tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30127680
Tiểu thuyết
03.09.2008
Lê Văn Thảo
Cơn giông

Trời dứt mưa từ lâu, chuyển sang lành lạnh. Vậy là sắp Tết rồi, không biết ngày nào. Bằng đã mua tờ lịch nhưng quên gỡ, cứ phải đón ghe qua lại hỏi thăm, lâu rồi cũng chán việc ghi nhớ ngày tháng.


Buổi trưa trời râm mát, Bằng ngồi canh chiếc vó nhìn thấy chiếc ghe từ hướng trên xuống, một chiếc “vỏ lải” như dân ở đây thường gọi anh không thể nào quen được. Chiếc ghe như muốn ghé vào. Lâu nay ghe xuồng qua lại thường ghé nhà anh nghỉ ngơi nấu cơm, tán chuyện, gạ gẫm mua bán, đổi cá tươi lấy hàng hóa, lâu dần thành quen.


Chiếc ghe đã tới sát bên. Bằng đang cúi xuống cất vó bỗng nghe tiếng kêu mừng rỡ:


“Ba!”.


Không thể tưởng tượng được, Thủy Tiên đứa con gái thương yêu của anh, đúng ra là của vợ cũ của anh, đang đứng ở mũi ghe đưa tay ngoắc rối rít, phía sau là cô vợ cũ. Không ngờ nó lớn đến như vậy, bận quần gin áo pun bó sát như một cô gái hẳn hoi. Nó cũng đã mười bốn rồi, Tết này mười lăm. Cô vợ cũ bận đồ bà ba đen, hẳn may mới cho chuyến đi này, trông hơi già đi một chút, nhưng chắc anh tưởng vậy thôi. Nói chung tất cả đều quen thuộc, và anh thấy vui. Chuyện người vợ cũ đã qua rồi, giờ đây chỉ còn lòng nhớ thương đứa con, dù không phải con anh, nhưng anh bồng ẵm nó từ lúc mới sanh, tất cả công việc bú sữa bình, thay tả lót đều một tay anh, nhiều lần nó nóng sốt khóc giật từng cơn anh bồng ru nó trên tay suốt đêm. Thủy Tiên đã lớn lên trong sự giàu có của gia đình và trong tình thương yêu của anh. Không biết từ lúc nào nó biết không phải con đẻ của anh, một lần nó nói với anh: “Con là con của ba, con chỉ biết có ba thôi”. Anh không mong gì hơn. Mọi người trong nhà cũng biết như thế, cô vợ thờ ơ không màng tới, người cha vợ bông phèng phóng đãng lấy thế làm vui:” Hay mày là cha đẻ nó thật, có đúng như vậy không?”.


Chiếc ghe cặp vào, Thủy Tiên xách một chiếc giỏ nặng lao chao đi lên cười nói:


“Ba khỏe không? Nhớ con không? Ôi ba có căn nhà đẹp quá! Chiếc ghe cũng đẹp! Con ở đây ăn Tết với ba nghen?”.


Người vợ cũ đi lên theo sau, vẫn giọng chanh chua quen thuộc:


“Rồi ai đưa mày về? Mày không đi học hả?”.


Bằng đưa hai mẹ con lên nhà, con chó chạy quấn lên với Thủy Tiên. Không có chỗ nào ngoài tấm đệm giữa nhà, Bằng ngồi kế bên đứa con gái, người vợ cũ ngồi ra xa một chút. Chẳng mấy chốc tấm đệm như một kệ hàng tạp hóa. Thủy Tiên lôi ra từ trong chiếc giỏ xách đủ thứ đồ ăn thức uống, sách báo, hộp lớn hộp nhỏ không biết đựng thứ gì, thở hào hển nói:


“Ba định đi biệt không về thăm con hả? Thư từ cũng không, tại sao? Con đem đồ ăn cho ba, đồ hộp để lâu cũng được, cá hộp ba thích nè, phô-mai ba không thích con cũng mua, đây là tiền của má cũng có tiền của con, quần áo, khăn tắm, xà bông nè, đây là lịch năm tới hình con gái ba không thích, nhưng đây là hình con nhỏ bạn lớp con, nó không đẹp vậy mà trúng giải hoa hậu áo trắng... Ba nói đi: tại sao ba không về thăm con?”.


Bằng cười:


“Ba bận cất nhà, làm vó, con thấy đây nè”.


“Tại sao không viết thư?”.


“Ở đây làm sao gởi thư, có đường sá gì đâu?”.


Người vợ cũ nói chen vào:


“Một mình nó đi mua sắm, nằng nặc đòi đi thăm anh, nó sợ anh chết dưới này, tôi có biết tin anh gì đâu chỉ hỏi thăm vu vơ, phải ngủ đêm ở chợ Cà Mau, nghe nói anh đóng chiếc ghe ở đó, rồi đêm hôm ngủ ở chợ Năm Căn, ở đâu người ta cũng biết anh, nói anh sống với đứa con gái tiếp viên nào ở đây. Ai đâu?”.


“Không có ai đâu”, Bằng cười nhìn đứa con gái. “Ôi con tôi lớn quá! Con khỏe không, học giỏi không? Sao cắt tóc ngắn vậy?”.


“Nó bắt chước mấy con bạn quỉ sứ của nó”, người vợ cũ nói. “Nó muốn gì được nấy, anh đi rồi nó không nghe lời ai”.


Bằng quay sang người vợ cũ:


“Cô làm ăn thế nào?”.


“Còn làm ăn gì nữa, mẹ con tôi cho mướn nhà sống thôi, tôi định bán ngôi nhà cho con Thủy Tiên đi học nước ngoài, nhưng nó không chịu”.


“Chỉ có hai mẹ con với nhau, sao đến nỗi cô phải đẩy nó đi như vậy?”.


“Tôi không đẩy, anh đừng nói kiểu đó. Anh thích phê phán người khác đừng sống một mình như vầy”.


“Tôi nói vậy thôi”, Bằng nói, cố lái sang chuyện khác. “Thủy Tiên à, con muốn cất vó với ba không?”.


“Muốn, muốn...”, Thủy Tiên reo lên. “Con cất vó, lội rừng với con chó. Nó tên gì hả ba?”.


“Không có tên gì đâu, ở quê chó đen gọi chó Mực thôi”.


“Con đổi tên nó là Lu nghen?”.


“Con hỏi coi nó chịu không?”.


“Mày chịu không hả chó? Mày xấu quá, tên cũng xấu làm sao tao thương được?”.


Thủy Tiên chạy vòng quanh nhà với con chó. Cô vợ cũ la lên:


“Coi chừng té nghen Thủy Tiên! Mày mua đủ thứ sao không dọn cho ba mày ăn đi. Rồi muốn ở luôn đây tao cho ở. Nhưng nói chuyện học hành cho ba mày nghe cái đã”.


Thủy Tiên trở lại ngồi xuống tấm đệm dọn đồ ăn ra miếng giấy báo, xắt bánh mì, khui thịt hộp cá hộp, bia nước ngọt uống thẳng từ trong lon:


“Ăn đi ba! Con học dở quá ba à, lẹt đẹt cuối lớp, má nói con giống ba”.


“Tao nói hồi nào?”.


“Cô cũng ăn cho vui”, Bằng nói với cô vợ cũ. “Kêu người lái ghe lên ăn một thể”.


“Tôi ăn dưới ghe rồi”, người vợ cũ nói. “Có để lại đồ ăn cho người lái ghe. Hai cha con ăn uống nói chuyện, rồi mẹ con tôi về sớm, kẻo phải ngủ đêm chợ Năm Căn nữa”.


“Con có nhiều chuyện muốn nói với ba nhưng giờ không biết nói gì”, Thủy Tiên nói nhỏ với Bằng. “Tại má cứ hối con. Má nói xuống gặp ba một chút rồi về thôi, không ngủ đêm được, muỗi nhiều lắm, khách sạn không có nước nóng, con phải về sớm học bài ra Tết vào thi. Ba ở một mình buồn không? Nhiều người nói ba lập làng du lịch ở đây, người khác nói ba xây trạm thu mua hải sản, con xem phim Thế giới đó đây thấy cảnh như vầy con thích lắm. Nghỉ hè con sẽ về ở với ba, ở luôn ba tháng, con lội rừng Cát Tiên rồi, không mệt nhọc gì đâu. Mũi Cà Mau đâu hả ba? Có nhọn như trong bản đồ không? Con có chuyện này muốn nói với ba, nhưng có má con không dám nói...”.


“Nó có bồ đó”, người vợ cũ nói.


“Sao vậy con?”, Bằng hỏi.


“Bạn trai thôi”, Thủy Tiên cúi đầu đáp. “Anh ấy nghèo má không ưng, con cũng không thích gì đâu, nhưng anh ấy theo hoài con không nỡ... A, con gì kia?”.


“Con thòi lòi”.


“Đi bắt thòi lòi đi chó, tao với mày cùng đi”.


Thủy Tiên chạy đi. Còn lại hai người Bằng cứ nhấp nhỏm. Người vợ cũ nói:


“Anh ngồi tôi nói chuyện một chút. Anh định sống như vầy hoài sao? Định chửi đời hay làm chuyện mờ ám gì?”.


Bằng cúi đầu:


“Chuyện mờ ám tôi đã làm rồi”.


“Anh đừng xỏ xiên, không phải anh nhận hết mọi chuyện rồi sao? Anh ra tù cũng đâu ai kết tội gì anh, không ở với tôi anh cũng đến đi bụi đời lang thang, rồi cũng không vào tù sao?”.


“Cô về đây để nói chuyện đó hả?”.


“Anh nói tôi mới nói, và vì con Thủy Tiên tôi mới về đây”.


Bằng cười buồn:


“Gần năm nay tôi mới có người để nói chuyện đó”.


“Vậy anh giấu con nhỏ tiếp viên đâu”?


“Đã nói không có mà”.


“Đó là chuyện của anh. Luôn tiện báo anh biết ông già nuôi anh theo anh về đây đó”.


“Tôi biết rồi”.


“Có chuyện gì không? Ông ấy đúng là cha nuôi anh phải không?”.


“Chẳng thà ông ấy đừng nuôi tôi còn hơn”.


“Anh nghi ngờ điều gì? Ông ấy quen biết ba tôi, giao du chơi bời vậy thôi, nhờ ông ấy tôi mới quen biết anh, thật ra hầu như tôi không biết gì về ông ấy”.


“Tôi cũng vậy”.


“Vậy tiền thất thoát đi đâu? Đó là tiền của ba tôi, thật ra là tiền của tôi. Tôi chưa kể anh chuyện này: ba tôi ngày xưa nghèo kiết xác, gặp má tôi giàu có, gia sản là của má tôi để lại cho tôi. Sau này người ta nghi ngờ có sự thông đồng giữa ba tôi và ông già nuôi anh, nhưng ông ấy vẫn nghèo vậy tiền đi đâu?”.


“Đã nói tôi không biết. Tôi đã ở tù xong rồi, chuyện trên thành phố tôi quên hết rồi, coi như không hề sống trên đó”.


“Vậy anh về sống ở đây thế nào? Ở chợ Cà Mau người ta nói anh xuống tóc đi tu, có người nói anh tự tử, tôi về đây mong thấy anh treo cổ trên sà nhà”.


Bằng cười khẽ:


“Tôi sống không đến nỗi gì đâu, xuồng ghe qua lại ghé nghỉ, có ông cán bộ về hưu thường đến ở đây, tiền cô cho tôi đóng chiếc ghe hết một nửa còn một nửa để dành. Tôi cất vó bán cá đủ tiền mua gạo, nay mai sẽ có người đến ở thành làng xóm, tôi chẳng đến nỗi cô đơn hiu quạnh gì đâu”.


“Tôi biết anh thoát được tôi, mặc tình thảnh thơi vui thú, anh mới bốn mươi chẳng đến nỗi già lão gì. Nhưng anh nên nhớ tôi với anh tuy chẳng còn gì, nhưng còn con Thủy Tiên, anh sống sao cho nó còn dịp về đây thăm anh. Tôi nói vậy thôi anh hiểu sao thì hiểu. Thôi tôi về đây. Thủy Tiên ơi đi về!”.


Thủy Tiên trở vào cùng với con chó, người và vật mình đầy bùn sình. Đứa con gái buồn rầu thu dọn đồ đạc nói nhỏ vào tai Bằng:


“Nghỉ hè con sẽ xuống thăm ba”.


Người vợ cũ quát:


“Ai đưa mày đi? Tao cũng nghỉ hè như mày hả?”.


Đứa con gái nói tiếp:


“Ba viết thư cho con không?”.


“Ba sẽ viết thư”, Bằng đáp.


“Con viết thư cho ba đề địa chỉ đâu?”.


“Cứ đề công an xã”.


“Ba làm việc cho công an à?”.


“Không, công an làm việc với ba”.


“Thôi con về nghen ba?”.


“Ừ con về đi!”.


Bằng ngồi yên. Không ngờ cuộc gặp gỡ ngắn ngủi làm anh xúc động đến vậy, chiếc ghe chạy mất anh vẫn ngồi không nhấc nổi mình lên.


***


“Đừng hỏi tuổi ông con à, có sống cả trăm năm cũng không là bao so với cây rừng sóng biển. Cứ sống rồi khắc biết, ông ngồi đây nhìn nước chảy, thấy được bao nhiêu chuyện, ngẫm ra bao nhiêu điều. Ôi sao xứ sở nghèo nàn heo hút này cơ cực đến vậy? Dạo thằng Tây đi rồi, thằng Mỹ đến trời đất tối sầm. Trên trời mây đen vần vũ, dưới sông lúc nào cũng có xác người trôi. Chúng giết người trong rừng thả trôi ra sông ra biển, da thịt rã ra, xương cốt chìm sâu dưới đáy nước. Đó là thời kỳ tăm tối, giông bão liên miên. Có một năm giông lớn nước biển tràn vào, sóng vỗ suốt ngày đêm, gió giật liên hồi, cây rừng vặn mình kêu răng rắc. Nước cứ dâng lên mãi, ngập sàn nhà rồi tới nóc nhà, ông cùng con chó leo lên chòi gác, đồ đạc cũng đem lên hết. Con chó lội đuổi chuột bọ rắn rít, đùa giỡn với sóng nước. Ông ngồi nhai gạo cầm hơi. Không biết bao nhiêu ngày đêm như vậy trôi qua, cơn giông vẫn không ngớt, ông muốn thà chết đi cho rồi, nhưng vẫn bám riết chiếc chòi gác, sóng tràn vào dội trở ra, không gặp xuồng ghe nào qua lại hỏi thăm, không biết làng xóm điêu đứng khổ sở ra sao”.


“Vậy rồi có một xác người không hiểu sao không trôi ra biển mà tấp vào đây, một đứa con trai còn trẻ lắm, như một đứa con nít, xác bị cột chặt vào một chiếc bè, mắt mở trừng trừng nhìn lên bầu trời giông bão. Sao vậy con? Con có điều gì oan ức muốn nói phải không? Vậy thì đi với ông, ông đưa con đi, con kể chuyện ông nghe, rồi hai ông cháu mình cùng chết với nhau. Ông nói vậy rồi lặn mò chiếc ghe lắc nước, con chó lội lăng xăng tiếp sức. Ông đem xác đứa con trai lên ghe cùng đồ đạc mắm muối, dầm chèo, câu lưới, nước ngọt đèn bão. Cơn giông vẫn không ngớt đi chút nào. Ông chèo thẳng ra biển, nhằm chỗ những ngọn sóng lớn băng tới. Phút chốc hai ông cháu đã ở giữa trời nước mù mịt, biển khơi không xa lạ gì, lúc quang tạnh cũng như lúc giông bão, vẫn có những luồng lạch ông thuộc như trong lòng bàn tay. Trời nước mù mịt ông trông mây, hửi hơi gió cũng đoán biết phương hướng, xưa nhiều lần ông đi một mình, huống chi giờ có thêm đứa con. Suốt hai ngày đêm ông vững tay chèo, cỡi lên những ngọn sóng lớn, một ngày nữa trôi qua, đến đêm cơn giông dịu đi một chút, trời quang dần, sao chi chít như nạm ngọc trên nền trời, ông dừng tay nghỉ nhìn sao dò đường, vuốt mắt đứa con trai, kể cho nó nghe một chuyện không biết từ đời thuở nào”.


“Chuyện như vầy. Có một người đánh cá ra khơi bị một cơn giông chìm ghe lội tấp vào một hoang đảo sống một mình, nhiều năm trôi qua râu tóc phủ dài. Một hôm có ghe đánh cá ghé ngang rước ông về nhưng không thấy nhà cửa, vợ con đâu cả, hỏi thăm cũng không ai biết. Hay người đánh cá đi lầm đường? Hay ông sống cả trăm năm rồi? Một vị đạo sĩ đi ngang khuyên: không ai lầm đường về quê mình cả, trời đất xoay vòng, ra đi lần nữa trở về khắc tìm được nhà cửa vợ con. Người đánh cá nghe lời ra đi lại chìm ghe sống ở đảo hoang, trở về râu tóc không thể dài hơn, bỗng thấy nhà cửa vợ con chạy ra mừng rỡ...”.


“Ông kể chuyện cho đứa con ngủ yên, tiếp tục chèo suốt mấy ngày đêm nữa, nhai gạo ăn cá sống cầm hơi, cuối cùng cơn giông cũng dịu đi, mặt biển bình yên ông cũng đến được nơi muốn đến”.


“Đó là nơi ông từng neo ghe khi đi biển ngày xưa, nước sâu chỉ vài sải tay, triều xuống nhô lên một cồn cát, đó sẽ là nơi yên nghỉ của đứa con, mồ mả của nó bọn giặc không thể nào ra tới được...”.


***


Trên con đường rong ruổi vô định của mình, ông Sáu Thiên thường tham gia giải quyết những vụ việc thuộc loại chính sách đối với những gia đình có công với cách mạng, quanh năm suốt tháng đấu tranh không mệt mỏi đổi lấy những tờ giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ, gia đình có tài sản hiến dâng, gia đình nuôi giấu cán bộ trong hai thời kỳ kháng chiến. Tự bản thân ông không hề ý thức điều đó, như một thiên hướng tự nhiên, ghé một nhà nào đó nghỉ trưa nhờ gởi lon gạo nấu cơm, chuyện trò thăm hỏi bâng quơ, chợt biết nhà có hai người con du kích hy sinh trong kháng chiến ông liền hỏi: tờ chứng nhận liệt sĩ đâu? Chủ nhà hoảng sợ nhìn quanh bốn vách nhà trống trơn, nói không biết gì cả, không hiểu phải có giấy tờ chứng nhận ấy, đường sá cách trở, các cơ quan chính quyền ở tít mù xa, xin để làm gì. Không làm gì cả, ông nói, của mình mình phải có vậy thôi. Ông bắt họ ghi hết cho ông tên họ ngày sinh tháng đẻ hai người du kích, đánh trận nào đơn vị nào, chủ nhà rối rít hối con cháu tìm giấy viết, cả nhà xúm lại gò lưng trên bộ vạt tre ghi chép cả nửa ngày, chỉ viết được dúm chữ không lớn hơn bàn tay, ông chộp lấy nhét vào ba lô kịp nhảy xuống chiếc ghe đi ngang. Ghe đi xa cả nhà hoàn hồn nhìn theo, không biết ông là ai làm nghề gì chức vụ gì mặt mày dữ dằn vậy.


Lần nào cũng tình cờ bất chợt, lâu dần thành quen, chiếc ba lô của ông như một văn phòng lưu động, không có địa chỉ cụ thể thư từ nhờ vả vẫn đến, cơ quan thương binh xã hội tỉnh, các huyện xã vùng duyên hải là nơi ông thường xuyên ghé thăm, tranh luận cự cãi, nhiều khi chỉ vì một gia đình hồi chống Pháp có cho một cán bộ mượn chiếc xuồng tới giờ không thấy trả. Sao không trả? Ông vặn hỏi người thư ký văn phòng thương binh xã hội, giọng đã bắt đầu gây sự. Anh thanh niên trắng trẻo mang kiếng trắng tóc chải mượt cũng không vừa, đáp rằng theo thông tư số... ngày... chuyện nuôi giấu cán bộ được cấp giấy chứng nhận công lao, chuyện cho mượn xuồng xin miễn, không có chuyện xuồng ghe gì ở đây. Mấy ông đi bằng gì? Ông lại vặn hỏi. Người thư ký mang kiếng đáp rằng chuyện đi đứng cũng không bàn, đây là cơ quan thương binh xã hội, không phải giao thông vận tải. Ông Sáu Thiên nhìn người thư ký đăm đăm, thay đổi chiến thuật, chuyển sang phương pháp đấu tranh mền mỏng hơn. Tôi không nói chuyện đi đứng mà nói chuyện con người, ông nói. Con người nào? Người thư ký hỏi lại. Chiếc xuồng là vật vô tri nhưng nó là của một gia đình, đó là những con người. Đồng ý là những con người, người thư ký nói, nhưng về chuyện gì? Và cuộc tranh cãi trở lại điểm xuất phát, bắt đầu lại từ đầu.


Ông Sáu Thiên ghé nhà Bằng lúc sáng sớm, quá giang một chiếc ghe chở ba khía, cười nói:


“Tao vừa mần thằng thư ký mắt kiếng một trận mày à, bắt nó trả chiếc xuồng cho gia đình hồi kháng chiến”.


“Rồi họ có trả không?”.


“Không”.


“Vậy thì mần cái gì?”.


“Nói chung tầm ruồng cả. Ông già trăm tuổi dạo sau này đâm lẫn lộn nhiều chuyện, kêu tao đi tìm tổ trinh sát vừa mới ghé nhà còn để quên đồ đạc...”.


“Ông già có kể tôi nghe chuyện chôn người ngoài biển”.


“Tao cũng có nghe, như chuyện đời xưa ấy mà. Ôi buồn quá! Mấy ngày rày tao đi tìm mộ người quen nghe chỉ lung tung, ghé xã hỏi thăm chuyện người trưởng công an cũng không biết gì thêm... Tiền con vợ cũ cho mày có cất đây không?”.


“Có”.


“Con nhỏ làm công bà mập hổm rày có ghé đây không?”.


“Có”.


“Con nhỏ bỗng dưng có tiền mua đất nuôi tôm, không biết như thế nào”.


“Cô ta ham làm ăn buôn bán lắm”.


“Tao cũng nghe nói vậy thôi. Mày tính sống một mình hoài sao? Không nên bắt chước tao, cưới vợ đi tao làm mai cho”.


“Ông có nghề mai mối nữa hả?”.


“Tùy mày thôi. Nhưng con nhỏ này được lắm, con gái nhà gia giáo nền nếp, chẳng may gặp cảnh trắc trở, thằng chồng trước vượt biên bỏ xác ngoài biển, thằng chồng sau uống rượu say nhảy xuống sông tự tử, chưa đầy ba mươi mang tiếng có hai đời chồng, thật ra như còn con gái. Mày đi với tao đi!”.


“Đi đâu?”.


“Đi hỏi vợ. Đúng ra chỉ coi mắt, không chịu thì thôi, luôn tiện hỏi thăm ông già nuôi mày”.


“Ông gặp ông ta ở đâu?”.


“Thì ở đó. Tao ghé đó chỉ để tìm chiếc hầm bí mật, thấy có ông già mặt nhọn, mắt lươn láo liêng, nói năng trơn tuột, nói đi hỏi vợ cho đứa con nuôi đi xa mới trở về quê”.


“Được, tôi đi với ông”.


Hai đứa sinh đôi đến chơi. Bằng gởi chúng coi nhà, dặn cất vó, hứng nước mưa, cười nói:


“Tao đi hỏi vợ, hai đứa giữ nhà, mai mốt tao cho đi ăn cưới”.


Chiếc ba lô còn nguyên chiếc đệm bẻ cong bên trên, ông Sáu Thiên xách xuống ghe đi luôn. Nắng lên khắp cả mặt sông, xuồng ghe ngược xuôi tấp nập. Một chiếc ghe chài nổ máy ầm ầm làm nổi sóng lớn, mùi nước, mùi gió làm Bằng nôn nao. Ông Sáu Thiên không chịu ngồi một mình, ra sau lái đứng cạnh bên nói láp giáp những chuyện không đầu không đuôi:


“Công an trên thành phố vẫn liên hệ với công an dưới này về chuyện tiền bạc của mày... Ôi sao người ta cứ khổ vì tiền, thời nào cũng vậy, xứ nào cũng vậy... Nước tràn bờ đêm nay trăng tròn đây... Chạy chậm chậm, đi hỏi vợ cứ thong dong thư thả thôi. Hồi chống Pháp, ở đơn vị tao có thằng cha làm biếng cưới vợ, tụi tao lôi đi tới nhà đằng gái, thằng cha nằm khoèo dưới ghe ngủ một giấc thức dậy la vọng lên: xong chưa về thôi!”.


“Rồi cưới được vợ không?”.


“Được. Ngày cưới cô dâu chú rể mới biết mặt nhau, đám cưới ở đơn vị đông vui, giữa đêm chưa kịp động phòng phải hành quân đi, từ đó đến ngày hòa bình vợ chồng không sống chung ngày nào, cô vợ thăm chồng một năm đôi lần, vội vàng gấp rút, vậy mà năm nào cũng đẻ, vắng một năm, năm sau đẻ sinh đôi... A, tới nhà kia rồi!”.


Ghe ghé vào một nhà khang trang bề thế, gian trước gian sau, nhà kho lẫm lúa, từ xa nhìn thấy đám đàn bà con gái thập thò trước cửa, trầm trồ chỉ chỏ chiếc ghe. Ghe cặp vào, tất cả biến mất, lại thấy nhiều cặp mắt đen đen sau khe cửa. Ông Sáu Thiên ho khe khẽ, thong thả vuốt vạt áo, theo cầu nước đi lên. Bằng đi theo sau. Hai ông bà già chủ nhà ra tận mép sàn nhà đón khách. Khách chủ vào ngồi ở bàn khách. Chủ nhà chào hỏi, khách đáp lễ. Nhà ván sàn gỗ đước láng bóng, cột tám gang tay, cây nống bằng đá chẻ, gian chính có xalông tủ kiếng chưng bày gối thêu, hai buồng ngủ hai bên, phía sau có màn trúc khua lách cách. Gian bếp cũng rộng bằng gian giữa, xoong nồi sáng loáng treo thành hàng. Sóng vỗ oàm oạp dưới sàn nhà.


Yên vị rồi ông Sáu Thiên xoa tay, đôi môi mỏng đẩy đưa từng câu chữ:


“Thật may chúng tôi gặp con nước xuôi, trời cũng mát, sông nước thuận hòa lòng người vui vẻ. Nãy giờ trên sông tôi kể cho chú em tôi nghe bao chuyện xưa cũ, thuở xứ mình còn rừng rú hoang sơ, ông bà tổ tiên đang bòng bị khai phá. Chú em tôi đi lâu trở về, thương nhớ quê hương lòng dạt dào, tôi cũng rưng rưng nước mắt, nghĩ thương ông bà tổ tiên xả thân vì con cháu mai sau. Giờ thì an cư lạc nghiệp, ai cũng có công ăn việc làm, nhà cửa gia đình sanh con đẻ cái, sống yên vui hòa lạc. Như anh chị đây nhà cửa khang trang con cái đề huề, cảnh thần tiên không ở đây còn đâu nữa?”.


Thật là một áng văn đậm đà lưu loát. Ông chủ đáp lễ, lời lẽ cũng không thua kém nỗi niềm:


“Nhờ phước đức ông bà, nhà tôi cũng con cái đề huề, mười đứa con trai yên bề, vợ con mần ăn khắm khá, chỉ riêng đứa con gái út Mười Hai gặp cảnh trắc trở, âu cũng là phần số…”.


“Chuyện nhân duyên do ý trời, cũng do lòng người”, ông Sáu Thiên nói theo liền, giọng càng véo von réo rắt. “Như chú em tôi đây, bị giông bão thời cuộc đưa đẩy, phải bôn ba lận đận xứ người, lòng vẫn canh cánh cội nguồn gốc rễ, trở về quê có nhà cửa cơ ngơi ở sông Ong Trang, chỉ còn thiếu người bạn đời cùng chung gánh vác. May hôm rồi tôi ghé đây, gặp được gia đình biết được chuyện cô Út, âu cũng là duyên nợ phần số, xin anh chị cho anh em tôi một lời đánh tiếng...”.


“Cha mẹ không mong gì hơn con cái được yên bề gia thất”, ông chủ tiếp theo, phần giữ lễ phần cũng muốn tiến xa thêm một bước. “Hôm rồi sau khi gặp ông anh vợ chồng tôi kêu đứa con gái vào hỏi...”.


“Ý cô Mười Hai ra sao?”, ông Sáu Thiên vội hỏi.


“Nó có nói gì đâu, chỉ làm thinh ngồi nhìn nước chảy, bao nhiêu năm rồi nó vẫn ngồi như vậy, cha mẹ sanh con nào sanh lòng… Để tôi kêu nó ra chào ông anh với chú em... Út à, ra châm nước đi con!”.


Nghe tiếng động trong buồng, tiếng thầm thì của nhiều người, quần áo khua sột soạt, tấm màn sáo khoát ra, cô gái đi thon thả, cúi đầu, không vòng vàng son phấn, đen tuyền một màu tóc và quần áo. Việc châm nước không quá một phút, bóng đen vẫn ở đâu đó sau lưng, Bằng không ngẩng lên vẫn cảm thấy có cái gì đó thật gần gũi, thật tinh khôi mới mẻ…


Cuộc chuyện trò giữa hai bên thông gia lại tiếp tục, Bằng chỉ nghe loáng thoáng:


“... Nói xa không qua nói gần, tôi có lời thưa với anh chị như vầy…”.


“... Vợ chồng tôi cũng hiểu tấm thịnh tình của ông anh…”.


“... Trời có mắt cho chú em tôi được gặp gỡ…”.


“... Nhưng ngặt nỗi con gái tôi chỉ ngồi nhìn nước chảy…”.


Trời đã gần trưa, cơm dọn ra, có rượu, cuộc chuyện trò chuyển sang gần gũi giản dị. Ông chủ kể chuyện câu lưới đáy sông đáy hàng khơi, thuở ông còn đi biển với đám con trai, mỗi chuyến đi ở cả tháng trời. Rồi ông kể sang chuyện làm ăn buôn bán, hùn hạp làm hãng nước mắm với một tay người Hoa, chuyện nào ông Sáu Thiên cũng đẩy đưa theo, chuyện đá gà đánh bài ông cũng biết, lên núi tìm vàng xuống biển mò ngọc trai ông cũng tỏ tường. Giữa bữa, bà chủ đi vào trong, chút sau trở ra cùng cô con gái. Bằng chỉ nhìn thấy cánh tay trắng nuột, một bên bờ vai, chiếc nút áo ở vùng lõm ngực. Rượu không nhiều, chỉ một bình nhỏ, nhưng hai ông già đã bắt đầu tranh cãi. Ông chủ kể chuyện trận lụt năm Thìn bị trôi ra biển, ông Sáu Thiên nói ông cũng có ngoài đó. Ông chủ bắt qua chuyện bác Ba Phi, ông Sáu Thiên nói cũng có quen.


“Tôi với bác Ba Phi là chỗ thân tình”, ông chủ lớn tiếng mặt đỏ gay. “Đã từng đi rừng ăn ong với nhau”.


“Đơn vị chúng tôi đóng quân ngay tại nhà bác Ba Phi”, ông Sáu Thiên không chịu thua. “Chúng tôi cùng bác Ba Phi đào ao nuôi cá, ao giờ vẫn còn trước nhà…”.


“Nhưng ông có thấy ghe rùa của bác Ba Phi không?”, ông chủ vặn hỏi. “Ghe rùa chạy ào ào như máy đuôi tôm, ông đi trên đó chưa?”.


“Tôi không đi ghe rùa, cũng không thấy hồi nào”, ông Sáu Thiên cười mát mẻ. “Nhưng có rủ bác Ba Phi đi coi con rắn hổ mây lội đùng đùng ngoài đồng”.


“Một lần tôi với bác Ba Phi đi rừng”, ông chủ dịu giọng kể, có ý muốn giảng hòa. “Chúng tôi neo ghe lên rừng từ sáng sớm chiều về thấy đám khỉ đang lục phá, một con bốc cơm rượu ăn say ngật ngưỡng cười nhăn răng xòe tay đưa mời...”.


Ông chủ cười sặc sụa bị tắc nghẹn, quay sang vợ:


“Còn chuyện gì nữa tôi quên rồi, bà nhớ giùm coi?”.


“Chuyện gì?”, bà vợ hỏi.


“Chuyện có ông già mặt nhọn đến dạm hỏi con gái mình cho con nuôi, bà tiếp ông ta mà?”.


“Thì tiếp vậy thôi ai biết người như thế nào”, bà vợ nói. “Thấy cũng khôn lanh mềm mỏng, nói xa quê lâu rồi giờ mới về tới, đồ đạc bòng bị đâu không thấy chỉ thấy kè kè chiếc thùng sắt, nói của hồi môn cho đứa con nuôi hoàn cảnh trắc trở trôi giạt, hơn nửa đời mới trở về quê mong có được cơ ngơi nhà cửa...”.


“Thôi dẹp, dẹp…”, ông chủ lớn tiếng quát, nước mắt, nước mũi chảy lèm nhèm. “Tôi không cần ngữ ấy, không rao bán con gái, không cho ai làm khổ con gái tôi...”.


Cô gái bỏ đi vô trong. Bà chủ kéo khăn lau nước mắt. Ông Sáu Thiên cố lái câu chuyện sang hướng khác, kể chuyện con rắn nước nuốt con rắn trung. Bằng vội khều ông, nói đã tới con nước xuôi, xin phép chủ nhà ra về.


Trời về chiều, ông Sáu Thiên ngủ gà ngủ gật. Bằng chạy máy lớn, giữa đường không biết chỗ nào ông Sáu Thiên bật dậy kêu ghé vào, không thấy có nhà cửa gì cả, ông mang ba lô đánh đu lên một chang đước. Chiếc ba lô nặng trịch đu đưa phía sau, phút chốc cả người cả ba lô mất hút sau một khóm đước.


Bằng chạy tiếp, về tới nhà nắng còn trải vàng trên mặt sông, con chó sủa vang, hai đứa sinh đôi ngủ say tựa đầu vào nhau. Bằng đánh thức hai đứa dậy, hối nấu cơm ăn để còn ra về. Anh xuống bến cất vó nhìn chiếc ghe thốt nhiên lạnh toát người, nhớ ra ông Sáu Thiên nói chuyện Thủy mua đất nuôi tôm gì đó.


Cô ta lấy tiền đâu mà mua đất nuôi tôm? Anh như hiểu ra một nửa, vội nhào xuống ghe lục tìm. Một nửa số tiền còn dư hồi trước cô vợ cũ cho đã đổi thành vàng, đóng nẹp giấu kín trong ván ghe đã biến mất!


Vậy là chính cô ta, cô tiếp viên nhà hàng!


Anh ngồi lặng đi, cảm thấy cơn giận trào lên, cùng với nỗi xót xa cay đắng, có cả ngớ ngẩn, lố bịch.


Anh ra ngoài tiếp tục ngồi lặng yên suy nghĩ cho ra hết mọi lẽ.


Tìm cô ta ở đâu, bằng cớ đâu? Cô ta lấy cắp tiền mua đất nuôi tôm, rõ như vậy rồi. Một số tiền không nhỏ cũng không lớn, điều quan trọng đó là tiền “phòng thân” của anh. Làm sao cô ta biết được anh giấu ở đâu, cô ta lấy cắp lúc nào? Và tại sao lại như vậy? Quan hệ lâu nay giữa anh và cô ta phải nói là kỳ cục, không thiếu những chuyện bực bội, nhưng cũng không đến nỗi phải thù hằn ghét bỏ gì. Vậy thì tại sao?


Hai đứa nhỏ ra đứng ở mép cầu:


“Chú lên ăn cơm”.


“Tao không ăn. Hai đứa ở giữ nhà vài ngày được không?”.


“Chú đi đâu?”.


“Đi bắt trộm. Một đứa về nhà báo ba má, đứa kia ở lại, không được rời nhà một bước. Tao mất hết rồi chỉ còn căn nhà này thôi”.


“Không báo cũng được”.


Anh đi ngay, phải tìm cô gái không được chậm trễ. Cô ta mua đất coi như tiền vẫn còn đó, nhưng không biết có tiêu tán vào chuyện nào khác không. Bằng nhớ đến cảnh cô ta nhậu nhẹt với đám con trai mình trần quậy phá. Một cô gái tiếp viên nhà hàng không thể lường trước bất cứ chuyện gì. Anh nổ máy ghe chạy đi, trời vừa sụp tối. Bụng no ngang, dù bữa cơm ở nhà hỏi vợ không ăn được bao nhiêu. Ghe chạy thật chậm để tránh mọi điều bất trắc. A, tiền bạc! Sau hơn một năm trốn biệt về tận đây, anh vẫn còn bị đồng tiền bám theo làm khổ. Ghe đi suốt đêm, sáng ra đến chợ xã, anh gởi ghe lên quán ăn dĩa cơm, hút điếu thuốc rồi lên ngay trụ sở công an. Người trưởng công an mới còn rất trẻ, quần áo tươm tất, tóc chải mượt, ngước nhìn anh nghiêm nghị:


“Có chuyện gì không?”.


“Dạ tôi đến trình báo”.


“Được thôi. Mai mốt tiện đường ghé qua, không cần phải định kỳ đâu”.


“Dạ, nghe ông Sáu Thiên nói có người trên thành phố nhắn hỏi thăm tôi gì đó”.


“Có đó, nhưng chuyện riêng của anh chúng tôi không biết, công việc ngập đầu ở đây cũng đủ cho chúng tôi rồi”.


“Tôi ra tù có đầy đủ giấy tờ”.


“Biết rồi. Nhưng đó là giấy trong tù, còn bây giờ anh ở ngoài tù. Con người ta còn sống là còn có chuyện. Trên đó hỏi chúng tôi thấy anh có mang tiền về đây không, chúng tôi nói không biết, trên đó có dư người xuống đây mà tìm”.


“Tôi không có tiền bạc gì đâu”.


“Đã nói chúng tôi không biết. Chúng tôi chỉ quản lý anh từ ngày anh về đây. Anh đốn cây cất nhà chúng tôi lập biên bản. Anh gác rừng chúng tôi ghi công... Anh qua bên lâm nghiệp chưa?”.


“Dạ chưa”.


“Qua đi. Nghe nói có chuyện giao rừng trồng rừng gì đó, anh làm được thì tốt. Nhưng còn rừng đâu mà giao?”.


Bằng ngồi thêm một lúc, mong nghe tin về cái chết của người trưởng công an cũ mà anh yêu mến, nhưng người trưởng công an mới đã cúi xuống với mớ giấy trên bàn. Anh về quán, gã thọt báo tin có gặp ông già nuôi, biết chuyện anh đi hỏi vợ. Gã lần chần có vẻ muốn uống chai bia, anh hỏi gã biết Thủy không, trước kia làm tiếp viên nhà hàng ở chợ Cà Mau, sau làm công cho bà mập, bị đuổi đi lang thang, có cách gì tìm cô ta không? Gã thọt nói quá biết, tìm gái là nghề của gã. Hiện cô ta đang ở đây tại chợ xã này, quán đằng kia kìa...


“Mầy uống bia đi”, Bằng nói.


Không khó lắm để tìm đến một chiếc quán ở chợ xã heo hút này, nhưng Bằng đi loanh quanh mãi, cảm thấy cay đắng ê chề. Nước đổ vớt vát được gì! Mà vớt vát làm gì, quan trọng gì? Nhưng không thể không đi. Trời đã sụp tối. Quán nằm ở ngoài rìa chợ, trong một lùm cây, đường vào ngoằn ngoèo, có chỗ ngập nước, Bằng đứng lại một lúc trước cửa rồi lấy dáng vẻ thong thả đi vào.


“Anh tìm ai?”.


Một gã con trai hiện ra chặn hỏi. Bằng xô gã qua một bên đi tiếp. Quán lợp mái lá nền đất ướt nhớp nhúa, những dãy phòng ngăn sơ sài bằng những tấm phên mỏng xiên xẹo, có thể nhìn thấu bên trong một cách dễ dàng. Bằng đi rảo các phòng. Gã con trai đi lẵng nhẵng theo sau. Đến một phòng nghe có tiếng cười nói anh xô cửa đi vào. Thủy đang ngồi với đám con trai hôm đến nhà, gã đầu đinh ngồi cạnh bên, tất cả đang ngả ngớn với rượu bia, một lúc sau mới nhìn thấy anh.


“A ông anh kìa!”, gã đầu đinh toét miệng cười. “Ngồi đi, ngồi đi, kéo ghế ông anh ngồi coi tụi bây!”.


Thủy lùi vào một góc tối. Vài đứa con trai bỏ ra ngoài. Gã đầu đinh vẫn cười. Bằng thấy ngao ngán, muốn bỏ đi, hoặc quơ vỏ chai bia đập phá. Nhưng anh vẫn bình tỉnh nói:


“Mấy bạn cứ chơi, tôi gặp riêng cô này một chút”.


“Sao lại gặp riêng, đang vui mà?”, gã đầu đinh có vẻ say, thôi cười, nói năng dính dáp.


“Thì cứ vui… Tụi này có chuyện riêng chút thôi...”.


“Chuyện gì?”.


“Mày biết làm chi?”.


Bằng quay ra đứng chờ ở cửa. Một lúc sau Thủy đi ra. Bằng đi theo sau. Đường thật tối, vắng tanh. Bỗng nghe phía sau có tiếng chân thình thịch, tiếng người gọi. Bằng đứng lại quay nhìn vừa lúc gã đầu đinh lao thẳng tới. Không khó khăn Bằng bước né qua một bên, gã đầu đinh ngã chúi vào một bụi rậm, dẫy đạp rột rẹt trong đó. Rồi gã lao trở ra, hung hăng như một con trâu rừng: “Mày làm gì mà... Con nhỏ làm gì …” Gã vừa thét vừa đấm đá liên hồi vào hình bóng tưởng tượng nào đó trước mặt. Rõ ràng gã đã say nhè, không còn tự chủ, cũng không còn sức lực đâu, Bằng thấy thật kỳ cục, nhưng không thể dừng được. Gã lại hùng hổ lao tới, anh dùng chính sức mạnh của gã tung một cú đấm vào ngay giữa mặt, rồi một cú nữa, hình như có máu chảy, tay có dính dáp lầy nhầy. Gã con trai như bơi trong không khí, lao chao một lúc, đứng sững lại nhìn Bằng ngơ ngác, rồi đổ sụp xuống, chúi đầu vào một lõm tối nào đó. Bằng chùi tay vào quần, nghe tiếng Thủy kêu thét đằng xa. Trong một nhà gần đó cũng có người kêu lên, một người đàn ông chạy ra, Thủy cũng vừa chạy tới, hai người dìu gã đầu đinh đem vào trong nhà.


Bằng đứng lại một lúc rồi cũng vào theo. Gã đầu đinh nằm như một xác chết trên bộ ván. Thủy ngồi một bên với người đàn bà. Người đàn ông đứng khoanh tay đằng xa nhìn lại. Chưa chết phải không, người đàn ông nói, cười khùng khục trong cổ họng. Chưa chết thì đi ngủ, ông ta nói tiếp rồi quay đi. Thủy và người đàn bà làm gì đó với gã đầu đinh. Bằng đứng thêm một lúc, biết chắc gã đầu đinh không chết, anh ra ngoài tìm đường về ghe.


Giữa khuya Thủy xuống tới, nghe tiếng con chó sủa, tiếng Thủy sát bên cánh cửa cabin:


“Anh tìm tôi chi vậy?”.


Bằng trở dậy mở cửa cabin bước ra đến ngồi trước mặt cô gái, chợt rùng mình vì cái lạnh đêm khuya.


“Chuyện gì cô biết rồi”, anh nói, cố kềm cơn run.


“Chuyện gì?”.


“Tiền tôi đâu?”.


Im lặng một lúc, cô gái thở mạnh, không nao núng:


“Tiền gì?”.


“Cô không biết thật hả?”.


“Không”.


“Tiền tôi giấu dưới ghe này nè”, Bằng nói chẫm rãi, nghe tiếng mình vang lên trong đêm khuya. “Vàng đó mà. Không phải cô “mượn đỡ” mua đất nuôi tôm gì đó sao?”.


“Không”.


Im lặng một lúc nữa, lâu đến nỗi Bằng thấy tốt nhứt xô cô gái xuống sông, nổ máy ghe chạy đi, rời mau khỏi chỗ này, khỏi xứ sở này.


“Cô lấy cắp tiền của tôi đúng không?”, anh vẫn bình thản nói, cố dò tìm nét hoảng sợ trên mặt cô gái. “Cô biết tôi có tiền, giấu kín như vậy cô cũng tìm được, cô đúng là một đứa ăn cắp chuyên nghiệp”.


“Em không biết gì đâu”.


“Nói làm gì, còn gì nữa đâu! Tôi chẳng là gì, nhưng cô là như thế đó, lấy cắp tiền của tôi đàn đúm nhậu nhẹt với đám du côn…”.


“Không phải du côn đâu, mấy anh ấy là công nhân nông trường. Em muốn nhờ vả chuyện nuôi tôm”.


“Vậy là cô lấy tiền tôi mua đất nuôi tôm, cô đã nhận, tự đến đây…”.


Trời tối, Bằng không nhìn rõ mặt cô gái. Dòng sông chảy êm đềm ngoài xa. Bên kia ven cây đen thẫm. Không cần thiết gì nữa, không còn gì quan trọng, cả cô gái lẫn số tiền bị mất. Nhưng nỗi tức tối, nhục nhã vẫn còn đó, đè nặng khiến anh muốn nghẹn thở. Anh nói tiếp:


“Cô xuống đây như vậy là tốt, ta tính cho xong đi, chỉ cô với tôi, không làm phiền người khác. Cô không nhảy xuống sông bỏ trốn chớ?”.


Bằng đến đằng mũi mở khóa xích trước, rồi đến đằng lái mở khóa xích sau, xô ghe ra từ từ, chen lách nhẹ nhàng qua đám ghe đang ngủ yên. Cô gái vẫn ngồi yên, cúi đầu tóc xoã kín mặt. Ghe đã ra đến giữa giòng. Mặc cho chiếc ghe trôi đi, anh trở lại ngồi đối diện với cô gái, hai tay nắm chặt vào be ghe. Sao cô lấy tiền tôi? Anh hỏi không biết lần thứ mấy, nghe tiếng mình rơi vào khoảng không im lặng. Vậy là không còn gì để nói nữa, đành vậy thôi. Nhưng chẳng khác nào một cuộc ám sát! Tại sao anh dính vào chuyện này? Có nghĩa lý gì? Anh nói tiếp, ngạc nhiên thấy mình hạ thấp giọng, như có điều gì cần phải trần tình:


“Tôi gặp cảnh ngặt nghèo về đây, chỉ có bao nhiêu tiền, một nửa mua chiếc ghe, nửa kia cô lấy mất, tôi khổ vì đồng tiền trên thành phố, về đây cô làm khổ tôi. Mà cô là thế nào với tôi? Tự dưng cô đến nhà tôi kể chuyện đời cô, tôi cũng chịu lắng nghe, vậy sao cô lấy tiền của tôi?”.


“Em không lấy”.


“Vậy ai lấy? Có ma quỉ ở đây hay sao? Xin cô biết cho, tôi chưa giết người, nhưng côn đồ quậy phá cũng đã từng, cô thật dại khi đụng vào tôi. Trừ phi cô nói cho tôi biết tại sao cô lấy tiền tôi, ăn cắp hay muốn trả thù, hay chuyện gì khác. Hay để tôi nói giùm cô?”.


Nhưng Bằng không nói gì nữa, đã hết ngôn từ rồi, đứng dậy bước tới túm lấy tóc cô gái lôi xuống sàn ghe bắt đầu cuộc đấm đá. Anh đánh vào mặt, vào cổ, vào bất cứ chỗ nào vớ được trên người cô gái. Cô quằn quại kêu rên, ra sức chống đỡ. Anh càng nổi cơn điên khùng, tung những cú đấm cho đến lúc cô gái gục xuống, anh cũng bò lết đến nằm gục ở mũi ghe.


Nhảy xuống sông bây giờ là tốt nhứt.


Chiếc ghe vẫn bình thản trôi đi. Sông nước mênh mông lộng gió. Bình minh đang lên, bốn bên trời nước đang rạng dần. Chiếc ghe trôi bập bềnh, xoay ngang ngửa rồi tấp vào một bụi đước.


Không biết thời gian trôi đi như thế nào. Hình như có nắng lên, có tiếng lao xao xuồng ghe qua lại. Một chiếc ghe lao hết tốc lực đâm thẳng lại, lái ghe là đứa con gái nhỏ quán Hai Chất, trên ghe có ông Sáu Thiên và người trưởng công an trẻ tuổi. Sóng nhồi dữ dội khi chiếc ghe cặp vào. “Mày chết mày chết”, ông Sáu Thiên la lên. “Mày đánh chết con nhỏ rồi phải không?”. Ông Sáu Thiên nhảy sang ghe Bằng, hai chiếc ghe bị sóng dội bờ xô ra, từ từ trôi đi.


“Trời ơi nó đánh chết con nhỏ rồi”, ông Sáu Thiên tiếp tục la lối, tiếng nghe vẳng từ đâu xa lắc. “Tao biết mày là quân côn đồ, không ngờ mày ác độc đến như vậy”.


Đứa con gái nhỏ cột dây dòng ghe. Bằng nổ máy lớn đảo một vòng rộng một cách thành thạo, cho ghe phóng thẳng đi ngược trở lại. Ông Sáu Thiên lăng xăng chăm sóc Thủy. Người trưởng công an trẻ tuổi đến ngồi bên Bằng:


“Sao có chuyện gì, cô ấy ăn cắp tiền à? Có bằng chứng không? Có lấy cắp cũng không được đánh người, anh bị tù đó! Anh ghiền mùi tù rồi à?”.


Ghe về tới chợ xã, ông Sáu Thiên đưa Thủy đi bệnh xá. Người trưởng công an trẻ tuổi đưa Bằng về trụ sở, đem vào một phòng khóa trái cửa. Anh biết mình đã bị giam. Bên ngoài yên ắng. Buổi trưa hết giờ làm việc mọi người đi ăn cơm. Anh thấy đói nhưng nghĩ mình phải bắt đầu chịu đựng. Ở góc phòng có bình nước, anh đến uống liền mấy ly, trở lại nằm xuống chiếc ghế băng, đầu óc trống rỗng, cố chợp mắt một chút nhưng không thể nào ngủ được. Đến xế chiều cửa mở. Một người đàn ông kéo dép lệch xệch bước vào. Ông cắt cỏ. Ông kêu Bằng đi ăn cơm, tiệm đối diện bên kia đường, ông ta đi theo cho vui không phải canh giữ gì. Và vì anh bị tù nhưng chưa thành án nên phải bỏ tiền ra ăn, không có tiền ông cho mượn. “Tôi canh tù ở đây cho mượn tiền như vậy hoài”, ông ta nói. Rồi nói thêm: “Nhiều ông đi tù không chịu đem tiền theo, có phải đi nghỉ mát đâu”. Bằng ăn cơm, ông ta ngồi kế bên nói láp giáp, gạ gẫm Bằng mượn tiền, lãi xuất ít thôi, gần bằng với ngân hàng nhà nước. Ong ta có một mình tiền lương xài không hết, dành dụm cho vay lấy lời, đồng tiền sinh sôi nảy nở là đồng tiền khôn. Bằng nói anh có tiền, còn có thể đãi ông ta cà phê. Dạo sau này anh bán được ca. Các ghe buôn qua lại gởi hàng trả tiền “lưu kho”, anh có ý định cất thêm mấy gian nhà nữa, lập hẳn một trạm gởi hàng, tiền thu được không phải là ít.


“Chiếc ghe anh đâu rồi?”, ông cắt cỏ chuyển đề tài.


“Ông Sáu Thiên giữ giùm”, Bằng đáp.


“Anh bị tù coi như bỏ đi rồi, nhưng chiếc ghe tốt cần phải giữ”, ông ta khuyên. “Anh dính tới con nhỏ đó làm chi, sao đến nỗi phải đánh chết nó?”.


“Không chết”.


“Vậy là còn sống. Con nhỏ làm tiếp viên, làm vợ bé bị đánh ghen, lặn đục lủng ghe người ta, cũng nhiêu khê nhiều chuyện lắm. Nhưng kể cũng đáng thương”.


“Tối nay tôi ngủ đâu?”.


“Ngủ đây thôi. Xã này nghèo không có khách sạn phòng lạnh giam người đâu. Tôi cho anh mượn mùng mền, không cần gác gì đâu, nhưng tôi ngủ với anh cho vui. Lần nào có người bị tạm giam tôi cũng ngủ chung. Ngủ một mình bên kia làm chi?”.


“Chừng nào xử tôi?”.


“Không biết. Hôm nay chắc chưa đâu, ngày mai cũng chưa. Người ta còn đợi coi con nhỏ sống hay chết”.


“Không chết”.


“Vậy là còn sống. Một lần tôi ngủ chung với một người bị tạm giam, tự nạp mình về tội đánh vợ. Nhưng suốt đêm tôi nghe anh ta kêu rên, vén áo thấy mình mẩy bầm tím cả. Sáng hôm sau thấy chị vợ xông đến, mới biết anh ta bị vợ đánh chạy trốn vô đồn”.


Ăn cơm xong người đàn ông cắt cỏ dẫn Bằng về “giam” vào chỗ cũ. Ông ta bỏ đi một lúc, khi trở lại mang theo mùng mền, kéo hai chiếc giường sát vào nhau, giăng mùng cho cả hai người, tấn mùng kỹ bốn góc, vào nằm day trở thoải mái, bỗng thổ lộ:


“Trước kia tôi cũng là tù ở đây. Lâu rồi, hồi trước giải phóng, tù chế độ cũ. Hôm ba mươi tháng tư được thả, không nhà cửa biết đi đâu?”.


“Tù tội gì?”, Bằng hỏi.


“Thì cũng bài bạc cướp giựt bậy bạ thôi, tôi không có gan làm chuyện lớn. Nhưng tôi ở đây lâu, chứng kiến nhiều chuyện ghê lắm. Một lần một gã đến tự nạp mình, nói vừa giết người, hóa ra bị rượt chạy trốn vào tù, giữa khuya có người lẻn vào đâm chết gã ngay trên giường anh nằm đó”.


Sáng hôm sau, Bằng được người trưởng công an trẻ tuổi kêu lên. Vẫn những thủ tục khai lý lịch, trình bày sự việc. Đầu óc lan man, anh kể chuyện gặp ghe bà mập quen biết cô gái, cô ta đến nhà anh không thể xua đuổi, thật tình anh cũng cần có người để nói chuyện, hỏi han cách làm ăn sinh sống, rồi quen dần, nghe cô kể chuyện đời mình anh cũng thương, không gắn bó gì cũng không đến nỗi thù địch… Vậy rồi xảy ra chuyện mất tiền! Số tiền bị mất anh coi như bỏ, nhưng anh không thể chịu nhục. Tại sao chuyện không may cứ đeo đuổi anh, những bất hạnh cứ trút xuống đầu anh, nửa đời người sống trôi giạt bèo bọt không ra sao, về đây muốn được yên thân, ở chui rúc góc rừng cũng có người đến phá hại?


“Tiền anh để đâu?”, người trưởng công an trẻ tuổi lôi anh trở lại câu chuyện.


“Để dưới ghe”, anh đáp.


“Tự dưng thấy mất hả?”.


“Có người báo”.


“Ai báo?”.


“Tôi không nói đâu”.


“Được. Rốt lại không có bằng chứng gì cả, tiền cũng không biết có không. Nhưng chuyện anh đánh người là có thật. Cô ấy đang nằm trong bịnh viện. Vậy chúng tôi tính sao đây?”.


Bằng nhớ đến người trưởng công an đã chết. Không biết người ta đã khám phá ra gì chưa. Chuyện anh dính líu vào đó còn chưa xong, lại tới chuyện này. Cuộc thẩm vấn tiếp tục. Người trưởng công an trẻ tuổi không muốn tỏ ra nghiêm khắc quá, nhưng cũng không thể dễ dãi, mất tiền là một chuyện, đánh người lại là chuyện khác. Hơn nữa đánh phụ nữ, giữa đêm khuya ngoài sông, thả trôi ghe đánh người như một cuộc hành hạ thời trung cổ, chưa kể trước đó còn đập bể mặt tay say rượu nào đó. Anh có phải là kẻ gây rối không? Hay phần tử phá hoại? Anh về đây chưa được một năm đã xảy ra bao nhiêu chuyện, quê hương nào chấp nhận người như vậy?


Không rõ có phải là lời buộc tội không, Bằng làm thinh.


Bằng muốn biết tin Thủy ra sao, có trầm trọng gì không, nhưng không dám hỏi.


Anh được đưa trở lại phòng tạm giam. Ở đó thêm hai ngày. Người cắt cỏ buổi sáng buổi chiều đưa anh đi ăn cơm, lần nào cũng gạ cho anh mượn tiền, lần nào cũng được anh đãi ly cà phê. Vẫn không có tin gì về Thủy. Việc gì người ta phải báo với anh. Nguồn thông tin duy nhứt là ông cắt cỏ, ông ta chỉ ở quanh quẩn trong cơ quan không biết gì.


Nhưng chính ông ta là người thông báo mức án, như một vị quan tòa, vui vẻ như báo tin lễ cưới:


“Anh bị đi cải tạo. Ba tháng trồng rừng. Vậy là nhẹ, đánh chết người”.


“Không chết”, Bằng nói.


“Vậy là còn sống, may cho anh đó. Trồng rừng không cực khổ gì đâu, ban ngày đi nhởn nhơ cắm mấy cây đước con, coi như đi dạo mát”.


“Tôi chưa biết trồng rừng như thế nào”.


“Cứ làm rồi biết. Ban ngày đi dạo mát, ban đêm đám tù nhân đâm chém nhau. Mới hôm nào có một thằng đại bàng cắt đầu một thằng bạn tù đem treo phơi ngoài hàng rào”.


Vẫn không cách gì hỏi được tin Thủy. Đó là nỗi ray rứt duy nhứt trước khi anh vào trại giam. Sáng ngày thứ ba người trưởng công an trẻ tuổi đến đọc quyết định phạt anh đi cải tạo, ba tháng trồng rừng. Người trưởng công an báo thêm cho anh biết ông Sáu Thiên giữ chiếc ghe, hai đứa nhỏ sinh đôi giữ nhà. Vậy là là đâu đó xong xuôi cả. Anh nhận được chiếc giỏ đựng quần áo, đồ dùng cá nhân. Bằng mang chiếc giỏ chen qua cửa đi ra ngoài tìm người đàn ông cắt cỏ để chia tay, nhưng không thấy đâu. Người trưởng công an trẻ tuổi đưa anh đi, nhân tiện có việc gì đó dưới trại cải tạo. Họ đi đò khách, một chiếc tắc-ráng lớn đông nghẹt người. Không ai chú ý tới họ. Người trưởng công an trẻ tuổi bận thường phục, không có dấu hiệu gì áp giải phạm nhân. Bằng giữ ý không đi xa người trưởng công an, xuống đò máy ngồi cạnh bên. Lúc người lên xuống chen lấn phải ra xa, Bằng đưa mắt tìm kiếm, người công an không tỏ thái độ gì. Một người phụ nữ trẻ bồng con nhỏ ngồi trước mặt, thằng nhỏ đen thui chỉ tay vào Bằng hét tướng lên, người mẹ níu tay nó vẫn hét. Chiếc đò máy chạy một đọan trên sông Lòng Tàu, rẽ ngang dọc theo các sông lớn sông nhỏ không còn biết phương hướng gì nữa. Thằng nhỏ đen thui thôi hét, đòi bò qua Bằng, vừa ngồi xuống dỏng cu đái bổng lên. Khách ngồi hai dãy hai bên, thêm dãy chính giữa, đồ đạc chất ngổn ngang, con nít lăn lê bò toài trên những chiếc giỏ xách, những lồng gà vịt, rọ heo con, bao tải, chuối xanh, dừa khô, cá khô, tiếng máy nổ, tiếng người nói, súc vật kêu la âm thanh ồn ào chói gắt. Rồi im đi được một lúc, mọi người ngủ gà ngủ gật, heo gà cũng ngủ, bỗng nổi lên giọng bà già kể lể véo von, những chuyện không đầu không đuôi. Có ai đó ngâm nga một điệu hò lý cổ xưa. Chiếc đò máy vẫn chạy rì rì giữa sông, bỗng từ đâu hiện ra một đám con nít ồn ào như một đám giặc, tràn vào khoang ghe, đưa cao những mẹt đựng đồ ăn thức uống, đảo liệng như múa trên đầu hành khách, rao mời inh ỏi. Mọi người tranh nhau mua nào bánh cam bánh ít, xôi đậu, xanh chè trôi nước, cơm dĩa bánh mì kẹp thịt, nước dừa tươi trà đá, cà phê đá đựng trong bọc ni lông kèm chiếc ống hút. Người công an mua hai ổ bánh mì thịt, không hiểu có phải bắt đầu cơm tù hay không, thêm hai bọc cà phê đá và bọc mận đứa nhỏ. Đám trẻ bán hàng bỗng biến mất, như có phép thần thông, nhìn ra sau thấy chúng đang nhảy lon ton xuống một bãi sông, chạy lủi vào những bụi bờ rậm rạp. Có hai người đàn ông một già một trẻ chen đi vào, vướng víu chiếc cưa cá mập, gật đầu xin lỗi người này người kia, tìm chỗ ngồi ở một góc tối. Đó là những người miền ngoài thường đi từng đôi rong ruổi khắp các làng xã vùng bán đảo Cà Mau cưa gỗ thuê, tính tình hiền hòa, sinh hoạt giản dị, không hề có túi xách tay nải, chỉ bộ quần áo trên người gói thuốc Lào rít khói trong lòng bàn tay.


Đò máy vẫn chạy. Bằng ngủ lơ mơ, thức dậy thò đầu ra ngoài vốc nước rửa mặt. Một bầy vịt lội thành hàng, rẽ nước băng băng. Bến cuối một khu nhà nhỏ, hai người lên bờ đi loanh quanh, đến một nhà Bằng đứng ngoài người công an vào trong, một lúc trở ra với người đàn ông, ba người đi xuống chiếc võ lải nổ máy đi tiếp theo sông đã đi, rẽ vào một sông khác, sông hẹp dần, hai bên đước mọc cao che kín cả tầm nhìn. Trời đã xế chiều. Không còn thấy nhà cửa gì nữa, xuồng ghe cũng không, chỉ có rừng đước rừng mắm chạy dài, ghe rẽ sóng chạy băng băng. Người lái ghe lôi dưới sàn ra giỏ đồ ăn, người công an bới cơm đưa cho mọi người, ghe vẫn chạy trong ánh chiều lát vàng. Một con sông khác từ trong rừng đổ ra cùng hợp dòng, con sông rộng phình ra, gió thổi ngược sóng dựng đứng, nhọn như lưỡi búa, phủ một lớp bụi nước quanh ghe. Buổi chiều như dừng lại, mặt trời đậu mãi trên ven cây, gió càng càng thổi mạnh. Ghe chạy chậm lại, rẽ vào một con kinh nhỏ, bờ đất hai bên còn đỏ au, lòng kinh hẹp sóng dội cuộn xoáy. Người lái ghe vật lộn với tay lái rồi tắt máy dùng sào chống đi.


“Dứt mưa, sắp Tết rồi, rầu quá đi!”, người lái ghe nói.


“Sao rầu?”, người công an hỏi.


“Tôi lái ghe cho trại cải tạo, Tết người nhà đi thăm nuôi tù không ai thăm tôi”.


Con kinh dứt ngang giữa chừng. Mặt trời xuống khỏi ngọn cây nhưng vẫn còn sáng. Cả vùng rừng mới phát quang nham nhở những gốc đước ngập nước lấp xấp. Một con đường mới đắp còn nhão bùn chạy thẳng vào trong. Xa xa thấp thoáng những gian trại chìm mờ trong màn sương. Ba người lên bờ đi băng đồng, qua một vòng rào, những cột trụ xộc xệch, nhiều chỗ bị gãy đổ, đến một gian trại trong bóng tối nhập nhoạng. Trong trại có ba người lính, hai người đang đánh cờ, một người lom khom thổi lửa, lò bếp bốc khói mù mịt. Một bóng đèn đỏ quạnh đung đưa trên trần nhà.


“Chào các đồng chí trực ban! Khỏe không?”, người công an đi vào vẻ quen thuộc. “Có trà nóng uống không?”.


“Có trà nhưng lửa không cháy”, người thổi lửa vẫn không ngẩng lên. “Suốt ngày nắng chang chang, củi lại ướt nhẹp, hay như vậy đó. Đưa người tới hả? Ngồi đi!”.


Không có chỗ nào ngồi cả. Có bàn nhưng không có ghế. Hai tay cờ ngồi trên hai khúc cây vẫn cắm cúi miệt mài. Người công an ngó quanh rồi ngồi lên đống củi ướt. Bằng vẫn đứng. Người lái ghe bỏ đi ra ngoài nói vọng vào rằng anh ngủ dưới ghe mai về sớm kịp con nước xuôi.


Người thổi lửa nói vọng ra:


“Không có thư từ gì hả?”.


“Có vợ không đòi thư?”, người lái ghe nói vói lại, giọng vui đùa.


Rồi cũng tìm được hai chiếc ghế. Người thổi lửa ngồi vào bàn trao nhận giấy tờ với người công an.


“Trại đông người lắm hả?”, người công an nói. “Còn chỗ thêm người không?”.


“Cứ ở thôi, nhưng mấy anh bớt bắt người đi”.


“Bắt bớ gì, đi trồng rừng thôi”.


Người công an đi ra nói với Bằng:


“Anh vô trại ăn cơm rồi nghỉ đi. Tôi cũng đi kiếm cái gì ăn, tìm chỗ thằng bạn ngủ, nói chuyện chơi mai về. Anh nhắn gì về nhà không?”.


“Dạ thôi”.


“Thôi tôi đi nghen?”.


Người công an đi vào trong khu trại. Bằng vẫn đứng. Người thổi lửa nói với hai người đánh cờ:


“Thôi dẹp bàn cờ ăn cơm, rồi đưa người vô trại, người ta còn nghỉ ngơi”.


“Tôi ăn cơm rồi”, Bằng nói.


“Cũng phải ăn thêm, ở đây không có tiệm quán tối ăn hủ tíu đâu. Hai ông tiên có dẹp bàn cờ không?”.


Bằng ăn cơm. Vậy là lại ở tù rồi đây, cắt đứt mọi liên hệ bên ngoài, không cách gì biết được tin Thủy, ông Sáu Thiên, cùng nhiều chuyện khác...


 


 


(còn tiếp)


Nguồn: Cơn giông. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Rút từ Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »