tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24303467
Tiểu thuyết
13.08.2014
Nguyễn Mộng Giác
Sông Côn mùa lũ

(4)


Thọ Hương giống cha hơn giống mẹ. Cũng như Nhạc, cô có một đôi mắt hơi xếch và đôi lông mày nhạt. Khuôn mặt cũng hình lưỡi cày. May mắn là cô thừa hưởng từ phía mẹ cái mũi dọc dừa, nước da bánh mật thật mịn và cặp môi đỏ. Phần riêng của Thọ Hương là mái tóc dày và mướt, tuổi trẻ, và cái tật ưa cắn lấy môi dưới mỗi lúc e lệ hoặc bối rối.


Thọ Hương mang đến cho An một cái tráp hình hộp sơn đen, nắp tráp vẽ hình một đôi chim loan đang rỉa lông cho nhau. Cô cắn môi dưới, da hồng thành mầu trái mầng quân, rụt rè hỏi An:


- Hôm nay chị rảnh không? Bày giùm cho em nhé!


An nhìn cái hộp, đoán là đồ thêu thùa, hỏi lại:


- Cái khăn hôm qua em thêu xong chưa? - Khó quá, chị. Em kéo chỉ thật căng, nhưng mấy cánh hoa cứ nổi cận lên. Tháo đi tháo lại hai ba lần, đến khuya mẹ bảo phải đi ngủ.


- Em có đem cái khăn theo không. Trong này hả? Mở cho chị xem!


Thọ Hương lại cắn môi dưới, dáng ngần ngừ. Một lúc lâu, cô mới thú thật:


- Không phải hộp đồ thêu, chị An ạ. Cha em mới nhờ anh Lợi đem về cho em đấy.


An tò mò hỏi:


- Thế à! Nhưng đựng thứ gì trong đó? Chị mở được không?


Thọ Hương đỏ mặt gật đầu. An đưa ngón tay bật cái chốt khóa, giở nắp hộp lên. Mùi son phấn tỏa ra thơm nức. Trong cái hộp lót nhiễu màu hồng, có một hộp phấn và một thỏi son. Phía dưới nắp hộp gắn một cái gương nhỏ hình chữ nhật, và một bọc vải cũng bằng nhiễu đựng một cái lược bằng ngà, và một cái trâm bằng thứ ngọc màu xám có vân.


An trầm trồ khen:


- Đẹp quá. Mua được ở đâu thế? Chắc đắt lắm!


Thọ Hương thực thà đáp:


- Cha em lấy được trong dinh tuần vũ Quảng Ngãi đấy. Dùng thế nào hở chị?


An cũng chân thật đáp:


- Đồ trang sức sang trọng quá chị chưa từng thấy, nên không biết trả lời em ra sao. Lúc nhỏ chị có thấy các cô con gái con quan nội hữu thoa son đánh phấn, nhưng thứ son phấn khác kia. Son cũng dùng thỏi, nhưng phấn thì từng cục hình như hình con ốc. Phấn nụ đấy mà. Còn ở đây... chị giở ra được không?


Thọ Hương vội nói:


- Được chứ chị. Cha đã cho em rồi mà. Em mở mãi không ra. Lấy mũi dao cạy cũng không được. Bị cờn ở cái nắp, chị thấy không?


An cố gắng lấy nắp hộp phấn nhưng không được. Chợt cô đoán:


- Phải rồi, ta xoay ngược từ trái sang phải. A, được rồi. Phấn yên chi Hương ơi!


- Yên chi, là thứ gì chị?


- Là một loài cây bên Tàu có hoa mầu đỏ tím, trong hột có phấn trắng dùng để trang điểm.


- Thế hộp phấn này đem từ bên Tàu qua hở chị?


- Nhất định rồi. Em xem cái hộp này đủ biết. Có điều hơi lạ là phấn mầu hồng nhạt, không phải, mầu nâu nhạt. Tại sao không phải mầu trắng Hương nhỉ? Này, em ngửi xem, thơm dịu chứ không nồng. Thọ Hương kề mũi xuống sát hộp phấn, cười hãnh diện. Rồi cô cầm cái thỏi son bọc giấy hoa hỏi An:


- Chị thấy loại son này chưa? Em không dám mở, sợ làm hư như lúc nạy cái nắp phấn.


- Chị mở nhé?


- Vâng. Coi chừng rách lớp giấy hoa, uổng chị. Em xin lỗi. Chị mở tiếp đi. Đằng nào rồi cũng phải mở mà dùng chứ. Để mà ngắm à. Giống như sáp chị nhỉ.


- Loại này thì chị đã trông thấy rồi. Mầu hồng ngả tím. Loại tốt, còn có vị the như vị bạc hà. Em đưa chị tô môi xem có đúng vị bạc hà không?


Thọ Hương cười xấu hổ, vội đưa cả hai tay lên che mặt:


- Không, không, kỳ chết! Chị nếm thử đi.


An cười nói:


- Kìa, sao lại kỳ? Đàn bà con gái trang điểm son phấn là chuyện thường. Nếu không cha em cho em làm gì.


- Nhưng chưa bao giờ em thoa son cả. Cũng chưa bao giờ đánh phấn. Trang điểm thế này, người ta cười cho. Chịu thôi!


An hỏi cắc cớ:


- Thế em đem sang đây làm gì?


Thọ Hương lúng túng, rồi đáp bừa:


- Đem sang cho chị dùng thử xem sao. Nếu chị dùng được, em sẽ...


- Á à, vậy Hương muốn chị dùng thử xem có bị bỏng da tái môi hay không rồi mới dám dùng phải không?


- Không phải thế. Em xin thề là...


An cười cho sự ngây thơ của Thọ Hương, cắt lời cô gái:


- Chị nói đùa mà, thề thốt làm gì. Thôi được. Để chị đánh thử thứ phấn này xem sao. Em có đem gương theo không? À quên, cái hộp này có gắn gương kia mà. Em đóng giùm cánh cửa cho chị. Lỡ ai trông thấy, ngượng chết! Tối quá Hương ơi! Em mở hé thêm chút nữa. Như vậy, khép bớt lại không ở ngoài trông thấy. Được đấy. Em lại đây chị vẽ cho cách dồi phấn.


Hai người cười nói rúc rích một lúc, vừa trang điểm vừa chòng ghẹo nhau. An tự dồi phấn, thoa son xong, ngượng ngùng quay mặt về phía Thọ Hương hồi hộp hỏi:


- Em thấy thế nào?


Thấy Thọ Hương mở to mắt nhìn An không nói, An lo âu, che dấu sự xấu hổ bằng cách bảo:


- Đúng là có vị bạc hà Hương ạ. Tối quá, chị bôi bác chắc trông kỳ cục lắm. Tìm cho chị cái khăn chùi mau đi.


Thọ Hương vội nói:


- Chị điên sao! Để em mở rộng cửa sổ cho chị soi gương. Chị đẹp quá chị An ơi! Không tin chị nhìn vào gương đi.


Thọ Hương chạy đến chỗ cửa sổ xô mạnh cánh gỗ khép hờ. Ánh sáng ùa vào phòng. An liếc nhìn vào gương, và đột nhiên tim cô đập nhanh vì hân hoan. Thọ Hương tíu tít nói:


- Hèn gì chú Tám cứ một điều cô An hai điều cô An. Đến nỗi cha em phải gắt lên.


An ngơ ngác hỏi:


- Chú Tám nào?


- Chú Tám Thơm đó. Chú Huệ đó. Chị còn giả vờ mãi. Tập thơ bìa bọc nhung chị cất vào đâu em không thấy?


- Tập thơ gì?


- Thôi chị ơi. Chị tưởng em mù hay sao?


- Chị hỏi thật mà!


- Lại thật! Tập thơ chú Tám lấy được trong phủ Bình khang gửi biếu chị đấy! Của nhà thơ lớn nào tận bên Tàu, cha em nói thế. Chị biết không, cha em đọc mấy chữ chú Tám viết kèm theo gói sách gửi chị, bật cười ha hả rồi bĩu môi như thế này này, cha em nói: Cái thằng! Lo chuyện đánh đấm chưa hết hơi hay sao mà còn bày đặt thơ với thẩn! Chị biết tính cha em rồi, chúa ghét văn chương thơ phú viển vông!


Càng nghe Thọ Hương nói, An càng hồi hộp, choáng váng. Hóa ra anh ấy có gửi sách và thư cho mình sao? Quà gửi lúc nào? Sao không tới tay mình? An cầm lấy hai tay Thọ Hương lắc lắc, khẩn khoản, van nài:


- Chị nói thật đó Hương. Chị không nhận được sách vở thư từ gì của chú Tám Hương hết! Chị không giấu đâu. ở đây chỉ có hai chị em mình, chị giấu làm gì. "Chú Tám" gửi sách cho chị lúc nào? Cha em sai ai chuyển lại chị?


Đến lượt Thọ Hương kinh ngạc:


- Lâu rồi mà chị! Cách đây cả tháng trời, hồi chú Huệ đem quân vào lấy phủ Phú Yên và Bình Khang. Cha em chưa đưa quà cho chị thật à?


- Chưa. Chị nói thật mà Hương!


- Thế thì lạ quá! Có lẽ sau đó cha em bận chuẩn bị đánh dấn ra Quảng Nam nên quên khuấy đi. Để em chạy về lục lại xem còn bên đó không. Chị chờ em chút nhé. Sao mặt chị tái mét thế?


An vội nói:


- Không đâu. Có lẽ chị dồi phấn nhiều quá đấy. Em chạy gấp về bên nhà xem mẹ có sai bảo gì không. Tới giờ cơm chưa?


An nôn nao chờ Thọ Hương trở lại, nhưng chờ mãi chờ hoài không thấy bóng Thọ Hương đâu. Buổi chiều người em gái Bùi Văn Nhật cắp sách đến học viết, An không còn thiết dạy dỗ gì nữa, cho cô bé nghỉ một hôm. Cô bé lo lắng hỏi:


- Cô bị bệnh phải không? Em về lấy dầu khuynh diệp cho nhé?


An muốn yên tĩnh để suy nghĩ, vội gạt đi:


- Không sao! Chị chỉ xâm xoàng sơ sơ thôi. Em về chép lại trang này nhé. Bắt đầu từ câu: Đường lệ chi hoa, thiên kỳ phản nhi". Ráng viết kỹ hơn hôm qua nhé!


(5)


Buổi tối An sửa soạn cơm nước trễ. Ông giáo gặp nhiều chuyện buồn phiền trong phủ nên hai cha con lặng lẽ và cơm dưới ánh đèn dầu. Lâu lâu, ông giáo lại hỏi An:


- Nó không dặn con gì cả à?


An trả lời cụt lủn:


- Dạ không.


Rồi tiếp tục cắm cúi ăn. Ông giáo bớt mệt thì nỗi bồn chồn càng tăng. Ông hỏi:


- Mấy ngày nay con thấy nó có gì lạ không?


An chú ý hơn đến nỗi lo của cha, vội đáp:


- Dạ có. Ảnh như người đang ngồi trên lửa. Hết đi ra lại đi vào. Con hỏi, ảnh không nói.


Ông giáo buồn rầu, thở dài rồi bảo:


- Cha đoán thế nào rồi cũng phải đến. Nhưng lâu nay cha hy vọng nó nghĩ lại, khi mấy mẹ con đã có nơi ăn chốn ở. Ai ngờ...


Ông giáo không nói tiếp. An cũng dùng lối nói mơ hồ như cha, sợ động đến nỗi đau đớn chung của gia đình:


- Hôm kia em gái ông Nhật bảo bọn mã phu kháo với nhau rằng... ôi toàn những câu đùa bỡn độc địa. Cô ấy hỏi con có đúng như vậy không. Con bảo miệng lưỡi thiên hạ độc địa quá, anh ấy có bổn phận phải trả cái ơn sâu ngày trước. Cô ấy nói chính mắt cô trông thấy ảnh xoay trần ra, cặm cụi đục đẽo sửa lại cái quầy rượu cho người ta, y như một người chủ gia đình. Cô ấy còn nghe ảnh gọi người ta là "nhà ơi"...


Ông giáo nóng nẩy cắt lời An:


- Thôi đừng kể nữa. Coi như không có nó trong nhà này.


An mạnh dạn nói:


- Dù sao chăng nữa cũng phải chờ mãn tang. Và có cưới xin đàng hoàng. Thiên hạ chỉ chờ có thế để nói bóng nói gió về cái nghiệp nho của cha.


Ông giáo cay đắng nhắc đi nhắc lại lời con:


- Nghiệp nho! Nghiệp nho! Đúng là một cái nghiệp!


Hai cha con không nói gì thêm, trệu trạo cho xong bữa. An vừa dọn mâm chén xuống bếp thì Lợi đến. Như mọi lần, hai tay anh ôm một hộp quà lớn. Ông giáo cũng quá quen với chuyện biếu xén của Lợi, thản nhiên chờ Lợi đem đặt hộp quà chỗ kệ gỗ, không chút áy náy hay khách sáo. Ông hỏi:


- Anh mới về à?


Lợi tự nhiên đến ngồi trước mặt ông giáo, tươi cười đáp:


- Dạ. Đáng lẽ con về sớm hơn, nhưng trưng dụng không đủ ghe. Ra khơi lại bão. Xuống bến chợ Giã con phải nằm suốt hai ngày đầu óc mới hết choáng váng. Thế mà đến giờ mỗi lần đi đâu, con đường trước mắt cứ nhấp nhô như sóng. Không biết đến bao giờ toán kia mới về tới đây. Thầy có tin gì không ạ?


- Anh bảo toán nào?


- Dạ toán dẫn voi. Chuyến đánh Quảng Nam lần này ta thu được nhiều chiến lợi phẩm hơn kỳ ra Quảng Ngãi năm trước. Riêng voi không thôi đã được bốn mươi lăm thớt. Ngoài ra còn vô số vũ khí, trống chiêng, cờ xí, lương thực. Phủ Quảng Nam giàu thật. Con quên kể với thầy là vũ khí lớn bây giờ của ta dồi dào lắm. Tất cả tám mươi hai súng đại bác bằng đồng của bọn Hòa Lan và Anh Cát Lợi tặng triều đình để phòng thủ dinh chàm đều bị ta đoạt.


Ông giáo không tò mò việc quân, nên hỏi Lợi:


- Kỳ này ông cả giải quyết số của cải, lương thực thu được thế nào, anh có biết không? Hay lại rắc rối sinh chuyện như lần trước?


Lợi mắt sáng lên. Ông giáo vừa hỏi đến điều anh quan tâm nhất. Lợi mau mắn nói:


- Nếu con không kịp thời báo cho trại chủ thì rầy rà to. Người nào cũng cho thuộc hạ tom góp chiến lợi phẩm trong vùng của mình đem xuống ghe, định chở về đây làm của riêng. Có người chở đến trên 10 chiếc ghe vẫn chưa hết đồ đạc. Con không thể nói rõ cho thầy người nào bao nhiêu ghe, ai ít ai nhiều, nhưng lòng tham thực không có đáy. May ông cả biết kịp, ra nghiêm lệnh sẽ chém tại chỗ những ai dẫm lên xương máu anh em cướp đoạt tài sản dân chúng làm của riêng. Nhiều người bất mãn ra mặt. Có người hỏi thẳng con rằng đã theo ông cả khó nhọc bao lâu mà không được tự do tom góp của cải đem về cho vợ con, thì chịu khó nhọc nguy hiểm làm gì. Con nói điều này xin thầy đừng lộ cho ai biết, bọn bất mãn nhất không ai khác hơn đạo Trung nghĩa và Hòa nghĩa. Thủ hạ của họ phần lớn xuất thân dân cướp biển.


An từ dưới bếp lên ngồi lẳng lặng nghe hai người nói chuyện, đến lúc đó mới chen vào hỏi:


- Anh có gặp anh Chinh không?


Tự nhiên nét mặt Lợi không vui. Anh ta đáp:


- Có. Nhưng lúc xuống ghe về chợ Giã thì đạo quân của hai ông Tập Đình, Lý Tài đã chuyển lên phía Trà Kiệu.


Ông giáo vội hỏi:


- Nó có nhắn gì không?


Lợi không dám kể hôm đó Chinh uống rượu say sưa, đến lúc Lợi chia tay Chinh vẫn chưa tỉnh lại, nên nói dối:


- Chinh định gửi cho con lá thư. Nhưng lúc ghe nhổ neo con chờ mãi không thấy Chinh đâu. Về sau mới biết có lệnh chuyển quân của ông cả.


Ông giáo nghiêm mặt hỏi:


- Tóc nó đã mọc dài ra chưa?


Lợi muốn cười mà không dám cười, liếc nhìn về phía An trước khi đáp:


- Dạ đã khá dài. Nhưng chưa búi được.


Ông giáo hỏi tiếp:


- Nó còn ở trần không?


Lần này Lợi đáp đúng sự thực:


- Dạ chỉ khi nào ra trận thôi.


Ông giáo gằn giọng nói:


- Lần này khi ông cả về, tôi sẽ xin rút không cho nó theo Lý Tài nữa. Không ai biết con rõ bằng cha mẹ. Nó đi với họ như chim sổ lồng, sợ ít lâu nữa quên mất tiếng nam. Nó còn dám say sưa nữa không?


Lợi lúng túng trước khi đáp:


- Lúc gặp con thì Chinh tỉnh táo.


Ông giáo hiểu lối tránh né khéo léo của Lợi, buồn phiền không nói thêm điều gì. Nhân cơ hội tốt, Lợi đến chỗ đặt hộp quà tháo dây buộc, đưa từng thứ ra nói với An:


- Phải nhận là cửa Hội đông vui hơn dưới chợ Giã nhiều. Lúc ta đến một số thuyền bè đã trốn ra khơi nhưng trên bến vẫn còn đậu san sát. Chuyến này có nhiều thì giờ nên tôi tìm đủ thứ cho An. Ngoài đó đường phèn và quế rẻ mạt. Loại quế này thịt dày, thơm và cay hơn các thứ thường bán ở đây. Gói đường phèn này An tìm chỗ khô ráo mà cất, sợ ẩm chảy nước. Hôm nào lạnh, An lấy đường phèn chưng với chanh cho thầy ăn, trị trước bệnh ho. Vi cá thì phải có thêm ngũ vị nấu mới ngon. An hỏi ở tiệm thuốc bắc ngoài phố. Hồng, lê, táo ở Hội An ê hề, tôi lựa mãi mới được mấy chục quả có thể đem về đến đây mà không hư. Đây gói kim châm và nấm hương. Còn đây là "dầu thái". Không phải là một loại dầu đâu. Bắp cải làm theo lối Tàu đấy. Đại khái cũng như cách làm của ta, nhưng để An ăn thử xem, nó có vị lạ hơn.


Soạn xong bao nhiêu gói nhỏ gói lớn trong hộp, Lợi mới rút trong bọc áo một gói giấy khác đưa cho An, nhỏ giọng bảo:


- Còn đây là quà riêng cho An.


An cảm động, chớp chớp mắt hỏi:


- Anh chỉ vẽ! Đã biết bao nhiêu thứ rồi!


Lợi liếc về phía ông giáo, nói nhỏ hơn:


- Nhưng An phải có phần riêng chứ. An mở ra đi.


An cởi sợi chỉ điều buộc gói giấy. Bên trong có một cái khăn nhiễu màu xanh lá mạ. Lợi nói:


- Màu này hợp với nước da của An lắm. Nhất là những hôm trời trong có nắng. Nước da hồng choàng thêm cái khăn lá mạ! Mong ngày mai trời có nắng!


(6)


Hôm sau xuống kho lương tìm Kiên để chuyển lời cha gọi (đêm hôm trước, Kiên không về) An gặp nhiều người cùng về một chuyến với Lợi. Nhờ vậy An được nhìn Lợi từ một góc độ khác.


Cô biết thêm những điều Lợi giấu không nói với ông giáo. Chẳng hạn lý do vì đâu Nhạc vội vã ra lệnh chuyển gấp hai đạo Trung nghĩa quân và Hòa nghĩa quân lên Trà Kiệu. Một phần không nhỏ số của cải Lợi chở về Qui Nhơn, chất khẳm gần 20 chiếc ghe bầu là "chiến lợi phẩm" của hai đạo quân này. Luôn luôn giữ vai trò xung kích mở đường trong các trận đánh nên đám thuộc hạ Tập Đình, Lý Tài thu góp được vô số của cải quí giá. Lại xuất thân từ nghề cướp biển nên họ biết lo xa, luôn luôn dành sẵn một số ghe thuyền ở các bến sông bãi biển thuận lợi để chuyên chở số hàng thu được đến nơi an toàn, "lo trước cái lo của mọi người" như lời dạy của Khổng phu tử. Sự "khôn ngoan" của họ tác hại ghê gớm đến tinh thần nghĩa quân. Các toán đến sau chịu đựng sự căm thù, ác cảm của dân chúng, hoặc lẳng lặng giả vờ không nghe thấy những lời chửi rủa bóng gió của họ, hoặc nổi giận vơ vét sạch sẽ những gì còn thừa lại, từ con gà đang ấp cho đến một trái dừa non. Nhạc mau chóng thấy rõ nguy cơ, nên khi nghe Lợi báo cho biết chỗ các ghe tàu của Tập Đình, Lý Tài chất hàng, ông quyết định phải có biện pháp mạnh mẽ, dứt khoát. Một mặt ông sai Bùi Đắc Tuyên đem một toán quân đến bao vây bến ghe, một mặt ông tập trung tức khắc hai đạo quân của Tập Đình, Lý Tài và chuyển gấp lên miền tây. Lợi đã thuật đúng sự bất mãn của bọn thuộc hạ Tập Đình, Lý Tài, nhưng anh đã giấu không cho ông giáo biết họ căm thù Lợi đến mức nào. Đối với Lợi, những người cầm quân xông pha đây đó, gặp bao nhiêu nguy hiểm gian khổ giữa tên đạn, tro bụi, họ có một lối cư xử phức tạp, mâu thuẫn với anh. Một đằng họ xem thường Lợi như một thứ bạc nhược vì không đủ sức múa gươm giương cung nên phải đánh võ mồm, dùng ba tấc luỡi che dấu sự bất túc. Đằng khác vì cần đến sự tiếp tế của Lợi, thậm chí cần đến sự thông cảm làm ngơ của Lợi đối với vài trường hợp buông thả, dễ dãi cho quân lính phấn khởi, họ phải nể nang Lợi. Làm thân với Lợi, chỉ có lợi chứ không có hại. Ít ra là lợi trước mắt, như có rượu thịt ê hề cho một cuộc say, có chút quà gửi về cho vợ con. Lợi trở nên một người có uy thế, tuy là uy thế giả tạo. Khi Lợi quay lưng đi, những người vừa anh anh em em với Lợi liền cười nhạt bĩu môi.


An không sống trong không khí sôi động của chiến trường gian khổ nên ngỡ ngàng không hiểu vì đâu những người An gặp ở kho lương mỉa mai Lợi cay độc như vậy. Cô đỏ mặt, tưởng ai ai cũng biết cái khăn quàng màu lá mạ trên đầu cô do đâu mà có. Cô cảm thấy bị sỉ nhục, nên không chờ được Kiên, bỏ về nhà.


Ra đến cổng kho, một nghĩa quân trạc 30 tuổi khuôn mặt lanh lợi chạy theo An hỏi:


- Cô ơi! Cô có phải là con gái thầy giáo không?


An tưởng người ta sắp xỏ xiên về cái khăn nhiễu của mình, dừng lại sừng sộ:


- Ông muốn gì?


Người lính ngơ ngác, lúng túng hỏi:


- Xin lỗi có phải cô là cô An không?


An thấy mình giận dữ vô lý, vội dịu giọng đáp:


- Vâng.


Người lính lật đật rút một tờ giấy gấp tư trong túi đưa cho An, e dè bảo:


- Có thư của cậu Chinh gửi về. Hai hôm nay tôi tìm mãi không biết cô ở đâu. Lên An Thái người ta bảo cô đã dời nhà rồi!


An không muốn tỏ sự mừng rỡ trước người lạ, cảm ơn anh ta rồi dợm bước đi. Người lính vội nói:


- Xin cô đọc ngay cho. Cậu Chinh viết riêng cho cô, và dặn cô đọc ngay để trả lời.


An không còn cách nào khác là giở thư anh ra đọc. Lá thư viết bằng nét chữ cẩu thả nhưng dài khác thường. Chinh viết: (dịch Nôm)


- An ơi. Có chuyện gấp cầu cứu đến em đây. Em giấu đừng cho cha biết chuyện này. Anh mắc nợ bạn bè mỗi người một ít. Chỉ riêng đối với anh bạn mang thư này, anh mắc nợ nhiều nhất, tất cả là 20 quan. Em tới gặp Lợi, hỏi mượn tạm 100 quan đưa trả cho anh bạn này. Anh biết Lợi có nhiều tiền, Lợi không dám từ chối đâu. Có dịp về thăm nhà, anh sẽ đem tiền trả lại cho Lợi. An đừng giận anh, ráng giúp đỡ ngay cho anh việc đó.


Cha vẫn khỏe mạnh chứ? An Thái có gì lạ không. Thằng "mủ mít" còn nằm khoèo ngâm thơ hay làm gì khác? Anh Kiên chắc vẫn ở lì dưới phủ chứ? Cho anh gửi lời thăm cả nhà, và những thâm quyến xa gần. Nhớ lo gấp việc anh nhờ.


Chinh.


An đọc xong lá thư, vừa thương vừa giận anh. Cô không biết trả lời với người mang thư thế nào! Chinh chưa biết An đã bỏ An Thái, và Lãng đã nhập ngũ. Nhưng Chinh biết rõ tình cảm của Lợi đối với cô, và đặt An trước một việc nan giải. Đã đành đối với Lợi, An luôn luôn cảm thấy thoải mái vì được sống trong sự dung thường, khỏi phải phí sức cố gắng hay khổ sở vì mặc cảm như đối với Huệ. Đôi lúc An còn cảm thấy mình cao hơn Lợi, do đó mỗi lần Lợi đến thăm, cô được tự nhiên muốn ngồi thế nào cho dễ chịu thì ngồi, muốn nói gì thì nói, khoan khoái tận hưởng sự dễ dãi buông thả của mình và sự chiều chuộng đến cái vụn vặt nhất của Lợi. Nhưng ngửa tay muợn Lợi đến 20 quan, trời đất hỡi! Có bao giờ An nghĩ đến lúc nhục nhã này! Phải làm sao đây? Người mang thư vẫn kiên nhẫn đợi An. Cô phải hứa liều:


- Gấp quá tôi không thể lo ngay được. Sáng mai có được không anh?


Người lính mừng rỡ nói:


- Dạ được. Mốt tôi mới xuống chợ Giã. Mai tôi gặp cô ở đâu?


An nói trong hoang mang:


- Ở đây. Cũng khoảng giờ này.


Rồi vội bước gấp ra đường cái.


(7)


An lóng ngóng chờ Thọ Hương gần đến trưa không được, phải vội đi tìm Lợi. Cô gặp Lợi đang đứng nói chuyện với Huyền Khê ngay trước cổng kho quân lương nên e ngại, hổ thẹn định bỏ về. Lợi thấy An, vẻ mặt mừng rỡ nhưng giọng nói có vẻ kẻ cả: -An chờ tôi một chút.


Khiến An càng hổ thẹn hơn. Cô có cảm tưởng Lợi đã biết trước là An đến mượn tiền. Không thế tại sao lại có cái giọng kẻ cả như truyền lệnh cho kẻ dưới? An đành phải đứng chờ hai người nói chuyện xong. Cô nghe Huyền Khê hỏi Lợi:


- Trại chủ có nhận được thư khiếu nại của tôi không?


Lợi lễ phép đáp:


- Dạ có. Cháu nghe nói chuyện của bác được đem ra bàn bạc suốt cả đêm. Cuối cùng mọi người đều thấy phủ Phú Yên cần có bác hơn. Nghe nói quân Ngũ dinh sắp sửa kéo ra. Đệ nhất trại chủ bận ngoài Quảng Nam. Bác Thung hiện ở Quảng Ngãi. Bác không lo giùm cho mặt nam, sợ rằng...


Huyền Khê cắt lời Lợi, bảo:


- Nhưng trong đó đã có ông Tiếp rồi. công việc ở đây còn bề bộn, đi sao được.


- Đã có anh Lữ thay thế bác. Trại chủ nhắn bác về Phú Yên càng sớm càng tốt. Mọi điều có dặn kỹ trong thư, chắc bác đã xem qua.


- Tôi đọc kỹ lắm. Ông ấy bảo phải vào chấn chỉnh trạm quân lương gần đèo Cả. Làm gì có trạm đó.


- Có lẽ ông Tiếp mới lập cũng nên. Bác đi, cháu cũng lo không biết có cáng đáng nổi việc ở đây hay không. Anh Lữ lo nhiều việc khác, cháu thì tính bộp chộp. Gì thế Ngạnh? Được, cứ phát cho họ đi, anh sẽ xem danh sách sau. Gạo loại nhì hết rồi à? Không, loại nhất dành riêng đó. Lấy gạo đỏ phát cho họ. Nhớ đừng cân già, hụt kho không biết lấy gì mà bù. Nhắc ông ấy lần sau mua giúp cho thứ anh đã dặn, tiền nong tính sau. À, giở luôn đồ hát bội cho ông Mịch. Bác thấy không, bác đi chắc cháu không có thì giờ để ăn nữa. Đầu tắt mặt tối, quần áo lấm lem hết. Có dịp về đây liên lạc công việc, bác nhắn tin trước cho cháu đi đón, bác nhé!


Huyền Khê không nói gì, cũng không chào Lợi, lẳng lặng bỏ đi. Một người lính trạc năm mươi tuổi hơ hải chạy tìm Lợi. Lợi mau mắn hỏi:


- Chưa đi sao bác Bảy?


Người lính già hấp tấp hỏi:


- Sao lại thiếu hai chục bao muối?


Lợi cười, đáp:


- Bác cứ chở bấy nhiêu, về ông ấy hiểu liền.


- Nhưng trong giấy ghi là tám mươi bao. Tôi ký nhận mà!


Lợi bực bội gắt:


- Bác chỉ biết chuyện lãnh hàng này, còn kỳ trước bác có đi không? Ông ấy đã mượn trước 20 bao rồi. Chuyến này tôi trừ nợ. Người ta chịu hết trách nhiệm, bác lo làm gì.


Bác lính già nửa tin nửa ngờ, dùng dằng một lúc rồi bỏ đi. An phải chờ một người nữa kéo Lợi ra xa nói nhỏ điều gì đó, cười đùa vỗ vai vỗ lưng nhau một hồi. Cuối cùng Lợi mới đến nói chuyện với An. An nói với giọng hờn dỗi:


- Anh bận việc quá nhỉ?


Lợi xem đó là một lời khen, cười thỏa mãn, nói:


- Bữa nay ít việc đó. Nhiều hôm người ta xúm lại làm tội tôi, ai cũng muốn được phát trước. Làm việc này mà không kiên nhẫn, dễ tính, chắc phát điên lên mất. Điều an ủi là anh em ở xa về luôn luôn nhớ đến mình, ai cũng tay bắt mặt mừng. Nhiều hôm họ ép rượu, phải trốn! An có cần gì không?


An lại thấy khó chịu với cái giọng kẻ cả. Cô muốn đáp "không" rồi bỏ về. Nhưng nghĩ tới anh, An thu hết can đảm nói: - Anh Lợi có tiền cho em mượn 20 quan.


Lợi trố mắt nhìn An, hỏi:


- Bao nhiêu quan?


An đã lỡ phóng lao phải theo lao, đáp thật rõ:


- 20 quan.


- Cần việc gì mà nhiều thế?


- Dĩ nhiên cần lắm mới mượn anh. Anh có không? Em phải về lo cơm nước cho cha.


Lợi vội nói:


- Có, có chứ. Nhưng 20 quan nhiều quá. Không biết có đủ không.


An mím môi, rồi nói:


- Cảm ơn anh vậy!


Lợi sợ An bỏ đi, vội bảo:


- Chừng nào An lấy tiền?


An làm ra vẻ kẻ cả y như Lợi:


- Ngay bây giờ.


Lợi suy nghĩ một lúc, rồi lớn tiếng gọi:


- Ngạnh ơi! Em gọi thằng thủ kho lại cho anh. Hay thôi, để anh đi gặp nó vậy. An chờ anh chút nhé!


(còn tiếp)


Nguồn: Sông Côn mùa lũ. Tiểu thuyết ba tập của Nguyễn Mộng Giác. In lần thứ ba. Tác giả ủy quyền xuất bản cho Nhà văn Triệu Xuân. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.Phần 1: Về An Thái
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 16.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »