tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28254503
Tiểu thuyết
03.03.2014
Vũ Thư Hiên
Miền thơ ấu

 


XVIII. Một tai họa khủng khiếp bất ngờ giáng xuống cô Gái. Tôi đang lúi húi vót nan cho cái lồng bẫy chim khuyên ở thềm thì nghe trong buồng, cô tôi kêu thất thanh:


- Giêsu?


Tôi quăng dao, chạy vào. Cô tôi ngồi bệt trên giường, mặt méo xệch, miệng muốn kêu gì mà không kêu được, chỉ động đậy hàm dưới. Trong bóng tối, tôi thấy mặt bà bệch ra, nhợt nhạt.


- Cô ơi cô làm sao vậy cô?


Tôi chồm lên giường, ôm chầm lấy bà. Cô tôi nhìn tôi ngỡ ngàng, như thể bà không nhận ra tôi. Rồi trấn tĩnh lại được bà bỗng cuống quít xua xua hai tay:


- Ra, ra ngay ngoài kia!


Tôi sợ hãi lùi dần ra phía cửa buồng, mắt không rời bộ mặt đau đớn, kinh hoàng và ngây dại của cô tôi.


- Cô ốm hay làm sao, cô?


Cô tôi gắng gượng đứng lên, lập cập bước xuống đất, lẳng lặng đẩy tôi ra, khép chặt cửa buồng lại.


Tôi đứng sững bên ngoài, nghe tiếng cô Gái dấm ngực thùm thụp, tiếng khóc nghẹn ngào, tiếng kêu xuýt xoa của người bị đau:


- Giêsu! Giêsu? Giêsu?


Không suy nghĩ, tôi lao sang cô Oanh. Tôi không sang gọi cô Nhung bởi tôi biết tính cách mềm nhũn của cô. Cô Nhung sẽ hốt hoảng cùng kêu tên Chúa nhiều lần với cô Gái, nhưng làm điều gì hơn thế cho cô Gái thì cô chịu. Cô Oanh hối hả sang ngay. Nhưng hối hả thì hối hả, bà cũng còn phải xoa chút dầu Nhị Thiên Đường lên mũi đã.


Đó là thói quen cố hữu của bà, mỗi khi ra khỏi nhà bà phải xoa dầu và choàng khăn.


Tôi chạy về trước, đập cửa buồng báo cho cô Gái biết cô Oanh sắp sang. Bà kêu Giêsu một lần nữa rồi quát ra:


- Thằng quỷ, ai bảo mày gọi cô sang! Ai bảo?


Cô Oanh đã lật đật sang tới nơi.


- Lạy Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, bà làm sao vậy?


- Em bị cảm xoàng thôi mà. - cô Gái đáp vọng từ trong buồng ra - Cháu nó thấy em rên, nó hãi...


- Nó bảo có dễ bà ngã hay là trúng phong... Không việc gì hả?


- Thưa chị, không. Em vừa xoa dầu, người chỉ ngây ngấy rét.


- Phải xoa cả hai bàn chân nữa. Để tôi hái nắm lá cho bà xông.


Chị cho em một nắm. Cái giống cảm mạo thế này, xông được cái là nhẹ liền.


- Bảo cháu đun nước cho cô.


- Thưa chị, vâng.


- Mài ít quế Thanh ra mà uống. Nhà còn không hay để tôi mang sang cho. Quế cũng hay đáo để.


- Thưa chị, vâng.


Cô Oanh về. Lát sau, bà gọi tôi sang lấy lá xông. Bà hỏi kỹ tôi có thật tôi nghe cô Gái khóc không, còn việc cô tôi kêu Chúa liên hồi bà không quan tâm. ở làng tôi khi bị chó đuổi người ta cũng kêu tên Chúa.


- Lạ nhỉ, cảm thì việc gì mà khóc? - cô Oanh thắc mắc.


Tôi mang nắm lá về, đang định xuống bếp để cho vào nồi nước thì cô Gái ló ra ngoài cửa buồng:


- Vào đây!


Tôi len lét bước vào. Tôi sợ cô tôi sẽ trị tội tôi về chuyện láu táu sang gọi cô Oanh, bà vẫn thường rủa tôi là đồ "nhanh nhảu đoảng, thật thà hư. Nhưng cái phất trần vẫn treo ở nhà ngoài, tôi không thấy bà cầm nó trong tay.


- Cháu vào đây! - cô Gái nghẹn ngào bảo tôi - Vào đây, cháu. Ngồi xuống đây với cô. Cháu nhìn xem này, mối xông hết mất rồi!


Trong bóng tối mờ mờ, tôi nhìn thấy đống giấy bạc tung tóe trên giường. Khi tay tôi đụng vào những tờ giấy, chúng vụn ra. Từ đống giấy xông lên mùi giấy bạc mới quen thuộc và mùi đất ẩm. Tôi đã biết sức mạnh tàn phá của những con vật bé nhỏ tưởng chừng hiền lành này. Chúng đã ăn ruỗng nhiều chỗ trong ngôi nhà ông bà tôi, còn dữ tợn hơn cả mọt, bởi vì chúng phá phách với tốc độ vô cùng kinh khủng. Hôm nay, bức vách còn nguyên vẹn, không để ý mai đã bị đục ruỗng. Cô Gái cẩn thận kê bốn chân hòm gian lên bốn cái bát canh loại lớn đổ đầy nước. Một miếng giẻ rơi xuống đã thấm hết nước trong bát, làm thành cái cầu cho mối leo lên.


Cô Gái như người mất trí, hai tay bà quờ quạng trên những tờ giấy tan nát:


- Cô mất hết rồi, cháu ơi? cô đã giành dụm bao nhiêu lâu mới được từng đây, mà hết...


Tôi chẳng biết làm gì hơn, tôi ôm lấy bà cô tội nghiệp của tôi, lấy bàn tay bé bỏng vuốt trên lưng bà, trên cánh tay xương xẩu của bà.


- Cô chết mất, cháu ạ. Lạy Chúa tôi, sao người để con khốn khổ thế vầy? Con làm gì nên tội, lạy Thánh Mẫu Đồng Trinh? Tiền này bác Linh, bác Thông, bác Trác, bố cháu gửi cho cô đấy, tiền của cô dành dụm bao nhiêu năm đây, để cô trông nom nhà cửa đây, vậy mà nước lã đổ ra sông ráo, cháu ơi!


Bà vừa kể lể vừa lẩn thẩn chắp những đồng bạc rách lại với nhau rồi tuyệt vọng quăng chúng xuống đất. Dưới chân giường chẳng mấy chốc trắng xóa giấy bạc nát.


- Mà cô dành dụm cho ai? Để cho chúng mày chứ còn để cho ai, mày với lại thằng Hiếu, chỉ có hai đứa là yêu cô, muốn ở với cô. Cô nghĩ, chúng mày lớn lên đã có tiền đây tu bổ cửa nhà, giữ lấy mảnh đất tổ tiên, Lạy Chúa tôi, sao Người không rước con đi mà lại để con đến nông nổi này? Sao Người ác với con làm vậy?


Bà đâm ra nói nhảm. Trong cơn đau, bà oán cả Chúa mà bà dốc lòng thờ phượng. Tôi vuốt lưng bà, nghĩ rằng nếu tôi có phép lạ, tôi sẽ làm ra một đống tiền mới to hơn nữa để bà thôi đau đớn. Tôi không chịu được bất cứ nỗi đau đớn nào mà tôi phải chứng kiến, dù nó phải hay nó trái.


- Công của cô bao nhiêu năm trời thành công dã tràng, bà tiếp tục kể lể - rồi cô cháu mình đến đi ăn mày, cháu ơi? Thế là hết, hết sạch, sao mà tôi khốn khổ thế vầy? Tôi buông cô Gái, nhanh nhẹn chui vào trong hòm gian. Không, bà không thể hết sạch được, bà còn cả một gói lớn bạc hoa xòe rất cứng đối với răng của những con mối tệ hại, bà còn nhiều thứ nữa mà chúng chưa kịp đụng đến. Đống bạc mối xông đã làm cho bà quẫn trí.


Tôi lục tung hòm gian, quẳng ra ngoài những công trình phá hoại khác của lũ mối mà bà chưa biết: lá cờ thêu hình Đức Mẹ ẵm Đức Chúa Giêsu Hài Đồng, bức màn gió bằng vải hoa, mấy chiếc áo dài cô tôi ít dùng tới và mấy cái quần lĩnh mới may. Cô Gái đỡ lấy chúng, soi về phía cửa sổ để nhìn cho rõ hơn những vết mối ăn lỗ chỗ, những mảng thủng lớn, rồi tàn nhẫn quẳng xuống đất, kể cả Đức mẹ bị vỡ ngực và Đức Chúa Giêsu chỉ còn nửa mặt. Nhưng lũ mối mới hoành hành bên trái hòm, đúng như tôi dự đoán. Chúng chưa kịp phá nát những gì xếp ở bên phải. Tôi chuyển ra cho cô tôi những bộ quần áo nguyên vẹn của ông bà tôi, của cô tôi. Đến khi tôi bốc cả gói bạc hoa xòe chỉ bị mối xông mấy lần vải bọc đưa cho bà thì bà tỉnh hẳn lại:


- Lạy Chúa tôi lòng lành chẳng cùng! - bà kêu lên, mừng rỡ - May, còn được chỗ này!


Thì ra đúng là cô tôi không nghĩ đến độ cứng không răng động vật nào có thể gặm nổi của kim loại. Bà đứng lên, thò hẳn đầu vào trong hòm gian, cổ vũ tôi tiếp tục cuộc khảo sát. Hóa ra, lũ mối chưa đụng đến một bọc giấy bạc năm đồng. Chui ra ngoài, tôi phát hiện thêm là số bạc hào đã tan nát hết, nhưng số bạc giấy một đồng còn nhiều tờ có thể cứu vãn - mối chỉ ăn lẹm một số tờ ở rìa, có tờ bị đứt đôi thì lại đứt rất ngọt, có thể dán khéo lại mà người ta không biết. Cô tôi tỉnh hẳn người, bà vớ lấy những tờ giấy bạc bị thương chạy đến bên cửa sổ để soạn lại, thỉnh thoảng lại reo lên khe khẽ:


- Tờ này còn nguyên, cháu ạ! Tờ này thủng một tí, mà không sao, tiêu được.


- Xấp này chỉ bị mối ăn mấy tờ ngoài, bên trong không việc gì


- Lúc nãy, cô thấy toàn bạc bị xông với đất mùn, cô tưởng hết sạch rồi, cháu ạ, may quá là may? Lạy Chúa tôi lòng lành chẳng cùng!


- Để cháu dán lại cho cô - tôi nói cho bà vui thêm - Dán được khối đấy, cô ạ!


- Cháu dán lại cho cô nhá, chịu khó rồi cô cho một hào mua sâu bà Cơ.


Cô Gái ngọt ngào nói với tôi. Nhưng rồi bà sực nhớ ra tôi đang ngồi trước hàng xấp dày giấy một đồng, trong đó có những tờ hầu như nguyên vẹn, bà vội chạy đến bên tôi, gạt tôi ra:


- Cứ để đấy, cô soạn. Ra ngoài kia chơi, lúc nào cô gọi thì hãy vào. Mà này, chớ có nói với ai nhá, chớ đấy!


Tôi bước ra. Cô Gái hấp tấp cài then cửa. Tôi ra vườn, trèo lên cây khế, bứt vài quả. Tôi nhai những quả khế chua lòm và ngắm nghía mấy con vành khuyên đang chuyền trong hàng rào dâm bụt. ở sâu trong vườn sau, con báo cô kêu ri ri. Tôi đã thấy nó xòe cánh ra vẫy vẫy, miệng há to, đúng là một con chim non, chờ những con chim sâu bé nhỏ mớm mồi cho nó. Tôi ghét con chim ăn bám này đến nỗi cứ thấy nó ở đâu là tôi ném, thậm chí còn dùng súng cao su bắn nó.


Nhưng hôm nay, tôi mặc. Tôi đang bận với nỗi buồn của tôi. Tôi đã thật lòng thương cô tôi, muốn an ủi bà, muốn giúp bà, vậy mà bà lại ngờ vực tôi sẽ lấy cắp tiền của bà, nếu để tôi ở lại với đống tiền trước mặt. Thì ra người có của bao giờ cũng nhìn thấy trong kẻ nghèo một tên ăn cắp. Chuông trưa báo mười hai giờ được một lúc lâu tôi mới nghe tiếng cô tôi gọi. Chắc bà sực nhớ ra tôi chưa ăn cơm, mà gạo thì lại để trong buồng.


- Cháu nấu cơm ăn đi. Cô hôm nay thế nào ấy, chẳng muốn ăn gì ráo - bà bảo tôi.


- Cháu cũng không muốn ăn. - tôi uể oải đáp.


- Sao không ăn?


- Cháu đầy bụng.


Tôi lại ra vườn sau, trèo lên cây sung. Tôi cảm thấy đói khi cô tôi nhắc bữa. May, mấy quả sung tôi khía gặp mưa đã nở và chín. Sung khía ăn ngọt hơn hẳn sung chín tự nhiên, lại không có bọ. Trong quả sung thường, mỗi khi bửa ra phải thổi hết bọ mới ăn được. Mà bọ nhiều lắm, những con côn trùng tí xíu lớn lên ở trong đó, được ra ngoài trời là bay liền. Về sau này, tôi mới biết quả sung chính là hoa của cây sung, nhưng tôi vẫn ngờ ngợ - khoa học giải thích thế thật, nhưng rõ nó là quả kia mà.


Gần tối, cô Gái mới bước ra khỏi buồng. Nét mặt đã trở lại bình thường, nhưng bà gầy rộc đi như sau một cơn bệnh nặng. Bữa chiều rất đạm bạc. Nhà chẳng còn thức ăn, tôi không đi câu, chỉ có mỗi mớ rau muống luộc tú hù và nước mắm cáy.


- Cô đắng miệng quá! - cô Gái uể oải nhai trệu trạo - Cháu ăn nhiều đi.


- Mất nhiều không, cô?


- Cũng khớ.


- Còn may, cô nhỉ?


- Nhưng vẫn tiếc đứt ruột, mồ hôi nước mắt của mình, cháu ạ. Cô dặn rồi, chớ có nói với ai, nghe không?


- Vâng.


Đột nhiên, bà rưng rưng nước mắt.


- Cô có một mình, nghĩ cực quá.


Tôi cũng thấy nao nao. Tôi cũng có một mình, như bà. Mai cô soạn những tờ nát ra, cháu dán lại cho cô, cô


- ừ, cháu giúp cô với.


Sáng hôm sau, tôi nghỉ học, ngồi nhà dán tiền cho cô. Anh Cu Nhớn vừa lò dò sang, bà đã quát:


- Đã lại rủ em đi câu hả? Về ngay, tao cấm tiệt. Bé đi câu, nhớn đi hầu, già đi làm khách nợ.


Bác Hai Thực nghe tiếng, quát vọng sang:


- Thằng Nhớn, về? Không nghe cô nói đấy hử? Từ giờ, tao cấm mày không được bước chân sang bên ấy nữa.


- Thì thày vừa sai con... - anh Cu Nhớn cãi lại.


- Tao có sai mày sang nom cô ốm khỏe ra sao. Tao không sang được vì chưng tao cũng ốm, mới phải bảo mày. Cô đã cấm mày thì tao cũng cấm luôn, rõ chửa?


Cô Gái biết sai, lặng ngắt.


Cả ngày tôi cặm cụi dán tiền cho cô. Vì số tiền bị hư quá nhiều, đành phải hi sinh một số tờ để bổ sung vào chỗ thiếu của tờ khác. Công việc kéo dài, tôi cắp sách đến trường một buổi, một buổi xin nghỉ ở nhà dán tiền cho cô. Ngồi còm cọm một mình, buồn quá, thỉnh thoảng tôi vứt đấy, chạy sang với anh Cu Nhớn. Bác Hai Thực không đuổi tôi, nhưng anh Cu Nhớn nhất định không bước sang sân nhà tôi nữa:


- Tôi đã buộc chỉ cổ tay rồi.


Anh giơ cổ tay cho tôi xem. Anh đã buộc thật, bằng một sợi chỉ tơ chập ba.


Bác Hai Thực không buộc chỉ cổ tay, nhưng ông quyết không nhắc tới bà em đanh đá.


Những vụ đụng độ như vậy thỉnh thoảng lại xảy ra giữa những người cháu đã già cùng chung một ông bà. Những người chết dàn hòa họ với nhau trong những ngày giỗ, tức là những tối đọc kinh cầu hồn. Họ nhớ lại cái gia đình lớn đã chia năm xẻ bảy, quên đi nỗi bực tức hôm nào, lại chạy đi chạy lại với nhau, xin nhau tí lửa, vay nhau nhúm muối và thăm hỏi nhau như cũ. Thường thì người ta giận nhau không lâu. Sợi chỉ nơi cổ tay anh Cu Nhớn chưa đứt thì nỗi giận cũng đã tiêu tan.


Chị Liễu phải đi những chợ xa đong gạo đong cám bằng những đồng tiền mối xông đã được tôi vá lại. Không thể đong ở chợ làng, bởi vì nếu phát hiện đồng tiền vá, người ta sẽ đến tận nhà tôi đòi đổi lại. Cô Gái cũng đi chợ, bỏ cả bán thuốc. Những khách hàng quen thuốc, tín nhiệm thuốc của bà, phải mò vào tận nhà để mua.


Những đồng tiền vá được tiêu vào lúc tinh mơ, khi chợ vừa họp, hoàn toàn trót lọt, chẳng bị ai phát hiện. Cô tôi mừng ra mặt. Công việc dán vá cũng thu hút tôi - những con mối càng gặm giấy oái oăm bao nhiêu thì tôi lại càng phải nghĩ ra cách chữa tinh vi bấy nhiêu. Chưa một bài thủ công nào ở trường được tôi làm một cách cẩn thận đến như thế. Mỗi tờ giấy bạc dán xong lại như mới, tôi khoái trá chạy vào khoe với cô tôi:


- Một đồng nữa, cô nhá!


Bà giơ lên xem, bà sờ, bà ngửi, rồi xếp nó vào chỗ giấy bạc sẽ được tống đi cho nhanh:


- Khéo lắm!


Nếp sống bỗng nhiên đổi khác trong nhà chúng tôi làm cho cô Oanh. Cô Nhất, cô Nhung và vợ chồng bác Hai Thực chú ý. Nhưng mọi người chỉ xầm xì bàn tán, đặt ra nhiều giả thuyết, nhưng không ai đoán ra việc gì đang xảy ra trong ngôi nhà cô Gái. Tôi và chị Liễu chỉ cười xòa đáp lại những lời hỏi han thóc mách.


Cái kim ở trong bọc đã lòi ra hết sức tình cờ. Một người bán đỗ xanh ngoài chợ Lễ, nhưng lại là người làng, sau buổi chợ đã phát hiện ra tờ giấy bạc vá với những đường rách ngoằn ngoèo được gắn lại rất tinh vi. Đó là một người đàn bà dữ tợn và chua ngoa. Chị Liễu đã phải kêu tên Chúa mà thề, bà ta cũng cữ vẫn khăng khăng một mực rằng đồng năm hào đó là của chị, không của ai khác. Đáng lẽ cứ mặc kệ cuộc cãi vã muốn đến đâu thì đến, cô Gái chột dạ vội vã mang một đồng khác ra đổi. Đáng lẽ phải đổi cho bà ta một đồng mới thì không sao, nhưng cái tính thích giữ tiền mới đã hại cô tôi, bà đưa cho người bán đỗ một đồng mối xông khác, sạch sẽ hơn, mối chỉ ăn lẹm một chút ngoài rìa. Người đàn bà khảo sát tờ giấy một lát, tin chắc rằng tờ này tiêu được, miễn cưỡng nhận nó và ngúng nguẩy ra về.


Hôm sau tin đồn về bà Gái lắm tiền đến nỗi tiền của bà bị mối xông lan khắp làng. Chỗ nào có ba người gặp nhau, chỗ ấy người ta nói tới bà Gái. Đó là một sự kiện ghê gớm, đang được loan truyền cho nhau, người ta thổi phồng nó lên đến mức số tiền bị mối xông tới hàng nghìn.


Cô tôi rụng rời chân tay.


Chị Liễu tự tìm đến người đàn bà chua ngoa nọ, nhận mình sơ ý đã đưa cho bà ta đồng năm hào mối xông đó, nhưng là tiền chị nhận từ khách hàng đong gạo của chị. Người đàn bà chối bai bải, không nhận mình đã tung tin đồn nọ. Bà ta cũng kêu tên Chúa mà thề. Tất nhiên, Chúa biết bà ta đã phạm tội làm chứng dối, nhưng Chúa sẽ tha cho bà khi bà xưng tội, còn cái tin đồn tai hại đó thì giá bà ta có muốn thu về cũng không được nữa rồi. Tin đồn một khi đã ra đời, có cuộc sống riêng của nó. Như một đứa con trưởng thành đã rời nhà cha mẹ, nó ở ngoài vòng quản lý của bà ta, giờ đây nó nhởn nhơ rong chơi trong làng, rẽ vào từng nhà, làm vui cho những cuộc ngồi lê đôi mách.


- Giêsu, ai ngờ bà Gái mà lấm của làm vậy!


Cả một hòm gian đầy ắp, người ta bảo thế.


- Thế mới là: ki ca ki cóp cho cọp nó tha.


- Mối chứ đâu phải cọp.


Mối còn dữ hơn cọp, nó biết chỗ có tiền nó đến. Chứ như nhà tôi thì nó chịu, gặm cái gì?


Gặm gỗ chứ còn gặm gì nữa. Thôi đi, đến lúc ông lắm tiền thì mối nó cũng chẳng tha đâu.


Đến lúc ấy thì tôi nuôi mối ấy chứ. Chỉ tội là không có lúc ấy thôi, gọi là đến tết.


- Bà Gái rõ khổ, ăn thì độc rau lang chấm mắm cáy, bóp mồm bóp miệng. Chính mắt tôi trông thấy mà. Hôm ấy tôi vào mua thuốc, bà ấy vội lấy cái lồng bàn che đi, khốn lồng bàn rách, trong mâm có gì nom tỏ mồn một, tội nghiệp!


- Tôi nghiệp gì, đáng đời?


- Giêsu, sao mà ông độc miệng làm vậy!


- Có tội nghiệp là tội nghiệp mấy ông em chở của về cho chị, tiếc đứt ruột.


- Còn dành dụm mối còn xông. Chuyến này cả nhà ấy sạt nghiệp?


Những lời bình luận ấy đến tai tôi, làm tôi giận dữ. Tôi căm ghét cái thói đời khoái trá trước nỗi đau của người khác Nó giống cái khoái trá của con chó dữ với dòng bọt mép sùi ra sau khi cắn rách tai con chó già ốm yếu không còn sức đánh trả và chẳng động gì tới nó, đơn giản chỉ vì con chó trẻ ngứa mắt và ngứa răng. Tôi thương cô Gái của tôi, trong lòng, tôi đứng về phía bà.


Cô tôi không dám ra khỏi nhà. Bà phát ốm thật sự. Bất cứ tiếng động mạnh nào cũng làm bà giật mình. Tôi bỏ mọi việc, trông nom cô, nấu cháo cho bà, bóp dầu cho bà, tóm lại tôi không rời bà nửa bước. Tôi kể lại cho bà nghe những lời dồn đại làm bà sợ hãi, nhưng lại khăng khăng bắt tôi phải thu lượm chúng cho bà. Đến khi tôi thuật lại cho bà biết rằng trong làng có kẻ nói rằng cần phải trình quan huyện việc này, vì bà đã phạm tội phá hoại tờ giấy bạc của nhà nước, mà tội này được ghi rành rành bằng chữ Tây trên mỗi tờ giấy bạc, thì bà không chịu nổi nữa. Cô tôi gục xuống, hai tay ôm lấy đầu, mái tóc bạc xổ tung, bà thét lên:


- Giêsu!


Bác Hai Thực nghe tiếng thét vội chạy sang, quên cả dép. Cô Oanh, cô Nhất, cô Nhung, chị Phượng, anh Cu Nhớn, Cu Bé chạy sang hết. Mọi người cuống cuồng chung quanh cô Gái, xoa dầu, đốt chậu than dặt dưới gầm giường. Cô Gái mặc cho mọi người muốn làm gì thì làm, bà chỉ một mực rên rỉ:


- Giêsu! Giêsu?


Trong mấy ngày, cả ba nhà cuống cuồng, xốn xang, rầu rĩ, lo lắng cho cô Gái, tức tối với những lời đồn thổi bẩn thỉu của bọn thối mồm.


Vụ mối xông tiền của cô Gái chỉ tắt sau khi cha xứ lên tòa giảng mắng nhiếc con chiên một trận nên thân về tội huyên truyền những lời đồn đại vô căn cứ. Bằng các điển tích rút trong Kinh Thánh, cha nhấn mạnh rằng sự ăn không nói có, sự không thấy tận mắt mà nói theo người khác là phạm mười điều răn của Đức Chúa trời, là tội trọng, đáng sa Hỏa Ngục.


Những quả quít đầu mùa, những chai rượu bách nhật và những gói bánh quế của cô tôi đã mất đi không vô ích.


 XIX - Trong làng, còn có một nhà mà tôi hay lui tới, tuy chẳng phải họ hàng, là nhà ông Nhiêu Tuất. Nhiêu là một danh vị nhỏ bé, có thể mua bằng tiền, mà không nhiều. Danh vị này cho người được mang nó quyền ngồi một chỗ, cũng nhỏ bé, gọi là chiếu dưới, khi làng họp. Nhiêu được miễn sưu thế, miễn phu phen tạp dịch. Để mua nhiêu, ngày xưa phải có một số tuổi đáng kính, nhưng về sau, danh vị này được bán nhiều, nên làng tôi có vô số anh nhiêu. Ông nhiêu Tuất đâu như trước cũng là tay chân của ông tôi. Nghĩa tay chân này rộng, hiểu thế nào cũng được, là người nhà, đàn em, hoặc người giúp việc thân cận. Chỉ biết những ngày giỗ ngày tết, cô tôi thế nào cũng mời ông nhiêu Tuất.


Nghe kể lại thì ông tôi có nhiều tay chân lắm, trong số đó có cả một tên cướp, sau trở thành người nhà chúng tôi, là chú Mưu. Chuyện kể rằng chú Mưu đi ăn cướp, phá cổng vào nhà tôi không nổi, lại bị tuần đinh đuổi đánh bị thương, nằm ngất trong ruộng lúa bên đường. Ông tôi hôm ấy đi cất thuốc ở chợ Lễ về khuya, nghe tiếng rên, mới rẽ xuống xem, rồi cõng chú về nhà phục thuốc. Trong nhà biết đó là tên cướp, nhưng ông tôi không cho đi cáo quan, chăm sóc cho tới khi lành. Khi hiểu rằng mình được cứu sống bởi tay người mà mình tới nhà ăn cướp, chú Mưu xin ở lại làm con nuôi, gọi chữ là nghĩa tử. Chú ở nhà tôi tới khi ông bà tôi khuất núi mới trở về quê lập nghiệp.


Ông nhiêu Tuất gần bằng tuổi cô Gái, tóc bạc trắng, tóc búi củ hành, đã nghễnh ngãng. Ông là một trong số ít người trong làng còn giữ lại lối chào thuở xưa. Khi gặp ai, ông chắp ngang hai bàn tay lại (chứ không chắp dọc như các bà đi lễ chùa) và đưa lên ngực rồi hạ xuống một chút, gặp người đáng kính trọng hoặc để tỏ lòng kính trọng ông cũng chắp tay như vậy, nhưng đưa hai tay chắp cao lên tới ngang vai rồi từ đó hạ xuống chéo sang bên phải chấm xương hông. Vái như thế gọi là vái dài. Bây giờ, nhìn lên sân khấu thấy người ta đóng trò xưa mà vái nhau theo cách lễ chùa, tôi lại nhớ tới lối chào dân tộc đã mất.


Tôi đặc biệt quí ông nhiêu Tuất bởi lẽ ông là người an ủi tôi nhiều nhất kể từ khi tôi về quê. Ông tới nhà, ngồi ngoài thềm nói chuyện với cô Gái, Nhìn thấy tôi, ông hỏi cô Gái:


- Con ông Tư, phải không bà?


- Nó đấy.


Ông đứng lên, chăm chú nhìn tôi rồi nói:


- Hôm nào bà rảnh, cậu theo bà sang tôi chơi.


Cô Gái chẳng bao giờ rảnh. Tôi hỏi đường anh Cu Nhớn rồi tự tới nhà ông. Tự nhiên, tôi thấy có cảm tình với ông già đã còng lưng, nhưng có đôi mắt hiền từ và giọng nói ấm áp


Ông nhiêu Tuất ở xóm dưới, cũng gần. Nhà ông nhỏ, cột soan, mái rạ, vách trát nhưng sạch sẽ. Lối đi từ cổng vào hai bên trồng tóc tiên. Trước nhà là một cái ao nhỏ gây bèo cái trong một vòng dây muống lưu cữu. Thấy tôi đến, ông đang lúi húi đan rổ liền đứng lên và vái một cái dài.


Tôi đỏ ửng mặt, lúng túng chào ông. Ông đặt tay lên vai tôi, nhìn sâu vào mắt tôi:


- Tôi biết rồi, cậu ạ.


- Ông bảo gì cơ?


- Tôi biết ông Tư ở nhà pha. - Ông nói bằng giọng đơn giản điều cô Gái giấu giếm - Cậu đừng buồn.


- Cháu không buồn.


- Vậy là phải. Cậu ngồi xuống đây, chỗ này này, tôi kể chuyện cậu nghe.


Trong nhà ông im ắng. Lúc đó tôi chưa biết ông chỉ có một mình.


- Tôi biết ông Tư là cộng sản lâu rồi. Ông nói bằng giọng buồn buồn - Tôi chẳng hiểu cộng sản là cái gì, tôi là người không có học. Cơ mà tôi cứ ở ông Tư. Ông là người tốt mà ông theo cộng sản thì cộng sản tốt. Vừa nãy tôi vái cậu là tôi vái vọng ông Tư đấy. Tôi nhớ ông lắm.


Ông lặng im một lát. Hình như ông suy nghĩ về điều gì đó, rất hệ trọng.


- Nghe nói cộng sản bây giờ đông. Tây bỏ tù bao nhiêu cũng không xiết. Tôi mà còn trẻ như ông Tư khéo tôi cũng theo cộng sản.


Tôi chẳng biết nói gì. Những lời ấm áp về bố tôi làm tôi cảm động.


- Đời bây giờ khổ quá là khổ! - Ông nói.


Sau vài lần đến chơi, tôi bạo dạn hơn. Tôi xin phép được câu ở ao nhà ông.


Ông bằng lòng ngay, nhưng chỉ cho tôi câu một mình, không được đi với anh Cu Nhớn. Ông rất nghèo, con cá giếc trong cái ao nhỏ cũng được coi như con gà ở nhà khác. Vả lại, tiếng sát cá của anh Cu Nhớn không phải chỉ một xóm tôi biết.


Khi tôi đến câu, ông đưa võng kẽo kẹt trong ngôi nhà vắng, thỉnh thoảng mới trở dậy lọc xọc một điếu thuốc lào. Khi tôi trở về, ông nhắc cái giỏ, nhìn sâu qua hom, có vẻ ông muốn đếm số cá tôi câu được. Ao nhà ông không nhiều cá, toàn loại rô cụ, mà chúng thì rất thận trọng. Cô Gái rất sợ những con cá rô cụ. Nằm trong giỏ khô, cá rô cụ sống cả ngày không cần chút nước nào mà vẫn khỏe, sơ ý là bị chúng nẻ cho sưng tay. Đổ bọn cá rô cụ ra, cô Gái phải lấy sống dao đập vỡ đầu chúng rồi mới dám đánh vẩy. Hôm nào cá không cắn, ông nhiêu Tuất ra ngồi bên cạnh tôi cả buổi, nhưng chẳng nói gì.


Cô Gái nói rằng ông nhiêu Tuất dạo này đã không còn thật tính, nghĩa là ông đã trở thành dở hơi, cám hấp theo cách nói bây giờ. Cũng có hôm, ông rất vui vẻ kể cho tôi nghe đủ thứ chuyện - chuyện làng, chuyện xóm, chuyện đời xưa. Có điều, chẳng bao giờ ông nói đến sự tích các thánh, như thường thấy ở những người có tuổi trong làng, những người này thường đua nhau khoe cái sự rành lẽ đạo của mình. Ông cũng chẳng mấy khi nhắc tới Chúa, chẳng bao giờ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ. Nhưng ông vẫn đi nhà thờ, đều đặn xưng tội chịu lễ. Tôi đồ rằng giữa ông và chúa có điều gì không bằng lòng nhau, nhưng ngấm ngầm.


- Chúa thì phải công bằng, Chúa mà không công bằng thì không phải là Chúa! - Ông nhiêu Tuất nói bâng quơ, nhân một câu chuyện nào đấy - Mà lẽ công bằng trên đời này khó lắm thay?


Ông có một người con trai duy nhất, nhưng anh ta ở bên Tây. Trong làng tôi, chẳng mấy ai biết nước Tây ở đâu, người ta nói bên Tây với ý nghĩa xa lắm lắm, không hàm khái niệm địa lý.


- Cái thằng con nhà nhiêu Tuất chầu này chẳng thấy gửi gì cho bố, quân bất hiếu bất mục - cô Gái thủng thẳng nói chuyện với cô Nhung - Không biết ông lão lấy gì ăn? Dào, giời sinh voi giời sinh cỏ, rồi khắc sống được tất chị ạ!


- Khốn ông ta già quá rồi.


- Kể cũng cực, em nghiệm thấy già ăn còn khỏe hơn lúc trẻ, khốn nạn vậy.


Cô Nhung ăn rất khỏe. Bác Hai Thực gái bao giờ cũng ngồi đầu nồi, chia cơm cho mọi người theo tiêu chuẩn đã được im lặng thỏa thuận hoặc im lặng chấp nhận. Cơm xong, cô Nhung còn ăn thêm được vài chùm sung xanh. Ông nhiêu Tuất ăn gì, tôi không biết. Chẳng bao giờ tôi thấy ông thổi nấu. Có thể, ông nấu cơm một lần vào sáng sớm rồi ăn cả ngày.


Một hôm, ông nhiêu rụt rè nhờ tôi đánh hộ cái giấy, tức là viết thư cho con ông:


- Cậu giúp tôi thí. Trước tôi vẫn phải nhờ cậu Mân bên xóm Đông, giờ cậu ấy lên tỉnh học rồi... Chẳng hiểu ra làm sao, cả năm nay bặt tin anh ấy, tôi nóng ruột.


Cái việc viết thư hộ này tôi thỉnh thoảng vẫn phải làm. Làng tôi có quá ít người biết chữ. Ai đỗ Sơ học yếu lược cũng đã được coi là người có chữ nghĩa. Người có bằng Tiểu học có thể coi mình là trí thức rồi. Người nhờ tôi đánh cái giấy phần nhiều là các bà. Họ kể lể con cà con kê từ chuyện thằng cu bị chốc đầu, cái hôm ngã sái tay, con lợn nái bị đóng dấu cho tới cái ao bị thối và đám cá mè bị chết ngạt. Những bức thư như thế làm tôi ngán. Nó mở đầu bằng công thức muôn thuở "Nay tôi có mấy nhời gửi ra cho nhà nó. Nhà nó được bằng an trong tay Chúa thời tôi mừng. Còn về phần mẹ con tôi ở nhà, ơn Chúa, vưỡn được như thường...".


- Tôi đồ rằng bận trước, cậu Mân viết điều gì, làm cho anh ấy nhà tôi giận tôi... - Ông nhiêu Tuất băn khoăn - Chứ không thì tại sao anh ấy chẳng đánh giấy về?


Tôi không biết rằng lúc ấy chiến tranh thế giới đã lan ra khắp các lục địa, trên các đại dương, đến cả những tàu buôn cũng bị đánh chìm, tất nhiên những bao thư cũng chìm theo. Trong làng tôi chỉ có một tờ báo là tờ Đông Pháp, mỗi ngày một số, gửi về nhà ông Hội Dục để cháu đích tôn của ông đọc cho ông nghe. Bác Hai Thực thỉnh thoảng cũng mượn được về nhà vài số. Ông đọc và gật gù "Cái thằng Đức dữ ra quỷ, mà thằng Nhật cũng chẳng khờ, bên ý Đại Lợi khi không lại mọc mũi sủi tăm ra cái anh Mút-xô-li-ni, theo voi Hít Le hít bã mía. Thống chế Tưởng Giới Thạch sợ Thiên Hoàng vãi đái, Nhật nó đánh thật chứ nó bỡn à, cứ gọi là phen này vỡ mặt". Đấy là ông nói với những ông bạn cùng tuổi chứ không phải nói với tôi.


Tôi thương ông nhiêu Tuất. Tôi biết ông buồn nhiều trong cuộc sống một thân một mình. Nghe người ta kể thì hồi còn trẻ ông chật vật lắm mới lấy được vợ, vì nghèo. Vợ ông là một cô gái đẹp trong vùng. Có rất nhiều người hỏi cô nhưng cô không ưng ai. Đến khi quá lứa mới bằng lòng lấy anh nhiêu. Cô có chồng rồi, đàn ông trong làng vẫn còn mắt la mày lém, đùa cợt lẳng lơ. Anh chồng ghen rất dữ, cô vợ thì ai chọc ghẹo gì cũng mặc. Anh chồng chẳng biết nghe ai đùng đùng kéo vợ lên làm ăn trên tỉnh, rồi lên tận Hà nội. Cô vợ đánh răng trắng, mặc quần lĩnh (đến hồi ấy đàn bà làng tôi còn nhuộm răng đen, mặc váy), thế rồi bắt đầu nhìn anh chồng nghèo bằng cặp mắt rẻ rúng. Từ rẻ rúng đến chê bai chỉ là một bước. Cô chê anh không biết làm ăn, khố rách hoàn khố rách. Bây giờ ve vẩy quanh cô là các thày cai, thày đội, thày ký. Có người đánh tiếng đưa cô về làm lẽ, cho cô một nóc nhà riêng. Hai vợ chồng cãi lộn, trước thỉnh thoảng, sau hàng ngày. Rồi cô vợ bỏ đi, để lại cho anh chồng một thằng bé ghẻ kềnh ghẻ càng, bụng ỏng. Anh chồng ngậm mối hận, ôm con về làng. Bố mẹ vợ đã chết theo nhau trong một trận dịch tả, nếu không họ sẽ khốn khổ với anh ta. Trong làng, chuyện đó thường xảy ra, cha mẹ vợ hứng chịu hậu quả mà người con gái lấy chồng gây ra. Người ta mặc, chẳng ai can. Từ đó anh Tuất đi làm thuê, làm canh điền, làm nhiều nghề linh tinh khác, nhưng không bao giờ giàu lên. Giàu hay nghèo có số, người ta nói, nhưng không ai ham làm giàu bằng anh Tuất. Anh nhìn thấy trong sự giàu có niềm kiêu hãnh với người vợ bội bạc, cách trả thù quân tử đối với cô ta. Chỉ có đứa con là lớn mau, tính nết điên điên khùng khùng. Có kẻ độc miệng nói rằng nó cũng chẳng phải con anh Tuất.


- Tôi có mỗi mình nó. - Ông nhiêu Tuất nói - Tính nó không được như người ta, có khi nó giận tôi thật, chả là tôi dặn cậu Mân nhắn nó cho tôi rằng chớ có tin con vợ đầm...


- Ông cứ đọc cho cháu viết.


- Tôi biết viết gì. Cậu viết thay tôi đi, nói tôi chầu này yếu lấm rồi, chân tay đã run, lại đau ở ngang thắt lưng, trước chỉ chục viên thuốc của bà Gái là dứt, nhưng bây giờ uống mãi rồi vẫn cứ ngâm ngẩm. Cậu nhắn anh ấy gửi cho tôi ít tiền để sửa nhà, cái nhà trước sau rồi cũng là của anh ấy, tôi chẳng ở được bao lâu nữa...


Ông nhiêu Tuất kể rất nhiều cho tôi nghe những điều ông muốn nói với người con trai ở tít tắp nơi nào và có lẽ đã quên mất người cha già yếu.


Tôi đã mất ba buổi chiều cặm cụi để viết cho xong bức thư. Trong thư tôi tả thêm thắt cảnh rách nát của ngôi nhà, những đóa tóc tiên màu hoa đào ở lối vào, cái ao nhỏ và những con cá rô hiếm hoi, cây khế trong vườn (nó đã già lắm, gốc nó xù xì to bằng người lực lưỡng) quả rụng đầy dưới chân, tôi nhắc anh về sâu bà Cơ (anh không thể không ăn sâu bà Cơ như bất kỳ ai trong làng đã có lúc là trẻ con) và lời hỏi thăm của bà (mà tôi bịa ra), tôi kể chuyện những con mọt nghiến gỗ đêm khi ông già thức giấc vì nhức nhối chân tay, chúng làm cho ông buồn nẫu ruột khi nghĩ đến con trai, nỗi lo lắng của ông không được gặp anh lần nữa. Ông nhiêu Tuất chảy nước mắt lặng lẽ khi nghe tôi đọc bức thư. Ông không trách tôi viết dài hơn những gì ông nhờ tôi. Cô Gái cũng được nghe bức thư. Bà xúc động ra mặt. Tôi nắn nót chép địa chỉ của con ông từ một phong bì Pháp. Ông run run dán bức thư tôi đưa.


- Cảm ơn cậu. - Ông nói, giọng đổi khác.


- Ông đưa ra trạm Thần Lộ mà gửi. Mua cái tem dán vào là anh ấy khắc nhận được. - cô Gái nói - Nhận được giấy của bố, thế nào anh ấy cũng giả nhời, máu đào đâu phải là nước lã.


- Có vậy - Ông Nhiêu Tuất gật đầu - Tôi đi ngay bây giờ.


Tôi đưa ông ra cổng. Ông đứng lại, móc túi lấy ra một đồng năm xu bằng kền, dúi vào tay tôi:


- Cậu cầm lấy mua sâu.


Tôi nhất định chối từ, nhưng ông cương quyết nhét sâu vào túi tôi:


- Cậu cầm lấy cho tôi bằng lòng.


Tôi dành nhận.


Sau đó là những ngày chờ đợi dài dằng dặc. Phải nói rằng tôi chờ bức thư trả lời của anh lính thợ nôn nóng chẳng kém gì ông nhiêu. Thậm chí, tôi tránh đến câu cá ở ao nhà ông. Tôi sợ nhìn thấy nỗi sốt ruột của ông.


Bác Hai Thực nói rằng chiến tranh ngày một lan rộng, hàng hóa của Pháp cũng còn không gửi sang Đông Dương được nữa, nói gì thư. Bác biết được những tin tức đó qua tờ Đông Pháp. Tôi biết được nhờ nghe lỏm chuyện của bác. ở trường học, thày giáo treo trên tường ảnh một ông già Pháp với bộ ria mép rậm trên khuôn mặt béo tốt. Thày kẻ lên tường những chữ in bằng mực tàu "Cần lao - Gia đình - Tổ quốc, Dưới bức ảnh có in chữ đề "Thống chế Pétain". Từ trên huyện, người ta gửi về những bức tranh cổ động gồm các tranh nhỏ đủ cho một truyện "Đại úy Đỗ Hữu Vị", "Hai Bà Trưng". Đại úy Đỗ Hữu Vị là người Việt Nam đăng lính Pháp, lái máy bay đánh nhau với Đức, chết cho mẫu quốc. Bà Trưng "quê ở châu Phong, giận người Tô Định thù chồng chẳng quên" đánh nhau với quân Tàu, chết cho nước Việt. Có lẽ vì sự gắn bó của hai nước mà người ta in những bức tranh ấy. Tôi hiểu: người ta nói dối. Bố mẹ tôi sẽ nói khác về chuyện này.


Ông nhiêu Tuất héo hắt đi trông thấy. Bác Hai Thực nghe ai nói kể rằng ông hầu như chẳng mấy khi ăn cơm. ăn cơm thì phải thổi, mà trên mái nhà ông không có khói. Hình như thỉnh thoảng ông mới nấu nướng một lần. Hình như ông không còn tiền đong gạo. Hình như ông chỉ ăn sung xanh và thỉnh thoảng một bữa tróc giong. Cô Gái sai tôi mang sang nhà ông một rá gạo. Ông nhận và cảm ơn, nhưng không thấy sang chơi. Phải đến bốn tháng sau đó ông phu trạm Thần Lộ mới mang tới cho ông nhiêu Tuất bức thư mong đợi. Kèm theo là một ngân phiếu hai chục đồng, một số tiền khá lớn đối với túi tiền của người nhà quê. Ông nhiêu Tuất chống gậy đi khắp làng để khoe lá thư. Ông cúng vào nhà xứ năm đồng để mua nến. Có dễ ông muốn chuộc lỗi với Chúa mà ông dám oán trách hoặc tệ hơn, dám nguyền rủa. Đó là tôi nghĩ vậy. Người làng khen ông sốt sắng sự đạo. Cô Gái lại càng khen.


Tất nhiên, tôi phải là người được đọc lá thư đầu tiên. Bức thư dài bốn trang, trong đó người con trai kể lể nỗi niềm thương nhớ đói với cha. Tôi đồ rằng anh ta cũng nhờ ai viết hộ. Nét chữ trong thư quá đẹp đối với một người lính thợ Kèm theo thư là một bưu ảnh in hình một nhà thờ đồ sộ và cổ kính với đám đông đi lại tấp nập trên quảng trường trước mặt, chắc hẳn trong ngày lễ trọng.


Tôi thầm ghen với con trai ông nhiêu Tuất. Hẳn anh đã tới đây đã đi lại trước nhà thờ này, giữa những người xa lạ kia. Chỉ riêng điều đó thôi cũng đã thú vị biết bao nhiêu. Tôi còn đến xem bức bưu ảnh nhiều lần, nó được đặt trên bàn thờ nhà ông nhiêu Tuất, và trong tôi bắt đầu nỗi nhớ mơ hồ những phương xa tôi chưa từng gặp, những vùng đất tôi chưa từng đến, nơi cái gì cũng khác với quê tôi - từ ngọn cỏ, mặt trời hay ánh trăng khuya.


Về sau này tôi mới biết đó là nhà thờ Đức Bà ở Pa-ri.


Cả thế giới biết đến nhà thờ này, không phải vì nó to hơn hay đẹp hơn các nhà thờ khác, không phải vì nơi đây đã xảy ra một sự kiện lịch sử lớn lao nào, mà đơn giản chỉ vì Vích-to Huy-gô đã nói đến nó, đã chọn nó làm tụ điểm cho cuộc gặp gỡ bi kịch của những nhân vật Huy-gô.


Sự biết ơn của ông nhiêu Tuất làm phiền tôi. Ông khoe với cả làng về tác dụng bức thư tôi viết. Thế là những người đàn bà có chồng làm ăn trên tỉnh hay ở mạn ngược liền chạy đến với tôi. Ông nhiêu nghĩ rằng họ sẽ biết cảm ơn tôi như ông đã cảm ơn tôi mỗi lần họ nhờ tôi viết. Nhưng dù cho họ có rộng rãi trả tôi cả một hào tôi cũng chẳng bao giờ viết được cho họ một bức thư như tôi đã viết cho ông.


(còn tiếp)


Nguồn: Miền thơ ấu. Tiểu thuyết của Vũ Thư Hiên, NXB Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1988. Tác phẩm đoạt Giải A Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đi tìm hiện thực của những ước mơ - Hạ Bá Đoàn 18.07.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.07.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 12.07.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 08.07.2019
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 01.07.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 29.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 28.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
xem thêm »