tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 25768128
Tiểu thuyết
09.02.2014
Vũ Thư Hiên
Miền thơ ấu

Anh Cu Nhớn không phải chỉ giỏi câu. Anh có những cần câu tuyệt vời, tự làm lấy. Hóa ra nghệ thuật làm cần câu chẳng đơn giản chút nào. Anh phải ngắm nghía, chọn lựa những cành tre đực thẳng và đẹp từ khi chúng còn ở trên cây, xanh rờn và mềm oặt. Phải chờ cho đúng đủ già, anh mới bắt, hơ lửa uốn cho thẳng rồi sau đó mới lấy dao thật bén mà gọt mấu. Gọt cũng phải nhẹ nhàng, không được phạm, nghĩa là vô ý để lưỡi dao ăn quá sâu vào thịt tre. Rồi gác cái cần câu đã được chế tạo lên ránh để cho khói và thời gian làm cho nó lên nước, sau đó hạ xuống đánh bóng bằng xơ tre, rồi ngâm xuống ao cho cần câu dẻo lại, khi ấy mới dùng được. Một cái cần câu như thế sẽ dẻo đến nỗi gặp cá to nó sẽ uốn mình cong vút tới tận cán nhưng không chịu gãy.


Dây câu làm bằng tơ mảnh chập lại rồi se cho thật săn ngâm nước nâu chát xít vài lần. Lưỡi câu uốn bầng dây thép các cỡ tùy theo loại cá. Nghệ thuật uốn lưỡi câu của anh Cu Nhớn cũng hết chê luôn. Tôi không hề phóng đại, đường cong của lưỡi câu có cái đẹp riêng của nó mà chỉ những người đã từng tự tay uốn lưỡi câu hoặc những người mê câu nhiều năm mới biết. Thành thử, bây giờ tôi nghi ngại nhìn những người câu bằng dây cước cong queo với cái lưỡi câu thô kệch sơn đen - con cá ngốc nào sẽ đâm đầu vào ăn mồi của một tay câu như thế?


Tôi không thể tự tay làm lấy bộ đồ nghề tuyệt vời như thế. Tôi có thể mượn anh Cu Nhớn vài lần, nhưng nhường tôi như vậy, số cá câu được hụt đi tỉ lệ thuận với số cần câu bị giảm sút. Tôi nóng được làm chủ vài cái cần câu như của anh Cu Nhớn. Tôi không dám xin anh, bởi vì tôi hiểu làm ra một cái cần câu tuyệt như thế anh phải tốn công thế nào. Tôi đưa cho anh hào bạc mà mẹ tôi giúi cho khi chia tay. Anh ngần ngừ đưa cho tôi cần câu đẹp nhất của anh. Cô Gái phát hiện ra việc mua bán đó. Bà hầm hừ:


- Thằng Cu Nhớn thế mà hỏng, ăn dỗ của em.


Anh Cu Nhớn trả lại tiền cho tôi. Tôi phải trả lại anh cần câu. Tôi tiếc hai cái cần câu đến phát khóc.


Nỗi đau khổ của tôi làm cho cô Gái mủi lòng. Bà hạ lệnh cho anh chỉ được lấy tôi năm xu:


- Năm xu là đắt rồi. Đáng lẽ mày phải cho em, nó bé. Đồ tồi!


Anh Cu Nhớn bậm môi lại, nghe lời cô.


Người lớn thường có cái tật là can thiệp vào lẽ công bằng của trẻ con. Năm xu hai cái cần câu như thế là quá rẻ.


Bọn trẻ trong làng vẫn bán cần câu cho nhau và giá một cái cần câu bằng cái anh Cu Nhớn chế tạo ít nhất cũng phải một hào.


Tôi lén lút đưa nốt năm xu cho anh Cu Nhớn. Anh không lấy. Nói thế nào cũng không lấy. ít lâu sau, anh còn cho tôi hai cái cần câu tôm nữa. Chắc anh nghĩ rằng cô Gái nói phải, nhưng có lẽ anh sợ cô thì đúng hơn.


Có nhiều người không tin có sự câu tôm. Vậy mà nó có đấy. Cần câu tôm vót bằng mảnh tre đực già, cật nhiều, thịt ít hoặc giả bằng nứa ngâm loại tốt. Đầu cần phải vót rất mảnh, chỉ nhỉnh hơn đầu que tăm một chút. Vậy mà khi gặp cá lớn quá sức chịu của cần câu, nó hay gãy ở phần dưới chứ không gãy ở đầu.


Dây câu tôm là thứ dây đặc biệt. Đó là một sợi tóc nguyên vẹn, rất dài, không được phép nối. Vào thời bấy giờ, tóc dài là một trong những vẻ đẹp của nữ giới. Có người tóc dài đến nỗi mỗi khi gội đầu phải đứng lên ghế để thả tóc mình vào chậu nước bồ kết. Thứ tóc tốt nhất là tóc đen, óng và mượt. Tóc rễ tre bề ngoài có vẻ mập hơn, chắc hơn, nhưng lại dễ đứt. Để có những dây câu tốt cho những cần câu tôm của mình, chúng tôi phải thuộc hết tóc của các cô gái làng. Trong việc đi sưu tầm tóc tôi quan sát nhiều loại tóc khác nhau và có một phát hiện lý thú là tóc người cũng nói về chủ nó chẳng kém gì đôi mắt, giọng nói, gương mặt hoặc dáng đi. Nhưng nói về phát hiện này thì quá dài, đành phải để dịp khác.


Tôi ngạc nhiên về độ bền dai của tóc người. Nó mảnh mai là vậy, nhưng không hiếm lần tôi đã giải lên khỏi mặt nước những con mương bản lớn bằng hai ngón tay bằng thứ dây câu kỳ lạ ấy. Gặp cá to, tất nhiên là so với con tôm, tim tôi nhảy lên trong lồng ngực, tay tôi run lên, cái cần câu uốn cong tới tận cán, sợi tóc căng như dây đàn, tưởng chừng nó đứt đến nơi, rồi vụt một cái, con mương đã vật mình trên cỏ lấp lánh ánh bạc.


Nhưng thú nhất đối với người câu hay sốt ruột như tôi là câu cá rô ron. Anh Cu Nhớn có cái nhìn khinh khỉnh đối với những ai thích câu dễ dãi. Tôi đành câu một mình. Mùa hè, ao nào cũng đầy cá rô ron. Chúng to bằng ngón tay cái, bằng ngón chân, màu vàng ngả sang xanh, với một chấm đen ở đuôi. Đó là lũ cá trẻ con, rất hiếu động và rất ngây thơ. Từ dưới đáy ao chúng ve vẩy cái đuôi tí xíu phóng vút lên mặt nước, đớp một ngụm không khí rồi khoái trá lặn xuống tung tăng đi chơi trong nước xanh. Những con rô mẹ vô tư, tưởng con mình đã lớn chúng mặc cho con cái vui chơi, không hề chăm sóc, không cần bảo vệ.


Tôi vỗ một con ruồi đậu ở chân, mắc vào lưỡi câu rồi quăng xuống nước. Con ruồi nhẹ bổng cộng với cái lưỡi câu bé nhỏ bằng thép go nổi trên mặt nước, cả sợi dây câu bằng tóc cũng xếp ngoằn ngoèo bên cạnh. Tôi quên không nói, để câu cá rô ron tôi dùng cần câu tôm. Con ruồi không chết ngay, tôi cố ý vỗ nhẹ để cho nó chỉ bị ngất đi, nó vẫy cánh loạn xạ trên mặt nước. Cái vật động đậy liên hồi đó kích thích tính tò mò của một con cá rô ron, có khi cả hai ba con một lúc. Một con dạn nhất, hoặc tham ăn nhất, ve vẩy đôi vây mỏng tang, bơi bổng lên, lưỡng lự vài giây rồi lao tới con ruồi như một làn chớp vàng. Con ruồi đã bị đớp gọn; nó lao ngược trở lại, cũng nhanh như thế. Cái cung cách kiếm ăn như một tên cướp giật chẳng bao giờ cứu nó thoát cái giật nhẹ nhàng của tôi. Chỉ một lát ngồi câu tôi đã được vài xâu cá rô ron.


- Chúng nó là trẻ con, chưa có trí khôn..


Anh Cu Nhớn không khen khi tôi câu được nhiều những con cá nhóc nhách ấy.


- Được bữa rán đấy - tôi chống chế.


- Ra cái gì? - anh nói.


Tôi còn thích câu cá mương. Giống cá này có nhiều ở con ngòi chạy quanh co từ chợ vào sâu trong làng. Cá mương cũng thích mồi nổi như cá rô ron, nhưng mồi mỡ sống được chúng ưa nhất. Thứ mồi này tiện, bắt hàng chục con mà vẫn không phải thay. Cá mương cũng ham mồi, nhưng chúng đùa bỡn chung quanh mồi nhiều hơn ăn.


- Câu mương làm gì, chú. Thịt nó nhão, mà tanh. - Anh Cu Nhớn nhận xét.


Anh Cu Nhớn chê cá mương tanh, chứ nấu canh sung cũng ngọt. Anh không thích câu mương là vì anh chê cái sự câu dễ dàng, như anh chê câu cá rô ron vậy.


Cá tanh nhất phải kể cá lằn đất. Nó to bằng cá ngão, hình dạng tựa cá ngão, nhưng dẹt mình, lưng có ánh xanh. Anh Cu Nhớn ghét thậm tệ cá lằn đất. Buổi câu nào mà giật phải hai con lằn đất là anh cuốn câu, đi về.


- Cái giống này xúi quẩy nhất hạng. - anh giải thích - Nó cắn đầu buổi là đừng hòng câu, tôi nghiệm như vậy.


Tôi trố mắt nhìn anh. Anh Cu Nhớn của tôi thực uyên bác, thực từng trải, thực sành sỏi.


Trái với điều tôi chờ đợi, cô Gái tỏ ra hài lòng khi thấy tôi mang cá về nhà. Bà lăng xăng làm cá, rán ròn cá rô ron trong cái xanh đất, ăn béo ngậy. Nhưng rán thì tốn mỡ, bà kho khô trong niêu đất, vùi tro cho tới khi cá khô cong, xương mục ra, ăn bùi và ngọt lịm.


Thế rồi, một hôm cô Gái bảo tôi ở nhà câu với bà. Hóa ra cô Gái cũng có một cái cần câu giắt ở chái chuồng lợn. Thế mà tôi không hề biết. Cô Gái câu rất vụng. Bà luôn làm vướng dây câu vào các cành cây ở bờ ao. Chốc chốc tôi lại phải lấy sào gỡ cho bà, có khi phải trèo lên để gỡ. Một lần bà giật quá mạnh, lưỡi câu mắc phải gộc tre hay cành củi nằm dưới ao, dây câu đứt luôn. Tôi đành bấm bụng hy sinh, lấy cho bà cái lưỡi câu dự trữ mà anh Cu Nhớn tự tay uốn cho tôi. Mà ao nhà tôi nào có cá. Đó là một ao tù phủ đầy bèo Nhật bản, cá cũng có nhưng chỉ có mấy con chuối, mấy con cá rô cụ. Thành thử sự hy sinh của tôi cũng bằng thừa. Bà câu được mấy con săn sắt. Tôi chỉ thích những con săn sắt trong lọ được vài buổi. Trong bộ cánh sặc sỡ, chúng bơi qua bơi lại trong phẫu đựng đường sứt miệng, ra cái điều hãnh diện, nhưng rõ ràng là những con cá háu ăn, ngu ngốc và đoảng vị. Có thể câu săn sắt bằng thứ dây câu tồi tệ nhất, tầm thường nhất, bằng chỉ trắng cũng xong, cả lưỡi câu cũng vậy, một cái đinh ghim uốn cong là đủ, chúng vẫn cắn như thường. Chẳng bù với những con cá rô cụ. Khi đã ở tuổi già, cá rô có đức tính thận trọng đáng kính phục.


Cô Gái ghen tị nhìn tôi mang những con cá từ nơi khác về Bà biết tôi không muốn câu với bà. Mà bà thì muốn câu. Vì buồn, chứ không phải vì muốn được cá.


Tôi vẫn lang thang với anh Cu Nhớn. Nếu biết tôi đi câu cô Gái chẳng cho tôi ngồi lâu. Có khi vừa tìm được một chỗ nấp kín đáo, cái phao đầu tiên vừa động đậy, anh Cu Nhớn đã huých tôi:


- Cô Gái gọi chú kìa?


Tôi lắng nghe. Từ phía nhà tôi vẳng lại tiếng réo của bà. Đã không gọi thì thôi, chứ đã gọi thì bà làm như hò đò sông cái:


- Thư ơi, Ơ Thư? Thưuư ơơơiii!


Tôi cuốn cần câu lại, thở dài.


Cô Gái chờ tôi ở thềm, sừng sững như một cái phất trần:


- Đi đâu mà tao réo hết hơi mới chịu dẫn xác về, thằng kia? - bà thét lên - Ngữ mày rồi hỏng, tao truyền đời báo danh cho mà biết. Bé đi câu, nhớn đi hầu, già đi làm khách nợ.


Tôi cúi mặt xuống, nước mắt trào ra trước câu tiên tri tàn nhẫn về cuộc đời mình.


IX - Cuối cùng rồi tôi cũng tuột khỏi bàn tay xương xẩu và rắn chắc của cô tôi, dù bà không hề muốn điều đó. Bà không thể cứ giữ rịt tôi ở nhà suốt ngày suốt tháng. Thực ra, cô Gái tôi không phải là người ác. Bên trong vẻ ngoài khắc khổ, nghiệt ngã, ẩn náu một trái tim tốt lành. Nhưng bà chỉ tốt vậy thôi, nghĩa là bà chẳng làm hại ai, chứ bà không hướng tới những việc làm tốt, cái đó quá sức bà. Hồi đó tôi không ưa bà, thậm chí ghét bà, hoàn toàn không ngờ rồi đây mình sẽ có lúc phải cay đắng mà nghĩ rằng được sống với những người không hại mình đã là một sự may mắn.


Tôi bắt đầu lang thang trong cái làng quê nhỏ bé của tôi, vào sâu trong các xóm, làm quen với những người mà sau này trở nên thân thiết bởi một lẽ đơn giản - họ cùng chung với tôi một mảnh đất của tổ tiên. Tôi cũng bắt đầu yêu những mái tranh lè tè sau những hàng rào găng, hàng rào ruối, hàng rào dâm bụt, hàng rào xương rồng và biết bao loại cây khác có thể dùng làm địa giới của gia đình. Tôi thích nghe tiếng hát ru từ trong những mái tranh ấy bay ra cùng với tiếng xa quay ríu rít, tiếng khung cửi kẽo kẹt. Tôi thích ngắm nhìn đồng lúa với những cánh cò trắng muốt bay lên đậu xuống nhẹ nhàng như những mảnh lụa rơi. Tôi nhớ tiếng ru của mẹ:


À ơi


Con cò mà đi ăn đêm


Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao...


Buổi sáng, làng tôi rộn lên tiếng chày đập vải ở mọi ao to ao nhỏ, dọc theo ngòi. Trong các nhà những cái khung cửi bừng tỉnh đưa thoi tanh tách. Càng về trưa những tiếng động càng lắng dần, lắng dần, cho tới đêm thì tắt ngấm. Trong bóng tối lạnh lẽo, những con chó nhát gan tru lên từng hồi dài để tự trấn tĩnh. Lang thang trong các xóm một giọng khàn khàn kéo dài, theo sau từng hồi mõ khô khấc:


Triềng... quan... viên... làng nước... Ai nấy... im... lặng... mà... nghe... ơ... ơ... ơ...


Đó là tiếng của ông Bổng, ông mõ già, người bị khinh rẻ nhất trong làng, tuy cũng chẳng phải là người nghèo nhất. Ông bị khinh bởi nghề mõ. Ông là dân ngụ cư, tức là người từ nơi khác đến kiếm ăn. Trong làng tôi những người nghèo hơn ông nhiều cũng không chịu làm mõ.


Thỉnh thoảng, lâu lắm, mới bùng lên một đám khao, một đám cưới, một đám ăn mừng nhà mới rồi cả làng lại ngủ lịm đi trong tiếng cầu nguyện không bao giờ dứt, trong tiếng chuông nhà thờ gióng giả gọi đàn chiên Chúa sáng đi lễ tối đi chầu.


Những người con gái ít khi ra khỏi nhà. Một số làm hàng xáo. Số đông ngồi suốt ngày dưới con chim gỗ gật gù không biết mệt và luôn tay đưa thoi. Từ tấm bé đám con gái đã thạo nghề quay xa, đánh suốt, giáo vải, hồ vải, dệt vải Đi lấy chồng, họ chuyển từ cái khung cửi nhà mình sang ngồi ở khung cửi nhà chồng, trong khi những người chồng đi biền biệt hàng năm.


Những người chồng lên rừng, làm nghề sơn tràng. Số may mắn trong bọn họ dần trở nên giàu có, đủ tiền của và nhờ tiền của mà có những lối gỗ riêng, trở thành ông lái. Nhà gạch của họ mọc lên san sát trong làng. Bè gỗ của họ đỗ kín con ngòi từ sông cái vào tới làng. Tên của họ được đệm thêm chữ lái, mà danh giá của nó có thể sánh bằng những chữ chánh, lý, phó, cửu... Những người số den vận rủi, không được trở thành lái ngậm ngùi làm thuê cho những người anh em cùng nghề mỗi ngày một trở nên xa cách. Họ đổ mồ hôi, có khi đổ cả máu, ngả cây, đưa gỗ ra sông, cốn thành bè. Bè xuôi, họ đứng chân áp giang. Trong khi các lái - ngày hôm qua còn là bạn họ - sát phạt nhau trong nhà bè (một căn nhà nhỏ làm ngay trên bè gỗ, bên trong thậm chí có cả sập gụ, tủ chè), họ thức thâu đêm đưa bè qua ghềnh qua thác. Có trường hợp một lái thua cháy túi qua một đêm lại rơi xuống hàng áp giang, phải ra đứng đầu bè cùng với người làm công cho mình hôm trước. ở làng tôi, khi người ta có tiền thì người ta đánh bạc. Hầu như đó là trò tiêu khiển duy nhất mà họ biết.


Những người đi rừng cứ đi mãi, hết ngược lại xuôi, chạy theo cái mộng trở thành ông lái, theo không được thì trở về khi kiệt lực, tha theo cái bụng báng kỷ niệm của rừng thiêng. Những người đàn ông bị báng có nước da bủng beo, cái nhìn đờ đẫn, cái bụng to như bụng đàn bà chửa đi trước họ, lặc lè Đã bị báng là chắc chết, họ buồn bã đi lang thang trong làng như để lặng lẽ chia tay với quê hương. Khi không đi được nữa, họ nằm xuống, trút hơi thở cuối cùng vào một ngày nào đó, cũng lặng lẽ như thế, để lại người vợ bị cột chặt vào cái khung cửi và lũ con đói khát. So với phụ nữ các làng trong vùng, làng tôi có nhiều người chít khăn trắng hơn cả. Đến nỗi, có thể nhận ra người làng mình trong chợ căn cứ vào những chiếc khăn trắng.


Những người lớn gặp nhau chung quanh những câu chuyện làm ăn và nỗi khốn khổ trong chuyện làm ăn gợi nên trong tôi cảm giác chán ngán.


Tôi tìm đủ cách để khỏi phải ở nhà với cô tôi. Tôi bám chặt anh Cu Nhớn. Nhưng anh bận nhiều công việc. Có khi anh phải xay thóc giã gạo cả ngày để cả nhà có nồi cháo cám. Cháo cám dù sao cũng còn hơn hạt sản rang.


Những khi thấy tôi lang thang một mình, chị Phương, con gái đầu lòng của bác Hai Thực, rủ tôi đi cất vó tép với chị.


Những ngày con nước và những ngày gió bấc thổi, cá ít chịu cắn. Ngồi cả buổi cũng chỉ lôi lên được vài con cá bò nhỏ xíu, tròn lẳn với làn da vàng loang lổ và nhẵn thín, hoặc đôi con bống nâu rộng miệng, là thứ cá ít cắn câu nhưng lại chịu khó kiếm ăn trong mọi thời tiết. Những ngày ấy, cả đến tôm tép cũng không chịu vào vó. Nhưng chị Phương tôi là người nhẫn nại hiếm có. Khi tất cả những người cất vó tép ngồi nhà, thì chị vẫn lang thang bên các bờ ao với cây sào và cái rá. Đi cất vó tép rất thong dong, các chủ ao không bao giờ xua đuổi cái sự kiếm ăn lèm nhèm ấy.


Hơn tôi chừng chục tuổi, chị gầy tới mức có đem cân cũng chỉ nhỉnh hơn tôi chút ít. Đen nhẻm, xương xẩu, chị có gương mặt dễ mến, hiền lành tới mức cam chịu, đôi mắt mở to không chớp, mắt của loài thỏ, ngây thơ và tin cậy. Tôi căng vó giúp chị, chị lấy sào móc vó đặt nhẹ nhàng xuống chỗ nước nông bên bờ ao, gõ vào đầu vó mấy cái cho nó khỏi nổi bềnh lên rồi lấy mồi cám rang giấp nước ném vào giữa vó một mẩu nhỏ. Mẫu cám tan ra thành bụi nâu trong nước, chìm dần.


- Tôm nó không có mũi, vậy mà ngửi được, tài ra quỷ (tức là tài lắm, theo cách nói ở làng tôi).


Chị Phương nhỏ nhẹ nhận xét. Chị nói bằng giọng rụt rè, nâng niu từng chữ, như thể chị sợ chị sẽ đánh rơi chúng xuống đất cứng và chúng sẽ vỡ tan thành từng mảnh.


- Tôm nó cũng có mũi chứ.


- Làm gì có. Đây này - chị đưa cho tôi một con tôm đang bật đuôi tanh tách - Mũi đâu nào? Mắt có, mồm có, mà mũi thì tịnh không.


Tôi soi mói nhìn con tôm.


- Có khi mũi nó liền với mồm, chị ạ.


- Dễ vậy.


Chị không sợ tôm nghe tiếng, vì thế đi cất vó tép với chị tôi có thể nói chuyện thoải mái. Chị hay đặt ra những câu hỏi, rồi lại tự trả lời. Rõ ràng đàng sau những câu hỏi lẩn thẩn ấy, chị Phương tôi muốn tìm kiếm một cái gì đó, một cái gì rất có ý nghĩa đối với chị.


- Giá mà người ta có cánh như các thánh Thiên thần! - đột nhiên chị rẽ sang chuyện khác - Chú tính, nếu lấy lông ngỗng mà đan lại thực khéo làm cánh rồi buộc vào tay, mình có bay được không?


- Lông ngỗng chắc không được. Ngỗng có biết bay đâu.


- ờ nhỉ.


Chị sực nhớ đến con ngỗng không biết bay, gật đầu.


Một lát sau, chị lại sang chuyện khác.


- ở Hà nội có bà sờ không chú?


- Bà sờ là cái gì?


- Là người nữ đi tu ấy.


- Thế thì là bà sơ, chị lại gọi là bà sờ. Bà sơ mặc áo đen lụng thụng, có cổ áo trắng, phải không?


- Phải.


- Bà sơ ở Hà nội có mà ối. Họ đeo tràng hạt dài đến bụng, mà hạt to thế này này.


Cái nhìn của chị trở nên xa vắng.


- Tôi cũng muốn làm bà sơ.


- Chị định đi Hà nội à?


- Không. ở làng ta cũng có nhà sơ, gọi là nhà mụ. Tôi muốn vào trong nhà mụ.


- Chị vào đấy làm gì?


- Đi tu chứ còn làm gì. Có điều vào ở nhà mụ thì sướng cái phận mình, nhưng tôi lại thương thầy mẹ. Vào ở nhà mụ rồi thì không được về nhà mình nữa.


- Thế thì đừng vào đấy, chị ạ.


Tôi nghiêm trang khuyên chị. Chị đồng ý, dễ dàng như bất cứ lúc nào.


ở nhà bác Hai Thực mọi người đồng tình trút mọi việc có thể trút được lên đôi vai gầy của chị Phương. Chị lẳng lặng hứng lấy, không phàn nàn, không oán thán, lúc nào cũng bị ai đó sai làm việc gì đó, suốt từ tinh mơ cho tới khuya. Chị tát nước, nhổ mạ, đi cấy, cắt cỏ cho trâu thuê, đưa cơm cho thợ cày, làm cỏ ruộng, xới vườn, xay thóc, giã gạo, đánh ống, đánh suốt, dệt vải, cất vó, đi chợ, làm cơm... Tưởng chừng một con người không thể nào cáng đáng nổi từng ấy công việc, ấy thế mà chị Phương làm được tuốt, lúc ở chỗ này thoắt cái đã ở chỗ khác.


- Tội nghiệp con cái Phương? - cô Nhung, chị gái bác Hai Thực phải kêu lên - Làm nhiều quá, quắt cả người. Chẳng ai thương nó trong cái nhà này.


Bác Hai Thực gái nguýt cô:


- Bà thương nó thì bà đỡ cho nó. Con cái lớn thì phải làm. Không có cái phép ngồi giãi thải ra mà hốc.


Tôi đỏ mặt thay cho cô Nhung. Bà già rồi, lại yếu, mắt kèm nhèm, chẳng làm dược gì, hôm nào khỏe bà cũng chỉ đánh mấy cái suốt, hoặc giã cố một cối gạo, tất nhiên là với sự giúp đỡ của lũ trẻ chúng tôi.


Cô Nhung tủi thân, ra thềm ngồi khóc.


Bác Hai Thực ở nhà trên nghe tiếng, đập mạnh tay xuống giát giừơng


- Các bà. Có để cho người ta yên một thí không nào!


Cảnh Cô Nhung là thế. Vậy mà chị Phương tôi không sợ Chị nói với tôi:


- Tôi rồi sống trọn đời đồng trinh như các cô.


Các cô đây là cô Oanh, cô Nhung và cô Gái. Ba người con gái ở ba ngành không lấy chồng, trở thành ba bà cô. Ngành cả giàu có nhất, xây được một cái nhà tây hai tầng và có một nhà ngang bằng gỗ tứ thiết chạy suốt chiều ngang cái sân nhà ông bà nội tôi. Đứng ở thềm nhà ông bà nội nhìn ra tôi có thể thấy cả cái nghèo nàn của ngành thứ với cái giàu sang của ngành cả. Nếu cửa liếp của ngành thứ thông sang nhà tôi thì cái cổng gỗ của ngành cả lúc nào cũng đóng chặt. Có lẽ ngành cả chỉ giữ lại làm phép cái cổng này để linh hồn tổ tiên khỏi đau lòng khi thấy con cháu mình rào dậu ngăn sân.


Người thấp bé, lầm lì, cô Oanh không mấy khi sang chơi với hai bà em. Bà sợ bẩn. Là người sạch rởm, mỗi khi có khách tới nhà, bà vội vã bưng ghế ra cho khách ngồi kẻo họ suồng sã ngồi vào giường bà. Nếu họ vô tâm cứ ngồi vào đó thì bà nhăn nhó như người bị đau răng trong suốt buổi tiếp khách, khách vừa về là bà vội cuốn chiếu đem ra cầu ao giặt ngay.


Khi cô Gái đưa tôi sang chào cô Oanh, bà nhìn tôi từ đầu đến chân, cái nhìn xa lạ:


- Vậy nó là con ông Tư?


- Dạ, nó về ở với em, em cho nó sang chào cô.


- Nó sạch sẽ đấy. - cô Oanh nhận xét.


Quên ngay tôi, cô Oanh quay sang hỏi chuyện với cô Gái câu chuyện tầm phào thủng thẳng.


Cùng ở với cô Oanh còn có cô Nhất. Cô Nhất già khọm thấp tè, xấu xí một cách dữ tợn. Suốt đời bà bực dọc với một cái gì đó không ai biết, sống lặng lẽ như một cái bóng. Bà không mặc quần áo nào khác ngoài vài bộ đồ đen, bao giờ cũng vận áo dài, dù ở trong nhà. Bà sống gần như trọn đời đồng trinh. Chồng chết sớm, bà ở vậy cho tới khi trở thành bà lão. Cô Nhất không quát mắng chúng tôi, lũ cháu của bà, nhưng chúng tôi sợ bà, hệt như bà là một con ma sông.


Cái nhà xây thường bỏ không. Người ăn thừa tự của ngành cả là bác cố Tuyển, nhưng ông đã qua đời, bà vợ và các con, những ông anh bà chị của tôi ít khi trở về quê. Họ đều thành đạt, trở thành những ông tham, ông phán. Con của những ông anh bà chị tôi cũng chỉ về quê vào dịp hè, ăn vận sang trọng hơn hẳn lẽ trẻ chúng tôi ở nhà quê. Chúng tôi chơi với nhau như bạn bè, và tôi có niềm hãnh diện nho nhỏ vì những đứa cháu bằng và hơn tuổi mình. Theo truyền thống gia tộc sự ngang hàng trong xưng hô bị coi như sự mất nết.


Tôi cũng chỉ gặp bác cố Tuyển gái vài ba lần. Bác trai đã mất từ lâu, bà là người có quyền cao nhất trong ngành cả Bà bác giàu có không lạnh nhạt với tôi, nhưng cũng chẳng mặn mà. Dường như bà chẳng cần biết đến những đứa cháu họ bên chồng. Bà tiếp tôi như trong lễ triều kiến khi theo khuôn phép, tôi phải tới trình diện để chào bà. Bà hỏi tôi mấy câu lấy lệ, rồi hạch cô Gái:


- Nó đã xưng tội lần đầu chưa?


Thưa chị, chưa. - cô Gái đáp lễ phép.


- Cô phải lo cho nó sớm việc này.


- Thưa chị, vâng ạ..


Căn phòng rộng trên gác nhà tây với đủ thứ đồ đạc sang trọng - sa lông, tủ chè, sập gụ, mấy tấm gương lớn, hoành phi, câu đối, ảnh tượng Chúa, thứ nào thứ nấy bóng loáng và lạnh lẽo. Tôi mong cho buổi triều kiến mau kết thúc. May cho tôi, nó kết thúc sớm hơn dự kiến. Vẫn ngồi nguyên trên sập, bác cố Tuyển gái phán:


- Cô cho cháu về.


Tôi khoanh tay chào từ biệt bà. Cô Gái khép nép dắt tôi xuống thang. Bàn tay khô xác của cô tôi lúc đó sao mà ấm áp.


Cô Oanh riết róng chẳng kém cô Gái. Bà ca cẩm chuyện anh Cu Nhớn câu hết cá ở ao nhà bà.


- Cô Oanh rõ dở hơi - anh Cu Nhớn chằng mảy may quan tâm tới những lời phàn nàn hoặc mắng mỏ của cô Oanh - Ông bà bên ấy để của lại là cho con giai, ao là của bác cố Tuyển chứ đâu của cô mà cô giữ.


Cô Oanh đối với tôi nhẹ nhàng hơn, cũng như đối với các cháu khác trong ngành út. Dù sao các ông em của bà ở ngành này cũng giàu có và danh giá hơn bác Hai Thực.


Thậm chí, bà cho phép tôi được câu cá ở cầu ao nhà bà. Cái cầu ao mấy bậc bằng đá phiến xanh và nhẵn là chỗ ngồi câu thú vị. Không hiểu vì sao ở đây cá rất chịu cắn. Anh Cu Nhớn phát ghen với tôi, anh coi đó là chỗ câu lý tưởng. Có lẽ cô Oanh cho tôi câu vì cô biết tôi không sát cá. Vài con giếc không làm cho bà đau xót. Tôi cũng khôn ngoan dành cho bà vài con cá nhép cho con mèo tam thể béo tốt và lười biếng của bà.


Ngồi ở cầu ao nhà bác cố Tuyển, tôi có thể vừa chờ cá cắn vừa ngắm người qua lại. Những người đàn bà đội cả chồng thúng, ngất nghểu từ chợ về, hai tay ve vẩy bên hông như múa. Vài con trâu đen nháy, béo mập đi những bước chậm chạp và lười biếng, thỉnh thoảng mới cúi xuống vặt một nạm cỏ non nơi vệ đường. Chiếc võng của cha xứ đung đưa trên vai hai người khiêng lực lưỡng. Họ choãi chân, đi lặc lè; cha xứ nằm trên, tay cầm cuốn kinh bìa đen thò ra ngoài màn che. Cha xứ chúng tôi nổi tiếng về đức siêng năng trong việc chăm lo phần hồn cho bổn đạo.


Cô Oanh ngồi bên tôi thắc mắc:


- Không biết cha đi đâu vậy? Dễ đến nhà ông lái Tòng. Ông ấy Chúa rước đến nơi. Mà có khi, cha đến ông trùm Thịnh. Nghe nói, ông ấy mấy bữa rày chẳng cơm cháo gì suất.


Làng tôi nhỏ, mỗi sự kiện đều được truyền đi cho nhau biết, bằng đường báo tin chính thức thì ít mà qua sự ngồi lê đôi mách thì nhiều.


Cô Gái vẫn dạy kinh cho cháu đấy chứ?


- Dạ, vẫn dạy.


- Cháu thuộc nhiều chưa?


- Thưa cô, chưa nhiều ạ.


- Phải học cho thuộc. Nhà ta đạo gốc.


- Thưa cô vâng ạ.


- Cháu nhớ sự tích bà thánh Ve-rô-ni-ca lột mặt Đức Chúa Giêsu không?


- Không ạ.


- Để cô dẫn tích cho mà nghe.


Trời hỡi, thế này thì cá còn cắn gì nữa?


Cô Oanh kể. Những cái phao ì ra, bất động. Tôi cuốn cần câu lại, lễ phép xin cô cho về.


- Hôm nay dễ trở giời, cá không cắn. - cô Oanh ái ngại cho tôi - Để hôm khác vậy, cháu lại sang.


Bà đóng hai cánh cổng hậu lại khi chân tôi vừa bước qua ngưỡng. Tôi ghét cay ghét đắng cái tiếng cài then hấp tấp sau lưng khách của cô Oanh. Và nói chung, tôi không thể ưa được những người vừa tiễn khách ra về là sập ngay cửa lại.


Những ngày lễ, ngày tết, cô Oanh có cái thú gói bánh. Bao giờ bà cũng chỉ gói ba thứ: bánh gai, bánh gấc và bánh trắng. Nhà chỉ có hai chị em, gói bánh là chuyện xa xỉ. Bà gói bánh có lẽ chỉ vì muốn cho cuộc sống cô quạnh và đơn điệu của mình có cái gì giống như ở mọi người. Bánh bà gói được bao nhiêu cũng đem biếu cha xứ gần hết, số còn lại là dành thết khách, hy vọng sau khi ăn xong khách sẽ thết lại một lời khen. Mà có khen bánh của bà cũng không ngoa, bởi vì chúng ngon tuyệt. Lần gói bánh nào bà cũng dành cho tôi mấy chiếc. Bà gọi tôi sang, chỉ cho tôi cái ngưỡng cửa để mà ngồi, rồi đưa cho tôi tấm bánh.


- Bóc đi cháu, cô cho đấy.


Tôi bóc những lần lá chuối khô rồi cắn ngập răng vào cái màu đen ngọt lịm và béo ngậy của tấm bánh gai. Cô Oanh nhìn tôi với vẻ thèm thuồng như chính bà cũng muốn được ăn.


Ngon không cháu?


- Thưa cô, ngon lắm ạ.


- Cô Gái làm cũng ngon vậy chứ?


Tôi lúng búng trong miệng.


- Thưa cô, không ngon bằng ạ.


Đó là sự thật. Nhưng tôi không muốn nói sự thật ấy. Nó có gì giống như sự phản bội đối với cô Gái.


Cô Oanh cười. Vẻ hài lòng thơ ngây hiện trên gương mặt già lão. Về bánh gói, cô Gái là địch thủ đáng gờm của bà.


- Cô Oanh vừa cho mày ăn bánh phải không?


Tôi bất giác đưa tay lên chùi miệng. Cử chỉ đó tố cáo tôi. Vả lại, tuy ngồi ở nhà mình, cô Gái biết mọi việc xảy ra bên nhà chị họ.


- Thưa cô, vâng.


- Đồ ăn chực! - cô Gái ném vào mặt tôi câu mắng tàn nhẫn. Tao cấm, hiểu chưa, tao cấm. Từ rày, không được sang bên ấy mà ăn chực. Cô Oanh cho mày thì cô ấy đem sang đây mà cho. Cứ cho dấm cho dúi, như thể tao bỏ đói mày không bằng. Vào đây.


Tôi run lên. Thế giới thu nhỏ lại trong cái phất trần, mà tôi đã biết độ rắn của cái cán. Nhưng cô Gái không vớ lấy phất trần. Và ra hiệu cho tôi theo bà vào buồng. Cô Gái mở hòm gian, lấy cho tôi một cái bánh gấc.


- Năm nay cô không gói bánh. Nhà mụ nhờ cô gói, nhân tiện cô gói cho nhà ta cả thể. - bà nói hiền lành - ăn đi?


Tôi ăn chiếc bánh gấc của cô Gái.


- Thế nào, ngon không?


Cô Gái đợi tôi ăn xong, hỏi bằng giọng lo sợ và hy vọng.


- Thưa cô, ngon ạ.


- Ngon thế nào? Hơn hay bằng bánh của cô Oanh?


- Thưa cô, ngon hơn ạ.


Tôi nói dối. Tôi hiểu giữa hai bà có sự ganh đua ngấm ngầm và cả hai không bỏ lỡ dịp để hạ uy tín của nhau trước mặt con cháu.


Cô Nhung là người khác hẳn cô Oanh và cô Gái. Người cao, to, ngộc nghệch ở tuổi già bà teo hết thịt, trở thành cái mắc áo. Mặt bà đầy nếp nhăn, làn da như một mảnh vải nhàu nát, nhưng trên gương mặt bị tàn phá đó luôn luôn có một nụ cười hiền hậu và trìu mến.


Cô Nhung thương tôi. Bà thương bố tôi ở nhà pha phải giao con cho cô Gái nuôi, mà cô Gái là người hà tiện thế nào thì bà biết rõ.


Kể ra, cô Nhung thương tôi vì cô nghĩ rằng tôi lẽ ra có thể được sung sướng hơn, chứ bữa ăn ở nhà bác Hai Thực còn tồi tàn hơn bữa ăn của cô Gái và tôi nhiều lắm.


Cô Gái ăn khổ là do nếp nhà, như chính bà thường nói, cái nếp qui định không được vung tay quá trán. Cơm phải đủ no, nhưng nhất thiết không thừa. Vườn nhà đủ thứ rau, trứng gà do gà nhà đẻ, với cái cần câu của tôi, cá rồi cũng chẳng phải mua nữa; mươi con mương cũng đủ nồi canh cá nấu sung, vài chục con vừa rô con vừa bống là xong hai bữa có cá kho, tóm lại mùa nào thức ấy. Thỉnh thoảng cô cháu tôi đào một bụi tróc giong (giong riềng) hoặc rang vài lẻ thóc nếp cắn chắt những buổi tối ngót dạ. Tôi không phàn nàn về chuyện ăn uống. Vào tuổi tôi hồi ấy ăn gì cũng ngon. Cơm nguội rang bằng nồi đất, rắc vài hạt muối, nắm lại thành mấy nắm chim chim đã ngon tuyệt, chẳng cần phải có mỡ. Mỡ là của hiếm, cô Gái chỉ mua thịt ngoài chợ đôi ba lần một tháng, mỗi lần một hai lạng tây.


Cô Gái bực bội khi biết cô Nhung, thỉnh thoảng lại dấm dúi cho tôi khi củ khoai lùi, khi bắp ngô nướng. Bà coi đó là sự phỉ báng lặng lẽ đối với bà. Nhưng tôi biết, khi cho tôi những món quà nhỏ bé đó cô Nhung chẳng nghĩ gì tới tác động của chúng tới bà em họ giàu trí tưởng tượng.


Tối đến, thấy vắng mặt tôi, cô Gái biết ngay tôi ở bên nhà bác Hai Thực. Bà gọi tôi ồi ồi. Cô Nhung phải ra cửa nách nói chõ sang, giọng nịnh nọt:


- Cô cho cháu nó đọc kinh bên này với tôi.


Sau buổi đọc kinh tối, cô Nhung còn cà rầm cà rì kể chuyện cho lũ cháu tới khi chúng tôi lần lượt lăn ra ngủ khì trên ổ rơm của bà.


Cô Nhung kể chuyện về những người đã chết trong ngôi nhà của bố mẹ bà. Cô Nhung kể dài dòng hơn cô Gái, kém mạch lạc hơn. Những người mà giọng nói hụt hơi của bà nhắc tới vừa sinh động, vừa đáng ngán. Họ là những người vui vẻ tinh nghịch, nhưng đáng ngán vì họ làm toàn những việc không đâu, chẳng nhằm mục đích gì, rồi biến mất khỏi thế giới này không để lại cái gì.


Sáng ra, tôi trở về nhà với nhiều nốt muỗi đốt trên mặt.


- Có màn không nằm, thích nằm ổ rơm - cô Gái lắc đầu- Mày rồi đi ăn mày, cháu ạ, mày không biết chọn cái sướng.


Nhưng tôi vẫn bị cuốn hút sang nhà bác Hai Thực.


Về mùa Đông, những buổi sáng có nắng ấm, cô Nhung gọi tôi sang:


- Cháu đưa áo đây, cô bắt rận cho.


- Để cháu bắt lấy.


- ừ, ngồi đây mà bắt với cô. Gớm, chúng nó cắn quá sức lẽ mình, làm cả đêm cô không chợp mắt.


Tôi cởi áo, ngồi xuống thềm. Cả nhà bác Hai Thực đã ngồi sẵn ở đấy thành một hàng. Chúng tôi chăm chú và say mê lùng bắt những con rận cụ đen như trâu, những chú rận nhép trắng trong với một chấm máu tí xíu giữa bụng. Chúng nép mình trong những nẹp áo, nẹp quần, bấu chặt vào các đường chỉ khâu sần sùi. Túm được một con là anh Cu Bé reo ầm lên:


- Một anh kềnh.


- Lại một nhép.


Tiếng reo của anh Cu Bé làm cô Nhung sốt ruột. Cô ngừng bắt, hướng cặp mắt mờ đục lúc nào cũng rỉ nước về phía Cu Bé:


- Mày được bằng nào rồi, Cu Bé?


- Tính cả con này nữa là hai mươi bảy, cô ạ.


- Vậy mà cô được có tám con.


Cô Nhung thở dài, đặt cái áo xuống, quài tay ra sau đấm lưng


Cô Nhung bắt rận chậm lắm. Đôi tay nhăn nheo như những đốt xương bọc trong chiếc găng da mềm màu vàng xỉn dò dẫm theo nẹp áo, chốc chốc lại chìa cái áo rách cho tôi:


- Cháu tinh mắt, nom hộ cô có phải con nhép không?


- Không phải đâu, cô ạ! Cái sợi chỉ lỗi nó gồ lên đấy.


- Cô cứ ngỡ con nhép, gậy mãi gậy mãi không được. Anh Cu Nhớn được bằng nào rồi?


- Ba mươi hai, cô ạ.


- Còn cái Phương?


- Cháu không đếm. Mà lắm lắm.


- Cái tang rét năm nay rận ra nhiều quá thể. Năm ngoái năm kia ít hơn nhiều.


Cô Nhung kết luận. Sự kiện này rồi sau sẽ nhảy vào trong những chuyện kể của bà.


Bác Hai Thực giai sốt ruột, quay vào trong nhà lấy ra một cái chai, trải chiếc áo trắng đã hoàn toàn trở thành cháo lòng lên nền gạch, rồi dùng sức mạnh của đôi tay gầy guộc lăn qua lăn lại trên từng nẹp áo. Ngồi gần, tôi nghe thấy tiếng rận và trứng rận bị đè bẹp, nổ lép bép. Những người đàn bà đưa nẹp áo, nẹp quần lên nhằn từng đoạn một.


- Thày kể cái đoạn Triệu Tử Long đi thày.


Chị Phương cầm lấy cái chai bác Hai vừa đặt xuống, làm theo bố.


Bác Hai Thực đằng hắng lấy giọng, để mọi người chú ý, rồi thủng thẳng:


- Lúc bấy giờ Triệu Tử Long mới một mình một ngựa, tả xung hữu đột quay lại tìm A Đẩu...


- A Đẩu là con Lưu Bị, thày nhẩy?


- Lặng nghe thày kể nào. Thằng Cu Bé, cứ cắt ngang.


- ừ, A Đẩu là hoàng tử, con trai của Lưu Bị - bác Hai Thực chiều cậu út, giảng giải - Cứu được A Đẩu rồi, Triệu Tử Long lại phải phá vỡ bảy lần trùng vi mới đưa được cậu cả nhà ta ra ngoài. Các người phải biết, vậy là khó vô cùng là khó. Thử ngẫm mà xem, phải cắp một thằng bé vào nách, lại vừa phải đánh nhau chí mạng.


- Lạy Chúa tôi? - bác Hai Thực gái kêu lên - Kẹp vào nách thế thì có mà chết tiệt.


- Bà rõ dở hơi? - bác giai bực bội - Kẹp phải có ý chứ, kẹp mà chết con người ta thì còn nói chuyện gì.


Không có ý thì nằm ngủ với con cũng đè chết con. - cô Nhung bình phẩm - Như con dâu nhà Tám ở xóm Cố Hương đấy, ngủ say thế nào mà đè chết con bé thứ hai.


- Triệu Tử Long mang được A Đẩu về dinh. - bác Hai Thực vội ngắt lời, biết rằng nếu ông không tiếp tục câu chuyện ngay lập tức, thì bà chị sẽ rẽ nó sang nẻo khác - Các người bảo rồi sao? Lưu Bị cảm ơn rối rít, ban ân, ban tứ chăng? Thăng chức cho Triệu Tử Long chăng? Đừng hòng nhá. Lưu Bị mới tóm luôn lấy cẳng thằng bé, phùng má trợn mắt quăng đi?


- Lạy Chúa, chết tươi thằng bé chứ còn gì?


Bác Hai Thực giai nguýt bà chị gái nói "Các người sao mà tối dạ làm vậy!". Rồi bác hạ cố giảng giải:.


- Chết thế nào được mà chết. Các người chẳng có hiểu gì suất. Thế vầy: ở đời này, phàm đã có vua là phải có nịnh thần. Lưu Bị tính chán rồi, ném con đi, khắc có khối thằng đỡ.


- Nhưng ném con đi như vậy để làm gì, thày?


- Lưu Bị ném con đi rồi mới giậm chân mà rằng: "Chẳng há vì một thằng bé này mà ta mất đi một tướng tài ru!". Để làm gương cho các tướng, Bị ta sai tả hữu lôi Triệu Tử Long ra chém.


- Ngữ ấy có đem trôi sông cũng đáng - bác gái chép miệng - Làm vua mà bất nhân quá. - Tội nghiệp cái anh chàng gì Long ấy. Rõ làm ân nên oán, làm bạn thiệt mình, dại ơi là dại.


Bác Hai Thực giai lừ mắt nhìn bà chị.


- Kể chuyện cho các người tức anh ách. Đang kể thì đâm ngang, đang kể thì đâm ngang.


- Thày kể nốt đi thày - anh Cu Nhớn giật giật quần bố.


- Thôi, chẳng kể nữa. Nói với các người bằng vạch đáu gối ra mà nói còn hơn. Rõ chán chuyện. Người ta ném con là để ra cái điều quí tướng. Người ta ra lệnh chém tướng cũng là để phô cái sự quí ấy. Quí thì thương, thương quá hóa giận, có vậy, chứ ai định chém thật. óc các người rõ bằng óc đất.


Bác Hai Thực đứng lên, mặc áo rồi đi vào nhà. Giọng bác nói rằng bác không thèm kể thêm chuyện gì cho bọn óc đất nữa.


- Vậy, cái giống vua nó thâm ra quỷ, chúng bay ạ. Cô Nhung nói to để ông em có thể nghe rõ lời khen của bà.


ở trong nhà vang lên tiếng điếu ống tanh tách rồi một làn khói lam nhạt bay ra ngoài như một đám mây nhỏ, từ từ trườn vào trong nắng.


Hồi ấy, những con rận chẳng làm phiền tôi bao nhiêu. Tất nhiên, chúng có làm tôi ngứa ngáy. Nhưng tôi ngứa đâu có phải chỉ vì rận. Tôi còn có cả chấy và đôi lần còn bị ghẻ nữa. Được cái ở làng tôi, người ta không coi cái đó là điều hệ trọng. Danh giá nhất trong làng có dễ là cha xứ. Vậy mà tôi đã thấy trong lúc đi làm phúc cho kẻ liệt, cha đã gãi sồn sột, và kín đáo thả xuống đất một con gì ông túm được.


Bác Hai Thực trong mắt tôi là một người có học vấn uyên thâm. Hứng lên, bác có thể kể chuyện Tam Quốc hoặc Thủy Hử hàng tháng liền, mỗi tối một ít. Chúng tôi ngồi quanh bác, miệng há ra, thán phục và thích thú. Tôi chỉ bớt phục bác khi bắt đầu đọc những cuốn truyện được đóng lại từ những mảnh cắt ra trong các tờ báo, mà lúc bấy giờ người ta gọi là nhật trình.


Bác Hai Thực cho tôi mượn những cuốn sách bìa giấy bản phất cậy với lời dặn:


- Chớ có làm rách. Sách này còn quí hơn vàng.


Tôi leo lên cây sung ở vườn sau, đọc trốn cô Gái. Cô Gái không biết chữ, nhưng đủ thông minh để phân biệt sách kinh với các thứ sách khác mà cô coi tuốt là nhảm nhí. Khi tôi đọc xong một cuốn, tôi trả bác Hai Thực để mượn cuốn tiếp. Bác tôi trân trọng và trìu mến quết những tờ bìa dày cộm mà nhựa cây đã làm cho nó cứng như mo, nhẹ nhàng đặt chúng vào trong tráp rồi đậy nắp lại. Cái tráp của bác lúc nào cũng ở trên giường, kể cả lúc bác buông màn đi ngủ.


- Cái anh Tiều Cái với lại cái anh Tống Giang nào có ra quái gì! Bác bình phẩm - Việc gì cũng toàn đàn em làm ráo, vậy mà lại nghiễm nhiên hưởng tiếng thơm anh hùng. Ngẫm ra, thiên hạ nói cấm có sai: thần thiêng nhờ bộ hạ. ở đời này, thế mới biết, ít cái sự công bằng lắm thay!


Bác rít một hơi thuốc lào cho tới khi viên thuốc cháy đỏ tụt hẳn vào trong nõ. Bác nhìn khói thuốc vật vờ trước mặt, không nhìn tôi. Bác không nói chuyện với tôi mà nói to ý nghĩ của bác.


- Lưu Bị cũng vậy. Trương Phi mới thực là người giỏi, chúng bay ạ, phải cái nóng tính quá?


Rồi thở dài, bác lắc đầu thương Trương Phi.


X - Nhà thờ làng tôi là một trong những nhà thờ đẹp thuộc địa phận Bùi Chu. Người ta đánh giá nó đẹp có dễ vì bề thế của nó, vì sự sang trọng bên trong của nó, nhưng quyết không phải vì kiến trúc. Đó là một ngôi nhà kiểu nhà ở nông thôn rất lớn và rất cao, chia thành nhiều gian, mỗi gian trổ ra một cửa gô tích. Hai đầu hồi phẳng lỳ dâng cao hẳn lên với những phù điêu, họa tiết đặc trưng cho Thiên Chúa giáo, chót vót trên cùng là cây thánh giá rườm rà bằng xi măng cốt sắt. Riêng gác chuông mang cốt cách châu Âu. Châu á không có thứ gác chuông nào giống thế. Trước lối vào nhà thờ, lối sau, có một ngôi nhà xây lớn, thềm cao, lúc nào cũng đóng im ỉm, gọi là hội quán. Bên phải hội quán là một ngôi nhà dài, cũng là nhà xây nhưng không có thềm cao, gọi là trường học. Nhưng nó không phải là trường học theo nghĩa thế tục. ở đây người ta dạy kinh bổn, đồng thời là nơi hội họp của một tổ chức thiếu nhi trong bổn đạo, gọi là nghĩa binh.


Chao ơi, sao mà tôi thèm được trở thành một nghĩa binh đến thế? Nhưng tôi không thể vào nghĩa binh được chỉ vì một lẽ đơn giản: tôi không có áo dài trắng, quần trắng, mũ trắng đàng trước có một chữ thập đỏ. Những thứ đó là tiền cả. Cô Gái tôi muốn tôi trở thành một đứa trẻ ngoan đạo, nhưng phải bỏ tiền ra cho ý muốn đó thì bà tiếc. Tôi đành đứng nhìn đoàn nghĩa binh trong đám rước, những đứa trẻ cùng lứa vừa đi vừa nhảy nhót theo một điệu vui mắt vung những chiếc gậy ngắn và gõ chúng vào nhau theo nhịp trống, gọi là đánh rắc. Hoặc tôi phải đứng ở xa nghe những nghĩa binh đứng thành nhóm trong nhà thờ ngân nga trầm bỗng những bản thánh ca êm dịu. Để mau chóng trở thành con chiên lành của Chúa mà không tốn kém, cô Gái gửi tôi đến nhà trường để học kinh.


Thầy dạy kinh tôi là một thày già. Thày già không hề già chút nào, đó là một cách gọi những học sinh lớp cao của chủng viện giúp việc cha. Thày già này, một thanh niên xanh rớt và đạo mạo, chộp lấy tôi, đúng như cách người ta bắt những con vật lạc đàn.


- Bà cứ để cậu ấy cho tôi. Tôi khảo kinh xong, cậu tự về.


Hóa ra tôi thuộc kinh vào loại giỏi. Tôi giỏi là nhờ cô Gái và cái phất trần của cô. Thầy già chỉ dạy tôi thêm một số kinh dài và khó. Một thời gian ngắn sau đó tôi đã có thể đi thi kinh toàn xứ.


Ngày đi thi kinh là một ngày trọng đại. Tôi được mặc quần áo đẹp, được cô Gái nấu xôi cho ăn sáng và dẫn tới tận hội quán.


Chủ khảo là một thày già khác, một ông già thật sự, nhạc sĩ duy nhất của cả xứ đạo. Thày già thường chơi đàn ác-mô-ni-um trong nhà thờ. Mặt ngửa lên trần, ông nhẩn nha thả những ngón tay xương xẩu nhưng lại rất mềm mại xuống dải phím ngà, và cả nhà thờ tràn ngập âm thanh du dương của khúc nhạc ngợi ca Chúa.


Thày già chủ khảo hoàn toàn không khe khắt. Ông nghe tôi đọc kinh, đầu cúi thấp, mắt lim dim như buồn ngủ. Chỉ có một lần ông choàng tỉnh, nhắc tôi:


- Vườn Giệtximani chứ không phải Dệtximani!


Đó là lỗi của nhà in, không phải lỗi của tôi. Và lỗi của thày dạy kinh, ông đã không chú ý tới lỗi đó.


Tôi đỗ cao trong lần thi kinh đó.


Thày chủ khảo trịnh trọng trao cho tôi mấy quyển kinh và bổn bìa mỏng, một cuốn Phúc âm bìa da. Đó là phần thưởng của xứ đạo cho những đứa trẻ thuộc kinh nhất. Thi kinh chỉ có thưởng chứ không có phạt. Ai thi trượt thì học lại rồi thi lần khác. Mà để thuộc kinh chẳng cần trường lớp gì hết. Bằng chứng là cô Gái tôi thuộc làu làu mọi kinh, nhưng bà lại không biết chữ.


Cô Gái cầm mấy cuốn sách tôi được thưởng, cảm động như chính bà là người được hưởng vinh dự đó. Trong khi tôi thi kinh, bà đi loanh quanh đâu đó và quay lại hội quán chờ tôi. Cô Gái không dắt tôi về lối cổng nhà chúng tôi mà đi lối nhà bác Hai Thực. Bà không dằn lòng được để không khoe với ông anh họ, người đàn ông duy nhất của cả ba ngành còn ở lại trên đất đai của các cụ tố.


- Nhà đạo gốc, con trẻ trước nhất phải am tường lẽ đạo. Cháu nó thuộc kinh bổn được vậy là tốt lắm - bác nghiêm trang nói với bà em họ - Bao giờ cô tính cho cháu xưng tội lần đầu?


- Em định đến mùa chay, được không bác?


- Được


Bác Hai Thực phán. Được phán là một cơ hội hiếm hoi, nhất là đối với bà em khinh khỉnh.


(còn tiếp)


Nguồn: Miền thơ ấu. Tiểu thuyết của Vũ Thư Hiên, NXB Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh, 1988. Tác phẩm đoạt Giải A Văn học thiếu nhi của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1988.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 03.02.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.02.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.01.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.01.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 11.01.2019
Dòng đời - Nguyễn Trung 07.01.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 07.01.2019
Trả giá - Triệu Xuân 04.01.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 04.01.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 27.12.2018
xem thêm »