tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28951995
Tiểu thuyết
25.12.2008
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

thì tôi thấy đó là điều không thể chối cãi được. Có những quyền hạn và đặc quyền của giới quý tộc theo tôi là những phương tiện để củng cố danh dự14.


Nụ cười vụt tắt trên khuôn mặt Xpêranski và điều đó tôn diện mạo của ông ta lên rất nhiều. Có lẽ ông ta thấy ý nghĩ của công tước Anđrây rất đáng quan tâm.


- Nếu ông nhìn vấn đề theo quan điểm ấy15... - Xpêranski mở đầu; ông ta nói tiếng Pháp một cách khó khăn rõ rệt và nói còn chậm hơn khi nói tiếng Nga, nhưng giọng nói vẫn hoàn toàn điềm tĩnh. Xpêranski nói rằng danh dự  không thể củng cố bằng những ưu thế có hại cho quá trình phục vụ nhà nước, rằng danh dự, có thể hoặc là một khái niệm tiêu cực răn người ta đừng làm những chuyện đáng trách, hoặc là một cội nguồn nhất định thúc đẩy người ta đua nhau giành những phần thưởng khích lệ vốn dùng để biểu hiện danh dự.


 Lý luận của ông ta ngắn gọn, đơn giản và rành mạch:


- Cái thiết chế dùng để củng cố danh dự ấy, cái cội nguồn của sự ganh đua, là một thể chế giống như Légion d’honneur (Đoàn danh dự) của đại đế Napôlêông, nó không có hại mà còn thuận lợi cho việc nước, chứ không phải là một đặc quyền của đẳng cấp nào hay của triều đình.


Công tước Anđrây nói:


- Tôi không cãi điều đó, nhưng không thể phủ nhận rằng những đặc quyền của triều đình cũng đã đạt đến mục đích ấy: mỗi triều thần đều thấy mình phải xứng đáng với địa vị của mình.


- Nhưng bản thân công tước cũng đã từng không muốn hưởng đặc quyền đó. - Xpêranski nói và mỉm cười tỏ ra rằng mình muốn dùng một lời nhã nhặn để chấm dứt câu chuyện đang làm cho công tước Anđrây lúng túng. - Nếu ngài vui lòng cho tôi được cái hân hạnh tiếp ngài hôm thứ tư tới thì sau khi nói chuyện với Mácrítski, tôi sẽ báo cho ngài rõ về việc ngài đang lưu ý, và ngoài ra tôi sẽ được hưởng cái thú được nói chuyện kỹ với ngài. - Xpêranski nhắm mắt lại, cúi mình chào và, theo lối Pháp16, không từ giã các tân khách, cố gắng không làm cho ai chú ý đến mình, lặng lẽ ra khỏi phòng.


VI


Trong thời gian đầu ở Pêtécbua, công tước Anđrây đều cảm thấy tất cả những ý tưởng chàng đã hun đúc nên trong thời gian sống cô độc đã hoàn toàn bị lu mờ đi trước những mối lo âu vụn vặt của cuộc sống ở kinh đô.


Tối tối khi trở về nhà, chàng ghi vào sổ tay bốn năm cuộc gặp gỡ17 hay thăm viếng cần thiết đúng vào giờ này giờ nọ. Phải theo cho đúng nhịp sống, phải bố trí thời gian thế nào cho kịp đi đây đi đó đúng giờ đã định: việc ấy đã chiếm một phần lớn sinh lực của chàng. Chàng không làm gì cả, thậm chí cũng chẳng nghĩ gì cả, chàng không có thì giờ để nghĩ, mà chỉ nói, và chàng đã nói có kết quả tốt những điều mà chàng đã suy nghĩ khi còn ở thôn quê.


Thỉnh thoảng chàng lại khó chịu nhận thấy rằng, cùng trong một ngày, chàng đã nói đi nói lại y nguyên một câu ở hai ba nơi khác nhau. Nhưng suốt ngày chàng bận rộn đến nỗi không có thì giờ nghĩ đến cái việc là mình chẳng nghĩ gì cả.


Xpêranski, hôm gặp chàng lần đầu ở nhà Cốtsubây, cũng như hôm thứ tư sau tiếp riêng chàng ở nhà và nói chuyện lâu với chàng một cách tin cậy, đã gây cho công tước Anđrây một ấn tượng mạnh mẽ.


Công tước Anđrây vốn đã xem quá nhiều người là những kẻ vô tài bất lực đáng khinh, nên chàng muốn tìm một con người xứng đáng là hiện thân của cái lý tưởng hoàn hảo mà chàng vươn tới, vì vậy chàng dễ dàng tin rằng Xpêranski chính là cái lý tưởng của một con người thông tuệ và có đạo đức. Giả sử Xpêranski cũng xuất thân từ cái xã hội của công tước Anđrây, cũng cùng chịu một lối giáo dục và cũng có những tập quán đạo đức như chàng, thì Bôncônski sẽ chóng tìm thấy ở ông ta những khía cạnh yếu đuối, thường tình, không có gì siêu việt. Nhưng bấy giờ thì cái trí tuệ lô gích kia, rất xa lạ đối với chàng, lại càng khiến chàng thêm kính nể. Hơn nữa, hoặc vì quý trọng năng lực của công tước Anđrây, hoặc cần thấy phải lôi kéo chàng theo mình, Xpêranski đã đem cái lý trí vô tư và bình thản của mình ra phô trương trước mặt công tước Anđrây, và đem dùng cái lối nịnh hót tinh vi để đồng thời kết hợp với thái độ tự tin tự hào là mặc nhiên khẳng định rằng người tiếp chuyện mình cùng với mình nữa là hai người duy nhất có năng lực thấy hết được sự ngu ngốc của tất cả những người khác, cũng như sự sáng suốt và sâu sắc trong những ý nghĩ của mình.


Tối hôm thứ tư, trong buổi hội kiến với công tước Anđrây, Xpêranski đã mấy lần nói: "Còn như chúng ta thì chúng ta chú ý đến tất cả những cái gì vượt ra khỏi khuôn khổ của những tập quán đã ăn sâu", hay vừa mỉm cười vừa nói: "Nhưng chúng ta thì lại muốn rằng sói cũng no mà cừu cũng nguyên vẹn", hay: "Họ không hiểu được điều đó đâu..." - và tất cả những điều đó, Xpêranski đều nói với cái vẻ như muốn ngụ ý: "Ông với tôi, chỉ có hai người chúng ta, hiểu được họ là những người như thế nào và chúng ta là những người như thế nào".


Lần nói chuyện lâu đầu tiên với Xpêranski hôm ấy chỉ làm cho công tước Anđrây càng củng cố thêm cái cảm giác mà chàng đã thể nghiệm khi trông thấy Xpêranski lần đầu. Chàng thấy ông ta là một người có trí tuệ phi thường, lý luận sắc bén, biết tư duy chặt chẽ, đã nhờ nghị lực và kiên nhẫn mà đạt đến quyền bính và chỉ vận dụng quyền bính để phụng sự nước Nga. Dưới mắt công tước Anđrây, Xpêranski chính là con người biết giải thích một cách khôn ngoan mọi sự việc trong cuộc sống, chỉ có cái gì hợp lý mới thừa nhận là hiện thực, và trong mọi việc đều biết dùng lý trí làm thước đo: chính chàng vốn ước ao được làm một con người như thế. Khi Xpêranski trình bày sự việc, tất cả đều có vẻ đơn giản và minh bạch đến nỗi công tước Anđrây việc gì cũng bất giác đồng tình với ông ta. Chàng có phản bác và tranh cãi chăng nữa cũng là vì cố ý muốn giữ độc lập tư tưởng và cố sao đừng khuất phục hẳn trước những ý kiến của Xpêranski. Mọi việc đều ổn thỏa như thế cả, nhưng chỉ có một điều khiến công tước Anđrây bối rối: đó là cái nhìn lạnh lùng, lãnh đạm của Xpêranski, cái nhìn thiếu cởi mở không cho người ta đi vào tâm hồn mình, và bàn tay trắng, mềm của ông ta mà công tước Anđrây thường bất giác đưa mắt nhìn, như người ta vẫn thường nhìn tay những người có quyền lực. Cái nhìn lãnh đạm và bàn tay mềm nhũn ấy không biết tại sao cứ làm cho công tước Anđrây bứt rứt khó chịu. Còn một điều nữa khiến chàng khó chịu, là chàng nhận thấy Xpêranski khinh người quá sức, và trong khi đưa luận chứng ra để xác minh cho ý kiến của mình, ông ta sử dụng quá nhiều thủ đoạn khác nhau. Xpêranski dùng tất cả mọi phương pháp suy luận, trừ lối so sánh ra, và công tước Anđrây có cảm tưởng là ông ta chuyển từ phương pháp này sang phương pháp khác một cách quá táo bạo. Khi thì ông ta đứng trên lập trường của một người hành động thực tiễn mà công kích những người mơ ước viển vông, khi thì ông ta lại đứng trên quan điểm châm biếm mà mỉa mai giễu cợt những người đối lập với mình, khi thì ông ta lý luận một cách chặt chẽ, khi thì lại đột nhiên bay bổng lên lĩnh vực siêu hình (đó là phương tiện chứng minh mà ông đặc biệt hay dùng). Ông ta chuyển vấn đề lên những đỉnh cao chót vót của siêu hình học, quay ra định nghĩa không gian, thời gian, tư tưởng, và rút ra những điều phản bác, rồi lại bước xuống địa bàn tranh luận như cũ.


Nói chung, nét chủ yếu trong trí tuệ của Xpêranski khiến công tước Anđrây kinh ngạc là lòng tin chắc chắn không gì lay chuyển nổi vào sức mạnh và quyền hạn của lý trí. Có thể thấy rõ rằng không bao giờ Xpêranski thoáng có cái ý nghĩ mà công tước Anđrây vẫn thường có là dù sao cũng không thể diễn đạt được tất cả những điều mình nghĩ, và không bao giờ Xpêranski có ý nghi ngờ tự hỏi xem phải chăng tất cả những gì mà nghĩ và tất cả những gì ma mình tin tưởng có thể chỉ là những điều nhảm nhí không đâu? Và chính cái phong thái trí tuệ đặc biệt này của Xpêranski đã hấp dẫn công tước Anđrây nhiều nhất.


Trong khoảng thời gian đầu làm quen với Xpêranski, công tước Anđrây thấy khâm phục ông ta một cách nhiệt thành say sưa, giống như cảm giác khâm phục trước đây của chàng đối với Bônapáctơ. Xpêranski là con một vị linh mục: những người ngu ngốc có thể vì thế mà khinh miệt ông ta - họ vẫn thường khinh miệt những người thầy tu và con thầy tu như vậy - và điều này khiến công tước Anđrây càng thêm trân trọng cái cảm giác khâm phục của mình đối với Xpêranski và vô hình trung tăng cường thêm cái cảm giác đó trong lòng chàng.


Trong buổi tối đầu tiên mà công tước Anđrây ngồi tiếp chuyện Xpêranski, trong khi nói về ủy ban soạn luật, Xpêranski đã mỉa mai kể lại cho công tước Anđrây nghe rằng, ủy ban soạn luật này tồn tại đã năm mươi năm nay, tốn của công quỹ hàng triệu bạc nhưng chẳng làm gì cả, rằng Rôdencăm đã dán nhãn hiệu lên tất cả các điều khoản của khoa lập pháp tỷ giảo. Xpêranski nói:


- Nhà nước trả cho họ hàng triệu bạc chỉ để họ làm công việc ấy thôi đấy. Chúng ta muốn cấp cho nguyên lão viện một quyền tư pháp mới, nhưng chúng ta không có luật. Cho nên ngày nay, những người như công tước mà không ra cáng đáng việc nước thì thật là không phải.


Công tước Anđrây nói rằng muốn thế phải qua một quá trình đào tạo về tư pháp, mà chàng thì không được đào tạo như vậy.


- Nhưng có ai được đào tạo gì về tư pháp đâu, cho nên còn biết làm thế nào được? Đó là một cái circulus viciosus18 mà chúng ta phải cố sức thoát khỏi.


Một tuần sau, công tước Anđrây được cử làm ủy viên trong ủy ban soạn thảo quy chế quân đội, và ngoài ra - một điều mà chàng không thể nào ngờ được - còn làm trưởng ban soạn luật trong ủy ban nữa. Theo lời yêu cầu của Xpêranski, chàng nhận trách nhiệm nghiên cứu phần đầu của bộ luật hộ và tham khảo Bộ luật Napôlêông19 và Bộ luật Justiniani để soạn ra chương "Nhân quyền".


VII


Hai năm trước đây, năm 1808, trở về Pêtécbua sau khi đi thăm các điền trang, Pie đã vô hình trung trở thành người đứng đầu hội Tam Điểm ở Pêtécbua. Chàng tổ chức những hội quán tụ xan20, kết nạp những hội viên mới, lo việc hợp nhất các chi hội với nhau và sưu tầm những hiến chương nguyên bản cho nó. Chàng xuất tiền ra xây dựng các đền thờ của hội và bù vào số tiền quyên cho hội, vì các hội viên phần nhiều đều rất bủn xỉn và nộp tiền chẳng mấy khi đúng hạn. Hầu như chỉ có một mình chàng bỏ tiền ra cung cấp cho nhà tế bần do hội lập ra ở Pêtécbua.


Trong khi đó, cuộc sống của chàng vẫn như cũ, chàng vẫn giữ nếp sinh hoạt say sưa và phóng túng ngày trước. Chàng thích ăn ngon, uống rượu, và tuy cho rằng như vậy là vô luân và nhục nhã, chàng vẫn không tránh khỏi những cuộc truy hoan của những nhóm thanh niên chưa vợ mà chàng thường lui tới.


Song trong khi say mê với công việc và những cuộc vui chơi, sau một năm, Pie đã bắt đầu cảm thấy rằng cái mảnh đất Tam Điểm trên đó chàng càng cố đứng vững bao nhiêu thì lại càng sụt xuống bấy nhiêu. Đồng thời chàng cảm thấy rằng, nó càng sụt xuống bao nhiêu thì vô hình trung chàng lại càng gắn bó với nó bấy nhiêu. Khi Pie vào hội Tam Điểm, chàng cảm thấy mình như một người yên chí đặt chân lên bề mặt phẳng của một khoảng đồng lầy. Đặt được một chân xuống thì thấy lún. Muốn biết cho thật chắc khoảnh đất mình đứng có vững hay không, người đó đặt chân kia xuống và lại càng lún sâu hơn, và thế là vô hình trung người đó lội trong vũng lầy, bùn ngập đến đầu gối.


Iôxíp Alếchxâyêvích bấy giờ không ở Pêtécbua (gần đây ông ta không tham dự vào công việc của các hội ở Pêtécbua nữa và ở hẳn Mátxcơva, không đi đâu cả). Tất cả các "anh em" hội viên trong chi hội đều là những người mà Pie quen biết trong sinh hoạt thường ngày, và chàng thấy khó lòng mà quan niệm được rằng họ chỉ là những người anh em trong hội Tam Điểm, chứ không phải là công tước B. hay Ivan Vaxiliêvích D., là những người mà trong sinh hoạt thường ngày chàng biết là rất kém cỏi và nhu nhược. Dưới những tấm vải che ngực và những dấu hiệu của hội, chàng hình dung thấy họ mặc phẩm phục và đeo những chiếc huân chương mà họ đã kiếm chác được trong cuộc sống thường ngày. Nhiều khi đi thu tiền quyên về, chàng tính được cả thảy hai ba mươi rúp về khoản thu ghi trong sổ quyên, phần lớn là ghi chịu, ấy thế mà một nửa số hội viên đó lại giàu có chẳng kém gì chàng. Những lúc ấy, Pie nhớ lại lời thề của hội Tam Điểm: mỗi người anh em trong hội đều thề sẽ hiến tất của cải của mình cho đồng loại; và trong thâm tâm chàng nổi lên những mối ngờ vực mà chàng cố gạt đi.


Chàng chia tất cả anh em hội viên mà chàng biết ra làm bốn loại. Loại thứ nhất là những người không tham gia các hoạt động của chi hội, cũng không tham gia vào các công việc thế tục, mà chỉ chuyên tâm nghiên cứu những điều bí ẩn của khoa học Tam Điểm, chuyên chú các vấn đề như ba cách gọi Thượng đế, hay ba nguyên lý của sự vật: diêm sinh, thủy ngân và muối, hay ý nghĩa của hình vuông và của các hình tượng trong đền Xalômôn21. Pie kính trọng loại hội viên này, phần lớn gồm các hội viên cũ trong đó có cả Iôxíp Alếchxâyêvích, nhưng chàng không quan tâm đến những điều họ nghiên cứu. Lòng chàng vốn không thiên về mặt thần bí của hội Tam Điểm.


Pie liệt bản thân chàng và những anh em hội viên giống như chàng vào loại thứ hai, là những người đang tìm kiếm, đang do dư, chưa tìm thấy trong hội Tam Điểm một con đường thẳng thớm và sáng sủa, nhưng hy vọng là sẽ tìm thấy.


Trong loại thứ ba, chàng xếp những hội viên (họ chiếm số đông nhất) chỉ thấy hình thức bề ngoài của hội Tam Điểm, không biết gì ngoài những lễ nghi của hội, và trân trọng làm theo cho thật đúng cái hình thức bề ngoài đó, không hề nghĩ đến nội dung và ý nghĩa của nó. Vilácski và ngay cả vị đại sư của tổng hội chính là thuộc loại này.


Cuối cùng, loại thứ tư cũng gồm một số đông hội viên, đặc biệt là những người mới gia nhập gần đây, theo sự quan sát của Pie thì đó là những người chẳng tin tưởng gì hết, chẳng ước mong gì hết, họ vào hội Tam Điểm chẳng qua chỉ là để tìm cách gần gũi những hội viên trẻ, giàu có và có thế lực nhờ các quan hệ giao thiệp và dòng dõi quyền quý của họ, vì trong chi hội, số hội viên này rất đông.


 Pie bắt đầu cảm thấy không thỏa mãn với hoạt động của mình. Nhiều khi chàng có cảm tưởng hội Tam Điểm, ít nhất là cái hội Tam Điểm mà chàng được biết ở đây chỉ có hình thức bề ngoài. Chàng không có ý hoài nghi bản thân hội Tam Điểm, nhưng chàng ngờ rằng hội Tam Điểm Nga đi theo một con đường lầm lạc và đã tách ra khỏi cội nguồn của nó. Vì vậy đến cuối năm, Pie ra nước ngoài để học hỏi những điều bí mật cao đẳng của hội.


 Mùa hè năm 1809, Pie đã trở về Pêtécbua. Qua những thư từ đi lại giữa các hội viên Tam Điểm ở nước ta với các hội viên ở nước ngoài, người ta biết rằng trong thời gian ra ngoại quốc, Pie đã chiếm được lòng tin cậy của nhiều nhân vật cao cấp trong hội, đã hiểu thấu được nhiều điều bí ẩn, được thăng lên trật cao nhất và có đem về nước nhiều điều có lợi cho sự nghiệp của hội Tam Điểm Nga. Các hội viên ở Pêtécbua không ngớt đến tìm gặp Pie, họ đều tìm cách lấy lòng chàng và ai cũng có cảm giác là chàng đang có điều gì che giấu và đang sửa soạn một việc gì không rõ.


 Hôm ấy là phiên họp trọng thể của chi hội đệ nhị cấp. Pie có hứa là trong phiên họp này sẽ truyền đạt lại những điều mà các vị lãnh đạo cao cấp của hội đã giao phó cho chàng chuyển về các anh em hội viên ở Pêtécbua. Cử tọa đã đông đủ. Sau các nghi thức thường lệ, Pie đứng dậy và bắt đầu nói.


 - Thưa các đạo huynh thân mến, - Pie nói lắp bắp, mặt đỏ ửng lên, tay cầm bài diễn từ viết sẵn, - gìn giữ những bí mật của chúng ta trong cảnh im lặng của hội sở chưa đủ, cần phải hành động... hành động. Chúng ta đang ở trong trạng thái mê ngủ, thế mà nhiệm vụ của chúng ta là phải hành động. - Nói đến đây, Pie cầm quyển vở lên và bắt đầu đọc:


"Để truyền bá chân lý thuần túy và góp phần làm cho đạo đức toàn thắng, ta phải làm sao cho con người thoát khỏi các thành kiến, truyền bá những quy tắc phù hợp với tinh thần thời đại, lãnh lấy trách nhiệm giáo dục thanh niên, liên hệ chặt chẽ với những người thông tuệ nhất, mạnh dạn và đồng thời khôn khéo khắc phục tình trạng mê tín, hoài nghi và ngu dốt, đào tạo những người tận tụy với chúng ta thành những con người gắn bó với nhau vì mục đích duy nhất và có quyền lực, có sức mạnh.


Để đạt đến mục đích nói trên, phải làm sao cho đạo đức thắng thói xấu, phải cố làm sao cho người tốt được nhận trên thế gian này một phần thưởng vĩnh cửu về đạo đức của mình. Nhưng các chế độ chính trị hiện hành cản trở rất nhiều cho việc thực hiện những ý định lớn lao này. Trong tình hình như vậy phải làm gì? Có nên giúp sức cho cách mạng, lật đổ tất cả, dùng bạo lực để tiêu diệt bạo lực không?... Không, việc đó rất xa lạ đối với chúng ta. Bất cứ một cuộc cải biến nào thực hiện bằng bạo lực cũng đều đáng chê trách bởi vì cái ác sẽ không được sửa chữa chút nào một khi mà con người vẫn như cũ, và bởi vì sự thông tuệ không cần đến bạo lực.


Toàn bộ chương trình của hội phải hướng đến chỗ làm sao đào tạo ra những con người cứng rắn, có đạo đức và gắn bó khăng khít với nhau vì một lòng tin duy nhất, một chí hướng duy nhất, đó là làm sao ở khắp mọi nơi và bằng đủ mọi cách truy nã thói xấu và sự ngu dốt, nâng đỡ tài năng và đạo đức đưa những người xứng đáng ra khỏi tro bụi, kết nạp họ vào khối huynh đệ của chúng ta. Chỉ có như vậy thì hội ta mới có đủ quyền lực, dần dà trói tay những kẻ che chở cho sự rối loạn và chi phối họ mà họ không hề hay biết. Nói tóm lại, cần phải thiết lập một hình thức quản trị chỉ huy toàn thế giới, nhưng vẫn không phá vỡ các mối liên hệ công dân, và trong khi đó, tất cả các hình thức cai trị khác đều có thể tiếp tục tồn tại và tiến hành như cũ, và có thể làm đủ mọi việc, trừ những điều ngăn trở mục đích cao cả của hội ta, là làm sao cho đạo đức thắng thói xấu. Mục đích này chính Cơ Đốc giáo cũng đã đặt ra. Cơ Đốc giáo dạy rằng, con người phải thông tuệ và nhân hậu, và để mưu đồ lợi ích cho chính bản thân mình thì phải noi gương và theo lời dạy bảo của những người thông tuệ và đạo đức nhất.


 Trong khi mọi vật đang chìm đắm trong cõi tối tăm thì cố nhiên chỉ cần một lời truyền giáo là đủ sự mới mẻ của chân lý khiến cho nó có một sức mạnh đặc biệt; nhưng ngày nay thì ta lại cần có những phương tiện mạnh hơn thế rất nhiều. Ngày nay cần phải làm sao cho con người là kẻ đi theo tình cảm của mình, tìm thấy trong đạo đức những khoái lạc cảm quan. Không thể tiêu diệt dục vọng được, mà phải cố gắng hướng dục vọng đến một mục đích cao cả; cho nên cần làm sao cho mỗi người đều có thể thỏa mãn dục vọng của mình trong khuôn khổ của đạo đức, và hội của chúng ta phải làm sao cung cấp phương tiện để thực hiện việc đó.


 Hễ khi nào trong khắp các nước đều có một số người xứng đáng của hội ta, mỗi người như vậy lại đào tạo thêm hai người khác, và tất cả những người đó lại sẽ liên kết chặt chẽ với nhau, - đến lúc ấy Hội có thể làm được tất cả, tuy trước kia trong bóng tối Hội cũng đã làm được nhiều cho hạnh phúc của nhân loại".


Bài diễn từ này không những đã gây nên một ấn tượng rất mạnh trong chi hội mà còn làm cho chi hội xôn xao lên. Phần đông các hội viên thấy trong bài diễn từ này có những khuynh hướng ảo tưởng nguy hiểm nên ngồi nghe với thái độ lạnh nhạt khiến Pie phải ngạc nhiên. Vị đại sư lên tiếng bác lại Pie. Pie liền phát triển ý kiến của mình, mỗi lúc một thêm hăng. Đã từ lâu chưa có một buổi họp nào sôi nổi như thế này. Cử tọa chia ra làm nhiều phe: phe thì lên án Pie, buộc tội chàng là ảo tưởng, phe thì lại bênh vực Pie. Trong phiên họp này, lần đầu tiên Pie kinh ngạc nhận thấy trí tuệ của con người khác nhau vô cùng tận, đến nỗi không có một chân lý nào có thể được hai người nhìn nhận giống nhau. Ngay cả những hội viên tưởng đâu đứng về phía chàng, cũng hiểu ý chàng theo lối của họ, với những sự hạn chế, cải biến mà chàng không thể chấp nhận được, vì yêu cầu chủ yếu của Pie chính là làm sao truyền đạt tư tưởng của mình cho người khác đúng y như chính mình quan niệm.


Đến khi buổi họp kết thúc, vị đại sư nhận xét một cách mỉa mai và không có thiện ý rằng Pie đã quá nóng nảy, và nói rằng trong khi tranh luận, không phải chàng chỉ tuân theo lòng yêu đạo đức, mà còn tuân theo lòng hiếu thắng nữa. Pie không đáp lại, chỉ hỏi một câu vắn tắt là đề nghị của chàng có được chấp nhận hay không. Họ trả lời là không, và Pie không đợi xong các nghi thức thường lệ đã bỏ chi hội ra về.


VIII


Pie lại lâm vào cái tâm trạng chán chường mà chàng vẫn rất sợ. Ba ngày sau buổi đọc diễn từ ở chi hội Tam Điểm, chàng nằm trên đi văng, không tiếp ai và không đi đâu hết.


Vừa lúc ấy chàng nhận được một bức thư của vợ van xin chàng cho gặp mặt. Êlen viết trong thư rằng vắng Pie nàng rất buồn, và nàng chỉ muốn hiến dâng cả cuộc đời cho chàng.


Cuối bức thư, nàng báo tin nay mai nàng sẽ từ nước ngoài trở về Pêtécbua.


Tiếp theo bức thư lại có một hội viên Tam Điểm trong số những người mà chàng coi thường nhất đến quấy rối chàng trong cảnh cô tịch. Hắn lái câu chuyện sang mối quan hệ giữa vợ chồng Pie và lấy tư cách một đạo huynh mà khuyên nhủ Pie, nói rằng chàng đối xử nghiêm khắc với vợ như vậy là không đúng, và không chịu tha thứ cho một người đã biết hối hận như vậy là đã vi phạm những quy tắc quan trọng nhất của Hội.


Cũng vào hồi ấy bà nhạc của Pie, vợ công tước Vaxili, cho người đến mời chàng, khẩn khoản chàng đến thăm bà ta dù chỉ vài phút để thương lượng một việc rất quan trọng. Pie thấy rõ rằng người ta đang âm mưu một chuyện gì đây, người ta đang tìm cách làm cho chàng tái hợp với vợ, và trong hoàn cảnh chàng hiện nay, điều đó không hẳn làm chàng khó chịu. Bây giờ Pie cũng chả thiết gì nữa: Trên đời này, chàng chẳng thấy có việc gì là quan trọng cả, và trong tâm trạng buồn chán hiện nay, chàng chẳng thấy quý sự tự do của mình nữa mà cũng chẳng muốn khăng khăng giữ mãi ý định trừng phạt vợ.


"Chẳng có ai phải, cũng chẳng có ai trái, thế nghĩa là nàng cũng chẳng có lỗi"- chàng nghĩ thầm. Sở dĩ Pie không tỏ ý ưng thuận tái hợp với Êlen ngay cũng chỉ vì cái tâm trạng chán nản của chàng hiện nay làm chàng không đủ sức mưu toan một việc gì hết. Giá Êlen đến với chàng lúc bấy giờ, chàng cũng sẽ không đuổi nàng đi. So với những điều đang làm cho Pie bận tâm, thì chung sống hay không chung sống với vợ phỏng có nghĩa lý gì?


Không trả lời vợ, cũng không trả lời bà nhạc, một hôm đêm đã khuya, Pie sửa soạn hành lý để lên đường đi Mátxcơva gặp Iôxíp Alếchxâyêvích. Đây là những điều chàng ghi trong nhật ký:


"Mátxcơva, mười bảy tháng mười một.


Tôi vừa đi gặp ân nhân về và vội vàng ghi lại những điều tôi đã thể nghiệm trong cuộc gặp gỡ đó. Iôxíp Alếchxâyêvích sống thanh bần và đã ba năm nay mắc một chứng bệnh ở bàng quang rất đau đớn. Chưa có ai nghe người thốt ra một tiếng rên hay một lời than phiền bao giờ. Từ sáng sớm cho đến khuya, trừ những bữa ăn hết sức đạm bạc, người làm việc khoa học. Iôxíp Alếchxâyêvích tiếp tôi rất ân cần và bảo tôi ngồi xuống chiếc giường người đang nằm. Tôi làm dấu các hiệp sĩ dòng phương Đông và Giêruxalem, người cũng làm dấu đáp lại và dịu dàng mỉm cười hỏi tôi đã học hỏi thêm được những gì trong các chi hội Phổ Lỗ Sĩ và Tô Cách Lan. Tôi cố kể lại thật rành rọt cho người nghe tất cả mọi điều, trình bày cả những nguyên tắc của tôi đề nghị ở chi hội Pêtécbua và kể lại cách tiếp đón thiếu thiện ý của cử tọa và sự đoạn tuyệt xảy ra giữa tôi và các anh em. Iôxíp im lặng suy nghĩ hồi lâu, rồi trình bày cho tôi nghe quan điểm của người về tất cả những việc trên, và quan điểm của người phút chốc đã rọi sáng cả thời dĩ vãng và cả con đường tôi sẽ đi. Iôxíp khiến tôi phải ngạc nhiên khi hỏi tôi còn nhớ ba mục đích của Hội là gì không: 1. là giữ gìn và tìm hiểu điều bí mật; 2. gột sạch và tu chỉnh mình để hấp thụ điều bí mật ấy; và 3. sửa đổi nhân loại thông qua việc cố gắng gột sạch mình. Trong ba mục đích ấy thì mục đích nào là quan trọng và chủ yếu nhất? Dĩ nhiên là gột sạch và tu chỉnh bản thân mình. Chỉ có mục đích này là lúc nào ta cũng có thể vươn tới trong bất cứ hoàn cảnh nào. Nhưng đồng thời chính mục đích này đòi hỏi ta phải khổ công nhiều nhất, cho nên ta sẽ phạm vào tội kiêu căng mà buông lơi mục đích ấy, rồi hoặc quay vào điều bí ẩn mà chúng ta không xứng đáng được hấp thụ vì không trong sạch, hoặc quay ra sửa đổi nhân loại trong khi bản thân ta là một con người đê hèn và trụy lạc. Chủ nghĩa ảo tưởng không phải là một học thuyết trong sạch chính vì nó quá thiên về hoạt động xã hội và đầy kiêu căng. Trên cơ sở đó, Iôxíp Alếchxâyêvích lên án bài diễn từ của tôi và toàn bộ hoạt động của tôi. Tôi chân thành đồng tình với người. Nhân nói chuyện về việc gia đình tôi, Iôxíp nói: "Bổn phận chủ yếu của một người thợ nề tự do chân chính, như tôi đã nói, là cải thiện bản thân mình. Nhưng nhiều khi ta hay nghĩ rằng, hễ gạt bỏ được tất cả những khó khăn của cuộc sống thì sẽ sớm đạt được mục đích này. Nhưng thưa ông thật ra thì chỉ trong cảnh náo nhiệt của thế gian, ta mới có thể đạt được ba mục đích chính: 1. tìm hiểu bản thân, vì con người chỉ có thể hiểu được mình qua sự so sánh, 2. tu thân: chỉ có đấu tranh mới đạt đến điều đó được, và 3. đạt đến cái đạo đức chính yếu là yêu cái chết. Chỉ có những biến cố của cuộc sống mới cho ta thấy rõ cái hư không của nó và có thể giúp ta có được một tình yêu bẩm sinh đối với cái chết, yêu sự tái sinh để bước vào cuộc đời mới". Những lời này càng thêm quý giá, vì Iôxíp Alếchxâyêvích tuy đau đớn rất nhiều về thể xác nhưng vẫn không bao giờ tham sống mà lại yêu cái chết, mà người chưa thấy mình đủ sẵn sàng để đón lấy, mặc dù con người bên trong của người đã trong sạch và cao quý vô cùng. Sau đó, ân nhân giảng giải cho tôi rõ hết ý nghĩa của hình vuông cao cả của vũ trụ và chỉ rõ rằng số ba và số bảy là cơ sở của vạn vật. Người khuyên tôi không nên cắt đứt quan hệ với các anh em ở Pêtécbua và trong chi hội chỉ nên giữ chức vụ đệ nhị cấp, cố gắng làm sao cho anh em bớt khuynh hướng kiêu căng, hướng họ về con đường chân chính là tự tìm hiểu và tự cải thiện bản thân. Ngoài ra, đối với bản thân thì người khuyên tôi trước hết phải theo dõi mình, và với mục đích ấy, người cho tôi một quyển vở, chính quyển vở tôi đang viết mấy dòng này và từ rày trở đi tôi sẽ dùng để ghi tất cả mọi hành động của tôi".


"Pêtécbua, hai mươi ba tháng mười một.


Tôi lại chung sống với vợ tôi. Bà nhạc tôi đến khóc lóc bảo tôi là Êlen hiện ở đây và nàng van xin tôi nghe nàng, rằng nàng không có tội tình gì, nàng rất đau khổ vì bị tôi ruồng bỏ, và còn nói nhiều nữa. Tôi biết rằng chỉ cần thuận gặp mặt nàng thôi, tôi sẽ không còn đủ sức từ chối ý muốn của nàng nữa. Trong khi đang phân vân, tôi không biết nhờ ai giúp đỡ và khuyên răn. Giá có ân nhân ở đây thì người đã bảo ban cho tôi. Tôi về phòng riêng đọc lại thư từ của Iôxíp Alếchxâyêvích, nhớ lại những buổi tối nói chuyện với người, và sau đó đi đến kết luận rằng, mình không nên từ chối người đang van xin mình và phải dang tay ra nâng đỡ bất cứ ai, huống hồ đây lại là một người có liên hệ quá gần gũi với mình, cho nên đành phải vác lấy cây thập tự giá của mình vậy. Nhưng nếu vì nghĩ đến đạo đức mà tôi tha thứ cho nàng, thì cuộc tái hợp này chỉ nên có một mục đích tinh thần mà thôi. Tôi đã quyết định như vậy và đã viết thư cho Iôxíp Alếchxâyêvích như thế. Tôi bảo với vợ tôi là tôi xin nàng quên tất cả những điều đã qua, xin nàng tha thứ cho tôi về những điều tôi cư xử không phải đối với nàng, còn nàng thì không làm nên tội gì mà tôi phải tha thứ. Tôi rất vui mừng khi nói với nàng như vậy. Thôi nàng cũng không nên biết là khi phải thấy lại mặt nàng, tôi khổ tâm đến nhường nào. Tôi dọn lên ở trên các phòng trên của căn nhà lớn và sung sướng cảm thấy mình đã đổi mới''.


IX


Cũng như thường lệ, hồi bấy giờ giới thượng lưu quý tộc thường họp mặt ở cung đình và trong các buổi vũ hội lớn, phân chia ra làm mấy nhóm, mỗi nhóm có một bản sắc riêng. Trong số đó thì rộng rãi nhất là nhóm Pháp, nhóm của liên minh Napôlêông - tức của bá tước Rumiêntxép và Côlanhcua22. Một trong những người có địa vị tai mắt ở nhóm này là Êlen, bấy giờ vừa mới về với chồng ở Pêtécbua. Ở nhà mình, nàng thường tiếp các quan chức trong đại sứ quán Pháp và một số đông những người nổi tiếng là thông minh và lịch thiệp thuộc khuynh hướng này.


Êlen đã từng ở Écphua trong thời gian diễn ra cuộc hội kiến lừng lẫy giữa hai vị hoàng đế và hồi đó nàng đã kết thân với tất cả các nhân vật tiếng tăm của Napôlêông ở châu Âu. Ở Écphua, nàng rất được hâm mộ. Chính Napôlêông có lần trông thấy nàng trong nhà hát, liền hỏi xem nàng là ai và tỏ ý khen ngợi sắc đẹp của nàng. Việc nàng được ca tụng là một người đàn bà đẹp và trang nhã không làm cho Pie ngạc nhiên, bởi vì mỗi năm nàng lại đẹp thêm ra. Nhưng có một điều khiến chàng phải ngạc nhiên là trong vòng hai năm nay, vợ chàng không biết làm thế nào mà lại được tiếng là “một người đàn bà rất có duyên, vừa đẹp lại vừa thông minh23. Công tước Đờ Linhờ”24 - nổi tiếng viết cho nàng


những bức thư dài hàng tám trang. Bilibin thì để dành những câu dí dỏm25 của mình đến khi nào có mặt bá tước phu nhân Bêdukhốp mới đem ra nói lần đầu. Được tiếp nhận trong phòng khách của bá tước phu nhân Bêdukhốp tức là đã có một văn bằng về trí tuệ. Bọn thanh niên đều đọc sách trước khi đến dự những tối tiếp tân ở nhà Êlen, để khi ngồi trong phòng khách có chuyện mà nói, và các thư ký đại sứ quán, hay ngay cả các quan đại sứ nữa, cũng cho nàng biết những điều bí mật ngoại giao. Thành thử ra Êlen cũng trở thành một thứ lực lượng nào đó. Pie vốn biết rằng nàng rất ngu ngốc, nên đôi khi có một cảm giác băn khoăn và kinh hãi lạ lùng khi dự những tối tiếp tân và những bữa tiệc của nàng, trong đó người ta nói về chính trị, thi ca và triết học. Những lúc ấy, chàng có cảm giác giống như một người làm trò ảo thuật luôn luôn tự nhủ rằng lần này thế nào cái


trò bịp bợm của mình cũng bị bại lộ. Nhưng phải chăng chính cái sự ngu ngốc lại cần thiết cho việc điều khiển một phòng khách như thế này, hoặc giả vì chính những người bị lừa cũng lấy làm thú vị rằng mình bị lừa như vậy, cho nên trò lừa bịp không bao giờ bị lộ, và cái thanh danh một người đàn bà có duyên và thông minh26 của Êlêna Vaxiliépna Bêdukhốp đã quá ư vững chắc, đến nỗi nàng có thể nói ra những điều nhảm nhí và khờ khạo hết sức mà mọi người vẫn lấy làm khâm phục mỗi lời mỗi chữ của nàng, và thế nào họ cũng tìm thấy trong đó một ý nghĩ sâu xa mà chính nàng không hề ngờ đến.


 




(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, 3 tập. Bộ mi, NXB Văn hc, 1-2007. Triu Xuân biên tp. In theo ln xut bn đu tiên tại Vit Nam năm 1961 và 1962 ca Nhà xut bn Văn hóa, tin thân ca NXBn hc. Nhng người dch: Cao Xuân Ho, Nh Thành, Trường Xuyên (tc Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


www.trieuxuan.info


 



 



 



 



 







 


 








14 Le principe des monarchies est l’honneur, me parait incontestable. Certains droits et privilèges de la noblesse me paraissent être des moyens de soutenir ce sentiment.




15 Si vous envisagez la question sous ce point de vue…




16 à la française. 




17 rendez-vous. 




18 Vòng luẩn quẩn (tiếng La tinh trong nguyên văn). 




19 Code Napoléon




20 Những hội quán dùng để tiến hành những buổi lễ có những hình thức ăn uống và chôn cất tượng trưng. 




21 Xalômôn (khoảng 974-932 trước CN): vua Israsen được các dân tộc Cận Đông xem như một vị thánh hiền; Xalômôn là người đã dựng ngôi đền Giêruxalem. 




22 Caulaincourt.


23 “d’une femme charmante; aussi spirituelle que belle”.


24 Prince de Ligne.


25 Mots. 


 


26 d’une femme charmante et spirituelle.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »