tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24276585
Tiểu thuyết
12.07.2014
G. G. Marquez
Trăm năm cô đơn

CHƯƠNG 6


Đại tá Aurêlianô Buênđya đã phát động ba mươi hai cuộc vũ trang nổi dậy, và thất bại hoàn toàn. Chung đụng với mười bảy cô gái ở các làng xóm khác nhau, ngài có được mười bảy người con trai, và tất cả họ đều lần lượt bị giết chỉ trong một đêm trước hôm người con cả tròn ba mươi lăm tuổi. Ngài đã thoát nạn trước mười bốn vụ mưu sát, bảy mươi ba vụ phục kích và một đội hành hình. Ngài trở thành Tổng Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng có uy quyền từ nước này sang nước khác, và là người buộc chính phủ phải gờm, song không bao giờ cho bất kỳ ai chụp ảnh mình. Ngài sống sót qua vụ đầu độc bằng bột mã tiền hòa trong cà phê với lượng đủ giết chết một con ngựa. Ngài từ chối Huân chương Công huân do Tổng thống nước Cộng hòa tặng. Ngài khước từ lương hưu trí dành cho mình sau chiến tranh và sống cho đến tuổi già nhờ những chú cá vàng do chính ngài làm ra trong xưởng kim hoàn của mình ở làng Macônđô. Mặc dù lúc nào cũng dẫn đầu quân đội trong trận mạc nhưng vết thương duy nhất trên người lại do chính tay ngài gây nên sau khi ký Hiệp định đình chiến Neclanđia, kết thúc hai mươi năm nội chiến. Ngài tự bắn một phát súng lục vào ngực mình và viên đạn chui ra ở phía lưng, không hề gây tổn hại cho lục phủ ngũ tạng. Cái duy nhất còn lại trong hai mươi năm nội chiến là con đường ở Macônđô mang tên ngài. Tuy nhiên, theo lời tuyên bố của ngài mấy năm trước khi chết vì già lão, ngay đó cũng không là điều ngài mong đợi trong buổi sáng ngài cùng hai mươi mốt chàng trai khỏe mạnh lên đường gia nhập các lực lượng vũ trang của tướng Vichtôriô Mêđina.


- Chúng ta để lại Macônđô cho cháu đấy - đó là tất cả những gì chàng nói với Accađiô trước lúc lên đường - Chúng ta hài lòng để nó cho cháu. Vậy hãy cố gắng lo cho nó để khi trở về chúng ta thấy nó tốt đẹp hơn.


Accađiô có cách riêng của mình đáp lại lời trao gửi ấy. Cậu may bộ quân phục với lon và tua ngù cấp nguyên soái, mô phỏng theo hình vẽ trong cuốn sách của Menkyađêt, và đeo vào thắt lưng mình thanh gươm có bao khảm vàng của viên đại úy bị hành hình. Đặt hai cỗ pháo ở cổng làng, cho học trò cũ của mình - những kẻ điên khùng bởi những tuyên bố nảy lửa của cậu - mặc đồng phục và cho chúng ngông nghênh mang vũ khí đi đi lại lại trên khắp nẻo đường làng để gây cho những người lạ mặt có cảm nghĩ đây là một vị trí quân sự bất khả xâm phạm. Đó là một trò chơi giống như con dao hai lưỡi, bởi vì nhờ nó chính phủ không dám cho quân tấn công quảng trường liền trong mười tháng trời, nhưng cũng vì nó mà khi chính phủ ra lệnh tấn công thì quân đội đã dùng một lực lượng lớn được vũ trang cực mạnh đến mức đã tiêu diệt lực lượng đề kháng chỉ trong nửa giờ đồng hồ. Ngay từ ngày đầu tiên thực thi quyền lực của mình, Accađiô đã lộ mặt là một kẻ hống hách. Hàng ngày, cậu ta oang oang cho tới bốn giờ chiều để ra lệnh và sắp đặt mọi việc theo ý mình. Cậu ta thi hành lệnh cưỡng bức quân sự đối với những người từ mười tám tuổi trở lên, tuyên bố trưng dụng những súc vật nào còn lang thang ngoài đường sau sáu giờ chiều và buộc đàn ông lớn tuổi phải đeo băng đỏ ở cánh tay. Giam lỏng cha Nicanô trong tu viện với lời đe dọa sẽ đem bắn, cấm cha làm lễ misa và kéo chuông nếu không phải là để mừng thắng lợi của phái Tự do. Để không còn một ai nghi ngờ tính nghiêm túc ở những chủ trương của mình, cậu ta cho một đội hành hình tập bắn thằng bù nhìn ở ngoài quảng trường ngay trước mắt thiên hạ. Lúc đầu chẳng một ai coi trọng điều đó. Chẳng qua là các cậu học trò chơi trò người lớn thôi. Nhưng có một đêm, khi Accađiô bước vào tiệm ăn của bác Catarinô, nghệ sĩ thổi kèn trômpét đã chào cậu bằng một hồi kèn bông lơn khiến cho đám đông cười rộ lên, thế là cậu ra lệnh bắn chết anh ta vì tội không tôn trọng nhà chức trách. Đối với những ai dám phản đối mình, cậu ra lệnh còng tay nhốt vào trại giam vốn là một phòng học và cho họ ăn bánh nhạt với nước lã. "Mày là đứa giết người"  Ucsula mắng cậu mỗi khi bà biết được một hành động bạo ngược mới của cháu mình. "Nếu Aurêlianô biết, chắc chắn nó sẽ giết mày và tao sẽ là người đầu tiên ở cái làng này hả lòng hả dạ". Song những lời la mắng ấy của bà đều vô ích. Accađiô vẫn điên khùng siết chặt các ốc vít của bộ máy kìm kẹp, cho đến khi cậu ta trở thành tên khát máu nhất chưa từng có trong số những nhà chức trách ở làng Macônđô. "Giờ đây mới khổ sở bởi sự tranh giành"  Đông Apôlina Môscôtê nói ra miệng trong một số dịp, "Đó là Thiên đường của những kẻ Tự do mà". Accađiô biết. Cầm đầu toán quân lùng sục, cậu đột nhập ngôi nhà ở, đập phá bàn ghế giường tủ, đánh đập các cô con gái và lôi xềnh xệch Đông Apôlina Môscôtê đi theo. Ngay lúc Accađiô sắp sửa đích thân ra lệnh cho đội hành hình nổ súng vào Đông Apôlina Môscôtê thì Ucsula, sau khi đã sượng sùng la thét và giận dữ huơ huơ chiếc roi da sơn hắc ín để rẽ đám đông, làm ồn cả sân trại lính:


- Thằng đểu, mày hỗn vừa vừa chứ!


Trước khi Accađiô kịp phản ứng, bà đã quất cho cậu một roi da, "Thằng giết người. Mày hỗn láo quá thể"  bà thét. "Mày giết cả tao nữa đi, đồ mất dạy. Như thế tao đỡ phải khóc vì nhục nhã đã nuôi nấng một tên phản phúc". Bà cứ thế quất lia lịa không thương tiếc, đuổi theo đến tận cuối sân mà đánh, làm cho cậu ta phải lăn lộn như một con ốc sên. Đông Apôlina Môscôtê đứng chết khiếp đi, bị trói ghì vào chiếc cột trước đây những thằng hình nộm đã tan xác do đạn súng của đội hành hình tập. Còn đội hành hình cũng tản mát hết vì sợ Ucsula sẽ đánh đến mình. Nhưng bà không thèm nhìn họ. Để mặc Accađiô với bộ quân phục lôi thôi, lếch thếch, rên rỉ vì đau đớn và giận dữ, bà đi cởi trói cho Đông Apôlina Môscôtê rồi dẫn ngài về nhà. Trước khi đi khỏi trại lính, bà còn thả nốt các “chính trị phạm”.


Kể từ sau vụ ấy, bà là người cai quản làng Macônđô. Bà khôi phục lễ misa ngày chủ nhật, bãi bỏ việc đeo băng đỏ, bãi bỏ các đội tuần tra hung bạo. Nhưng vào lúc nghỉ ngơi bà vẫn khóc than cho số phận hẩm hiu của mình. Bà cảm thấy quá ư cô quạnh đến mức phải tìm đến người chồng bị lãng quên dưới bóng cây dẻ. "Mình ơi, mình hãy nhìn cảnh ngộ của chúng ta, có thảm không chứ"  bà nói với ông trong lúc những trận mưa rào tháng Bảy đe dọa quật đổ túp lều lá cọ. "Mình hãy nhìn ngôi nhà hoang vắng, con cái chúng ta ly tán khắp thế gian, và một lần nữa chỉ có hai chúng ta với nhau như cái thuở ban đầu". Hôsê Accađiô Buênđya triền miên trong bể thẳm vô thức, cứ trơ như đá trước những lời thở than của bà. Vào lúc mới bị điên rồ, ông thường dùng những câu Latinh khó hiểu để thông báo cho mọi người biết các nhu cầu tối cần thiết hàng ngày của mình. Trong những lúc tỉnh táo ngắn ngủi, khi Amaranta mang cơm tới cho, ông đã báo cho cô biết những phiền toái nhất của mình, và ông ngoan ngoãn uống thuốc cao hạt cải và để cho cô giác máu. Nhưng ở thời kỳ Ucsula thở than bên ông thì ông hoàn toàn mất khả năng tiếp xúc với đời thực. Ông ngồi trên ghế để bà tắm từng bộ phận một cho mình. Vừa làm bà vừa kể ông nghe chuyện nhà chuyện cửa. "Aurêlianô đi trận đã bốn tháng nay mà ta vẫn chưa nhận được tin tức gì"  bà nói, "Hôsê Accađiô đã trở về, đó là một người đàn ông thực thụ, cao hơn cả ông ấy, và xăm khắp người. Hắn trở về chỉ để mang nỗi nhục cho gia đình mình". Tuy nhiên, bà quan sát thấy hình như ông buồn trước những tin dữ ấy. Thế là bà đổi giọng, chuyển sang nói dối ông. "Mình đừng tin những điều tôi vừa nói nhé" bà nói, trong lúc rắc gio xuống những bãi phân của ông để lấy mo hót đi. "Thượng đế muốn Hôsê Accađiô và Rêbêca lấy nhau và giờ đây chúng nó sống rất hạnh phúc". Rồi bà trở nên quá thành tâm khi nói dối, đến nỗi ngay chính bà cũng cảm thấy được an ủi. "Accađiô đã trở thành một chàng trai đứng đắn”  bà nói, “rất dũng cảm và rất bảnh bao, diện bộ đồng phục và đeo kiếm bên hông". Tất cả những lời ấy được nói ra như thể nói với người chết, bởi Hôsê Accađiô Buênđya thanh thản, rất thanh thản, ở ngoài mọi băn khoăn lo lắng. Nhưng bà vẫn không thôi. Bà thấy ông hiền lành quá, giống với mọi người quá, đến mức bà cởi trói cho ông. Ông vẫn nằm trên chiếc ghế, như thể những chiếc chạc không còn cần thiết nữa, bởi vì dường như đã có một sức mạnh, còn mạnh hơn cả những nút trói buộc mà mắt người có thể nhìn thấy, đã trói ghì ông vào gốc cây dẻ. Vào khoảng tháng Tám, khi mùa đông bắt đầu, Ucsula đã có thể báo cho ông biết một tin gần như thật.


- Ông ơi, vận may vẫn đến với chúng ta đấy. Amaranta và anh chàng người Ý chữa cây đàn pianô tự động ấy sẽ cưới nhau đấy.


Quả thật, Amaranta và Piêtrô Crêspi đã có một tình bạn sâu sắc. Cả hai đều được Ucsula đùm bọc yêu thương. Lần này bà thấy không cần thiết phải ngồi canh chừng khi họ chuyện trò. Đó là một mối tình trong buổi hoàng hôn. Anh người Ý với bông hoa dành dành trắng ngà nổi bật trên ve áo đến nhà vào buổi chiều, và dịch ra tiếng Tây Ban Nha cho Amaranta nghe những bài thơ sônê của Petrăcca(1). Hai người ngồi ở hành lang nồng nặc mùi hoa hồng và hoa thu hải đường. Chàng đọc thơ, nàng dệt những tấm đăng ten, không hề biết gì khác dù trong làng hay ngoài mặt trận, cho tới khi muỗi đốt dữ dội họ mới chạy vào phòng khách. Tình cảm dịu dàng của Amaranta với những lời âu yếm đầy ý nhị giống như một tấm mạng nhện vô hình ngày một bọc chặt lấy Piêtrô Crêspi, đến mức vào lúc tám giờ tối, buộc anh phải lấy những ngón tay mai mái xanh đeo nhẫn gỡ nó ra để về nhà mình. Hai người đã làm một cuốn album tuyệt đẹp với những tấm bưu thiếp từ Ý gửi đến cho Piêtrô Crêspi. Đó là những bức ảnh chụp những người yêu nhau trong những vườn hoa vắng vẻ, với hình vẽ trang trí trái tim bị mũi tên xuyên ngang và những dải vàng vương cánh những đôi bồ câu. "Anh biết công viên này ở Phlôrênxi"  anh nói, trong lúc lần giở các tấm bưu thiếp. "Người ta vừa chìa bàn tay ra, lập tức chim đã sà xuống để ăn". Đôi lúc, trước một nhà cây cảnh, nỗi nhớ nhung đã biến mùi bùn và mùi cá thối trong các kênh mương thành phố Vênêxi thành mùi hoa thơm dìu dịu. Amaranta thở dài, cười, mơ mộng đến một Tổ quốc thứ hai gồm những chàng trai và những cô gái đẹp lộng lẫy nói thứ tiếng nói của trẻ thơ, trên những thành phố cổ kính mà thời huy hoàng oanh liệt xưa của chúng giờ chỉ còn lại những chú mèo lẩn quất bên đống gạch vữa đổ nát. Sau khi vượt qua trùng dương mênh mông trong sự tìm kiếm của mình, sau khi đã nhầm lẫn nó với nỗi đam mê trong những lúc âu yếm mãnh liệt của Rêbêca, giờ đây Piêtrô Crêspi đã gặp được tình yêu. Niềm vui mang theo cả sự giàu có, lúc này cửa hàng của anh chiếm gần hết một ô phố. Đó là một tủ kính khổng lồ kỳ ảo nhận phục chế những chiếc đồng hồ báo thức xứ Phlorênxi mà khi điểm giờ chúng làm vang lên một bản hợp xướng những tiếng chuông, bày bán những hộp phấn Tàu khiến năm ngón tay thích thú khi mở nắp, và đủ loại nhạc cụ có thể tưởng tượng ra, đủ loại đồ chơi dây cót có thể mơ ước thấy. Brunô Crêspi, em út của anh, ngồi trông coi cửa hàng, bởi vì chưa đủ khả năng đảm đương lớp học nhạc. Nhờ có Piêtrô Crêspi đường Thổ Nhĩ Kỳ với sự trưng bày lộng lẫy các thứ hàng quý giá đã trở thành một nơi yên tĩnh du dương để quên đi những hành động tàn bạo của Accađiô và không khí ảm đạm muôn thuở của chiến tranh. Khi Ucsula quyết định phục hồi các buổi lễ mixa ngày chủ nhật, Piêtrô Crêspi đã hiến nhà thờ một cây đàn thiếu nhi, chuẩn bị một bài hát sẽ làm cho buổi lễ misa trầm buồn của cha xứ Nicanô vui nhộn hẳn lên. Không ai còn nghi ngờ Amaranta sẽ là một người vợ hạnh phúc. Cứ để cho tình cảm lứa đôi mặc nhiên nảy nở từ trái tim của cả hai, không cần thôi thúc, họ đã cùng đi đến đỉnh điểm của tình yêu, chỉ còn thiếu việc định ngày làm lễ cưới. Bọn họ không gặp một trở ngại nào. Ucsula thầm trách mình với việc trì hoãn không thời hạn ngày cưới đã làm thay đổi số phận của Rêbêca, và đến bây giờ bà vẫn chưa nguôi nỗi tủi hổ. Việc để tang Rêmêđiôt thật nghiêm túc đã phải lui xuống hàng thứ, bởi sự chết chóc do chiến tranh gây nên, bởi sự vắng mặt của Aurêlianô, bởi hành động tàn bạo của Accađiô, bởi việc tống khứ vợ chồng Hôsê Accađiô - Rêbêca ra khỏi nhà. Trước lễ cưới sắp đến, tự Piêtrô Crêspi đã khẩn khoản xin được coi Aurêlianô Hôsê, vốn được anh quý như con đẻ, là đứa con đầu lòng của mình. Tất cả khiến cho ai nấy đều nghĩ rằng Amaranta đang cặp bến bờ hạnh phúc. Nhưng, khác với Rêbêca, cô không để lộ sự thèm khát của mình. Như với cái tình cảm khi ngồi dệt những tấm khăn trải bàn, những diềm đăng ten kết những con công đính trên cây thánh giá, cô chờ đợi cho Piêtrô Crêspi không thể ghìm được những đòi hỏi khẩn cấp của trái tim anh. Giờ tận số của anh đã đến vào những ngày mưa bất hạnh trong tháng Mười. Piêtrô Crêspi gỡ tay cô khỏi khung thêu và hai tay anh cầm thật lâu bàn tay cô. "Anh không thể đợi hơn được nữa"  anh nói. "Chúng ta sẽ cưới nhau vào tháng tới nhé". Amaranta không run rẩy khi tay cô chạm phải bàn tay lạnh buốt của anh. Cô từ từ rút tay về. Giống như một con vật lẩn tránh, cô tiếp tục công việc.


- Thôi đi, đừng có mà ngây ngô quá thế đi, Crêspi - cô cười - Dù có chết tôi cũng không lấy anh đâu.


Piêtrô Crêspi không tự chủ được nữa. Anh khóc nức nở, không còn biết xấu hổ, gần như bóp nát các ngón tay vì thất vọng. Nhưng vẫn không lay chuyển nổi cô. "Đừng chần chừ mất thời gian nữa"  đó là tất cả những gì mà Amaranta có thể nói. "Nếu quả tình anh yêu tôi tha thiết thì xin đừng bước tới nhà này nữa". Ucsula tưởng như mình phát điên lên vì xấu hổ. Piêtrô Crêspi trổ hết tài van xin, tự hạ mình tới mức không thể tưởng tượng được. Suốt một đêm anh khóc như đứa bé trên ngực Ucsula, người có lẽ phải bán cả linh hồn để an ủi anh. Trong những đêm mưa người ta bắt gặp anh đội chiếc ô lụa lảng vảng quanh nhà, hòng bắt gặp ánh sáng trong phòng Amaranta. Chưa bao giờ anh mặc diện như lúc ấy. Mái đầu đẹp lộng lẫy như của một vị hoàng đế qua cơn sóng lòng đã mang vẻ lạ lẫm hẳn đi. Anh đón đường các bạn gái của Amaranta, những cô gái vẫn thường đến thêu ở hành lang, để nhờ họ khuyên giải Amaranta. Anh không còn lòng dạ nào chăm lo tiệm buôn. Suốt ngày anh ở nhà trong viết những bức thư nhàm chán để gửi đến Amaranta cùng với những cánh hoa và những con bướm ướp khô. Nhưng cô vẫn để nguyên gửi trả anh. Đóng cửa phòng, anh ngồi lì ngày nọ qua ngày kia để chơi đàn lục huyền. Có một đêm anh hát. Macônđô thức dậy trong nỗi thảng thốt đặc biệt mà tự cảm thấy mình được thần thánh hóa bởi tiếng đàn lục huyền vang lên rền rĩ không phải từ thế gian này mà bởi một giọng hát nỉ non chan chứa tình yêu thương dường như không thể có trên mặt đất. Thế là lúc đó Piêtrô Crêspi nhìn thấy ánh sáng ló ra từ cửa sổ khắp các nhà trong làng, chỉ trừ cửa sổ phòng Amaranta. Ngày mồng hai tháng Mười một, ngày lễ của tất cả các vong linh, em trai anh mở cửa hàng và bắt gặp tất cả các ngọn đèn đều thắp sáng, tất cả các hộp nhạc đều mở, tất cả đồng hồ đều dừng lại ở một giờ vô tận, và trong sự ngổn ngang ấy cậu thấy Piêtrô Crêspi ngồi bên bàn viết với bàn tay các ngón đều bị dao cắt ngâm trong chậu cánh kiến.


 Ucsula quyết định sẽ quàn thi hài anh trong nhà mình để làm lễ viếng. Cha Nicanô khước từ làm lễ rửa tội cho anh và mai táng anh ở đất thánh. Bà Ucsula đương mặt với cha. "Cả cha cả con, chúng ta không thể hiểu được rằng con người ấy là một vị thánh" ,bà nói. "Trái với ý nguyện cha, con sẽ chôn anh ta ở ngay cạnh ngôi mộ của Menkyađêt". Bà làm đúng những điều mình nói. Được cả làng ủng hộ, bà tổ chức lễ tang thật trọng thể cho anh. Amaranta không bước ra khỏi phòng mình. Nằm trên giường cô nghe rõ tiếng khóc của Ucsula, tiếng chân đi lại và lời than thở sụt sùi của đám đông và tiếng rú rùng rợn của những người đàn bà khóc mướn vọng vào, và sau đó là khung cảnh yên tĩnh trầm mặc vương mùi hoa bị chà đạp. Ucsula từ bỏ cô. Ngay cái buổi chiều Amaranta thọc tay vào bếp than đỏ rực và để nguyên cho tới khi cô không còn biết đau đớn mà chỉ cảm thấy mùi khét lẹt của chính da thịt mình đang xèo xèo cháy, bà cũng chẳng thèm ngước mắt nhìn để thương xót con gái. Đó là cách chữa hiệu nghiệm những nỗi ăn năn dằn vặt. Trong vài ngày liền, với bàn tay bỏng ngâm trong bát lòng trắng trứng gà, cô đi đi lại lại trong nhà và khi chữa khỏi những vết bỏng thì dường như lòng trắng trứng gà cũng chữa lành những vết cháy trong tim cô. Dấu vết bên ngoài duy nhất còn lại của tấn bi kịch là tấm băng đen băng trên bàn tay bị bỏng mà cô phải mang nó cho đến khi chết.


Qua việc ra lệnh cả làng để tang Piêtrô Crêspi, Accađiô đặc biệt tỏ ra là người cao thượng. Ucsula giải thích hiện tượng đó như là sự trở về của một con chiên lầm đường. Song bà nhầm to. Bà đã để mất Accađiô không chỉ từ khi cậu ta mặc bộ quân phục, mà đã từ lâu rồi. Bà những tưởng mình nuôi dưỡng nó như nuôi dưỡng một đứa con trai, như nuôi dưỡng Rêbêca, không quá chiều chuộng cũng không quá tệ bạc. Tuy vậy, Accađiô vốn là một đứa trẻ đơn độc và hoảng sợ trong suốt thời kỳ dịch mất ngủ hoành hành, Ucsula mải mê làm giàu, Hôsê Accađiô Buênđya điên rồ, Aurêlianô lầm lì ít nói, Amaranta và Rêbêca thù hận nhau. Aurêlianô dạy nó học đọc và học viết, mà tâm tưởng anh cứ để tận đâu đâu ấy, cứ như thể anh biến nó thành một kẻ lạ lẫm. Anh cho nó quần áo sắp rách để Visitaxiôn chữa lại cho vừa. Accađiô khổ sở với những đôi giày quá rộng, những chiếc quần chữa lại, với bộ mông đàn bà của mình. Chẳng bao giờ nó giãi bày tâm sự với ai, ngoại trừ Visitaxiôn và Cataurê qua ngôn ngữ của họ. Trên thực tế Menkyađêt là người duy nhất bận tâm tới nó. Cụ ngâm cho nó nghe những bài nhã ca khó hiểu cũng như giảng giải cho nó về nghề ảnh. Không ai biết nó đã khóc thầm trước cái chết của cụ như thế nào và nó đã cố lòng làm sống lại cụ qua việc nghiền ngẫm những trang viết của cụ mà không kết quả. Trường học, nơi cậu ta dốc lòng dốc sức làm việc và được mọi người kính trọng, sau đó là chức quyền được giao với những mệnh lệnh dứt khoát và bộ quân phục vinh quang, những thứ đó đã giải thoát cậu ta khỏi nỗi đắng cay trước đấy. Có một đêm nọ, ngay trong tiệm bác Catarinô, một ai đó đã dám nói thẳng với cậu ta, "Anh không xứng với tên họ của mình!" Trái với điều mọi người chờ đợi, Accađiô đã không ra lệnh bắn người đó:


- Rất hân hạnh - cậu ta đáp - May quá, tôi lại không phải là một Buênđya.


Những ai biết gốc gác Accađiô, qua việc đấu khẩu này thảy đều nghĩ cậu ta đã hiểu. Thực ra cậu ta vẫn không hay biết gì về gốc gác của mình. Pila Tecnêra, mẹ cậu ta, người từng làm cho cậu nổi máu dê trong phòng làm ảnh, là một sự thèm khát không thể cưỡng lại nổi đối với cậu ta, cũng như thuở ban đầu với Hôsê Accađiô và sau đó đối với Aurêlianô. Mặc dù thị đã để mất đi vẻ duyên dáng và tiếng cười phấn kích trước đây, Accađiô vẫn tìm kiếm, và đã gặp, trong mùi khói khen khét phả ra từ thân xác thị. Nhưng trước ngày nổ ra chiến sự, có một buổi trưa thị đến trường muộn hơn cả để tìm thằng con út của mình, thì Accađiô đang đợi thị tại phòng nghỉ, và sau này là phòng giam. Trong lúc đứa trẻ đang nô đùa ở ngoài sân, Accađiô nằm trên võng chờ đợi mà người cứ run bắn lên vì thèm khát khi biết rằng thị sẽ qua đây. Thị đến thật. Accađiô cầm cổ tay thị lôi lên võng với mình. "Chịu thôi! Chịu thôi!" Pila Tecnêra run rẩy sợ hãi. "Cậu không biết rằng tôi cũng muốn chiều cậu lắm chứ. Nhưng có Thượng đế làm chứng cho, tôi không thể thỏa mãn cậu được". Với sức mạnh cha truyền, Accađiô quàng tay ôm ngang lưng thị, và thấy trời đất ngả nghiêng khi chạm phải da thịt thị. "Thôi đi, đừng có mà làm bộ ta đây…" cậu ta nói. "Cả bàn dân thiên hạ ai chả biết tỏng mình làm điếm". Pila Tecnêra cố nuốt nỗi nhục nhã mà số phận bi thảm đã dành cho mình.


- Bọn trẻ con sẽ biết mất - thị nói - Tốt hơn hết là đêm nay cậu hãy để ngỏ cửa.


Đêm ấy, nằm trên võng, người cứ nóng ran như có lửa tràm, Accađiô đợi thị. Cậu ta không ngủ để chờ đợi, mà dõi theo tiếng trùng đêm khuya và tiếng vạc ăn đêm. Càng đợi cậu ta càng vô vọng và nghĩ rằng mình đã bị "một quả lừa". Đương lúc sự thèm khát ngày một nguội dần và lúc cơn giận dữ ngày một bốc lửa, thì bỗng nhiên cửa mở. Sau đó mấy tháng, đứng trước họng súng của đội hành hình, Accađiô đã làm sống lại trong ký ức những bước chân chuệnh choạng đi trong phòng học, những cú va chạm ghế băng, rồi cuối cùng một bóng hình nổi đậm trong căn phòng mờ tối và tiếng đập thình thình của một con tim vốn không phải là của mình. Cậu ta chìa tay ra và bắt gặp một bàn tay khác đeo hai chiếc nhẫn trên cùng một ngón tay của một người sắp chết chìm trong bóng tối. Cậu ta thấy máu mình chảy giần giật trong huyết quản, nỗi bất hạnh của mình đang đập rối loạn và cảm thấy bàn tay mình, với đường đời bị thần chết chém ngang trên gò ngón tay cái, sâm sấp mồ hôi. Vậy là Accađiô hiểu ngay rằng đây không phải người mình đợi chờ, bởi vì người đàn bà ấy không phả ra mùi khen khét mà lại tỏa ra mùi brigiăngtin, bởi vì người đàn bà ấy có bộ vú chũm cau, có cái mồng đốc cứng và tròn như hạt bồ đào và thân thể run run vẻ hoảng loạn của người chưa từng trải mùi đời. Người ấy là một cô gái trinh và có cái tên đến là khó tin, Santa Sôphia đê la Piêđat(1). Pila Tecnêra trả cho cô năm mươi đồng pêsô, một nửa số tiền thị ki cóp cả cuộc đời, để cô làm cái việc đang làm. Accađiô từng nhìn thấy cô nhiều lần trong lúc trông nom cửa hiệu thực phẩm của cha mẹ, và chưa bao giờ cậu để mắt tới, bởi vì cô chưa thực sự ở tuổi thanh xuân. Song kể từ ngày đó trở đi, cậu ta như một con mèo cứ rúc vào nách cô gái. Cô đến trường vào giờ nghỉ trưa trong sự đồng lõa của cha mẹ mình, vốn là những người đã được Pila Tecnêra cho nốt số tiền ki cóp được. Về sau này, khi quân chính phủ tống khứ bọn họ ra khỏi trường học, thì họ bèn làm tình với nhau giữa những thùng bơ và những tải ngô trong kho hàng. Trong thời kỳ Accađiô được phong làm Quan Tổng trấn trông coi các vấn đề quân sự và dân sự ở làng Macônđô, họ đã có chung một đứa con gái.


Trong số những người thân của họ, chỉ vợ chồng Hôsê Accađiô và Rêbêca biết chuyện này. Họ là những người mà Accađiô lúc đó giữ được các quan hệ mật thiết không chỉ dựa trên tình ruột thịt mà cả trên sự đồng lõa. Cái ách vợ chồng buộc Hôsê Accađiô phải hoàn toàn quy phục. Tính cách cứng rắn của Rêbêca, cái bụng háo ăn của cô, sự tham lam vô độ của cô, đã hút cạn sức lực cường tráng của người chồng, buộc anh chồng vốn là kẻ lười nhác và trai lơ phải trở thành một con vật khổng lồ chịu thương chịu khó. Anh có một ngôi nhà sạch sẽ và ngăn nắp. Cứ mỗi bận sáng dậy, Rêbêca mở toang cửa và gió từ nghĩa địa qua các cửa sổ ùa vào rồi lại cuốn ra ngoài theo cửa chính để lại hơi diêm sinh của người chết làm cho các bức tường bệch bạc ra và khiến cho những bàn, tủ, giường sạm đen lại. Cơn đói đất, tiếng kêu lộc cộc, lộc cộc, lộc cộc từ hai bộ hài cốt của cha mẹ cô, sự nôn nóng của cô trước thái độ quá ư điềm tĩnh của Piêtrô Crêspi đã lùi vào dĩ vãng. Cả ngày cô ngồi thêu bên cửa sổ, xa lạ trước mọi dư âm của chiến tranh. Cho tới khi các nồi sành bắt đầu rung lên trong chạn cô mới đứng dậy đi hâm lại thức ăn. Cô làm việc ấy trước lúc xuất hiện những con chó bê bết bùn hay khịt mũi đánh hơi và người đàn ông vâm váp đi ủng có đinh thúc ngựa, khoác khẩu súng hỏa mai hai nòng. Người này có lúc vai vác một chú nai, còn hầu như lúc nào cũng mang về một xâu thỏ hoặc vịt trời… Có một buổi chiều nọ, đúng vào dịp nắm quyền, Accađiô bỗng dưng đến thăm họ. Từ khi ra khỏi nhà, bọn họ không nhìn thấy cậu, nhưng cậu đã biểu lộ một tình cảm nồng nhiệt và thân thiết đến mức vợ chồng họ đã mời cậu ở lại cùng nếm món thịt thú rừng vừa được xào nấu.


Chỉ đến khi uống cà phê Accađiô mới nói rõ mục đích mình đến: cậu đã nhận được một lá đơn tố cáo Hôsê Accađiô. Lá đơn nói y cày sân mình và cày lấn sang đất đai lân cận, phá đổ rào và lùa bò của mình vào chuồng người khác, dùng sức mạnh chiếm đoạt những trang trại trù mật nhất ở xung quanh. Đối với những nông dân không bị cướp đoạt vì ruộng đất của họ xấu, y buộc họ phải đóng thuế. Vào thứ bảy hàng tuần, y dùng chó săn và khẩu súng hỏa mai hai nòng để thu thuế. Hôsê Accađiô không phản đối những lời ấy. Y khẳng định quyền lợi của mình trên những đất đai chiếm đoạt được từng bị Hôsê Accađiô Buênđya phân chia từ thời lập làng và tin tưởng có thể chứng minh rằng cha mình đã điên rồ từ thời ấy, bởi vì cụ đã đem phân phát của cải trên thực tế thuộc về gia đình mình. Đó là một lý lẽ không cần thiết bởi vì Accađiô đến đây không phải để phân xử đúng sai mà chỉ đơn thuần mặc cả thôi. Về phần mình, cậu ta lập ra một văn phòng luật sư trông coi của cải tư hữu sẽ cấp cho Hôsê Accađiô các văn tự để y hợp pháp hóa những đất đai chiếm đoạt được, song ngược lại, y phải để chính quyền địa phương được quyền thu thuế. Họ thỏa thuận với nhau vậy. Những năm sau này, khi đại tá Aurêlianô Buênđya kiểm tra các văn tự ruộng đất, đã thấy tất cả đất đai kể từ sân nhà Hôsê Accađiô cho tới tận chân trời, kể cả nghĩa địa của làng, đều thuộc quyền sở hữu của ông anh mình; và rằng trong mười một tháng nắm quyền bính, Accađiô đã thu không chỉ tiền thuế mà còn cả tiền của nhân dân muốn được chôn cất người thân của mình trên điền sản của Hôsê Accađiô.


Vài tháng sau Ucsula mới biết cái việc đã trở thành quyền lực công khai, bởi vì dân làng giấu nhẹm, để khỏi khiến bà đau khổ thêm. Bà bắt đầu nghi ngờ cậu ta. "Accađiô đang xây một ngôi nhà"  bà tự hào khẳng định với chồng mình trong lúc cố nhét vào miệng ông một thìa canh bí. Tuy nhiên, bất giác bà thở dài, "Không hiểu vì sao tôi lại cảm thấy không yên lòng đối với những việc như thế". Và sau này khi biết rằng Accađiô không những đã xây xong nhà mà còn mua sắm giường tủ bàn ghế sản xuất ở Viên thì bà càng khẳng định cậu ta đang biển thủ công quỹ, điều trước đây bà đã hồ nghi. "Mày là nỗi nhục của dòng họ nhà tao"  bà chửi như thế vào lúc kết thúc lễ misa một ngày chủ nhật, khi thấy cậu đang chơi bài trong ngôi nhà mới. Accađiô không đếm xỉa tới lời bà. Chỉ đến lúc ấy Ucsula mới biết cậu ta đã có một đứa con gái sáu tháng, và rằng Santa Sôphia đê la Piêđat, người cậu ta cùng chung sống không làm lễ cưới, lại đang có thai. Ucsula định viết thư cho đại tá Aurêlianô Buênđya, dù ở đâu đi nữa, để chàng tỏ tường mọi chuyện trong nhà ngoài ngõ, nhưng các sự kiện ồn ào lúc đó không chỉ cản trở mọi ý định của bà mà còn khiến cho bà ân hận vì đã lượm lặt được chúng. Chiến tranh, cho đến lúc ấy vẫn chỉ là một từ để chỉ một hoàn cảnh trống trải và trì đọng, đã được cụ thể hóa trong một thực tại bi thương. Vào cuối tháng Hai, có một bà già tóc bạc cưỡi trên lưng một chú ngựa thồ chổi đã đến làng Macônđô. Nom bà quá ư hiền lành, đến mức các đội tuần tra đã để bà vào làng mà không xét hỏi, như đã từng không xét hỏi những người bán hàng rong thường vẫn qua lại các làng quanh vùng đồng lầy. Bà đi thẳng đến trại lính, Accađiô tiếp bà ngay ở nơi trước đây là lớp học và hiện nay là lán nghỉ của quân lính trong đó những chiếc võng được cuộn lại và treo trên những chiếc móc, những ba lô chồng chất lên nhau ở các xó, và súng trường, súng cac bin, súng săn ngổn ngang khắp sàn nhà. Bà già giơ tay chào theo kiểu nhà binh trước khi tự giới thiệu mình:


- Tôi là đại tá Grêgori Stêvensơn.


Ngài mang tới các tin dữ. Những ổ đề kháng cuối cùng của phe Tự do, theo như lời ngài nói, đang bị tiêu diệt. Đại tá Aurêlianô Buênđya người đang bị quân đội Bảo hoàng truy kích ở ngoại vi thành phố Riôacha, đã giao cho ngài sứ mạng đến nói chuyện với Accađiô, khuyên cậu cần phải nộp lại quảng trường cho quân chính phủ bằng cách đặt điều kiện họ phải hứa danh dự đảm bảo tính mạng và tài sản cho những người Tự do. Accađiô với đôi mắt nghi ngờ dò xét vị sứ giả kỳ dị ấy, người có thể nhầm lẫn với một bà già hoảng sợ đang chạy trốn, nói:


- Vậy xin hỏi chẳng hay ngài có mang theo giấy tờ?


- Rất tiếc - vị sứ giả trả lời - tôi không mang theo. Dễ hiểu rằng trong điều kiện hiện nay thật khó mang theo trong người bất kỳ một thứ gì khiến người ta khả nghi.


Trong khi nói, ngài rút trong yếm ngực ra một con cá vàng và đặt nó lên bàn. "Tôi tin rằng với thứ này đã đủ lắm rồi"  ngài nói. Accađiô xác nhận rằng đó là một trong những con cá vàng được đại tá Aurêlianô Buênđya làm ra. Nhưng một người nào đó có thể đã mua nó trước lúc nổ ra chiến tranh hoặc đã ăn cắp được, nên nó không còn giá trị của tờ giấy thông thành. Lúc này, vị sứ giả buộc lòng phải vi phạm bí mật quân sự, để lộ chân tướng thực sự của mình. Ngài kể rằng mình có nhiệm vụ đi về Curaxao để chiêu mộ tất cả những người bị lưu đày của toàn bộ vùng Caribê, tìm mua cho đủ vũ khí và quân trang, quân dụng để mưu tính một cuộc đổ bộ vào cuối năm nay. Mặc dù tin tưởng kế hoạch ấy nhưng đại tá Aurêlianô Buênđya không đồng ý, cho rằng trong thời điểm ấy chẳng nên tiến hành những hoạt động xả thân vô ích. Nhưng Accađiô là kẻ nhẫn tâm. Cậu đã bỏ tù vị sứ giả để tiến hành công việc xác nhận gốc gác của ngài và quyết định sẽ bảo vệ quảng trường đến hơi thở cuối cùng.


(còn tiếp)


Nguồn: Trăm năm cô đơn. Tiểu thuyết của GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ (Nobel Văn chương 1982). Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch. Nguyễn Trung Đức giới thiệu. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Cien años de soledad do Viện Sách Cuba xuất bản tại La Habana, năm 1968. Theo bản sửa chữa cuối cùng của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, tháng 9-2000. Tủ sách Danh tác Thế giới do nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn - NXB Văn học liên kết cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info


 







1. Francisco Petrarca (1304-1374), nhà thơ Ý, một trong những nhà nhân văn vĩ đại.




1.  Nghĩa là: bà Thánh Sôphia của lòng hiếu thảo.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 21.09.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »