tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24334501
Tiểu thuyết
05.05.2014
G. G. Marquez
Trăm năm cô đơn

Ucsula quyết định để tang cô trong một năm. Bà ra lệnh đóng hết các cửa, nội bất xuất ngoại bất nhập, trừ trường hợp không thể đừng, cấm nói to, và tự tay treo ảnh Rêmêđiôt ở nơi quàn thi hài cô, đồng thời đặt một ngọn đèn dầu sáng mãi không tắt trước tấm ảnh đó. Những thế hệ con cháu sau này, không bao giờ để cho ngọn đèn dầu bị tàn, đã lúng túng trước tấm ảnh cô bé mặc váy phồng, đi ủng trắng, tóc gài nơ soa, mà không thể đồng nhất được bức ảnh ấy với sự tưởng tượng vốn có của họ về một bà cô. Amaranta nhận nuôi Aurêlianô Hôsê, và nuôi dạy nó như một đứa con trai. Nó sẽ là người chia sẻ nỗi cô đơn và an ủi cô khỏi nỗi dằn vặt về những lời cầu khẩn cuồng nhiệt của mình đã khiến cho chất nha phiến vô tình rơi vào cà phê của Rêmêđiôt. Tối đến, Piêtrô Crêspi đội chiếc mũ mang vành khăn tang rón rén bước vào nhà để lặng lẽ thăm Rêbêca, một Rêbêca dường như đang chảy hết máu ngay trong bộ quần áo đen với ống tay áo trùm kín mu bàn tay. Nguyên việc nghĩ chọn lại ngày cưới đã có thể là trái đạo lắm rồi, vì thế quan hệ yêu đương của hai người trở thành một quan hệ vĩnh hằng, một tình yêu mỏi mệt không một ai muốn lại chăm sóc nó, như thể những người yêu nhau, từng tắt đèn để hôn nhau trong bóng tối đã xa rời nhau theo ý nguyện của thần chết. Mất phương hướng hoàn toàn, mất luôn cả lý trí, Rêbêca ăn đất trở lại.


Thời gian để tang kéo dài đến mức gia đình buộc phải tổ chức lại các buổi cầu kinh tại gia. Vào lúc hai giờ chiều một ngày yên tĩnh, oi bức khủng khiếp, bỗng có một ai đó vô tình đẩy cánh cửa ăn thông với đường cái, và thế là các cánh cửa rền rĩ lên với sức mạnh làm rung chuyển cả nền ngôi nhà trong đó Amaranta cùng các bạn gái đang ngồi thêu ở hành lang, Rêbêca đang mút ngón tay trong phòng ngủ, Ucsula đang bận bịu ở nhà bếp, Aurêlianô đang cặm cụi làm việc tại xưởng kim hoàn và Hôsê Accađiô Buênđya đang cô đơn ngồi dưới gốc cây dẻ. Tất cả họ đều bỗng rùng mình như có động đất. Một người đàn ông lực lưỡng đến nhà. Tấm lưng vuông vức của anh ta dường như không lọt được qua cửa. Trên cổ anh ta đeo một sợi dây chuyền có treo hình Thánh bà Đồng trinh Rêmêđiôt. Ngực và hai cánh tay anh ta xăm kín hình ảnh các nghĩa trang. Trên cổ tay anh ta đeo bức tượng đồng Chúa Giêsu bị đóng đinh câu rút. Anh ta có nước da đen sạm bởi phong sương dãi nắng, mái tóc ngắn và bờm xờm như bờm lừa, hàm răng bạnh ra cứng kều, đôi mắt âu sầu. Thắt lưng của anh ta to gấp hai lần dây cương ngựa. Đôi ủng ngắn có cựa thúc ngựa và đóng cá sắt. Và sự có mặt của anh ta đem đến cho tất cả mọi người cái cảm giác rùng mình trước trận động đất. Anh ta bước qua phòng khách, phòng đợi, tay mang những chiếc túi xách đã cũ. Rồi như một tiếng sấm, anh ta xuất hiện ở hành lang đặt những chậu thu hải đường, nơi Amaranta và các bạn gái đang ngồi khâu cứ sửng sốt giơ cao bàn tay cầm kim lên. "Xin chào" anh ta nói với các cô bằng giọng mệt mỏi, rồi ném những túi xách lên bàn làm việc. Sau đó, anh ta rảo cẳng bước vào nhà trong. "Xin chào" anh ta nói với Rêbêca đang hoảng loạn nhìn mình đi ngang qua cửa sổ phòng ngủ. "Xin chào" anh ta nói với Aurêlianô ở trong xưởng kim hoàn, đang dỏng cả năm giác quan lên nghe ngóng. Anh ta đi thẳng vào nhà bếp và ở đây, lần đầu tiên anh ta đã dừng lại ở điểm kết thúc một chuyến đi vòng quanh thế giới. "Xin chào" anh ta nói. Ucsula đứng lặng đi một giây, miệng há hốc, mắt nhìn thẳng vào mắt anh ta. Bà ném ra một tiếng kêu rồi nhảy lên ôm lấy cổ anh ta mà gào mà khóc đầy sung sướng. Đó là Hôsê Accađiô. Anh trở về, vẫn nghèo túng như lúc ra đi đến nỗi Ucsula phải cho anh hai đồng pêsô để trả tiền thuê ngựa. Anh nói tiếng Tây Ban Nha có pha những từ lóng của dân thủy thủ. Khi có ai hỏi đã ở đâu thì anh đáp: "Ở đằng ấy". Anh mắc võng trong phòng dành cho mình rồi ngủ ba ngày liền. Khi thức dậy, sau lúc ăn liền mười sáu quả trứng luộc, anh đi thẳng ra tiệm ăn của bác Catarinô. Tại đây, cơ thể đồ sộ của anh gây tò mò cho đám phụ nữ khiến họ phải sôi nổi bàn tán. Anh tổ chức một cú khao nhạc và rượu mạnh cho tất cả. Anh thách năm người đàn ông cùng lúc vật tay với mình. "Chịu thôi" họ nói vào lúc đều nhận thấy mình không thể lay chuyển được cánh tay anh, bảo. "Vì anh có tượng Chúa Giêsu bị đóng đinh câu rút phù trợ". Bác Catarinô, mà lúc ấy vẫn chưa tin vào nghệ thuật sử dụng sức mạnh của anh, đã thách mười hai đồng pêsô nếu anh nhấc nổi quầy hàng của mình. Hôsê Accađiô nhấc bổng cái quầy hàng, đội nó trên đầu rồi mang ra để ở giữa đường cái. Và bác phải cần tới mười một người đàn ông lực lưỡng mới khiêng được nó vào vị trí cũ. Trong không khí vui như hội, Hôsê Accađiô đứng trên quầy hàng trưng cho mọi người xem cơ thể cường tráng của mình không chỗ nào không xăm hình nhăng nhít, với những dòng chữ viết màu xanh và màu đỏ thuộc vài ngôn ngữ khác nhau. Hướng về những người đàn bà đang vây lấy mình, với lòng tham không đáy, anh hỏi họ xem ai trả thêm nữa. Người đàn bà giàu hơn cả đã cho anh vài chục đồng. Thế là anh tổ chức một cuộc bắt thăm với giá mười pêsô một phiếu. Đó là một cái giá cắt cổ bởi vì người đàn bà đông khách nhất cũng chỉ kiếm được tám đồng pêsô một đêm. Nhưng tất cả các cô đều chấp nhận giá ấy. Người ta viết tên mình trên mười bốn tờ phiếu rồi trộn lẫn, để tất cả chúng vào một chiếc mũ, sau đó mỗi cô nhận một. Khi chỉ còn lại hai tờ, Hôsê Accađiô tiến lại gần những người đến lượt nhập phiếu, cười cợt:


- Hãy trả thêm mỗi phiếu năm đồng nữa, rồi tôi sẽ chia cho hai cô mà.


Anh sống bằng cách ấy. Đã sáu mươi nhăm lần anh đi vòng quanh trái đất, sống chung với những người thủy thủ vong quốc. Những người đàn bà đêm ấy ngủ với anh trong tiệm bác Catarinô đã đưa anh trần như nhộng ra tận phòng nhảy để tất cả mọi người xem cái cơ thể không có lấy một milimét không xăm: đằng trước, đằng sau, từ cổ cho đến tận ngón chân... Anh không hòa nhập vào nổi đời sống gia đình. Cả ngày thì ngủ, rồi thức trắng đêm kiếm ăn bằng trò may rủi, thi thố sức lực ở cái xóm thợ nghèo khổ. Trong những dịp hiếm có, Ucsula mời được Hôsê Accađiô ngồi vào bàn ăn. Anh tỏ ra dễ mến, nhất là khi kể về những chuyến mạo hiểm của mình ở những vùng đất xa xôi. Anh từng bị đắm tàu và đã trôi giạt hàng vài tuần trên biển ở Nhật Bản và sống bằng cách ăn xác một người bạn chết vì bệnh cảm nắng mà thịt của anh ta được ướp muối rồi lại được ướp muối, được nấu chín dưới ánh mặt trời đã trở thành một thứ mắm ngấu có vị ngòn ngọt. Một buổi trưa chói nắng ở vịnh Bengala, con tàu của anh đã chiến thắng một chú rồng biển mà trong ruột nó người ta thấy nào mũ sắt, khóa thắt lưng và cả vũ khí của một người thám hiểm đại dương. Ở biển Caribê anh từng nhìn thấy bóng ma chiếc tàu của tên cướp biển Victo Huygơ với một cánh buồm bị gió thổi rách tả tơi, mui thuyền bị gián biển nhấm thủng lỗ chỗ, mãi mãi nó bị lạc hướng trên đường tới đảo Goađalupê. Ngồi bên bàn, Ucsula thổn thức khóc như thể bà đang đọc những bức thư không bao giờ được gửi cho mình, trong đó Hôsê Accađiô kể cho bà nghe những chiến công cũng như những thất bại của anh. "Ở đây, nhà cửa rộng rãi đến như thế, con ta ạ" bà nức nở nói, "Và cơm thì thừa mứa phải đổ cho lợn ăn. Mà nào con có ở nhà cho mẹ nhờ…" Nhưng trong thâm tâm bà không thể nhận ra rằng cái thằng bé được những người Digan mang đi theo giờ đây lại chính là kẻ phàm phu ăn hết một nửa con lợn sữa trong bữa ăn trưa và hơi thở của y nóng hổi làm héo úa hoa lá. Những người khác trong gia đình cũng nghĩ tương tự. Amaranta không thể giấu nổi sự kinh tởm mỗi bận anh ợ hơi ngay trong lúc ngồi ăn. Accađiô, người không bao giờ được biết quan hệ cha con giữa mình với Hôsê Accađiô, hầu như không trả lời những câu hỏi anh gợi ra với mục đích giành lấy tình yêu mến của con trai. Aurêlianô định làm sống lại những năm tháng trước đây họ cùng ngủ một phòng, định gợi lại những trò ranh ma của tuổi thơ giữa hai người, nhưng Hôsê Accađiô đã quên hết cả, bởi vì cuộc đời trôi giạt của thủy thủ với biết bao sự việc cần nhớ mỗi ngày đã làm bão hòa trí nhớ của anh. Chỉ riêng Rêbêca thần phục anh ngay từ đầu. Buổi chiều nhìn thấy anh đi ngang cửa sổ phòng mình, cô đã nghĩ Piêtrô Crêspi chẳng qua cũng chỉ là một gã béo phúng phính đứng bên cạnh người đàn ông cực kỳ lực lưỡng mà hơi thở nóng như núi lửa tràn ra khắp nhà, chỗ nào cũng cảm thấy. Cô kiếm cớ để gần anh. Có những lúc Hôsê Accađiô đã trơ tráo nhìn tấm thân cô và bảo: "Em rất đàn bà, em thân yêu ạ". Rêbêca không thể tự chủ được nữa. Cô ăn lại đất và vôi tường nhà với sự thèm khát trước đây và lại mút ngón tay đến mức ngón cái phải lên chai. Cô nôn ra một thứ nước xanh lẫn những cục máu tím bầm. Cả đêm cô thao thức, người run lên vì cơn sốt hầm hập để vật lộn với cơn bồi hồi nhớ nhung, để chờ đợi cho đến khi trời sáng, ngôi nhà run lên trong bước đi của Hôsê Accađiô trở về. Một chiều nọ, khi cả nhà đang ngủ trưa, cô không thể nán chịu được nữa, đã mò đến phòng Hôsê Accađiô. Cô thấy anh thức, mặc quần đùi, nằm dài trên chiếc võng được mắc vào đôi vòng sắt to bằng những sợi chão buộc tàu. Cái cơ thể để trần lực lưỡng khiến Rêbêca cảm động lắm đến mức cô tự nhiên dừng lại định quay ra. "Xin lỗi" cô chống chế, "em không biết có anh ở đây". Nhưng cô hạ giọng ngay để khỏi đánh thức người khác. "Vào đây nào" anh nói. Rêbêca ngoan ngoãn nghe lời. Cô đứng ngay cạnh chiếc võng, mà toát mồ hôi lạnh, mà cảm thấy trong bụng mình cứ nổi cục lên, trong lúc Hôsê Accađiô với năm ngón tay mơn trớn cổ tay cô, rồi bẹn, rồi mông và miệng thì thầm: "Ôi, em nhỏ bé. Ôi, em nhỏ bé". Rêbêca phải lấy hết sức bình sinh để khỏi chết khi một sức mạnh cuồng nhiệt như giông bão nhưng lại rất nhẹ nhàng đã cầm lấy thắt lưng bế cô lên, rồi cởi áo váy cô và dằn ngửa cô ra như dằn ngửa một con chim bé bỏng. Cô chỉ còn kịp cám ơn Thượng đế đã sinh ra mình, trước khi lương tri bị chìm nghỉm trong niềm khoái lạc đê mê át cả cái đau đớn để giãy giụa ở trong lòng chiếc võng bốc hơi nghi ngút. Cái võng như một tờ giấy thấm đã hút ráo những ngay giọt máu trinh của cô chảy ra.


Sau đó ba ngày, họ làm lễ cưới trong buổi lễ misa lúc năm giờ chiều. Trước đó một hôm, Accađiô đã đến cửa hiệu Piêtrô Crêspi, đúng lúc anh ta đang dạy đàn lục huyền cho học trò, và không ý tứ gọi anh ta ra chỗ khác để bảo "Tôi lấy Rêbêca đấy". Piêtrô Crêspi tái xanh mặt, đưa cây đàn lục huyền cho một học trò, rồi cho chúng nghỉ giữa buổi. Khi chỉ còn lại hai người với nhau trong phòng bày đầy nhạc cụ và đồ chơi dây cót, Piêtrô Crêspi nói:


- Rêbêca là em gái anh mà!


- Với tôi, điều ấy không quan trọng - anh bình thản.


Piêtrô Crêspi rút chiếc mùi soa thơm mùi oải hương lau mồ hôi trán.


- Lấy như vậy là trái với lẽ tạo hóa - anh ta giải thích - ngoài ra luật pháp cấm ngặt lối hôn nhân ấy.


- Ôi dà, tôi ngồi xổm lên cái lẽ tạo hóa của nhà anh - Hôsê Accađiô nói - Tôi đến đây để bảo cho anh biết và để anh khỏi rầy rà Rêbêca mà hỏi này hỏi nọ.


Song cách cư xử thô bạo của anh cũng phải mất đi khi anh nhìn thấy Piêtrô Crêspi nước mắt vòng quanh.


- Bây giờ thế này nhé - anh đổi giọng nói - nếu cậu còn quyến luyến gia đình tôi thì còn Amaranta phần cậu đấy.


Trong bài thuyết giảng ngày chủ nhật, cha Nicanô đã chứng minh rằng Hôsê Accađiô và Rêbêca không phải là anh em ruột.


Ucsula không bao giờ tha thứ cho cái điều bà cho là vô lễ quá mức và khi họ từ nhà thờ trở về bà đã cấm cửa đôi tân hôn. Đối với bà, giờ đây họ như là người đã chết. Thế là họ tậu căn nhà nhỏ trước nghĩa địa và dọn về nhà mới không mang theo giường tủ gì ngoài chiếc võng của Hôsê Accađiô. Đêm tân hôn, Rêbêca bị cắn vào chân bởi một con bò cạp chui vào giày băng-túp từ lúc nào chả rõ. Cô bị cứng lưỡi song không vì thế mà tuần trăng mật của họ kém phần vui vẻ. Hàng xóm giật mình trước những tiếng la hét khiến  họ phải thức dậy một đêm tới tám lần, một buổi trưa tới ba lần và họ cầu khẩn cho cơn cuồng say quá trớn ấy không làm kinh động những người chết đang yên nghỉ trong cõi thanh tịnh ở nghĩa địa.


Duy nhất Aurêlianô lo lắng cho hai người. Anh sắm một số đồ dùng và trợ cấp tiền cho họ tới khi Hôsê Accađiô nhìn cuộc đời thực tế hơn và bắt tay khai phá mảnh đất vô chủ liền kề với sân nhà. Trái lại, Amaranta không bao giờ nguôi thù hận Rêbêca, mặc dù cuộc đời đã mang đến cho cô niềm vui chưa từng mong đợi. Đó là việc Piêtrô Crêspi, vẻ bình thản, đầy cao thượng che giấu nỗi đau thất tình, vẫn đến ăn trưa với gia đình vào ngày thứ ba hàng tuần theo gợi ý của Ucsula, người vẫn chưa biết làm thế nào để chữa thẹn. Vẫn giữ nguyên dải băng đen trên vành mũ như để biểu hiện sự thân tín đối với gia đình, anh thích thú bày tỏ lòng mến phục của mình đối với Ucsula bằng cách mang biếu bà những tặng phẩm kỳ lạ: cá sacđin Bồ Đào Nha, mứt hồng Thổ Nhĩ Kỳ, và trong dịp cần thiết, cả một tấm khăn choàng vai Manila quý giá. Amaranta, với tình cảm âu yếm, chiều chuộng anh. Cô mò đoán cái sở thích của anh, tỉ mẩn nhặt từng sợi chỉ tuột ở ống tay áo cho anh và để mừng ngày sinh nhật của anh, cô viền và thêu lồng chữ tên hai người trên cả một tá mùi soa. Những ngày thứ ba, sau bữa cơm trưa, trong lúc Amaranta ngồi ở hành lang, anh luôn ở bên cạnh tán chuyện vui. Có một buổi chiều thứ ba, khi không một ai nghi ngờ chuyện sẽ xảy ra thì đã xảy ra: Piêtrô Crêspi ngỏ lời muốn được cưới cô làm vợ. Cô gái vẫn điềm nhiên thêu. Đợi cho hết nóng tai, với giọng người lớn, cô bảo anh:


- Tùy thôi, Crêspi ạ, nhưng hãy để khi nào chúng mình thật hiểu nhau đã. Vội vã thì chẳng tốt đâu.


Ucsula đâm ra bối rối. Mặc dù rất nể vì Piêtrô Crêspi bà vẫn chưa khẳng định được rằng, nếu từ góc độ đạo đức mà xét, thì sự quyết định của mình là tốt hay xấu, nhất là việc này xảy ra ngay sau quan hệ của Piêtrô Crêspi với Rêbêca kéo dài và ồn ĩ. Song, bà đã chấp nhận tình yêu ấy, coi như một sự kiện không cần phải hỏi han ý kiến người khác, vì lúc ấy không ai cùng chia sẻ những lo âu của mình. Aurêlianô, lúc này đã là người có tiếng nói trong gia đình, làm bà càng hoang mang hơn với ý kiến khẳng định và khó hiểu của anh:


- Bây giờ không phải là lúc bàn đến chuyện hôn nhân.


Mấy tháng sau này, Ucsula mới hiểu được ý kiến đó là câu trả lời duy nhất chân thành mà Aurêlianô đã có thể nói ra trong thời điểm ấy. Nó không chỉ là lời giải đáp đối với việc hôn nhân mà còn đối với bất kỳ vấn đề nào không liên quan đến chiến tranh. Khi đứng trước họng súng của đội hành hình, ngay cả anh cũng không hiểu thật rõ lắm vì sao hàng loạt những chuyện ngẫu nhiên trớ trêu dồn mình đến tình trạng ấy. Cái chết của Rêmêđiôt không dẫn anh tới sự kích động đáng sợ. Đúng ra, nó chẳng qua cũng chỉ là một cảm giác giận dữ thầm lặng dần dần thấm vào nỗi chán chường cô đơn và lặng lẽ, giống như sự chán chường trong những ngày anh quyết chí ở vậy. Anh lại dấn thân vào công việc nhưng vẫn giữ nếp đến thăm bố vợ để chơi đôminô. "Aurêlianô, hãy lấy vợ đi" ông bố vợ bảo anh. "Ta có sáu đứa con gái để cho anh kén đấy". Có một lần, có lẽ sự việc xảy ra trước ngày bầu cử, Đông Apôlina Môscôtê từ tỉnh về làng, đầy lo âu trước tình hình chính trị của đất nước. Những người thuộc phái Tự do đã sẵn sàng lao mình vào cuộc chiến. Vì lúc ấy, Aurêlianô còn có những nhận xét hồ đồ về sự khác biệt giữa những người Bảo hoàng với những người Tự do, ông bố vợ liền giảng giải cho anh những nét đại cương. Những người Tự do, ông ta nói, là những người Tam Điểm, đám người xấu xa, ủng hộ việc treo cổ các cha cố, chủ trương hôn nhân bình quyền và ly hôn, công nhận quyền bình đẳng giữa con hoang và con trong giá thú, tán thành việc phân chia đất nước thành từng bang và các bang này liên kết trong thể chế liên bang nhằm tước bỏ các quyền lực địa phương để tập trung trong chính phủ tối cao. Trái lại những người thuộc phái Bảo hoàng, vốn đã nhận quyền lực trực tiếp của Thượng đế, bảo vệ trật tự công cộng đã được thiết lập và đạo đức gia đình, là những người bảo vệ Chúa Crixtô, bảo vệ cơ sở của quyền lực và không cho phép chia đất nước thành các bang tự do. Do những tình cảm nhân đạo, Aurêlianô có thiện cảm đối với thái độ tự do công nhận các quyền lợi của con hoang, nhưng dẫu sao đi nữa, anh không hiểu nổi vì sao người ta phải đi tới một cuộc chiến tranh vì những vấn đề không thể sờ mó được. Anh thấy ông bố vợ mình là người quá khích khi yêu cầu cấp trên phái sáu người lính dưới sự chỉ huy của một thầy quản về Macônđô, một làng không hề có những đam mê chính trị, để bảo vệ cuộc bầu cử. Bọn lính không chỉ về làng, chúng còn đi các nhà, từng nhà một, tịch thu khí giới săn thú, dao rựa và cả dao làm bếp, trước khi phân phát cho những người đàn ông từ hai mươi mốt tuổi trở lên một lá phiếu xanh ghi tên các ứng cử viên thuộc phái Bảo hoàng và một lá phiếu hồng ghi tên các ứng cử viên thuộc phái Tự do. Trước ngày bầu cử, chính Đông Apôlina Môscôtê đã đọc sắc lệnh cấm bán rượu mạnh và các cuộc tụ tập từ ba người trở lên nếu không phải là người cùng nhà trong bốn mươi tám giờ đồng hồ kể từ nửa đêm ngày thứ bảy. Cuộc bầu cử được tiến hành êm thấm. Ngay từ lúc tám giờ sáng chủ nhật, một thùng gỗ có sáu người lính canh giữ nghiêm ngặt đã được đặt ở quảng trường. Người ta tự do bỏ phiếu đúng như chính Aurêlianô đã có thể thấy tận mắt khi anh cùng với bố vợ đứng cả ngày canh chừng không để cho bất kỳ một ai có thể bỏ phiếu hơn một lần. Bốn giờ chiều, một hồi trống vang lên báo hiệu ngày bầu cử đã kết thúc, và Đông Apôlina Môscôtê cầm chiếc băng chữ thập có mang chữ ký của ngài dán hòm phiếu lại. Đêm ấy, trong lúc chơi đôminô với Aurêlianô, ngài ra lệnh cho thầy quản mở hòm ra kiểm phiếu. Số phiếu hồng và xanh xấp xỉ bằng nhau, nhưng thầy quản chỉ để lại mười phiếu hồng và thay phiếu xanh khác vào cho đủ số. Sau đó thầy quản lại niêm phong hòm phiếu lại dưới nhãn mới và sáng ngày hôm sau người ta vội vàng mang nó lên tỉnh. "Phái Tự do sẽ nổi dậy làm nội chiến"  Aurêlianô nói. Đông Apôlina vẫn không rời mắt khỏi các quân đôminô của mình. "Nếu anh nói vì việc thay đổi lá phiếu, thì họ sẽ không nổi dậy đâu"  ngài bảo, "một số lá phiếu hồng vẫn được để lại cho họ khỏi kêu ca". Aurêlianô hiểu được những điều bất lợi của phe đối phương. "Nếu tôi thuộc phái Tự do"  anh nói, "tôi sẽ nổi dậy chính vì việc thay đổi lá phiếu này". Bố vợ ngước mắt qua gọng kính nhìn anh:


- Ôi Aurêlianô - ngài nói - nếu anh là người thuộc phái Tự do, thì dù có là con rể ta anh không thể nào được nhìn thấy việc thay đổi lá phiếu ở đây đâu.


Trên thực tế, điều gây nên nỗi bất bình trong dân chúng không phải là kết quả cuộc bầu cử mà là việc bọn lính không trả lại vũ khí. Một nhóm phụ nữ nói chuyện với Aurêlianô để anh xin với bố vợ trả lại những con dao làm bếp. Song Đông Apôlina Môscôtê, bằng những lời lẽ hết sức thận trọng, giải thích cho anh rằng bọn lính đã mang theo những vũ khí tịch thu được để làm bằng chứng về việc những người thuộc phái Tự do đang chuẩn bị chiến tranh. Sự trơ trẽn trong giải đáp ấy khiến anh rợn người. Anh không bình luận một lời, nhưng vào một đêm nọ, khi Herinênđô Mackêt và Macgơmphicô Visban nói chuyện với một số bạn bè xung quanh chuyện rắc rối về những con dao, họ đã hỏi anh thuộc về phái Tự do hay Bảo hoàng, thì không do dự, anh trả lời:


- Nếu phải lựa chọn tôi sẽ đứng về phái Tự do, bởi vì phái Bảo hoàng là những kẻ bịp bợm.


Ngay ngày hôm sau, thể theo yêu cầu của các bạn mình, anh đến thăm bác sĩ Aliriô Nôghêra để ông ta khám bệnh đau gan cho mình. Anh cũng không biết làm như vậy để làm gì. Bác sĩ Aliriô Nôghêra đã đến làng Macônđô được mấy năm nay, mang theo một tủ thuốc viên không mùi vị và một tấm biển quảng cáo thuốc không thuyết phục được một ai: Dĩ độc trị độc. Thực ra đó là một trò cười. Đằng sau cái vẻ ngoài hiền lành của một thầy thuốc loại xoàng, là bộ mặt của một tên khủng bố đi giày ống đến nửa bẹn để che đi những vết sẹo trên cổ chân, dấu ấn của năm năm ngồi tù. Ngay từ cú mạo hiểm đầu tiên của những người có tư tưởng liên bang y đã bị bắt, và đã trốn đến Curaxao cải trang trong trang phục y vốn thù ghét nhất trần đời: chiếc áo thụng của cha cố. Sau một thời gian lưu vong dài đằng đẵng, lòng đầy náo nức trước các tin tức do những người lưu vong thuộc khắp vùng Caribê mang đến Curaxao, y lẻn lên một chiếc thuyền buôn lậu và sau đó có mặt ở Riôacha mang theo một tủ thuốc viên, thực ra chỉ là những viên đường đã được tinh lọc, và một bằng bác sĩ của trường đại học Lepdich giả mạo do chính y làm ra. Y khóc lóc thảm thiết. Cái nhiệt tình cách mạng của phái liên bang, được chính những người lưu vong định nghĩa là một thứ thuốc nổ sắp bùng nổ, đã nguội tắt dần dần trong ảo tưởng tuyển cử viển vông. Cay đắng trước thất bại ấy, thèm khát một địa điểm an toàn để di dưỡng tuổi già, viên bác sĩ dĩ bệnh liệu bệnh đã chạy trốn đến làng Macônđô. Trong căn phòng chật hẹp xếp đầy chai không, những chiếc chai được thuê ở bên kia quảng trường, y đã sống vài năm trong căn bệnh không phương chữa chạy từng xác nhận rằng mình có thể tự an ủi với những viên đường. Cái tâm trạng nổi loạn của y đã lắng đọng lại trong lúc Đông Apôlina Môscôtê ngày một trở thành một nhà chức trách bù nhìn hơn. Thời gian cứ trôi đi và y cứ sống trong hồi tưởng và lo điều trị bệnh hen suyễn. Cuộc tuyển cử sắp đến là đầu mối để y lại tìm được biện pháp hành động nổi loạn. Y đã có quan hệ mật thiết với đám thanh niên trong làng, vốn là đám người rất kém cỏi về ý thức chính trị, và lăn xả vào việc bí mật vận động nổi loạn. Số đông phiếu hồng xuất hiện trong hòm phiếu là của đám thanh niên nhiệt tình kia. Đó là một phần trong kế hoạch của y: buộc đồ đệ của mình bỏ phiếu để chứng tỏ cho họ thấy rằng tuyển cử là một trò hề. "Cái điều duy nhất có hiệu lực" y nói, "là bạo lực". Phần lớn các bạn của Aurêlianô lòng dạ phơi phới với ý nghĩ quét sạch cái thể chế của bọn Bảo hoàng, nhưng không một ai dám cho anh tham gia kế hoạch, không chỉ vì những mối quan hệ của anh với bố vợ mà còn vì tính cách cô đơn và phớt đời của anh. Ngoài ra họ còn được biết anh đã bỏ phiếu xanh theo sự chỉ dẫn của bố vợ. Vậy nó chỉ là một ngẫu nhiên đơn thuần bộc lộ những suy tư chính trị của anh, và nó là một sự thúc đẩy hoàn toàn có tính cách tò mò đưa anh tới ý nghĩ viển vông đi thăm viên bác sĩ để ông ta điều trị cho mình cái bệnh vốn không đau. Trong căn phòng chật chội nồng nặc mùi long não rẻ tiền, có một người giống y hệt con kỳ đà mốc meo đang khò khè thở. Chưa kịp hỏi anh điều gì, viên bác sĩ kéo anh ra cửa sổ vạch mi mắt dưới quan sát. "Không phải ở đấy đâu"  Aurêlianô nói theo lời chỉ dẫn của các bạn mình. Lấy ngón tay ấn vào bụng ở chỗ buồng gan, anh nói: "Đây là nơi tôi đau không thể ngủ được". Thế là viên bác sĩ Nôghêra đóng kín cửa sổ lại với cớ chói nắng quá và bằng từ ngữ mộc mạc ông ta giải thích cho anh vì sao việc tiêu diệt bọn Bảo hoàng là nghĩa vụ của người yêu nước. Trong vài ngày liền, Aurêlianô mang trong túi áo sơ mi một tuýp thuốc. Cứ hai giờ một lần, anh lại móc tuýp thuốc ra, dốc ba viên thuốc ra lòng bàn tay rồi vỗ tất cả vào mồm để chúng tan dần dần trên lưỡi. Đông Apôlina Môscôtê chế giễu lòng tin của anh ở phương pháp dĩ bệnh liệu bệnh, nhưng những ai đang âm mưu nổi loạn thì đều nhận ra anh là người của họ. Hầu như gần hết con trai của các bậc sáng nghiệp Macônđô đều ở trong tổ chức bí mật nhưng không một ai biết tường tận hành động do chính họ đang chuẩn bị sẽ xảy ra như thế nào. Tuy nhiên, trong ngày viên bác sĩ tiết lộ bí mật cho Aurêlianô biết, anh đã tình nguyện tham gia cuộc nổi dậy. Mặc dù lúc ấy anh tán thành phải nhanh chóng tiêu diệt chế độ Bảo hoàng, song kế hoạch hành động của ông ta lại khiến anh kinh tởm. Bác sĩ Nôghêra là một kẻ rất thích khủng bố cá nhân. Cái cơ chế hành động của ông ta được thu lại trong việc phối hợp hàng loạt hành động cá nhân để rồi trong một vụ bạo động lớn có tầm toàn quốc sẽ tiêu diệt các quan chức của chế độ Bảo hoàng cùng với toàn bộ gia quyến họ, nhất là các con cái, nhằm triệt tận gốc cái nòi Bảo hoàng. Dĩ nhiên Đông Apôlina Môscôtê, bà vợ, các cô con gái đều ở trong danh sách khủng bố.


- Ngài chẳng phải là nhà Tự do cũng chẳng phải là cái đếch gì - Aurêlianô thản nhiên nói - ngài là một tên sát nhân, không hơn không kém.


- Vậy thì, trong trường hợp này - viên bác sĩ cũng thản nhiên đáp - anh hãy trả lại tôi cái tuýp thuốc. Anh không cần đến nó nữa.


Sáu tháng sau, Aurêlianô mới biết rằng viên bác sĩ không tin anh là một người hành động, không hy vọng gì ở anh, một con người tình cảm chủ nghĩa, quá ư hiền lành và cô đơn. Họ tìm cách giám sát anh, vì sợ anh tiết lộ kế hoạch nổi loạn. Để họ yên lòng, Aurêlianô hứa sẽ không mở miệng. Nhưng cái đêm bọn họ tới để hạ sát gia đình Môscôtê, đã gặp anh đứng ngay ở cửa ra vào. Anh thể hiện thái độ dứt khoát đến mức kế hoạch hạ sát phải hoãn không biết đến bao giờ. Chính trong những ngày đó, Ucsula đã hỏi ý anh về hôn nhân của Piêtrô Crêspi và Amaranta và anh đã bảo bây giờ không phải lúc nghĩ đến việc đó. Từ hơn một tuần nay, lúc nào anh cũng giấu khẩu súng lục cổ lỗ dưới áo sơ mi, lúc nào cũng cảnh giác đối với các bạn mình. Buổi chiều anh đến uống cà phê với Hôsê Accađiô và Rêbêca, lúc này vợ chồng họ bắt đầu trang hoàng nhà cửa, rồi từ lúc bảy giờ tối anh ngồi chơi đôminô với bố vợ. Vào giờ ăn trưa, anh nói chuyện với Accađiô, lúc này đã là một thanh niên cường tráng, và nhận thấy chàng trai ngày một bộc lộ rõ nhiệt tình háo hức chờ đón cuộc nội chiến sắp xảy ra. Accađiô đã nhen nhóm lòng hâm mộ tư tưởng tự do trong trường học, là nơi anh tập trung không chỉ những học trò lớn tuổi mà còn cả trẻ nhỏ. Chàng trẻ tuổi nói về việc bắn chết cha Nicanô, về việc biến nhà thờ thành trường học, về việc công nhận tự do luyến ái, về… Aurêlianô lo lắng trước những tư tưởng bạo lực của cháu trai, khuyên cậu cần phải thận trọng và kín đáo. Làm ngơ trước những lý lẽ chín chắn của anh, trước ý nghĩ thực tế của anh, Accađiô công khai phê phán tính nhu nhược của ông chú mình. Aurêlianô chờ đợi, chờ đợi. Cuối cùng, vào đầu tháng Chạp, Ucsula bỗng hoảng hốt bước vào xưởng kim hoàn:


- Nội chiến đã bùng nổ!


Quả nhiên, nội chiến đã nổ ra được ba tháng. Luật giới nghiêm thi hành trong toàn quốc. Đông Apôlina Môscôtê là người duy nhất kịp thời biết tin chiến sự đã nổ ra nhưng ngài không để lộ ngay cả với vợ mình, trong khi đó một trung đội lính đã ập tới chiếm làng đóng đồn. Bọn lính lặng lẽ tiến vào làng trước lúc trời rạng sáng, mang theo hai cỗ pháo hạng nhẹ do lừa kéo, và lập đồn ngay tại trường học. Mới sáu giờ chiều chúng đã thổi kèn giới nghiêm. Lần này chúng lục soát, vẫn từng nhà một, khủng khiếp hơn lần trước, tịch thu đến cả cái liềm. Chúng lôi bác sĩ Nôghêra đi, trói vào gốc cây rồi bắn, không cần xét xử. Cha Nicanô muốn làm cho nhà cầm quyền quân sự phải rùng rợn trước phép thần bí tự nâng mình lên khỏi mặt đất, thì một tên lính đã lấy báng súng nện bốp một cái làm chảy máu đầu cha. Niềm phấn khích của những người Tự do bị dập tắt trong mối lo âu thầm lặng. Aurêlianô, da tái đi, lầm lì khó hiểu vẫn tiếp tục chơi đôminô với bố vợ. Anh hiểu rằng mặc dù mang danh là nhà lãnh đạo các vấn đề dân sự và quân sự trong làng, một lần nữa Đông Apôlina Môscôtê vẫn chỉ là thứ quan chức bù nhìn. Mọi vấn đề đều do viên đại úy quân đội quyết định. Các buổi sáng, viên đại úy này đều đích thân thu thuế ngoại ngạch để chi tiêu cho việc giữ gìn an ninh chung. Bốn tên lính dưới sự chỉ huy của hắn đã cướp phá gia đình một người đàn bà bị chó dại cắn, và đã dùng báng súng đánh chết bà ta ngay giữa đường cái. Sau khi bọn lính chiếm đóng làng được hai tuần, một chủ nhật nọ, Aurêlianô, với vẻ đờ đẫn vốn có, bước vào nhà Hêrinênđô Mackêt, xin một tách cà phê không pha đường. Khi chỉ còn lại họ với nhau, khác hẳn với mọi ngày, Aurêlianô lên giọng quyền thế nói: "Hãy chuẩn bị đi các chàng trai, chúng ta sẽ ra quân". Hêrinênđô Mackêt vẫn chưa tin, hỏi:


- Lấy đâu ra vũ khí?


- Lấy của chúng - Aurêlianô đáp gọn.


Vào lúc nửa đêm ngày thứ ba, trong một trận đánh trộn trấu, hăm mốt người đàn ông chưa đầy ba mươi tuổi, dưới sự chỉ huy của Aurêlianô, được vũ trang bằng dao ăn và các thanh sắt mũi nhọn, thình lình đánh úp bọn lính gác, chiếm vũ khí và bắn chết ngay ở ngoài sân viên đại úy cùng bốn tên lính đã giết người đàn bà vô tội nọ.


Đêm ấy, trong lúc vang lên lệnh tước vũ khí của đội hành hình, Accađiô được phong làm quan thống lĩnh các vấn đề quân sự và dân sự của làng. Những nghĩa quân có vợ hầu như không kịp chào từ biệt vợ mình đã ra đi để mặc các bà tự xoay xở lấy. Họ ra đi vào lúc rạng sáng, được cả làng, đã thoát khỏi nỗi kinh hoàng, reo hò tiễn biệt, để gia nhập các lực lượng vũ trang của một nhà cách mạng, tướng Vichtôriô Mêđina. Theo những tin tức mới nhận được, ông đang hoạt động ở phía Manaurê. Trước lúc ra đi, Aurêlianô đã thả Đông Apôlina Môscôtê ra khỏi cũi sắt. "Xin bố cứ ở yên cho"  anh nói, "chính quyền mới, với lời nói danh dự, sẽ bảo đảm an toàn tính mạng cho bố và cả nhà ta". Đông Apôlina Môscôtê khó khăn lắm mới nhận mặt được nhà khởi nghĩa đi ủng cao cổ, đeo súng ngang hông là người vẫn chơi đôminô với ông tới chín giờ đêm.


- Đây là một trò đùa phải không, Aurêlianô? - Ngài reo lên hỏi.


- Không đùa đâu - Aurêlianô nói - đó là chiến tranh thật sự. Xin bố đừng gọi Aurêlianô cộc lốc nữa, vì tôi đã là đại tá Aurêlianô Buênđya.


(còn tiếp)


Nguồn: Trăm năm cô đơn. Tiểu thuyết của GABRIEL GARCÍA MÁRQUEZ (Nobel Văn chương 1982). Nguyễn Trung Đức, Phạm Đình Lợi, Nguyễn Quốc Dũng dịch. Nguyễn Trung Đức giới thiệu. Dịch từ nguyên bản tiếng Tây Ban Nha Cien años de soledad do Viện Sách Cuba xuất bản tại La Habana, năm 1968. Theo bản sửa chữa cuối cùng của cố dịch giả Nguyễn Trung Đức, tháng 9-2000. Tủ sách Danh tác Thế giới do nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn - NXB Văn học liên kết cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »