em bảo vệ anh. Em không tưởng tượng nổi khi các con mình mồ côi, em thành góa phụ.


Hai Lâm thực sự cảm động. Cẩm Nhung phân tích có lý có tình, chân thật, thẳng thắn; gói trọn vẹn tình bạn, tình yêu giữa anh và chị. Anh hỏi chị:


- Em nói là em để ý tới phòng ảnh của anh? Theo ý em, có gì đặc biệt trong phòng ảnh?


Cẩm Nhung cười:


- Hoặc là anh coi thường trí thông minh của em, hoặc là anh quá mất cảnh giác. Anh nhớ là em đã là thầy dạy nghề ảnh cho anh.


- Nếu anh nhớ không nhầm thì em đã phát hiện ra những tấm kính che ánh sáng?


- Đâu chỉ có như vậy? Em là vợ anh, em có quyền tự do ra vào phòng ảnh. Tại sao có ngày anh dùng tới nhiều cuộn phim. Anh thiết kế cái giá đỡ máy ảnh khi chụp và ngọn đèn một ngàn oát. Em giỏi nghề ảnh nên em biết ngay anh dùng phòng ảnh làm gì?


- Anh thật đoảng. Lẽ ra mỗi khi chụp ảnh xong, anh phải "thu dọn chiến trường" ngay. Anh quá chủ quan. Em có hỏi Bảy Cọp về Nguyễn Thanh Bình không?


- Em việc gì phải hỏi một khi em đã biết tất cả.


- Này em! Trong cuộc họp mặt ở nhà anh Lê Thọ Đắc có sáu người. Giắc đã về Pháp. Hai anh em Lê Thọ Đắc, Lê Tâm Trinh đang ở Hà Nội. Anh Trần Hảo đã biến đi đâu không còn địa chỉ. Em làm cách nào để tố cáo anh, nếu em muốn?


- Anh đừng coi thường em. Bộ máy an ninh của chính quyền tổng thống Thiệu thừa sức tìm được Trần Hảo. Hồ sơ lưu trữ cá nhân anh đủ tố cáo anh. Tuy vậy em cần gì làm điều đó? Em chỉ cần chụp ảnh anh nghiêng đúng theo tư thế ảnh Hoàng Thiện là đủ tố cáo anh. Em giao cho giám định khoa học là họ sẽ biết ngay anh là ai.


Hai Lâm rùng mình. Cẩm Nhung giỏi hơn anh tưởng nhiêu. Suốt bao năm sống ở cạnh người cha làm trùm tình báo, cô học tập được rất nhiều. Cô thông minh, sắc sảo. Cô có trình độ nghiệp vụ tình báo cao hơn anh nghĩ nhiều. Đến lúc này, anh thấy là cần thổ lộ tất cả với chị. Cẩm Nhung chăm chú lắng nghe. Cô đâu ngờ là anh đã có vợ và có tới hai con. Cô thực sự xúc động, phải lau nước mắt nhiều lần khi nghe kể về chị Thoa. Chị Thoa cao cả quá. Chị chịu nhiều cảnh nghèo túng cùng cực mà vẫn hy sinh vì anh. Tình yêu của chị Thoa với anh vô cùng mãnh liệt. Chị đã làm tất cả thậm chí sẵn sàng gánh chịu nỗi cay đắng, kể cả "chửa hoang", để bảo đảm mọi bí mật cho anh. Cẩm Nhung yêu anh. Cô dám dứt bỏ Pa-ri hoa lệ, chia tay với người cha già cô đơn để chạy theo tiếng gọi của tình yêu, đâu có thể sánh với chị Thoa khi chị địu con từ Thanh Hóa về Hà Nội. Chị Thoa chịu đói, đi bộ và rất dễ bị cả hai phía Việt Minh và Quốc gia bắt, bỏ tù. Cẩm Nhung ngồi máy bay phản lực từ Pa-ri đến Sài Gòn để tiếp tục sống trong biệt thự sang trọng với đầy đủ mọi tiện nghi, còn chị Thoa chui rúc trong túp lều rộng bốn mét vuông. Từ ngày cưới, Cẩm Nhung sống bên chồng không đêm nào xa chồng và biết rất rõ chương trình làm việc của chồng từng ngày, ở đâu, làm gì? Chị Thoa không biết địa chỉ và công việc của chồng; không đêm nào sống trọn gần anh mà chị vẫn tin anh, yêu anh thì điều đó mới là tình yêu xuất phát từ trái tim nồng cháy, yêu cuồng nhiệt, yêu hiến dâng không đòi hỏi được đáp lại. Cẩm Nhung thấy mình quá thua kém người đàn bà có tên là Thoa, người đã đến với anh trước cô. Từ trước đến nay, cô luôn tự hào là cô yêu anh nhất; cô tự cho mình là người vợ mẫu mực, dám từ bỏ mọi thú vui vì anh nhưng cô không sánh nổi với chị Thoa. Chị Thoa dám để chồng dứt áo ra đi và điều vô cùng lạ lùng là chị đồng ý để cho chồng cưới vợ hai. Cẩm Nhung nâng niu đôi hoa tai. Trao báu vật này cho chồng để nhờ chồng đưa cho người đàn bà chưa quen biết là dấu hiệu gì? Phải chăng chị Thoa muốn gửi gắm chồng chị cho nàng quận chúa? Hay là, món quà này ngụ ý công nhận đám cưới? Chưa thật đúng lắm! Nếu vậy, chị Thoa chỉ cần gật đầu, việc gì phải đem của gia bảo ra làm vật bảo đảm? Cẩm Nhung ngắm đôi hoa tai. So với những đồ trang sức cô đang có, đôi hoa tay này chả có giá trị mấy về tiền bạc, kiểu quá cũ, chỉ dùng cho phụ nữ nông thôn hoặc mấy cô bán hoa của làng Ngọc Hà, bán tạp hóa, bán hàng tấm ở chợ Đồng Xuân. Cô không dám coi thường hiện vật mà chị Thoa trân trọng, mà chồng cô gìn giữ như bảo vệ con ngươi của đôi mắt mình. Cẩm Nhung đã đón được ý nghĩa thâm thúy của người tặng hoa tai. Chị Phạm Thị Thoa đồng ý để cô là vợ anh Nguyễn Thanh Bình với điều kiện "không bao giờ cô ấy là vợ cả". Bây giờ cô biết tính sao đây? Cả ba của cô là trùm tình báo Pháp cùng hàng trăm mật thám sừng sỏ của Phòng Nhì Pháp đều bị sỏ mũi, khiến cô bị lừa theo. Nếu biết anh có vợ, có hai con, chắc là cô đã trở thành vợ Giắc rồi. Anh chỉ hơn Giắc vì anh là người Việt Nam. Bây giờ thì ván đã đóng  thuyền, mọi chuyện đã an bài rồi, dù cô có quẫy cũng không nổi nữa.


Hai Lâm cầm bàn tay Cẩm Nhung, nhìn vợ bằng cặp mắt ấu yếm cầu khẩn. Anh bộc lộ lòng mình:


- Anh không bao giờ nuôi ý định lừa dối em, chiếm đoạt thân thể em. Trước ngày ba Giô-dép đưa em sang Sài Gòn làm lễ cưới cho chúng ta, anh chưa hề nói với em lời nào về tình yêu. Anh yêu Thoa và hai con Hạnh - Thanh. Anh không muốn có em chen vào giữa nhưng tình thế đã buộc anh cưới em.


- Anh có hối hận không?


- Câu hỏi này đưa ra sau ngày cưới, chắc anh khó trả lời. Từ sau ngày chúng ta có con, anh hiểu rằng anh không thể thiếu em. Bây giờ, em đã hiểu vì sao anh đặt tên con là Thanh. Vì tế nhị, vì chiều ý em, ý bà ngoại nên anh không đòi đặt tên con gái chúng ta là Hạnh.


Cẩm Nhung đáp lại rất thật lòng:


- Cứ gọi con là Cẩm Hạnh cũng được. Em sẽ có cách thưa chuyện với má.


- Không cần đâu em ạ! Sau điều em tiết lộ hôm nay về anh, anh đo được tình yêu của em với anh mãnh liệt như thế nào? Em! Hơn chục năm qua không tuần nào anh không ngắm đôi hoa tai này một lần. Anh không chọn được thời cơ nào để nói với em về Thoa. Chưa làm được việc này, anh luôn luôn cho mình còn mắc nợ Thoa và chưa ăn ở hết lòng với em. Hôm nay, điều bí mật anh nói ra được rồi, việc còn lại do em quyết định.


- Theo ý anh, em có mấy cách lựa chọn?


- Anh sẵn sàng chờ đón và gánh chịu mọi hậu quả do em phán xét. Em có thể ly dị mang theo bé Thanh và Cẩm Phượng về Pháp sống với ba. Hoặc là em và anh tiếp tục sống chung trong ngôi nhà này vì các con. Anh và em ly thân không còn quan hệ vợ chồng nữa.


- …


- Nếu em bỏ qua cho anh, em chấp nhận được, anh sẽ biết ơn em vô cùng. Cẩm Nhung! Anh yêu em. Anh không thể thiếu em, thiếu các con.


Cẩm Nhung ngước nhìn anh, nước mắt đầm đìa. Mang tính cách cô gái lai Pháp, đã nhiều năm sống ở Pa-ri, Cẩm Nhung coi khinh loại phụ nữ yếu đuối, bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng tuôn nước mắt giọt ngắn giọt dài. Từ ngày quen nhau và hơn chục năm sống chung, chưa bao giờ Hai Lâm thấy vợ khóc. Anh rút mùi xoa thấm nước mắt cho vợ. Cẩm Nhung từ tốn:


- Anh! Anh biết em đang nghĩ gì không? Em muốn nâng niu tất cả và đập phá tất cả. Em muốn dùng gót giày nghiền nát đôi hoa tai này hoặc vứt nó vào sọt rác, đồng thời lại muốn áp đôi hoa tai này vào trái tim em, đưa lên môi để em hôn nó. Điều bất ngờ này quá lớn đối với em.


Hai Lâm nhìn nét mặt vợ, nghe giọng nói của vợ. Cô ấy đau khổ song bình tĩnh, sáng suốt. Cô ấy sẽ chọn cách nào? Cứ tưởng đến giây phút phải tiễn ba mẹ con cô ấy ra máy bay để về Pháp, anh đã thấy lòng mình tan nát, trống trải. Nếu không có Cẩm Nhung, bé Thanh và Cẩm Phượng, anh sẽ sống ra sao? Người ta sẽ dị nghị về anh thế nào? Anh làm  cách nào để dằn nổi cơn phẫn nộ của ông già Giô-dép và bà Cẩm Loan? Từ nhiều năm qua, anh nấn ná thực hiện điều kiện của Phạm Thị Thoa vì anh đã lường trước điều tan vỡ không thể tránh khỏi. Dù sao việc phải đến đã đến rồi. Cẩm Nhung sẽ quyết định thế nào? Cô thủ thỉ:


- Anh Hai! Em đâu còn là quận chúa Cẩm Nhung kiêu sa hoặc Mari Nhung đỏng đảnh nữa? Em là vợ anh, là mẹ của hai con mà anh và em vô cùng yêu quý.


Cẩm Nhung cười nửa miệng:


- Anh! Em vừa tưởng tượng ra một điều: nếu sau ngày cưới hoặc sau khi đã hưởng tuần trăng mật, anh cho em biết chuyện này thì sao? Thì em sẽ đập phá tan nát, sẽ bắt anh vào tù hoặc đưa anh đến giá treo cổ hay là xử bắn anh, em cũng chả mủi lòng. Bây giờ thì khác rồi vì anh đã là báu vật vô giá của em. Vì anh, vì hạnh phúc của chúng ta, em sẵn sàng làm tất cả. Em xin nhận đôi hoa tai này.


Hai Lâm đưa ra câu hỏi không đúng lúc:


- Còn điều kiện thứ hai của Thoa?


Cẩm Nhung nhí ngón tay vào trán chồng:


- Anh tham quá đấy, đã được voi còn đòi tiên. Em không đồng ý là vợ lẽ hay vợ hai đâu? Anh cứ chữa hôn thú, ghi em là vợ kế cũng được.


20


- Mẹ!


Thoa quay lại. Bé Hạnh trông thật nhếch nhác, quần áo lấm đầy bùn đất, mồ hôi, mồ kê nhễ nhại. Chị gần như vồ lấy con:


- Sao con lại về? Con đi với ai?


- Con đi một mình!


- Con đi bộ từ ga Vũ Ẻn về đây à?


- Vâng. Mẹ ơi, con đói lắm? Nhà còn gì ăn không mẹ?


- Mẹ dọn bánh sắn cho con ăn nhé? Từ ga về đây con không sợ lạc đường à?


- Con hỏi thăm, mẹ ạ.. Con đói quá!


Nhìn con bé ăn ngấu nghiến. Chị rất thương con. Tại sao lại xảy ra cơ sự này? Chị nhớ hôm tiễn con, con bé khóc không muốn xa mẹ, xa em và sắp được ở chung với bà ngoại. Hạnh rất yêu bà. Từ 1 đến 4 tuổi, Hạnh sống chung với bà nên hai bà cháu quấn quýt không chịu rời nhau. Chị và bác  chủ tịch nông trường Nguyễn Thắng phải động viên mãi, Hạnh mới vui vẻ lên đường. Bác Nguyễn Thắng gửi cháu nhờ một cô cấp dưỡng trong nhà khách của bộ trông nom giúp và thông báo với chị:


- Tôi ở Hà Nội một tuần nhưng bận họp nên ít có thời gian rảnh rỗi để lo cho cháu. Cháu đã có danh sách ở Bộ Giáo dục nhưng còn thiếu thủ tục gì đó. Cô nên thu xếp về Hà Nội để lo cho cháu.


Chị gật đầu chấp thuận nửa vui lòng, nửa miễn cưỡng. Từ ngày lên nông trường, chị không bị ốm và các con chị cũng thuộc loại hay ăn, chóng lớn nhưng chị vẫn lo phòng xa: "Vốn liếng" của chị có 10 ngày phép mỗi năm. Chị thường dùng từ 6 đến 8 ngày phép để đưa hai con về thăm quê ngoại, quê nội, và dành ra vài ngày để trừ vào ngày mẹ ốm, con đau. Nếu chị bỏ ra một tuần lo cho Hạnh, chị sẽ phải hủy bỏ kế hoạch đi phép của năm nay. Chị tặc lưỡi:


- Chắc ông nội, bà ngoại sẽ thông cảm cho mẹ con chị vì chuyện đặc biệt, đột xuất của cháu Hạnh.


Về Hà Nội, chị không biết bấu víu vào đâu ngoài cái số điện thoại của cô Tuyết Mai. Chị đưa con đến trạm khách của Bộ Quốc phòng. Không ai tiếp mẹ, con cô nuôi trẻ của nông trường chè Vân Lĩnh vì cô chả liên quan gì đến quân đội cả. Viên sĩ quan trực ban hỏi chị:


- Cô Tuyết Mai ở đơn vị nào? Cấp bậc gì?


- Tôi không biết.


- Chị bắt chúng tôi tìm một người mà chính chị không rõ cô ấy là ai, ở đâu thì làm sao chúng tôi giúp chị được? Xin lỗi anh ấy tên là gì?


- Là Nguyễn Thanh Bình.


- Anh ấy có đi bộ đội không? Nhập ngũ năm nào? Ở đâu?


Làm sao chị trả lời nổi những câu hỏi này? Chị không biết anh đại úy đang ngồi trước mắt chị là ai nên chị không thể hé lộ điều bí mật về anh. Chị đành tuôn ra những câu nói dối đã trở nên quá quen thuộc với chị:


- Thưa anh! Nhà em bị địch bắt cuối năm 1953. Anh làm ơn gọi số điện thoại này giúp em.


Đại úy trực ban mở danh bạ điện thoại. Anh giật mình vì đây là số điện thoại riêng, "Tối mật" của Cục Tình báo. Anh quay số và đã trả lời với chị vẻ dịu dàng pha chút kính nể:


- Thưa chị. Chị Tuyết Mai đi công tác xa không bàn giao việc của chị cho người khác. Bốn hôm nữa chị Tuyết Mai sẽ có mặt tại Hà Nội.


Đành phải chờ đợi vậy thôi. Ngày hôm sau chị đưa con gái về làng Phượng Vũ. Ngày tiếp theo, hai mẹ con về thăm ông Hòa và họ hàng bên nội. Bố chồng chị dặn:


- Chuyện cháu Hạnh đang gặp trục trặc nên con không cần nói với ai cả. Nếu hết phép, con cứ trở lại nông trường. Thầy sẽ lo cho cháu.


Ngày thứ ba chị đưa con gái về thăm vợ chồng bác Loan. Chị Loan vui lắm, nói với "mợ" Thoa đủ chuyện. Chị rỉ tai “cô em dâu”:


- Có cán bộ tổ chức của nhà máy in Tiến Bộ và cô cán bộ từ nông trường Vân Lĩnh đến gặp anh chị để hỏi về vợ chồng em.


Chị Thoa chăm chú lắng nghe và đã nhận ra cái lý do chị được điều động vào chân nuôi dạy trẻ. Thì ra, nông trường đã có trong tay bằng chứng về chồng chị là Việt gian,  làm việc cho nhà binh Pháp, đã tình nguyện theo địch vào Sài Gòn. Chị bị đẩy khỏi nông trường bộ. Nếu không vì hai suất học bổng do Bộ Giáo dục cấp, chắc chắn chị không được đề bạt, lên lương; Chủ tịch nông trường không bao giờ đặt chân tới nhà chị và chị đâu có chỗ ở khang trang như hiện nay.


Chị quay lại trạm khách của Bộ Quốc phòng. Cô Tuyết Mai vẫn chưa về. Không một ai có thể thay thế cô để ra tiếp chị. Chị sốt ruột nhưng không thắc mắc. Chị đã là trinh sát viên, chị hiểu thế nào là hoạt động đơn tuyến. Tuy chị biết chắc cô Tuyết Mai ở Cục Tình báo, cô đã từng là chiến sĩ tình báo hoạt động tại Hà Nội, song chị chưa hề nói với ai điều này. Vắng cô Tuyết Mai, không ai ở Cục Tình báo dám tiếp chị vì đó là nguyên tắc bảo mật, đó là kỷ luật, là nội quy nhằm bảo đảm an toàn tuyệt đối cho đầu mối đang hoạt động trong lòng địch. Chị nắn nót viết lá thư:


"Cô Tuyết Mai!


Chị hết phép nên phải trở lại nông trường. Ông nội sẽ thay chị lo việc cháu Hạnh. Em giúp chị.


Phạm Thị Thoa"


Chị trao thư cho bố chồng:


- Thưa thầy. Cô Tuyết Mai biết rất rõ là chỉ có con, mẹ con và thầy nắm vững điều bí mật về anh Bình. Thầy đến nhà khách của Bộ Quốc phòng nhờ gọi điện thoại cho cô Mai.


Ông Hòa hứa hẹn:


- Con cứ yên tâm về công tác. Đây, thầy gửi cho thằng Thanh quả bóng. Đừng cho nó dang nắng nhiều quá.


Chị Thoa mới về nông trường được năm ngày, tại sao bé Hạnh cũng trở về, lại đi có một mình? Bố chồng chị đã gặp Tuyết Mai chưa? Sao ông nội không đưa cháu gái về với chị? Chị hỏi con gái:


- Ông nội có gửi thư cho mẹ không?


- Không, mẹ ạ! Con trốn ông nội để về với mẹ. Con không học nữa.


Cu Thanh mặc quần đùi, cởi trần, người đẫm mồ hôi, ôm quả bóng tròn, sà đến bên chị:


- Chị về với em à! Hoan hô.


Chị Thoa nạt con trai:


- Thanh! Con đi tắm để mẹ nói chuyện chị Hạnh.


Bé Hạnh kể chuyện khá mạch lạc. Ba ngày liền, ông nội đưa cháu đến nhà khách Bộ Quốc phòng nhưng không gặp được ai. Trong lúc chờ đợi, ông khuyên cháu gái về sống chung với ông, ông sẽ xin cho cháu vào học lớp 4 ở trường cấp I tại quê nội. Hạnh không muốn về với ông. Nếu không được vào trường miền Nam, Hạnh sẽ về nông trường. Hạnh nhớ mẹ, nhớ em Thanh và mơ ước được sống chung với bà ngoại.


Sáng hôm nay, ông gặp cô Tuyết Mai. Nghe cô Mai nói với ông là Hạnh không được nhận vào học, Hạnh tìm đường ra ga Hàng Cỏ mua vé lên tàu về ga Vũ Ẻn. Chị giận con mà cũng thương con. Con chị vì không muốn xa mẹ đã làm một việc quá ư liều lĩnh. Nếu bé Hạnh bị lạc trên tàu hoặc trên đường từ ga Vũ Ẻn về nông trường thì sao?


Chị phân tích cho con:


- Con hư lắm. Con còn trẻ con, con làm cho ông nội, các cô các bác đều lo lắng vì con.


Hạnh cãi:


- Con đã viết thư để lại cho ông rồi.


- Không được! Con phải xin phép ông. Con phải nghe lời ông.


Hạnh sụt sùi:


- Nếu vậy ông sẽ bắt con ở lại Hà Nội. Con phải về mới kịp vào học lớp 4 ở nông trường.


Chị nhớ là sáng mai sẽ khai giảng năm học mới. Chị đấu dịu với con:


- Con đi tắm rửa, thay quần áo để mẹ giặt cho. Con hỏi các bạn cùng lớp xem còn thiếu sách vở gì để mẹ mua.


Đêm hôm đó chị trằn trọc không sao ngủ nổi. Chị nhớ anh quá chừng. Giờ này anh ở đâu, anh đang làm gì? Canh một, canh hai, rồi canh ba trôi qua. Trời! Nếu có anh bên cạnh, chị đâu đến nông nỗi này? Chị không chợp mắt được. Chị lại nghĩ đến làm thơ. Bài thơ "Năm canh" chị tả rất sinh động, nói lên nỗi lòng mình từng giờ, từng phút. Làm sao chị gặp được anh. Chị viết:


Hai giờ  ngắm dải ngân hà


Xem cầu Ô Thước bắc đà đến đâu


Ngắm Ngâu mà thẹn với Ngâu


Một năm còn được gặp nhau một lần...


Canh tư rồi canh năm trôi qua. Chị ngồi quạt cho hai con; nằm xuống cạnh các con, nghe nhịp thở của từng đứa, rồi lại ngồi tựa cửa ngắm bầu trời, đếm từng ngôi sao, nghe tiếng gà gáy; tiếng các bà gọi nhau đi chợ; các anh trong đội sản xuất rủ nhau ra bãi trồng chè... Lại một đêm chị thức trắng. Cũng may mà cái chu kỳ thao thức trọn đêm chỉ đến với chị mỗi quý một lần, thường là khi nào có suy nghĩ dằn vặt chị. Chị thương bé Hạnh quá! Từ Hà Nội đến nông trường có biết bao chuyện bất trắc sẽ đến với con chị? Nếu cháu bị lạc, gặp tai nạn hoặc có mệnh hệ gì, chị sẽ ăn nói với anh ra sao? Chị phải về Hà Nội gặp cô Tuyết Mai để hỏi cho ra nhẽ. Đang yên, đang lành, sao cô ấy lại bày vẽ ra chuyện này để làm khổ chị. Chị chưa kịp gọi các con dậy, đã nghe tiếng gọi:


- Chị Thoa! Thoa!


Chị sững sờ:


- Thầy! Thầy vào nhà đi.


- Cái Hạnh đâu?


- Cháu đang ngủ ạ?


Ông Hòa thở phào như trút được gánh nặng. Ông trao cho chị tờ giấy đã gập nhỏ:


- Đọc thư cháu, thầy lo quá. Tại sao con bé dám bỏ về một mình? Thầy phải đi tàu đêm lên đây để tìm cháu.


Hạnh - Thanh choàng dậy, chạy ào ra đón ông nội. Ông cốc yêu lên đầu Hạnh:


- Mày bướng bỉnh giống hệt thằng bố mày. Mày làm ông lo cuống cuồng.


Hạnh hôn vào má ông:


- Cháu xin lỗi ông. Cháu đền ông. Ông ơi, hôm nay trường cháu khai giảng, ông ra dự với chúng cháu nhé!


- Ông ơi! Cháu sẽ khao ông bữa canh cua. Cháu bắt cua giỏi lắm.


Thanh khoe:


- Cháu biết câu cá rồi. Ông ơi, các bạn phân công cháu bắt gôn nhưng cháu chỉ thích làm tiền đạo thôi. Ông có thích đá bóng không, ông?


Chị Thoa gạt các con:


- Thôi, để ông nghỉ. Thanh, múc nước để ông rửa mặt.


Hạnh phụ với mẹ làm bánh sắn mời ông. Ông cười khà khà:


- Chiều nay ông bận họp chi bộ.


Ba mẹ con tặng ông một yến sắn để ông đưa về Hà Nội làm quà. Chị Thoa biết là không thể giữ được bố chồng. Chị đề nghị:


- Thầy ngả lưng nghỉ tạm cho đỡ mệt. Con nhờ cậu Nam đèo thầy ra ga.


Ông Hòa tươi cười:


- Cứ có "hai con chó” này ở cạnh là ông hết mệt rồi. Nào, Hạnh hướng dẫn ông làm bánh sắn nhé? Tiếc rằng ông không dự khai giảng với các cháu được và cũng không được ăn canh cua nữa. Thanh này! Cháu cứ chơi tiền đạo tấn công, ông ủng hộ.


Một giờ sau, khi tiễn hai cháu Hạnh, Thanh đi học, ông Hòa kể với con dâu về ý kiến Tuyết Mai. Thì ra, Cục trưởng Cục tình báo bác bỏ chủ trương gửi bé Hạnh vào trường miền Nam. Ông rất có lý khi phân tích:


- Trường miền Nam dành cho con em quê ở miền Nam vào học. Cháu Hạnh quê ở miền Bắc. Cháu vào học là hiện tượng đột xuất. Những ai tò mò chỉ cần tìm lý lịch của cháu là sẽ phát hiện ra bố cháu.


Ông Hòa và chị Thoa đều công nhận lý do không cho cháu Hạnh học trường miền Nam là rất đúng, nhưng biết nói với người ngoài cuộc như thế nào? Lại phải nghĩ ra cách nói dối sao cho hợp lý nhất. Ông Hòa đưa ra gợi ý:


- Ở quê ta không ai biết việc này nên thầy chả cần giải thích. Ở đây, con cứ báo cáo là thiếu thủ tục, giấy tờ.


- Vâng ạ! - Chị Thoa đáp nhưng không tin ở chính mình. Liệu có tai họa nào ập đến với chị nữa không? Chị chợt nhớ đến chuyện khủng khiếp mà chị Loan đã kể cho chị.


(còn tiếp)


Nguồn: Ông tướng tình báo và hai bà vợ. Truyện của Nguyễn Trần Thiết. NXB Quân đội Nhân dân, 2003.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »