tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29829501
Tiểu thuyết
10.05.2014
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Vị trí của tôi trong nhóm những người bạn thành Vienne tỏ ra tế nhị hơn là các chức vị chính thức của tôi. Vì chỉ có ít hiểu biết về văn hóa châu Âu và sống trong một chân trời thuần túy Đức, phần lớn các nhà văn Đức tưởng chỉ có thể phục vụ Tổ quốc mình bằng cách kích đồng lòng hứng khởi của các đám đông và bằng cách lấy các lời kêu gọi nên thơ và các ý tưởng khoa học chống đỡ cho cái mạo xưng là vẻ đẹp của chiến tranh. Hầu hết các nhà văn Đức, đứng đầu là Hauptman và Dehmel, tự cho là có bổn phận, giống như những nhà thơ rong của Germanie cổ, lấy lời ca và vần thơ khích động các chiến sĩ ra mặt trận và cổ vũ họ chết cho xứng đáng. Một trận mưa thơ ca đến hàng trăm bài trong đó cố gắng vần với chiến thắng, hy sinh vần với quang vinh. Các nhà văn long trọng thề thốt sẽ không bao giờ còn giữ quan hệ văn hóa với một người Pháp, một người Anh; hơn thế nữa, họ nhanh chóng khẳng định sự không tồn tại bao giờ của một nền văn hóa Pháp, một nền văn hóa Anh. Tất cả những cái đó là vô nghĩa và vô giá trị so với tinh thần Đức, nghệ thuật Đức và phong tục tập quán Đức. Các nhà bác học lại còn tệ hơn. Các triết gia bỗng chốc không còn biết sự hiền minh nào khác ngoài việc tuyên bố rằng chiến tranh là một cuộc "tắm thép" lành mạnh để phòng ngừa các sức mạnh dân tộc khỏi chứng bải hoải. Cạnh họ có những thầy thuốc, khoe khoang việc lắp bộ phận giả một cách cường điệu tới mức người ta những muốn cưa đi một ống chân để có thể thay cái chi lành lặn bằng một máy nhân tạo. Những giáo sĩ của tất cả các tín ngưỡng không muốn tụt lại sau và góp tiếng vào bản hợp xướng. Dường như đôi khi người ta nghe gào thét một đàn những người quỷ ám, tuy nhiên tất cả những người đó cũng chính là những người mà ta đã thấy một tuần, một tháng trước đây ca ngợi lý trí, sức mạnh sáng tạo, nhân phẩm.


Những điều đáng buồn nhất trong sự điên rồ này là phần lớn những người ấy đều thành thật. Phần lớn, hoặc quá tuổi hoặc cơ thể không có khả năng quân dịch, tự cho là mình có trách nhiệm một cách hợp lẽ "cộng tác" với hành động chung bằng cách này hay cách khác. Những gì họ đã sáng tạo ra, họ nhờ ở ngôn ngữ, tức là nhờ ở nhân dân. Họ muốn phục vụ nhân dân họ bằng ngôn ngữ và để nó nghe những gì nó muốn nghe: rằng trong cuộc đấu tranh này tất cả cái đúng là về phía nó, tất cả cái sai là ở phía khác, rằng nước Đức sẽ chiến thắng và địch thủ của nó sẽ nhục nhã khuỵu xuống, - họ không nghi ngờ là bằng cách đó họ phản bội sứ mệnh chân chính của nhà thơ là ủng hộ và bảo vệ tất cả những gì là người một cách phổ biến trong con người. Sự thật là nhiều người cảm nhận ngay trên lưỡi vị chua cay của nỗi kinh tởm mà bản thân lời nói của họ gợi lên cho họ khi mà chất rượu trắng xấu xa của niềm hứng khởi đầu tiên đã bốc hơi hết rồi. Nhưng trong những tháng đầu tiên, những ai gào thét to nhất lại được lắng nghe nhất và như vậy ở gần hay ở xa, họ ca hát và kêu la thành một bản hợp xướng man dại.


Trường hợp điển hình nhất và ngao ngán nhất của sự ngất ngây chân thật mặc dầu là điên rồ ấy, theo tôi, là trường hợp của Ernest Lissauer. Tôi biết rõ ông. Ông viết những bài thơ nhỏ hàm súc và cứng cỏi; cùng với điều đó, ông là con người tốt bụng nhất mà người ta có thể tưởng tượng được. Tôi còn nhớ là tôi đã phải cắn môi giấu một nụ cười khi đến thăm tôi lần đầu. Tôi đã hình dung anh chàng trữ tình đó phải là một người trẻ tuổi dong dỏng cao và to xương, qua phán đoán trên những câu thơ rất Đức và gân guốc, với tất cả sự tìm kiếm để có một sự súc tích cao độ. Đi vào phòng tôi, vừa đi vừa lắc lư, một anh chàng thấp bé, bụng bằng cái thùng tô-nô, với một khuôn mặt biểu lộ sự thân tình đặt trên một cái cằm hai ngấn, tràn trề sự nhanh nhẹn và sự tự trọng, vừa nói vừa lắp bắp, bị thơ mình ám, nên không gì có thể cản trở trích dẫn và đọc những câu thơ của mình. Mặc dù tất cả những điểm buồn cười đó, người ta không thể đừng yêu anh ta, vì anh ta có tấm lòng hào hiệp, là bạn tốt, trung thực và tận tụy với nghệ thuật của mình theo cách có quỷ ám.


Ông xuất thân từ một gia đình Đức khá sung túc, đã học ở trường trung học phổ thông Frédéric - Guillaume ở Berlin và có lẽ ông là người Phổ nhất và được Phổ hóa nhất trong những người Do Thái mà tôi quen biết. Ông không nói một sinh ngữ nào khác ngoài tiếng nói của mình; ông chưa bao giờ ra khỏi nước Đức. Nước Đức đối với ông là thế giới và một vật càng Đức bao nhiêu càng làm ông hứng khởi bấy nhiêu. York, và Luther, và Stein là những anh hùng của ông; Back, vị thần âm nhạc của ông. Ông chơi Back tuyệt vời mặc dù những ngón tay ông ngắn, dày và xốp. Không ai hiểu hơn ông tính trữ tình Đức, không ai yêu mến và say mê ngôn ngữ Đức hơn ông - như nhiều người Do Thái mà các gia đình chỉ đến chậm với nền văn hóa Đức. Ông tin tưởng ở nước Đức hơn người Đức có lòng tin nhất.


Khi chiến tranh bùng nổ, sự chăm lo đầu tiên của ông là chạy tới trại lính và báo mình tình nguyện nhập ngũ. Và tôi có thể hình dung những tiếng cười vang của những sĩ quan tham mưu và những người giúp việc khi cái khối phục phịch đó leo cầu thang trong tiếng thở hổn hển. Họ mời ông về nhà ngay. Lissauer thất vọng; song như những người khác, ông muốn ít nhất phục vụ nước Đức bằng thơ ca của mình. Đối với ông, những gì báo chí Đức kể lại đều là sự thật không thể chối cãi. Đất nước ông bị tấn công, và thủ phạm xấu xa nhất, đúng như sự đưa lên sân khấu của nhà hát Wilhelinshasse, là tên phản trắc Lord Grey, bộ trưởng ngoại giao Anh. Ông thể hiện tình cảm rằng nước Anh là tội phạm lớn nhất đối với nước Đức và là người chịu trách nhiệm chính về cuộc chiến tranh trong Khúc ca hận thù đối với nước Anh, một bài thơ - tôi không có nó trong tay - với những câu thơ cứng, chặt chẽ và cảm động đã nâng sự căm thù nước Anh lên thành lời nguyền son sắt không bao giờ tha thứ cho quốc gia đó "tội lỗi" của nó. Khốn thay, chẳng bao lâu nữa mới rõ ra là thật dễ hành động bằng sự căm thù (chàng Do Thái thấp bé phì nộn và mù quáng Lissauer này báo trước hình mẫu của Hitler). Bài thơ rơi như một quả bom vào kho đạn dược. Chưa bao giờ một bài thơ Đức được nổi tiếng nhanh như bài Khúc ca hận thù đối với nước Anh này. Hoàng đế rất hứng khởi và tặng Lissauer huân chương Đại bàng đỏ; tất cả các báo đều đăng lại bài thơ của ông; thầy giáo đọc nó cho trẻ em nghe trong các trường học; sĩ quan ra trước mặt trận để đọc nó cho binh lính nghe cho đến khi mỗi người thuộc lòng các chuỗi lải nhải hận thù này. Song người ta không dừng lại ở đây. Bài thơ nhỏ được phổ nhạc và phát triển thành một hợp xướng được biểu diễn trong các nhà hát. Trong bảy mươi triệu người Đức, chẳng bao lâu không một người nào không thuộc từ dòng đầu đến dòng cuối Khúc ca hận thù đối với người Anh và chẳng bao lâu sau cả thế giới biết đến nó, nhưng chắc chắn là thế giới đón nhận nó kém hào hứng hơn. Ngày một ngày hai, Lissauer chiếm được trong cuộc chiến này một sự lừng danh mà không một nhà thơ nào sánh được, một sự lừng danh sau này hẳn sẽ đốt cháy da thịt ông như chiếc áo trong của Nessus( ). Bởi vì ngay khi chiến tranh vừa chấm dứt và các thương gia nghĩ đến việc nối lại các quan hệ thương mại, các nhà chính trị cố tạo lại một sự liên minh trung thực, người ta làm tất cả để chối bỏ và lên án bài thơ đòi hỏi một sự căm thù vĩnh viễn đối với nước Anh. Và để trút bỏ mọi trách nhiệm tòng phạm, người ta bêu xấu trước công chúng "chàng Lissauer của hận thù". Khốn nạn, như là người duy nhất chịu trách nhiệm về chứng cuồng loạn của hận thù mà năm 1914 từ người đầu tiên đến người cuối cùng đều chia sẻ. Năm 1919, những người đã khoản đãi ông năm 1914 công khai quay lưng lại với ông. Báo chí không đăng thơ ông nữa; khi ông đến với bạn bè thì lập tức giữa họ có một sự im lặng gượng gạo. Sau đó "con người bị ruồng bỏ" này bị Hitler trục xuất khỏi nước Đức mà ông đã gắn bó bằng tất cả những sợi tơ lòng; và ông qua đời trong quên lãng, nạn nhân bi thảm của bài thơ độc nhất này, nó chỉ nâng ông lên thật cao để làm tan nát ông trong một sự sụp đổ thật thảm hại.


*


 


Tất cả đều giống Lissauer. Họ đều chân thật và tưởng đã hành động trung thực, các nhà thơ ấy, các giai cấp ấy, các nhà ái quốc thời ấy, đã đột ngột tự bộc lộ ra - tôi không phủ nhận điều đó. Nhưng ngay sau đó, người ta nhận ra họ đã làm nên điều tai họa kinh khủng biết bao với sự ca ngợi chiến tranh và sự gieo rắc hận thù của họ. Tất cả các dân tộc tham chiến năm 1914 đều ở một trong trạng thái bị kích động cao độ; những tiếng đồn lập tức biến thành sự thật; những lời vu cáo phi lý nhất tìm thấy người tin. Hằng tá người thề thốt ở Đức rằng họ chứng kiến những chiếc ô tô chở đầy vàng, ngay trước lúc chiến tranh nổ ra, chạy từ Pháp sang Nga; những chuyện hoang đường móc mắt, chặt tay, thường được lan truyền vào ngày thứ ba thứ tư của mỗi cuộc chiến tranh, đầy rẫy trên các báo. Những kẻ vô ý thức gieo rắc những điều bịa đặt này, than ôi, không biết rằng kỹ thuật buộc tội binh lính địch về mọi sự tàn bạo là một phần của vật liệu chiến tranh chẳng khác đạn dược và máy bay, rằng trong những ngày đầu của một cuộc chiến tranh người ta vội vã lấy chúng ra từ các kho dự trữ… Chiến tranh không hòa hợp với lẽ phải và sự công bằng. Nó đòi hỏi một sự kích động các tình cảm; nó phải có sự hứng khởi cho sự nghiệp của nó và nỗi hận thù đối với địch thủ. Mà điều thuộc bản tính con người là những tình cảm mạnh không thể kéo dài vô hạn, ở một cá nhân cũng như trong một dân tộc; và các quan chức quân sự biết rõ điều đó. Vì vậy phải tiến hành một sự kích thích nhân tạo, một "doping". Kích động liên tục, và dịch vụ kích thích này thuộc phận sự những nhà tri thức - nhà thơ, nhà văn, nhà báo, dẫu là với một ý thức tốt hay xấu, trung thực hay do nếp cũ nghề nghiệp, điều đó không quan trọng. Họ phải đánh vào chỗ chất chứa thù hận và đánh mạnh tới mức người chất phác nhất cũng cảm thấy tai mình rung lên và tim mình run rẩy. Hầu hết những người đó ở Đức, ở Pháp, ở Italia, ở Nga, ở Bỉ phục vụ công việc "tuyên truyền chiến tranh" và qua đó phục vụ cả sự điên rồ, sự hận thù tập thể, thay vì chiến đấu chống lại chúng.


Những hậu quả thật là tai hại. Thời đó, vì việc tuyên truyền chưa được dùng ở hoàn cảnh hòa bình, các dân tộc mặc dù đã vấp phải hàng nghìn thất vọng, còn cho là thật tất cả những gì được in ra. Và thế là sự hứng khởi trong sáng và tốt đẹp sẵn sàng cho mọi hy sinh trong những ngày đầu dần dần chuyển thành một sự tràn ngập thái quá về tình cảm vừa phi lý vừa đáng ghét. Người ta "chiến đấu" chống nước Anh và nước Pháp ở Vienne và ở Berlin, ở Ring và ở Friedrichstrasse, như thế dễ dàng hơn rất nhiều. Những câu khắc bằng tiếng Pháp và tiếng Anh ở mặt tiền các cửa hiệu phải được xóa đi, ngay một tu viện "Zu den Englischen Fraulein"( ) cũng phải đổi tên vì dân chúng tức giận, cho rằng Englische chỉ những "người Ănglô Xăcxông" chứ không phải nghĩa là "thiên thần". Những thương nhân lương thiện đóng vào bao bì khẩu hiệu: "Gotl strafe England"( ), những phụ nữ các gia đình danh giá thề (và viết trong những thư thỉnh nguyện gửi các báo) sẽ không bao giờ nói một từ tiếng Pháp nữa. Shakespeare bị loại khỏi các sân khấu Đức, Mozart và Wagner phải rời các phòng hòa nhạc Pháp và Anh; các thầy giáo Đức cắt nghĩa rằng Dante là một người Nậht nhĩ man; các thầy giáo Pháp giải thích rằng Beethoven là một người Bỉ, người ta trưng dụng lúa mì và quặng. Mỗi ngày, hàng ngàn người tư sản hiền hậu chém giết lẫn nhau ở mặt trận, như thế chưa đủ; ở hậu phương người ta chửi rủa và la ó những nhân vật lớn đã qua đời của các nước thù địch, đã yên nghỉ câm lặng nhiều thế kỷ trong các ngôi mộ. Sự lẫn lộn nằm trong tâm trí luôn phi lý hơn. Cô nấu bếp bên lò của mình chưa hề ra khỏi đường viền vây quanh thành phố và trong những năm đi học chưa hề mở một tập atlát, bây giờ tin chắc rằng nước Áo không thể sống không có Sandjak (một huyện nhỏ biên giới đâu đó ở Bosnie). Những người đánh xe ngựa cái nhau ngoài đường phố để xác định số tiền bồi thường chiến tranh bắt Pháp phải trả, năm mươi hay một trăm tỷ, mà không biết rằng một tỷ biểu thị cái gì. Không có thành phố nào, không có nhóm nào không khuỵu xuống vì chứng cuồng loạn hận thù. Các tu sĩ giảng dạy trước bàn thờ, những người xã hội - dân chủ, một tháng trước đây lên án chiến tranh như là một tội ác lớn nhất, làm rùm beng, nếu có thể được, hơn những người khác để khỏi bị xem, như lời của Guillaume II, là những "người bạn không tổ quốc". Đây là cuộc chiến tranh của một thế hệ không hoài nghi và chính là niềm tin nguyên vẹn đó của các dân tộc đối với tính chính nghĩa đơn phương của sự nghiệp mình tỏ ra là nỗi nguy hiểm lớn nhất trong các nỗi nguy hiểm.


*


Dần dần, trong những tuần lễ đầu tiên của chiến tranh năm 1914, không còn có thể trao đổi với bất kỳ ai một lời có lý. Những người hiền hậu nhất, khoan dung nhất dường như đã bị say vì hơi máu. Những người bạn mà tôi luôn biết là những người cá nhân chủ nghĩa không úp mở và cả những trí thức vô chính phủ đã nhanh chóng biến thành những người theo chủ nghĩa cuồng nhiệt, và từ người yêu nước họ trở thành những người theo chủ nghĩa thôn tính không gì thỏa mãn được. Tất cả các cuộc nói chuyện đều kết thúc bằng những câu dại dột như câu này chẳng hạn: "Ai không biết căm thù thì cũng không biết yêu thương thật sự" hoặc bằng những lời buộc tội thô lỗ. Những bạn bè của tôi mà tôi chưa bao giờ xích mích với họ từ nhiều năm nay thẳng thừng buộc tội tôi không còn là người Áo nữa; tôi chỉ việc đi đến nơi kia, ở Pháp hay ở Bỉ. Thậm chí họ còn khôn khéo nói bóng gió rằng những ý kiến như: "Chiến tranh là tội ác" phải bị đem tố cáo với các nhà chức trách vì những người "thất bại chủ nghĩa" (défaitistes) - danh từ đẹp đẽ này được chế tạo tại Pháp - là những tội nhân tồi tệ nhất đối với Tổ quốc.


Chỉ còn một điều phải làm: tự khép mình lại im lặng chừng nào mà cơn sốt và cơn mê sảng của những người khác còn kéo dài. Điều đó không phải là dễ dàng. Vì sống lưu vong - tôi đã trải nghiệm điều này quá thừa thãi - không gì khủng khiếp bằng bị cô độc trên Tổ quốc mình. Ở Vienne tôi đã bỏ mất những người bạn cũ, và bấy giờ không phải lúc kiếm những người bạn mới. Duy nhất với Rainer Maria Rilke tôi còn đôi khi có một cuộc nói chuyện thấu hiểu tâm tình. Người ta cũng đã làm được việc trưng tập anh cho Sở lưu trữ chiến tranh ở hơi xa trung tâm, vì anh có thể là người lính kỳ quặc nhất, với hệ thần kinh quá tinh tế. Sự dơ bẩn, các mùi thối, tiếng động gây cho anh những nỗi đau xé xác thực sự. Tôi bất giác mỉm cười mỗi khi nhớ đến anh trong bộ quân phục. Một hôm có người gõ cửa. Một người lính đang đứng kia với vẻ khá rụt rè e sợ. Lát sau tôi giật mình: Rilke, đúng là Rainer Maria Rilke cải trang thành người lính. Anh rất xúc động trong vẻ vụng về, cổ áo xiết chặt, bối rối với ý nghĩ phải dập gót giầy chào từng sĩ quan một. Và vì trong nhu cầu có tính chất ma thuật của sự thánh thiện anh muốn thi hành với một sự chính xác mẫu mực cả những điều tầm phơ của quy chế, anh ở trong một trạng thái rụng rời thường xuyên. Anh nói với giọng nhỏ nhẹ: "Mình ghét bộ quân phục này ngay từ lúc còn là học sinh sĩ quan; những tưởng là thoát được nó vĩnh viễn. Và đây, mình lại phải mặc nó đây, lúc tuổi đời đã gần bốn mươi!". May thay có những bàn tay hay cứu giúp che chở cho anh sớm được phục viên nhờ một mẩu giấy khám sức khỏe vừa ý. Anh trở lại phòng tôi để từ biệt, - lần này mặc y phục dân thường; tôi dường như có thể nói là cơn gió đã mang anh đến vì dáng đi của anh hết sức lặng lẽ. Anh muốn cảm ơn tôi đã cố nhờ Romain Rolland làm trung gian cứu cái thư viện của anh đã bị tịch thu ở Paris. Lần đầu tiên anh không còn có vẻ trẻ trung, hình như ý nghĩ về sự ghê rợn đã làm anh kiệt sức. "Ra nước ngoài! Anh nói, giá mà người ta có thể ra nước ngoài! Chiến tranh bao giờ cũng là một nhà tù". Rồi anh bỏ đi. Tôi lại một thân một mình.


Và tuần sau, để thoát khỏi chứng loạn tâm tập thể khá nguy hiểm, tôi kiên quyết di cư đến một nơi ở ven đô để bắt đầu ngay trong tranh một cuộc chiến tranh cá nhân: Việc đấu tranh chống sự phản bội lý trí trong sự đam mê hiện nay của quần chúng.


 


 


CUỘC ĐẤU TRANH CHO TÌNH ANH EM


VỀ MẶT TINH THẦN


 


Tóm lại, rút lui chẳng ích lợi gì. Bầu không khí vẫn ngột ngạt. Vì vậy tôi hiểu ra rằng một thái độ thuần túy thụ động, một sự từ chối làm tòng phạm của bản hợp xướng chửi rủa thô bỉ ném vào địch thủ là không đủ. Dẫu sao, người ta là nhà văn, người ta có lời nói và vì vậy có bổn phận biểu đạt những niềm tin của mình trong những chừng mực có thể được dưới chế độ kiểm duyệt. Tôi thử làm. Tôi viết một bài báo Gửi những người bạn nước ngoài của tôi trong đó tôi cam kết, đối lập trực tiếp và mạnh mẽ với những hiệu kèn căm thù của những người khác, vẫn trung thành với bạn bè tôi ở nước ngoài, mặc dù mọi liên hệ hiện thời là không thể được, để rồi khi cơ hội đầu tiên đến, chung sức làm việc ngõ hầu xây dựng lại nền văn hóa châu Âu. Tôi gửi bài đó cho tờ báo được đọc nhiều nhất của Đức. Tôi mới ngạc nhiên làm sao khi tờ Berlin Tageblatt không ngần ngại đăng nó mà không cắt một đoạn nào. Chỉ có một vế câu "ngay cả nếu như chúng tôi chiến thắng" bị rơi vào lưỡi kéo kiểm duyệt, bởi vì một sự nghi ngờ nhỏ đối với sự chắc chắng tuyệt đối của nước Đức là không thể tha thứ vào thời gian đó. Tuy nhiên, dẫu bị cắt khỏi cái câu dè dặt đó, bài báo cũng đem lại cho tôi một số lá thư phẫn nộ của những người siêu ái quốc: họ không hiểu nổi là ở một thời điểm như vậy người ta vẫn còn giữ quan hệ với những địch thủ gian ác. Điều đó không làm tôi xúc động. Tôi không bao giờ có ý định lôi kéo những người khác theo các niềm tin của tôi. Đối với tôi, có thể công khai tuyên bố chúng lên là đủ.


Mười lăm ngày sau (tôi hầu như đã quên bài báo đó), tôi nhận được một lá thư dán tem Thụy Sĩ và đóng dấu kiểm duyệt, trong đó tôi nhận ra ngay chữ của Romain Rolland. Anh phải đã đọc bài báo của tôi, vì anh viết: "Không, tôi không bao giờ từ bỏ bạn bè của tôi". Tôi hiểu ngay ra rằng những dòng thư này là một mưu toan tiến hành để biết xem trong chiến tranh có thể quan hệ thư từ với một người bạn Áo không. Tôi trả lời cho anh ngay. Từ đó, chúng tôi đều đặn viết cho nhau và sự trao đổi thư từ đó được đeo đuổi trong hơn hai mươi lăm năm, cho đến cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, tàn bạo hơn cuộc thứ nhất, cắt đứt mọi quan hệ giữa các nước.


Lá thư kia là một trong những giây phút hạnh phúc của đời tôi; như một con bồ câu trắng nó thoát ra khỏi con tàu của thú tính đang gầm rú, giẫm chân, gào thét. Tôi tự thấy mạnh lên bởi sức mạnh tinh thần của Rolland. Vì vậy tôi biết rằng ở bên kia biên giới, Rolland giữ vững một cách tuyệt vời tính người của mình. Ông tìm ra con đường đúng, con đường duy nhất mà nhà văn phải theo trong một thời kỳ như vậy: không tham gia vào sự phá hoại, sự giết chóc, mà - theo gương cao cả của Walt Whitman làm y tá trong cuộc chiến tranh Ly khai - mở ra một hoạt động trong các công việc cứu chữa và nhân đạo. Sống ở Thụy Sĩ, được miễn quân dịch vì sức khỏe lung lay, ông tức khắc tự đặt mình dưới quyền sử dụng của hội Chữ thập đỏ ở Genève, nơi ông có mặt vào đầu cuộc chiến tranh. Vì ông làm việc ở đó tất cả các ngày, trong những gian phòng chật ních người, cho sự nghiệp tuyệt vời mà sau này tôi cố biểu lộ với ông lòng biết ơn công khai của tôi trong một bài báo Trái tim châu Âu. Sau những trận đánh thương vong nhiều của những tuần đầu tiên, mọi liên lạc đã bị cắt đứt, các bố mẹ không biết con mình, anh mình, bố mình đã ngã xuống hay chỉ vắng mặt, hoặc bị cầm tù, và họ không biết phải tìm hỏi nơi đâu vì không thể đợi thông tin ở phía "kẻ thù". Hội Chữ thập đỏ đảm nhiệm công việc, giữa sự ghê rợn và sự độc ác, cất đi cho những con người sự đau khổ tồi tệ nhất, sự dằn vặt của tâm trạng không biết chắc số phận những người yêu thương, bằng cách chuyển tới đất nước họ những lá thư của tù binh. Dĩ nhiên, tổ chức này, được chuẩn bị hàng chục năm nay, không được quan niệm cho những quy mô như vậy, cho bao nhiêu ngàn người. Mỗi ngày, vào mỗi giờ, số cộng tác viên tự nguyện phải được tăng lên, vì mỗi giờ lo lắng chờ đợi là cả một thiên thu. Cuối tháng Chạp năm 1914, ba mươi ngàn thư chảy dồn về hằng ngày và cuối cùng mười hai ngàn người lèn chật ních trong Viện bảo tàng Rath bé xíu ở Genève để gửi thư đi, để trả lời các lá thư. Và trong số những người đó có Romain Rolland, một trong những nhà văn nhân đạo nhất, làm công việc ấy thay vì chăm lo một cách vị kỷ đến công trình cá nhân của mình.


Nhưng ông không quên bổn phận thứ hai của mình, bổn phận người nghệ sĩ, là biểu đạt những niềm tin của mình, dẫu có vấp phải những sự chống đối của Tổ quốc mình và sự thù địch của mọi người đang trong chiến tranh. Ngay từ mùa thu năm 1914, trong khi phần đông các nhà văn khản tiếng kêu gào hận thù, chửi rủa và miệt thị lẫn nhau, ông đã viết lời thú tội đáng ghi nhớ Bên trên cuộc hỗn chiến trong đó ông đấu tranh chống sự hận thù tinh thần giữa các quốc gia và đòi hỏi sự công bằng và nhân đạo của các nghệ sĩ, ngay trong chiến tranh, - bài báo này kích thích cao độ các tinh thần hơn bất cứ bài nào vào thời kỳ đó và làm sản sinh ra hai luồng văn chương ủng hộ và chống đối.


Vì may thay, cái còn phân biệt cuộc chiến tranh thứ nhất với cuộc chiến tranh thứ hai là lời nói thời bấy giờ còn có sức mạnh. Nó còn chưa bị lôi cuốn vào một cuộc phi nước đại của cái chết bởi sự nói dối có tổ chức, sự "quảng cáo"; con người còn chú ý đến ngôn ngữ viết, còn chờ đợi nó. Trong khi, năm 1939, không một tuyên bố nào của một nha văn gây được ảnh hưởng ở mặt tốt lẫn mặt xấu, trong khi cho đến ngày nay không một quyển sách nào, không một tập mỏng nào, không một bài báo, một bài thơ nào làm rung động lòng quần chúng hoặc ảnh hưởng đến tư tưởng họ, năm 1914, một bài thơ bốn khổ như Khúc ca hận thù của Lessauer, một tuyên bố ngu xuẩn như tuyên bố của Chín mươi ba trí thức Đức và mặt khác, một bài viết tám trang như bài Khói lửa của Henri Barbusse có vai trò như những sự kiện. Ý thức đạo đức của thế giới chưa bị mệt nhoài và rã rời như ngày nay, nó phản ứng dữ dội trước mỗi sự dối trá lộ liễu, trước mỗi xúc phạm vào quyền con người và quyền nhân loại, với tất cả sức mạnh của một niềm tin hàng trăm năm. Ngày nay khi mà Hitler đã nâng sự dối trá lên thành chuyện hoàn toàn tự nhiên và sự vô nhân đạo thành phẩm cách một luật lệ, một sự vi phạm quyền như xâm chiếm nước Bỉ trung lập không còn bị lên án nghiêm khắc, nhưng lúc đó nó có sức mạnh kích động toàn thế giới. Việc hành hình nữ y tá Cavell, việc tấn công bằng ngư lôi chiếc tàu thủy "Lusitania"( ) đối với nước Đức còn tai hại hơn một trận đánh bị thất bại nhờ khai thác sự phẫn nộ phổ biến mà chúng gây ra. Nhà thơ, nhà văn thế là có thể nói vào thời gian đó với cơ may thành công bởi vì lỗ tai và tâm hồn chưa bị những làn sóng không ngừng của cái rađiô ba hoa làm tràn ngập; trái lại với lời tuyên bố hồn nhiên của một nhà thơ lớn ngàn lần có hiệu quả hơn mọi diễn văn chính thống của các chính khách mà người ta biết là được cấu tạo về chiến thuật và về chính trị nhằm vào thời điểm và chỉ chứa đựng tối đa một nửa sự thật. Niềm tin ở nhà thơ như tin vào cái bảo đảm tốt nhất của một sự trong suốt nào đó trong tình cảm, còn biểu lộ nhiều hơn vô hạn niềm tin của thế hệ đã từ lâu bị làm cho thất vọng một cách ác độc. Nhưng vì chúng biết uy quyền đó của các nhà thơ nên các chỉ huy quân sự và các quan chức hành chính tìm mọi cách đưa vào các cơ quan kích động của chúng tất cả những người có uy tín lớn về đạo đức và về trí tuệ; họ phải giảng giải, chứng minh, xác nhận và thề thốt rằng tất cả cái ác đều tích tụ ở phía bên kia, còn tất cả quyền, tất cả chân lý là riêng của quốc gia họ. Chúng không thành công với Rolland. Ông không tin rằng bổn phận của mình là làm cho ngột ngạt hơn nữa bầu không khí hận thù được tạo nên bằng mọi phương tiện kích động mà trái lại bổn phận của mình là làm trong sạch nó.


Người nào ngày nay đọc lại tám trang của báo đó Bên trên cuộc hỗn chiến chắc không còn hiểu được sự vang dội mênh mông của nó. Tất cả những gì Rolland thỉnh cầu trong bài đó, nếu người ta đọc theo ý nghĩa điềm tĩnh thì tưởng là tất yếu phải vậy. Nhưng những lời ấy được cất lên trong một thời kỳ mê sảng tập thể khó có thể ngày nay phục hồi lại được. Khi bài ấy ra đời, những nhà siêu ái quốc người Pháp thét lên như nắm vào tay một thanh sắt đỏ. Rolland nhanh chóng bị các bạn cũ nhất tẩy chay; các hiệu sách không đánh liều trưng bày Jean Christophe ở mặt tiền nữa, các quan chức quân sự, đang cần sự hận thù để kích động binh lính, đã nghĩ đến các biện pháp chống lại ông; nhiều tập sách mỏng nối tiếp nhau, mang luận cứ: "Trong chiến tranh, cái người ta cho nhân loại được đánh cắp ở Tổ quốc". Nhưng như bao giờ cũng thế, những tiếng la hét chỉ chứng tỏ rằng cú đánh đã giáng trúng. Cuộc tranh luận về thái độ người trí thức thời chiến không còn có thể bị bóp nghẹt, vấn đề đã được đặt ra không thể tránh trước lương tâm của mỗi cá nhân.


*


Tôi không tiếc gì bằng, vào lúc kể lại những kỷ niệm này, không có trong tay những bức thư mà Rolland viết cho tôi trong các năm đó. Ý nghĩ rằng chúng có thể bị hủy hoại hay thất lạc trong nạn hồng thủy mới này đè nặng lên tôi như một trách nhiệm. Tác phẩm của ông dù quý đến đâu đối với tôi, tôi tin rằng có thể sau này người ta kể đến những bức thư đó như thuộc số những vật đẹp nhất và nhân đạo nhất mà trái tim lớn và lý trí mê say của ông đã sản sinh ra. Ra đời từ tình yêu thương không bờ bến của một tâm hồn đa cảm, từ tất cả sức mạnh của một nỗi cay đắng bất lực, viết cho một người bạn bên kia biên giới, tức là một "kẻ thù" chính thống, các thư đó có lẽ biểu thị những tư liệu đạo đức cảm động nhất của một thời kỳ mà sự thấu hiểu đòi hỏi một sự tiêu hao năng lượng kỳ lạ, mà sự trung thành với các niềm tin của riêng mình đòi hỏi một sự can đảm tuyệt vời. Từ sự giao dịch thư từ của chúng tôi chẳng bao lâu đã phát sinh và kết tinh một dự án tích cực: Rolland gợi ý thử mời đến một cuộc hội nghị sẽ diễn ra ở Thụy Sĩ những nhà trí thức nổi tiếng nhất của các quốc gia để đi đến nhất trí ở một thái độ đồng nhất hơn và xứng đáng hơn và có thể cả ở việc tung ra thế giới một lời kêu gọi đoàn kết có thể kết thúc bằng một đồng minh. Ông gánh vác việc mời đến Hội nghị đó những nhà trí thức Pháp và nước ngoài; còn tôi, tôi phải đi Áo thăm dò các nhà thơ và nhà bác học của chúng tôi và của Đức, trong chừng mực mà không làm hại thanh danh của họ trước công chúng vì một sự tuyên truyền hận thù. Tôi bắt tay ngay vào việc. Người quan trọng nhất, tiêu biểu nhất trong các nhà thơ Đức lúc đó là Gerhart Hauptman. Để tạo sự dễ dàng của ông trong việc nhận lời hay từ chỗi, tôi không muốn nói chuyện trực tiếp với ông. Vậy là tôi viết thư cho người bạn chung của chúng tôi là Walter Rathenau, yêu cầu ông này đưa ra một yêu cầu mật với Hauptman. Rathenau từ chối - có hay không có sự thỏa thuận trước với Hauptman, tôi không bao giờ biết được - ông ta lập luận rằng chưa phải lúc nghĩ tới nền hòa bình của các trí tuệ. Vì vậy, mưu toan bị thui chột. Thomas Mann lúc đó đang ở phe bên kia và vừa vặn mới đi theo quan điểm quyền của nước Đức trong một bài về Frédéric đại đế; Rilke, mà tôi biết chắc là về phía chúng tôi, trốn tránh, trên nguyên tắc mọi hành động chung và công khai; Dehmel, người theo chủ nghĩa xã hội thuở nào, bấy giờ ký tên các thư của mình: Đại úy Dehmel với một niềm kiêu hãnh yêu nước khá trẻ con; còn Hofmannstal và Jacob Wasserman, những cuộc trao đổi riêng đã cho tôi biết là không nên trông cậy vào họ. Vậy là không hy vọng được gì nhiều ở phía Đức, và Rolland không thành công hơn ở Pháp. Mưu toan tỏ ra còn quá sớm: năm 1914 và năm 1915, chiến tranh còn quá xa đối với những người ở hậu phương. Chúng tôi vẫn cô độc.


Cô độc, tuy nhiên không hoàn toàn cô độc. Chúng tôi đã đạt được một cái gì đó qua sự giao tiếp bằng thư từ của chúng tôi: một sự điểm qua đầu tiên cho thấy có khoảng hai chục người mà khuynh hướng bên trong có thể trông cậy được ở nước trung lập hay nước tham chiến, họ suy nghĩ giống chúng tôi, chúng tôi có thể chú ý lần nhau hơn đến các sách, bài báo, tập mỏng xuất bản đây đó; một điểm kết tinh nào đó đã là chắc chắn, mà nhiều yếu tố mới có thể kết tụ vào - lúc đầu còn ngập ngừng, nhưng luôn kiên quyết hơn, do áp lực luôn đè nặng mà các thời kỳ đó bắt các trí tuệ phải chịu. Cảm giác không tự thấy mình hoàn toàn trong khoảng không nữa đã tạo cho tôi sức mạnh để viết ngày càng thường xuyên hơn những bài báo để lôi kéo về phía ánh sáng, bằng những trả lời và những phản ứng của họ, những người cô đơn trong bí mật đã nghĩ như chúng tôi. Tôi luôn có sẵn bài để đăng những tờ báo của Đức và của Áo và như vậy có một trường ảnh hưởng rộng lớn. Tôi cũng thấy phải lo sợ một sự chống đối trên nguyên tắc về phía các quan chức vì tôi không giẫm vào chính trị của thời điểm này. Dưới ảnh hưởng của đầu óc tự do, sự tôn trọng việc văn chương còn rất lớn và khi tôi đọc lướt qua những bài mà lúc bấy giờ tôi thành công trong việc đưa lậu ra công khai rộng rãi nhất, tôi không thể từ chối không tỏ lòng kính trọng đối với các quan chức quân sự Áo về đầu óc rộng rãi của họ. Ở giữa cuộc chiến tranh thế giới, tôi luôn có thể nhiệt tình ca ngợi người sáng lập ra chủ nghĩa hòa bình, bà Berta von Suttner; bà đã lên án chiến tranh như là tội ác của những tội ác và đã cung cấp trong một tờ báo một tường thuật chi tiết tác phẩm Khói lửa của Henri Barbusse. Chắc hẳn chúng tôi đã phải hiệu chỉnh một kỹ thuật nào đó trong khi chúng tôi truyền bá trong một giới rộng rãi những nhận xét không hợp thời. Để biểu hiện sự ghê rợn của chiến tranh, sự vô cảm của hậu phương, tất nhiên là cần thiết ở Áo phải nêu lên những đau khổ của một người lính bộ binh “Pháp” trong một bài báo về “Khói lửa”, nhưng hàng trăm thư của mặt trận Áo chứng minh cho tôi đến mức nào binh lính của chúng ta nhận biết số phận của mình. Hoặc để biểu đạt các niềm tin của chúng tôi, chúng tôi lựa chọn thủ thuật sự tranh luận bề ngoài. Như một trong những người bạn Pháp của tôi bút chiến trên báo Mercure de France về bài “Những người bạn ở nước thù”; nhưng vì trong cái mạo xưng là bút chiến đó, anh lấy lại đến chữ cuối cùng bài tôi viết, song may mắn cho nó đi lậu được tới bạn đọc và mọi người ở Pháp có thể đọc được bài của tôi (và đó là ý định của chúng tôi). Thế là nhiều tia lửa, chỉ là những tia trí tuệ đi đi lại lại bên trên các biên giới. Những tín hiệu đó được những người mà nó nhằm tới thông hiểu đến mức nào, một tình tiết nhỏ về sau đã chứng minh cho tôi. Khi vào tháng 5 năm 1915, nước Italia tuyên chiến với nước Áo là đồng minh cũ của nó, sự kiện đó đã làm dâng lên ở nước chúng một làn sóng căm thù. Tất cả những gì là Italia đều bị chửi rủa. Tình cờ, vừa xuất bản những hồi ký của một người Italia trẻ tuổi thời Risorgimento( ) tên là Carlo Poeris, trong đó có miêu tả một cuộc đến thăm Goethe. Giữa những tiếng la hét căm thù đó, để chứng minh rằng người Italia luôn có những liên hệ tuyệt vời với văn hóa của chúng ta, tôi viết bài Một người Italia ở nhà Goethe, và vì quyển hồi ký có lời giới thiệu của Benedetto Croce, tôi cũng lợi dụng dịp này để dành cho Croce một vài câu nói lên lòng kính trọng sâu sắc của tôi. Những lời ngợi ca một người Italia tất nhiên tạo nên ở Áo, vào một thời kỳ mà người ta không được công nhận giá trị của một nhà thơ nào, một nhà bác học nào của các nước thù địch, một sự chứng minh khá rõ để được hiểu ở bên kia biên giới. Croce, lúc bấy giờ là bộ trưởng ở Italia, về sau kể cho tôi nghe: một nhân viên của Bộ không đọc được tiếng Đức báo với ông một cách khá mơ hồ rằng trong tờ báo lớn nhất của đối phương có cái gì đó chống lại ông (vì anh chỉ có thể hình dung được rằng người ta nêu tên của Croce là để công kích mà thôi). Vị bộ trưởng cho đưa tờ New Presse đến và trước tiên lấy làm ngạc nhiên, và sau đó lấy làm vui thích - trong cái nghĩa tốt đẹp nhất của từ này - tìm thấy ở đó, thay vì một lời chửi rủa, một sự cung kính.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »