tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30422006
Tiểu thuyết
25.12.2008
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình
Phần Thứ tám

Sau khi công tước Anđrây đính hôn với Natasa, Pie tuy không có duyên cớ gì rõ rệt vẫn đột nhiên cảm thấy mình không thể nào tiếp tục cuộc sống cũ được nữa. Dù chàng có tin tưởng quả quyết vào những chân lý mà vị ân nhân đã vạch ra cho chàng, dù chàng có tìm được những niềm vui sướng trong thời gian đầu say mê với việc tu thân mà chàng đã toàn tâm toàn ý thực hiện, sau khi công tước Anđrây đính hôn với Natasa và sau khi Iôxíp Alếchxâyêvích chết - chàng nhận được hai tin này gần như cùng một lúc - Pie bỗng thấy cuộc sống cũ của chàng đã mất hết hứng thú. Chỉ còn lại bộ xương sườn của quá khứ: ngôi nhà của chàng với cô vợ lộng lẫy hiện nay đang hưởng thụ ân huệ của một nhân vật quan trọng, rồi thì những mối quan hệ giao thiệp với toàn thành Pêtécbua và công việc nhà nước với những thủ tục hình thức tẻ ngắt. Và Pie đột nhiên thấy cuộc sống cũ ấy ghê tởm quá. Chàng không viết nhật ký nữa, tránh tiếp xúc với các hội hữu, chàng lại đến câu lạc bộ như cũ, lại uống rượu nhiều, lại giao du với những nhóm thanh niên độc thân và bắt đầu một cuộc sống phóng đãng đến nỗi bá tước phu nhân Êlêna Vaxiliépna thấy cần phải nghiêm nghị răn bảo chàng. Pie cảm thấy vợ nói phải, nên để khỏi tổn hại đến danh giá của nàng, chàng bèn bỏ về Mátxcơva.


Đến Mátxcơva, khi bước vào tòa nhà cao lớn của mình, nơi có mấy nữ công tước đã khô đét hoặc đang khô héo dần, với lũ gia nhân đông đúc, khi trông thấy - trong lúc xe đi ngang thành phố - ngôi nhà thờ Ivécskaia với vô số ngọn nến cháy sáng rực trước những khung tượng thánh thếp vàng, khi trông thấy quảng trường Kremli, với lớp tuyết phẳng lì không một vết xe, những chiếc xe ngựa đưa khách vào những túp nhà lụp xụp ở khu Xitxép Vragiốc, trông thấy những người dân Mátxcơva già cả đang chậm rãi sống nốt quãng đời tàn không hề mong muốn gì, trông thấy những bà già, những cô tiểu thư của Mátxcơva, những cuộc khiêu vũ của Mátxcơva và cái câu lạc bộ Anh của Mátxcơva, chàng lập tức cảm thấy thư thái như đang ở nhà, như đã về đến bến cũ. Về đến Mátxcơva, chàng thấy êm thấm, ấm áp, quen thuộc như khi mặc một chiếc áo ngủ cũ kỹ đã hơi bẩn.


Toàn thể xã hội thượng lưu Mátxcơva, từ các cụ già cho chí trẻ em, đều đón tiếp Pie như một người khách mong đợi từ lâu, luôn luôn dành sẵn một chỗ ngồi chờ chàng. Đối với giới xã giao Mátxcơva, Pie là một con người gàn dở nhưng thật hiền hậu, dễ thương, thông minh, vui vẻ, một người quý phái lớp cũ của nước Nga, vô tâm và chân thành. Túi tiền của chàng bao giờ cũng rỗng tuếch, vì bao giờ cũng mở ra cho mọi người.


Những buổi diễn kịch quyên tiền, những bức tranh và những bức tượng tồi, những hội lạc thiện, những người Txưgan, những trường học, những bữa tiệc góp tiền, những buổi truy hoan, những hội viên Tam Điểm, những nhà thờ, những cuốn sách - chưa có ai và chưa có cái gì bị chàng từ chối, và giả sử không có hai ông bạn đã vay của chàng rất nhiều tiền và lĩnh lấy trách nhiệm làm giám hộ cho chàng, thì bao nhiêu tiền của chàng đã phân phát hết từ lâu. Ở các câu lạc bộ, không một bữa tiệc, một buổi dạ hội nào không có mặt chàng. Chàng vừa gieo mình xuống chiếc đi văng quen thuộc sau khi đã uống hai chai Mácgô, thì người ta đã quây quần quanh chàng và bắt đầu chuyện trò, tranh cãi, đùa cợt. Ở chỗ nào có đám gây gổ với nhau thì chỉ một nụ cười hiền hậu và một câu nói đùa đúng lúc của chàng cũng đủ hòa giải mọi chuyện xích mích. Những buổi sinh hoạt của chi hội Tam Điểm đều tẻ nhạt, chán ngắt nếu không có chàng.


Những khi sau bữa ăn khuya với bọn thanh niên độc thân, chàng đứng dậy với nụ cười hiền lành phúc hậu để chiều theo yêu cầu của lũ quỷ sứ và cùng lên xe đi với họ, thì trong đám thanh niên vang lên những tiếng reo mừng rỡ và đắc thắng. Ở các buổi vũ hội, chàng khiêu vũ khi nào thiếu khách nhảy nam giới. Các tiểu thư và các thiếu phụ mến chàng vì chàng không tán tỉnh ai, mà hòa nhã với tất cả mọi người, nhất là sau bữa ăn tối. "Anh ấy dễ thương thật, anh ấy chẳng phải nam mà cũng chẳng phải nữ"[1] - người ta thường nói về Pie như vậy.


Pie là một trong số hàng trăm ông thị thần về hưu ở Mátxcơva đang hiền lành sống nốt quãng đời còn lại.


Nếu bảy năm trước đây khi chàng mới ở nước ngoài về, có người bảo rằng chàng không phải tìm tòi suy nghĩ gì hết, rằng đường đi của chàng đã được vạch sẵn từ lâu, đã vĩnh viễn được định đoạt rồi và dù chàng có giãy giụa thế nào chăng nữa, chàng cũng sẽ chẳng khác gì những người cùng cảnh ngộ với chàng, thì chàng sẽ kinh hoảng đến nhường nào! Chàng sẽ không thể tin được! Chẳng phải chính chàng đã từng muốn khi thì lập nền cộng hòa ở Nga, khi thì tự mình làm ra Napôlêông, hoặc làm nhà triết học, làm nhà chiến thuật, làm người chiến thắng Napôlêông đó sao? Chẳng phải chính chàng đã thấy có thể thiết tha mong ước cải tạo loài người hư hỏng và tự bản thân đạt tới chỗ chí thiện đó sao? Chẳng phải chính chàng đã lập nên nào nhà trường, nào bệnh viện, và đã cho nông dân được tự do đó sao?


Ấy thế mà bây giờ đây chàng lại là một anh chồng giàu của một cô vợ không trung thành, một ông thị thần về hưu, thích ăn ngon uống say, và sau khi nới cúc áo ra, ngồi bình phẩm chính phủ dăm câu nhè nhẹ, một hội viên câu lạc bộ Anh ở Mátxcơva và là một thành viên của giới xã giao Mátxcơva được mọi người quý mến. Trong một thời gian khá lâu, chàng không sao quen được với ý nghĩ rằng mình chính là một viên thị thần Mátxcơva về hưu, một hạng người mà bảy năm trước đây chàng khinh bỉ thậm tệ.


Đôi khi chàng tự an ủi rằng đấy chẳng qua là mình sống tạm thời như thế thôi; nhưng sau đó chàng lại hoảng sợ nghĩ rằng đã có bao người khi bước vào câu lạc bộ và vào cuộc sống tạm thời ấy thì có đủ răng đủ tóc, mà khi đi ra khỏi thì không còn lấy một cái răng, một sợi tóc nào.


Trong những phút kiêu căng, khi chàng nghĩ đến địa vị của mình, chàng có cảm tưởng mình là một người khác hẳn, đứng riêng ra khỏi những hạng thị thần về hưu mà trước kia chàng khinh miệt; rằng những hạng người ấy vốn phàm tục và ngu ngốc, an phận thủ thường, "còn ta thì đến bây giờ cũng vẫn không hề thỏa mãn, muốn làm một cái gì cho nhân loại" - chàng tự nhủ như vậy. "Mà có lẽ tất cả những người cùng cảnh ngộ như ta cũng giãy giụa, cũng đang tìm một con đường sống mới như ta, và cũng như ta, họ chẳng qua vì sự thúc đẩy của hoàn cảnh, của xã hội, của dòng giống, vì cái sức mạnh tự nhiên mà con người không sao chống nổi ấy, nên mới bị dẫn dắt đến nông nỗi này" - chàng tự nhủ trong những phút khiêm tốn; và sau một thời gian, chàng đã không còn khinh miệt các bạn cùng cảnh ngộ nữa, mà lại bắt đầu yêu mến, kính trọng và thương xót họ cũng như bản thân mình.


Pie không còn những phút tuyệt vọng, u uất và chán đời như trước nữa; nhưng cũng vẫn cái bệnh ấy, trước đây biểu lộ ra thành những cơn ác liệt thì bây giờ bị dồn sâu trong xương tủy và không phút nào rời khỏi chàng. "Đi đến đâu? Để làm gì? Cái gì đang diễn ra trên thế gian?" - mỗi ngày chàng băn khoăn tự hỏi mấy lần như vậy, bất giác bắt đầu nghĩ sâu vào ý nghĩa của các hiện tượng trong cuộc sống nhưng vốn đã có kinh nghiệm rằng những vấn đề này không có cách gì giải đáp, chàng vội cố xua đuổi nó đi, vớ lấy quyển sách hay hấp tấp đi câu lạc bộ, hay đến nhà Apôlôn Nicôlaivích chuyện trò về các tin kháo vặt trong thành phố.


"Êlêna Vaxiliépna xưa nay chưa hề yêu thích cái gì ngoài thân thể của mình ra, và là một trong những người đàn bà ngu xuẩn nhất thế giới - Pie nghĩ - lại được người ta cho là tuyệt đỉnh của trí thông minh và sự tế nhị, và mọi người đều sùng bái nàng. Napôlêông Bônapáctơ bị mọi người khinh miệt khi ông ta hãy còn là một vĩ nhân, thế mà từ khi ông ta trở thành một tay kép hát thảm hại thì hoàng đế Phrantxơ cứ nằng nặc đòi gả con gái làm vợ lẽ cho ông ta. Người Tây Ban Nha thì nhờ giáo hội chuyển lên Thượng đế những lời cầu nguyện tỏ lòng biết ơn Người đã phù hộ cho họ thắng quân Pháp ngày mười bốn tháng Sáu, còn người Pháp thì lại nhờ chính cái giáo hội công giáo ấy chuyển lên Thượng đế những lời cầu nguyện tỏ lòng biết ơn Người đã phù hộ cho họ thắng quân Tây Ban Nha ngày mười bốn tháng Sáu. Các đạo huynh của ta trong hội Tam Điểm lấy máu thề rằng, họ sẵn sàng hy sinh tất cả cho đồng loại, nhưng khi quyên tiền giúp người nghèo thì họ lại không bỏ ra được một rúp họ âm mưu xúc xiểm phái Astrây chống lại phái những người Đi tìm Cam lồ và chỉ lo tìm cách kiếm cho được tấm thảm Tô Cách Lan chính hiệu và một bức hiến chương mà chính kẻ viết ra cũng không hiểu ý nghĩa, một văn kiện mà chẳng có ai cần đến. Tất cả chúng ta đều truyền bá đạo luật Cơ Đốc giáo về sự nhẫn nhục và bác ái, theo đạo luật ấy, chúng ta đã dựng lên bốn mươi lần bốn chục ngôi nhà thờ ở Mátxcơva, thế mà hôm qua người ta đem một người lính đào ngũ ra quất cho đến chết, và một ông linh mục, chính kẻ phụng sự đạo luật yêu thương và tha thứ đó, đã giơ cây thánh giá cho người lính kia hôn trước khi bị hành hình" - Pie suy nghĩ như vậy, và tất cả sự dối trá được mọi người thừa nhận ấy, dù chàng có quen với nó đến đâu chăng nữa, cũng vẫn khiến chàng kinh ngạc như một điều gì mới mẻ. "Ta hiểu sự dối trá và sự hỗn loạn này, - Pie nghĩ, - nhưng ta làm thế nào nói ra với họ tất cả những điều mà ta hiểu? Ta đã từng thử nói và bao giờ cũng thấy rằng trong thâm tâm họ cũng hiểu như ta, chỉ có điều là họ cố tình không trông thấy nó. Như vậy nghĩa là cần phải như thế mới được! Nhưng còn ta, ta biết trốn đi đâu?".


Pie có cái khả năng bất hạnh của một số người, nhất là những người Nga, là có thể thấy và tin rằng có thể có cái chí thiện, có chân lý, nhưng lại cũng nhìn thấy quá rõ cái ác và sự giả dối của cuộc sống, nên không thể tham dự một cách đến nơi đến chốn vào cuộc sống được. Dưới mắt chàng, bất cứ lĩnh vực hoạt động nào cũng đều gắn liền với cái ác và sự dối trá. Dù chàng có muốn thử làm việc gì thì cái ác và sự dối trá cũng đẩy chàng và chặn hết lối đi của chàng. Nhưng chàng vẫn phải sống, vẫn phải làm một công việc gì đó. Cứ ở dưới cái ách nặng của những vấn đề không thể giải quyết được này thì ghê sợ quá, cho nên chàng lao mình vào bất cứ thú vui gì, miễn sao quên được các vấn đề đó. Chàng giao du với đủ các hạng người, uống rượu rất nhiều, sưu tập tranh, xây nhà và nhất là đọc sách.


Chàng đọc tất cả những gì có thể vớ được, và hăm hở đến nỗi vừa đến nhà, khi gia nhân đang cởi áo ngoài cho chàng, chàng đã cầm lấy sách đọc - và từ đọc sách, chàng quay ra ngủ, từ ngủ quay ra nói chuyện phiếm trong các phòng khách ở câu lạc bộ, từ nói chuyện phiếm lại quay ra chè chén và chơi bời, từ chơi bời lại quay ra nói chuyện phiếm, đọc sách và uống rượu. Uống rượu đối với chàng ngày càng trở thành một nhu cầu của cơ thể và đồng thời cũng là của tinh thần. Mặc dầu thầy thuốc bảo chàng rằng người phì nộn như chàng mà uống rượu thì có thể nguy hiểm, nhưng chàng vẫn cứ uống rất nhiều. Chàng chỉ thấy thực sự khoan khoái khi nào đã dốc vào cái miệng rộng của chàng mấy cốc rượu, từ lúc nào chính chàng cũng không biết, và cảm thấy một luồng hơi ấm dễ chịu tràn vào người, một lòng yêu thương đối với mọi người thân thuộc và một thái độ tinh thần sẵn sàng phản ứng một cách hời hợt với bất cứ ý nghĩ nào nhưng không đi sâu vào thực chất của nó. Chỉ khi nào đã uống một hai chai rượu, chàng mới nhận thấy mơ hồ rằng, cái nút thắt rối ren, khủng khiếp của cuộc sống trước đây mà chàng đã ghê sợ, thật ra không đến nỗi khủng khiếp như chàng tưởng. Trong khi đầu váng, tai ù, nói chuyện, nghe chuyện hoặc đọc sách sau bữa ăn chiều hay bữa ăn tối, chàng luôn luôn thấy cái nút thắt dưới một khía cạnh này hay một khía cạnh khác. Nhưng chỉ khi nào đang say chàng mới tự nhủ: "Không sao đâu. Rồi ta sẽ gỡ ra - đây, ta đã có cách giải quyết rồi đây, nhưng bây giờ ta không có thì giờ, - sau này ta sẽ nghĩ kỹ tất cả những điều đó!". Nhưng cái sau này ấy chẳng bao giờ đến cả.


Buổi sáng, khi chưa ăn uống gì, tất cả những vấn đề trước đây lại hiện ra, khô khan và khủng khiếp như cũ, và Pie vội vàng vớ lấy một quyển sách và rất mừng khi có ai đến chơi.


Đôi khi Pie nhớ lại một câu chuyện mà chàng đã từng nghe, kể lại rằng trong chiến tranh, những người lính đang trú ẩn trong hầm dưới làn đạn của địch, khi không có gì làm thường cố tìm cho ra một công việc gì để chịu đựng giờ phút hiểm nghèo một cách dễ dàng hơn. Và Pie thấy hình như người ta đều là những người lính như vậy, đang tìm cách trốn tránh cuộc sống: người thì tìm hư danh, người thì tìm bài bạc, người thì viết luật, người thì chơi gái, người thì thích những trò vui, người thì chơi ngựa, người thì làm chính trị, người thì đi săn, người thì uống rượu, người thì làm việc quốc gia. "Không có cái gì là nhỏ nhặt, cũng chả có cái gì là quan trọng, cái gì cũng thế thôi, miễn sao tìm được cách thoát khỏi nó! - Pie nghĩ. - Miễn sao đừng phải thấy nó, đừng phải thấy cuộc sống khủng khiếp ấy".


II


Vào đầu mùa đông, công tước Nicôlai Anđrâyêvích Bôncônski cùng với con gái lên Mátxcơva. Vì quá khứ của ông, vì trí tuệ và tính tình khác người của ông, và nhất là vì bấy giờ lòng hâm mộ đối với triều đại của hoàng đế Alếchxanđơ đã suy sụp, và vì cái khuynh hướng ái quốc bài Pháp bây giờ đang chiếm ưu thế ở Mátxcơva, công tước Nicôlai Anđrâyêvích lập tức trở thành một nhân vật được dân Mátxcơva đặc biệt kính trọng và là trung tâm của phái chống đối chính phủ ở Mátxcơva.


Năm ấy công tước già đi nhiều lắm. Ông bắt đầu có những dấu hiệu rõ rệt của tuổi già: có khi ông đột nhiên buồn ngủ, ông thường quên những sự việc vừa mới xảy ra nhưng lại nhớ rất kỹ những sự việc đã xảy ra từ lâu, và ông có một lối hiếu danh như trẻ con khi nhận đứng đầu phái đối lập ở Mátxcơva. Tuy vậy những khi lão công tước ra dùng trà, nhất là vào những buổi tối, mình mặc áo khoác lông, đầu đội bộ tóc giả rắc phấn, những khi ấy, nếu có ai gợi cho công tước kể lại những câu chuyện rời rạc đứt quãng về thời xưa và đưa ra những lời phê phán gay gắt và rời rạc hơn nữa về thời nay, thì ông vẫn tạo nên trong lòng tất cả các tân khách một cảm giác nể vì và sùng kính. Tòa nhà cổ kính này, với những tấm gương lớn, những bộ bàn ghế kiểu tiền cách mạng, những người nô bộc mang tóc giả rắc phấn, và bản thân ông già, người của thế kỷ trước, trực tính và thông minh, với cô con gái dịu hiền và cô thiếu nữ người Pháp xinh đẹp, cả hai đều một lòng tôn kính ông ta, tất cả những cái đó bày ra một quang cảnh uy nghiêm và thú vị đối với những tân khách đến thăm. Nhưng tân khách không hề nghĩ rằng ngoài hai tiếng đồng hồ các chủ nhân tiếp họ mỗi ngày, còn có hai mươi hai tiếng nữa, và đó là lúc cuộc sống âm thầm và bí mật của ngôi nhà diễn ra.


Thời gian gần đây ở Mátxcơva, cuộc sống âm thầm này đã trở nên rất nặng nề đối với công tước tiểu thư Maria. Ở Mátxcơva nàng đã phải chịu thiếu những niềm vui quý nhất của nàng - những cuộc trò chuyện với những con người của Chúa, và cảnh cô tịch vẫn làm tươi mát tâm hồn nàng khi còn ở Lưxy Gôrư - còn những thú vui của cuộc sống ở kinh đô thì nàng không hề được hưởng. Nàng không đi lại những nơi xã giao: mọi người đều biết rằng cha nàng không bao giờ chịu để cho nàng đi một mình, còn bản thân ông thì yếu, không thể đi đâu được, nên chẳng ai mời nàng dự tiệc hay dạ hội gì hết. Công tước tiểu thư Maria không còn hy vọng gì đến việc hôn nhân nữa. Nàng thấy rõ vẻ lạnh lùng và hằn học của lão công tước Nicôlai Anđrâyêvích khi ông tiếp và tìm cách xua đuổi những chàng thanh niên có thể cầu hôn nàng vẫn thỉnh thoảng lui tới nhà họ. Công tước tiểu thư Maria không có bạn bè; lần này đến Mátxcơva nàng đã thất vọng về hai người thân thiết nhất đối với nàng: Nếu trước đây nàng đã không thể hoàn toàn cởi mở đối với cô Buariên thì bây giờ nàng lại thấy khó chịu đối với cô ta, và vì một vài lý do nào đấy, nàng bắt đầu xa lánh cô ta, Giuyly, bấy giờ đang ở Mátxcơva, người mà đã năm năm nay tiểu thư Maria vẫn thư từ đi lại, thì nay gặp mặt cô ta, nàng lại thấy hoàn toàn xa lạ. Vì hai người anh của Giuyly mới chết, nên cô ta trở thành một trong những cô gái chưa chồng giàu nhất ở Mátxcơva và hiện đang say sưa tận hưởng những thú vui ở chốn xã giao. Các chàng thanh niên cứ xúm xít quanh Giuyly, và nàng nghĩ rằng nay họ đã thấy được giá trị của nàng. Giuyly đang ở vào thời kỳ bắt đầu luống tuổi của một cô gái quý tộc, nàng cảm thấy rằng cơ hội cuối cùng để lấy chồng đã đến và nếu không phải là bây giờ thì không còn lúc nào số phận của mình lại có thể được định đoạt nữa. Cứ đến thứ năm, công tước tiểu thư Maria lại buồn rầu mỉm cười nhớ ra rằng, bây giờ nàng không còn biết viết thư cho ai nữa, vì Giuyly, người mà mỗi khi đến thăm nàng không đem lại cho nàng được chút thú vui nào hết, Giuyly hiện ở đây và tuần nào cũng gặp nàng. Giống như ông già quý tộc lưu vong nọ đã từ chối không chịu lấy bà mệnh phụ mà mấy năm nay không tối nào ông không đến chơi nhà, công tước tiểu thư Maria cũng lấy làm tiếc rằng Giuyly bây giờ đã ở gần nàng và nàng không còn có ai để viết thư nữa. Ở Mátxcơva, nàng không có ai để trò chuyện, không có ai để thổ lộ những nỗi buồn phiền, mà gần đây thì những nỗi buồn phiền của nàng lại tăng thêm nhiều lắm.


Thời hạn công tước Anđrây trở về và kết hôn đã sắp đến, và cái công việc mà công tước Anđrây nhờ nàng là tìm cách làm cho cha nguôi giận, thì không những nàng không làm được, mà cơ sự lại còn có vẻ như đã hoàn toàn hỏng bét. Cứ mỗi lần nghe nhắc đến bá tước tiểu thư Rôstôva là lão công tước lại nổi khùng lên; vả chăng thường ngày không có việc gì thì công tước cũng đã cáu bẳn lắm rồi. Gần đây công tước tiểu thư Maria lại thêm một nỗi buồn mới nữa, là những buổi nàng dạy cho đứa cháu trai lên sáu học. Trong khi tiếp xúc với Nicôluska, nàng sợ hãi nhận thấy mình cũng có cái tính dễ cáu bẳn như cha. Đã bao lần nàng tự nhủ là không được để cho mình nổi nóng trong khi dạy cháu, ấy thế mà mỗi lần ngồi xuống dạy nó học vần chữ Pháp, nàng lại cứ muốn làm sao rót được thật nhanh tất cả những điều mình biết vào đầu đứa trẻ vốn đã sợ cô mình sắp nổi giận đến nơi, cho nên hễ Nicôluska lơ đễnh một tí là nàng đã run lên, hấp tấp, nổi nóng, to tiếng, đôi khi lại kéo tay nó bắt nó đứng vào góc tường. Sau khi bắt cháu đứng vào góc tường, nàng bắt đầu khóc vì thấy bản chất của mình sao mà độc ác, xấu xa như vậy; và Nicôluska cũng khóc theo, không đợi xin phép, đã rời góc tường lại gần nàng, kéo hai bàn tay ướt đầm nước mắt của nàng ra khỏi mặt nàng và an ủi nàng. Nhưng đưa lại cho nàng nhiều nỗi khổ tâm hơn cả là tính cáu bẳn của cha nàng luôn luôn trút lên đầu nàng và gần đây đã đi đến chỗ tàn nhẫn. Giả sử cha nàng bắt nàng lạy lục suốt đêm trước các tượng thánh, giả sử ông đánh đập nàng, bắt nàng vác củi và xách nước, thì nàng sẽ không hề thoáng có ý nghĩ rằng mình khổ; đằng này cha nàng lại rất thương yêu nàng và như thế lại càng tàn nhẫn hơn; vì thương yêu nàng, lão công tước vừa làm khổ con vừa làm khổ mình, và không những ông biết cách làm cho nàng tủi nhục, mà còn biết cách chứng minh cho nàng thấy rằng bao giờ trong việc gì nàng cũng có lỗi. Thời gian gần đây lão công tước có thêm một nét mới làm cho công tước tiểu thư Maria khổ tâm hơn cả: Ông càng ngày càng thêm thân mật với cô Buariên. Cái ý nghĩ bông đùa chợt nảy ra trong óc lão công tước khi biết ý định của con trai, là nếu Anđrây cưới vợ thì bản thân ông cũng sẽ lấy cô Buariên, ý nghĩ ấy hình như làm cho ông thích thú, và gần đây (như nữ công tước tiểu thư Maria nhận thấy) chỉ vì muốn làm khổ nàng, công tước một mực cố tình tỏ ra tử tế đặc biệt với cô Buariên và dùng việc tỏ cảm tình với cô ta để biểu lộ nỗi bất bình của mình đối với con gái.


Có một lần ở Mátxcơva, trước mặt công tước tiểu thư Maria (nàng có cảm tưởng cha nàng cố ý làm như vậy trước mặt nàng), lão công tước hôn tay cô Buariên và ôm cô ta vào lòng mà vuốt ve.


Nữ công tước Maria đỏ bừng mặt chạy ra khỏi phòng. Mấy phút sau, cô Buariên vào phòng nàng, mỉm cười vui vẻ cất giọng nói dễ ưa của cô ta kể cho nàng nghe một chuyện gì đấy. Công tước tiểu thư Maria hối hả lau nước mắt, quả quyết bước lại gần cô ta và hình như cũng không biết mình làm gì, nàng bắt đầu thất thanh quát mắng cô thiếu nữ người Pháp, giọng hấp tấp và giận dữ:


- Thật là xấu xa, đê hèn, vô nhân đạo! Lợi dụng sự yếu đuối của... - Nàng không nói hết câu. - Cô ra khỏi phòng tôi ngay! - Nàng quát và òa lên khóc nức nở.


Ngày hôm sau, công tước không nói với con gái lấy một câu; nhưng nàng nhận thấy đến bữa ăn trưa, ông ra lệnh cho người hầu bàn đưa thức ăn bắt đầu từ cô Buariên. Đến cuối bữa ăn, khi người hầu bàn theo thói quen dọn cà phê cho công tước tiểu thư trước, lão công tước bỗng nổi khùng lên, ném chiếc gậy vào người Philíp và lập tức ra lệnh cho đăng anh ta vào lính.


- Không nghe à... Ta đã bảo hai lần rồi!... mà không nghe hả! Cô ấy là người đáng quý nhất trong nhà này; cô ấy là người bạn tốt nhất của ta. - Lão công tước quát, rồi quay sang tiểu thư Maria (lần này là lần đầu tiên ông nói với con), lão công tước giận dữ quát: - Và nếu mày còn dám như hôm qua... thất lễ với cô ấy một lần nữa, thì tao sẽ cho mày biết ai là người làm chủ trong nhà này. Cút ngay cho khuất mắt tao! Phải xin lỗi cô ấy ngay!


Công tước tiểu thư Maria xin lỗi Amalia Yépghênhiépna[2] và xin cha tha lỗi cho nàng và cho anh hầu bàn Philíp, vì anh ta có đến xin nàng nói hộ.


Vào những phút như thế, trong lòng tiểu thư Maria dậy lên một cảm xúc giống như niềm tự hào của kẻ hy sinh. Và cũng chính vào những phút như thế, cha nàng, người cha mà nàng oán trách, người cha ấy bỗng loay hoay tìm cặp kính, sờ soạng quanh mình mãi chẳng thấy, hoặc quên khuấy một việc vừa mới xảy ra, hoặc đôi chân yếu ớt của ông bước hụt một cái, rồi ông liếc mắt nhìn quanh xem có ai trông thấy không, hoặc tệ hơn cả là đang ăn bữa ăn chiều, những khi không có khách khứa làm cho ông tỉnh táo, lão công tước bỗng buông khăn ăn và gục xuống ngủ, mái đầu rung rung cúi sát đĩa ăn. "Cha già yếu thế, mà ta dám oán trách Người!". - Nàng nghĩ thầm, và những phút ấy nàng thấy ghê tởm mình lạ.



(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, 3 tập. Bộ mi, NXB Văn hc, 1-2007. Triu Xuân biên tp. In theo ln xut bn đu tiên tại Vit Nam năm 1961 và 1962 ca Nhà xut bn Văn hóa, tin thân ca NXBn hc. Nhng người dch: Cao Xuân Ho, Nh Thành, Trường Xuyên (tc Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


www.trieuxuan.info


 



 



 

 




 



 




 









[1] “Il est charmant, il n’a pas de sexe”.




[2] Tên cô Buariên gi theo li Nga. (tc cô Amêli, con gái ông Ơgen Buariên)



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.Phần Thứ Mười một
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.Phần Thứ tám
82.
83.
84.Phần Thứ sáu
85.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 02.12.2019
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 01.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 01.12.2019
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 01.12.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 29.11.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 29.11.2019
xem thêm »