tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28857007
Truyện ngắn
07.02.2014
Khúc Hà Linh
Thần đồng bên sông Kinh Thầy

Đồng Hóng là con trai cả Đồng lão gốc nông dân, thêm nghề chài lưới vùng ven sông Kinh Thày, thuộc làng Triền Dương, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đồng Hãng nổi tiếng thần đồng từ lúc 8 tuổi. Khắp cả vùng sông nước Lục Đầu giang bấy giờ truyền nhau câu vè: Ông Triền ông Dọc còn học làm chi. (ông Triền chỉ Đồng Hãng, ông Dọc chỉ Nguyễn Phong). Lại còn thêm một câu sấm nữa: Chí Linh trạng bảng phi Hãng tắc Ưởng (Trạng nguyên Chí linh chỉ có ông Hãng hoặc ông Ưởng). Nhỏ gầy nhất lớp, nhưng chẳng ai dám coi thường Hóng. Hãng viết chữ thoáng, bay bướm lại  ứng đối trôi chảy trước người lớn tuổi, nên có người bảo là bẻm mép. Bạn chăn trâu đã phải thay nhau đi lừa trâu cho Hãng để được nghe Hãng kể chuyện Thuỷ Hử, Tam Quốc chí, hay Thuyết Đường diễn nghĩa. Chuyện ấy ai cũng biết, nhưng qua giọng kể của cậu, có thêm những chỗ phân tích phẩm bình, làm cho câu chuyện thêm phần hấp dẫn lạ kì. Cậu thuộc vanh vách từng hồi dài chuyện Tam Quốc, kể tỉ mỉ chi tiết, từng lời thoại của các nhân vật nổi tiếng như Trương Phi, Tào Tháo khi đứng trước trận tiền, thuộc cả tên chương hồi mà chẳng mấy người đọc thuộc .


Một hôm nhờ bạn trông trâu hộ, Đồng Hãng dò hỏi đường lên dinh quan Thừa Ty đồn Phao Sơn. Trưa hè oi ả, yên ắng bỗng vỡ toang bởi hồi trống rung động nha môn. Quan Thừa Ty đang thiu ngủ, giật mình tưởng có chuyện khẩn cấp, trở dậy kéo thuộc hạ ra cổng, thì chỉ có một cậu bé trạc hơn chục  tuổi.


Quan hỏi:


-  Em bé có việc gì náo động bản quan?


- Thưa quan, kẻ hàn sĩ muốn xin bữa cơm, khó nói được đến nơi, nên mạo muội đánh trống. Muôn lần đáng tội, xin quan lớn tha cho


Quan  vốn xuất thân là nho sinh, nên đồng cảm, cất tiếng cười vang:


- Em là học trò cụ giáo Triền Dương hả, thiên hạ đồn cụ là người hay chữ lại có tài rèn cặp học trò, nay ta ra đề, nếu làm được, ta sẽ cấp tiền gạo. Không làm được ta đánh đòn, sai người trả cho cụ giáo dạy dỗ, chịu không?


Đồng Hãng đáp cộc lốc:


-          Trăm đầu đề cũng làm được!


Quan thừa ty thoáng vẻ khó chịu, nhưng kiên nhẫn ra đề. Đồng Hãng viết lia lịa. Thiếu giấy mực cậu dùng gạch non viết đầy sân nhà quan. Các viên phụ tá cũng thi nhau ra câu hỏi, Hãng trả lời vanh vách. Những bài thơ ý tứ dồi dào hình ảnh đẹp, phóng túng như tính cách của Hãng cứ tuôn trào.


Quan hỏi: Em là người Triền Dương, vùng sông nước, vậy có biết bài thơ này là thế nào không  :


Niên lai hạ hạn hựu thu lâm


Hoà cảo miêu thương hại chuyển thâm


Tam vạn quyển thư vô dụng xứ


Bạch đầu không phụ ái dân tâm


 


 


Dịch:              (Năm nay hạ nắng thu mưa dầm


Lúa khô, mạ hỏng, hại rất lớn


Ba vạn cuốn sách cũng vô dụng


Bạc đầu vẫn không phụ lòng yêu dân.)


Quan chưa đọc dứt câu, Hãng đã reo lên: Đây là thơ của Trần Nguyên Đán, còn có tên Băng Hồ tiên sinh, là ông ngoại của danh thần Nguyễn Trãi. Cụ Trần thôi quan vào triều vua Trần Phế Đế, về Côn Sơn lấy cảnh núi rừng, hoa suối làm vui, nhưng lại lo đời, ưu dân, nên viết bài này có tên là Tháng sáu năm Nhâm Dần, thưa quan đúng không?


Quan cười vang:


-  Giỏi lắm, em học sâu nhớ kỹ đúng là thần đồng, không ngoa .


Một vị tá lý đứng cạnh quan quá thích thú, bèn hỏi:


- Em có biết Băng Hồ tiên sinh là thế nào với Nguyễn Phi Khanh không?


- Thưa, là nhạc phụ của cụ Phi Khanh, tức Nguyễn ứng Long . Thời ấy Băng Hồ tiên sinh thấy Nguyễn ứng Long là người học rộng tài cao, mới cho gọi đến nhà mình kèm cặp cho con gái  là Trần Thị Thái học hành. Ai ngờ trai tài gái sắc gặp nhau,  rồi yêu nhau quá mức… Nguyễn ứng Long sợ hãi  quá bỏ trốn, nhưng cụ Băng Hồ khoan dung độ lượng, sai người gọi về tác thành cho con gái. Nhờ đó khoa thi Giáp Dần 1374, Nguyễn đỗ Thái học sinh khi 19 tuổi. Không được vua Trần Nghệ Tông  trọng dụng, Nguyễn ứng Long chỉ ngồi dạy học ở nhà, đến khi nhà Hồ lật đổ nhà Trần, ông mới đổi tên là Phi Khanh ra làm quan nhà Hồ với chức Viện hàn lâm học sĩ, rồi lên tới Đại lý tự khanh kiêm Trung thư thị lang, Tư nghiệp Quốc tử giám. Điều ngạc nhiên là sau này ông làm quan đồng triều với con trai mình  là danh thần Nguyễn Trãi thời nhà Hồ…


- Vậy em có thuộc bài nào của Nguyễn Phi Khanh không, đọc đi !


Đồng Hãng đọc luôn:


Nhàn quan địch thủ ngẫu tương phùng


Thử lạc kham thù đấu quất trung


Sơ nhạ hiểu tinh quang thác lạc


Hốt văn tình bạc toái linh lung


Tung hoành ám hợp chu thiên số


Thắng phụ giao tranh lược địa công


Vạn sự như kỳ tu thuyết trước


Cổ kim cục diện khổ nan đồng


 


 (Song nhàn địch thủ bỗng giao tranh


Ruột qúit sao hơn cuộc giật giành


Thoạt ngỡ sao mai xen lẫn lộn


Vụt nghe mưa đá vỡ long lanh


Vòng trời số hợp hàng ngang dọc                                               


Chiếm đất tài đua cuộc bại thành


Thế sự như cờ nên tính trước


Xưa nay cục diện diễn muôn hình!)


Đây là bài Xem đánh cờ, thưa quan.


Lại có một vị thuộc hạ của quan Thừa ty, chen vào hỏi:


- Trong thơ đánh cờ lại có cả ruột quýt là lý làm sao, chẳng lẽ Nguyễn tiên sinh bí từ ngữ đến nỗi đem cả vật tầm thường vào bài thơ thời cuộc như thế ư?


Đồng Hãng chẳng ý nhị gì, nói toạc ra:


- Thế là quan chưa biết rồi. Cuộc đấu trong quả quýt là một điển tích. Theo sách U Quái lục, ngày xưa mùa sương trong vườn quýt  ở đất Ba Ngang, bỗng xuất hiện quả quýt to bằng cái vò, người ta ngạc nhiên bổ quýt ra,  thì thấy hai ông lão đang đánh cờ. Từ đó đấu quýt thành điển tích, chỉ việc đánh cờ mà thôi .


Tất cả lính trong đồn nghe chuyện  thơ văn của thần đồng Triền Dương quả là  xưa nay hiếm nên đổ xô tới xem. Quan Thừa Ty vô cùng kinh ngạc và thán phục, nhưng ông thử thêm một lần nữa.


-          Thôi bây giờ ta ra cho em một vế đối,  đối hay ta thưởng.


Quan đọc:         Phao Sơn cẩm tú thiên lưu quán.


            (Cảnh đồn Phao đẹp như gấm vóc, có bầu trời trong dịch quán)


Hãng đối: Đồng thị hào hoa  khách thưởng trà .


                 (Họ Đồng thanh nhã hào hoa làm khách thưởng trà thơm)


Quan nghe vế đối lại biết ý Hãng nói gì. Bèn hạ lệnh cho lính mở cửa phòng khách, pha trà mời Hãng và lấy tiền gạo thưởng hậu.


Chuỵện Đồng Hãng làm thơ được quan Thừa Ty thưởng gạo tiền, nhanh chóng bay ra khắp huyện Chí Linh, phủ Nam Sách, đến tai cụ giáo.


Vẻ ngoài, cụ nghiêm khắc quở mắng, trò Hãng thiếu khiêm nhường, hãnh tiến. Hãng âm thầm chịu hình phạt quét nhà  một tuần, lại phải đến sớm lau chùi ống điếu, hòm tráp văn thư cho thầy. Nhìn trò Hãng cặm cụi làm việc, cụ giáo chỉ tủm tỉm cười thầm trong bụng. Nói đúng ra  cụ khấp khởi mừng thầm bởi tài năng, khí phách, khẩu khí của một người trí thức sau này. Cụ ngấm ngầm yêu quý trò và tìm cách hạn chế tính kiêu ngạo của trò mà bên ngoài chẳng mấy người để ý. Cụ giáo tâm đắc nhất ở trò Hãng không chỉ kiến thức sâu rộng, học một biết mười, chăm chỉ siêng năng, mà ở tính tự học. Cậu tìm hiều đến tận cùng cốt lõi của từng sự vật, nhưng khảng khái đến lập dị, mà cụ cho đó là sự thường tình của những bậc tài danh. Những trò khác tuy thông minh nhưng thiếu khả năng ứng biến, thường thụ động, rập khuôn mẫu .


Giống như con ngựa quý thường bất kham, nhưng khi vào trận thì  con ngựa bất kham lại dũng mãnh  có thể giúp chủ dành chiến tích.


Cụ giáo còn nhớ dạo Đồng Hãng mới theo học được năm sáu năm, nhưng sức chở kiến văn của trò thật là thâm hậu. Lần ấy, cụ  tổ chức một buổi bình thơ, gồm những trò đã và đang bước vào kỳ khảo hạch trong xứ để chuẩn bị thi Hương. Đồng Hãng không ở diện ấy những xin thầy cho dự thính. Trước khi các trò bàn thảo về cái tinh hoa của thơ Đường, cụ giáo dành một thời gian giảng lại phần lý thuyết về niêm, luật bằng trắc, thể thơ và cách gieo vần.


-   Trong trời đất chỉ có khí  âm, dương là quan trọng nhất, cơ bản nhất. Mọi sự sống trên trái đất này đều có sự kết hợp hài hoà của âm dương. Âm dương cân bằng là lý tưởng . Khi âm thịnh thì dương suy và ngược lại, đều không tốt . Hệ thống niêm luật của thơ Đường cũng lấy sự hài hoà đó để chi phối . Cấu trúc bằng trắc trong từng câu theo hàng ngang, theo hàng dọc là để vươn tới hoàn thiện. Một bài thơ thất ngôn bát cú 56 chữ, có 28 bằng, 28 trắc, hay một bài ngũ ngôn tứ tuyệt 20 chữ, thì cần có 10 vần bằng, 10 vần trắc là tối hảo. Khi ấy  một âm một dương, một chẵn một lẻ đan xen hài hoà. Giống như một bản nhạc có thăng có giáng, có trầm có bổng, có mềm có cứng.  Âm dương nhịp nhàng uyển chuyển, tao nhã, giàu nhạc điệu.  Sự tương xứng về bằng trắc là tượng trưng sự cân bằng giữa cái mềm, nhu, hoà của âm và cái cứng, thẳng, mạnh của dương; có trên có dưới, có cách có liền, cứ thế mà vận động tuần hoàn; giống như là thiên nhiên có nắng mới có mưa, có ngày mới có đêm, có nước có lửa để sinh sôi…Trong cái hữu hạn 56 chữ, 28 âm bằng, 28 âm trắc, một bài thơ Đường có thể chứa đựng sự hàm súc tới sâu thẳm vô cùng . Đỗ Phủ nói: Ngữ bất kinh nhân, tử bất hưu (Lời thơ chưa làm người ta kinh ngạc, chết rôì vẫn chưa yên). Muốn vậy, các thi nhân phải chắt lọc, tìm tòi từ ngữ tinh hoa trong dân gian, và sử dụng điển văn, điển tích, từ hoa lệ  kết hợp với cấu tứ chặt chẽ. Bởi thế các đề tài vế cuộc sống xã hội, thiên nhiên, chinh chiến, kể cả nỗi niềm thế sự, tình yêu…các thi nhân vung bút khám phá, len lỏi vào tất cả các ngõ ngách đời sống nhân dân, làm thành dòng sông thơ Đường cuồn cuộn chảy không bao giờ nguôi nghỉ . Thật kì diệu một áng văn chương cũng chuyên chở cả lý thuyết Kinh Dịch, tức con người là tiểu vũ trụ,  bị chi phối của đại vũ trụ không cùng. Thơ là kết quả của con người tương thức trong thiên nhiên, nó được gây cảm hứng từ thiên nhiên,  tâm hồn con người với thiên nhiên là đồng điệu…


Nghe thầy giảng giải các môn sinh vô cùng kinh ngạc trước sự thâm hậu, kì diệu của thơ Đường, họ chỉ ngồi nghe mà chẳng có ai tỏ ra ý nghĩ của riêng mình. Cụ giáo nhắc rằng có ai có ý kiến khác không, thì chỉ có một bàn tay nhỏ nhất  giơ lên. Hoá ra là người dự thính . Cụ giáo tủm tỉm cười:


-          Trò Hãng phải không, trò dự thính mà cũng có ý kiến gì kia?


Đồng Hãng Đứng lên khoanh tay, thưa:


- Thưa thầy, thưa các sư huynh. Con được nghe lời thầy mà như người nằm trong hầm sâu được bước ra ánh sáng, như kẻ mơ ngủ được đứng giữa thanh thiên. Đầu óc sáng suốt thêm nhiều, nhưng cái lẽ đời làm gì có sự tuyệt đối được.


 Nhất là văn chương, phụ thuộc cảm xúc con người,  phụ thuộc vào tâm thế, tâm trạng vui buồn biến đổi, vì thế cảnh buồn người buồn theo, người vui cảnh như có tâm hồn. Nếu cố tình áp đặt vào luật lệ ngặt nghèo ấy, các thi nhân không tránh khỏi sáo mòn, khô cứng, tình cảm trái tim thi sĩ bị bó buộc vào quy tắc khô khan, sao có thể sáng tạo cho cuộc đời những áng văn thơ bất hủ..


-          Vậy ý của trò là sao?


- Thưa thầy, ý con là niêm luật thơ Đường như vậy, nhưng thi sĩ vẫn có thể biệt lệ để giữ phần hồn của bài thơ.


-          Trò có thể dẫn trường hợp biệt lệ thế nào không?


-          Dạ thưa thầy con chưa có bài nào, nhưng các vị tiền bối đã có.


Đồng Hãng đọc bài Điểu minh giản của Vương Duy đời Đường làm thí dụ


Nhân nhàn quế hoa lạc


Dạ tĩnh xuân sơn không


Nguyệt xuất kinh sơn điểu


Thời minh xuân giản trung


Thưa thầy bài thơ này tả cảnh đẹp đêm xuân vùng sơn cước. Câu đầu không có gì chú ý chỉ dừng ở mức kể chuyện: chỉ có người nhàn tản mới thấm cảnh nhìn hoa quế rụng. Câu thứ hai, Dạ tĩnh xuân sơn không cũng chỉ phát triển thêm ý trước. Đêm tịch mịch, chốn núi rừng yên ả trống không. Nhưng xuất hiện câu thứ ba, Nguyệt xuất kinh sơn điểu thì ngòi bút của thi nhân như có thần,Vương tiên sinh đặc tả đêm yên tĩnh bằng cách nói cực kỳ tinh tế, giầu tưởng tượng. Phải yên tĩnh như thế nào để ánh trăng vừa nhô lên, đã làm cho con chim núi ngái ngủ giật mình . Mà ánh trăng vốn là êm ái dịu dàng. ánh trăng còn là đạo tâm, đã bừng dậy trong lòng người ẩn sĩ, giữa cảnh vắng lặng núi rừng đêm khuya. Kết thúc bằng âm thanh rời rạc con chim núi, thỉnh thoảng kêu vang trong khe nước gợi nỗi buồn man mác, sâu lắng của kẻ ly hương, phù hợp với tâm trạng nhà thơ xê dịch. Thưa thày, thơ không cần dài, lại càng không cầu kỳ phức tạp, chỉ cần bắt được nét thần đời sống rồi thấm lọc qua trái tim mỹ cảm, tâm trạng mà rung lên thành ý thành lời.


Nếu cứ nhăm nhăm né tránh nào trắc nào bằng, nào chữ này niêm chữ kia sao có thể thành bài thơ giàu nhạc điệu, chan chứa tình yêu quê hương đất nước, nhưng dân dã và tinh tế như vậy


Cụ giáo trong lòng vô cùng xúc động, nhưng cụ không lộ ra mặt, hỏi tiếp:


-          Ta nghe trò nói rất phải, nhưng Vương Duy đã phá cách chỗ nào?


- Thưa thầy, đáng  lẽ chữ giản ở câu 4 phải là vần bằng  mới đúng niêm với chữ hoa câu 1 vần bằng,  còn hai chữ sơn ở câu 2 và 3 phải vần trắc. Nhưng Vương tiên sinh đã bỏ qua, chỉ cốt tìm chữ đắt nên đã có bài thơ tuyệt bút để cho loài người bây giờ thụ hưởng.


Cả lớp vừa mừng vừa sợ cho Hãng . Một học trò dự thính mà dám tranh luận với thầy, thật hiếm thấy trong trường học của thầy Triền Dương .


Đồng Hãng có óc tư duy kì lạ. Cậu học chữ nhưng hay chiết tự làm phong phú cho ngữ nghĩa. Cậu đã làm cho các bạn nhiều phen phải bực mình vì những trò chơi trí tuệ


Trong lớp có một người tên là Minh nghĩa là sáng. Chữ Minh này gồm chữ nhật, có nghĩa là mặt trời, và chữ nguyệt có nghĩa mặt trăng. Anh này học dốt nhưng hay ba hoa, huếch hoác . Một hôm, Hãng lấy cuốn vở bài tập của Minh sửa  chữ nhật ra chữ khẩu; sửa chữ nguyệt ra chữ điểu rồi nộp bài. Khi trả bài, cụ giáo nhìn thấy chữ Minh bây giờ nghĩa là kêu cụ tủm tỉm cười, trao cho anh trưởng tràng đưa cho cả lớp xem ai cũng cười, đoán ngay Đồng Hãng là tác giả.


Khoa thi Kỷ Mùi năm Quang Bảo thứ 5 triều Mạc Phúc Nguyên (1559) khi đó 30 tuổi, Đồng Hóng mới đỗ Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân tức Hoàng giáp, làm quan đến chức Tả thị lang, sau quy thuận nhà Lê Trung hưng, được lưu dung chức cũ.


 


KHL.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cái bẫy - Đỗ Trường Leipzig 11.08.2019
Ngoại tình tuổi 50 - Vũ Ngọc Tiến 30.07.2019
Ân nhân - Trisha Coburn, “Miss Macy” 27.07.2019
Vợ người anh hùng - Nguyễn Trọng Luân 09.07.2019
Chuyện gì xảy đến cho Quỳnh Giao? - Từ Thức 06.07.2019
Thế giới trong kính lúp - Thận Nhiên 04.07.2019
Quyền được rên - Lê Mai 03.07.2019
Đêm huyền sử - Triệu Văn Đồi 09.06.2019
G. - Võ Đình 05.06.2019
Đêm cỏ tuyết - Kiệt Tấn 05.06.2019
xem thêm »