tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27223122
Những bài báo
05.02.2014
Khúc Hà Linh
Nhạn Loan cổ độ, nay ở đâu?

Chí Linh xưa, có  8 di tích lịch sử vào loại cổ kính và giá trị, được mệnh danh là  “Chí Linh bát cổ”. (Nhạn Loan cổ độ, Tinh Phi cổ tháp, Huyền Thiên cổ tự, Dược Lĩnh cổ viên, Trạng nguyên cổ đường, Thượng tể cổ trạch, Tiều Ẩn cổ bích, Phao Sơn cổ thành). Trong số đó , đến nay có những di tích trở thành phế tích. Người đời chỉ còn nhớ nó trong tâm tưởng, Ví như. Phao Sơn Cổ thành, (thành cổ Phao Sơn) nay bị công trình xây dựng Nhà máy Nhiệt điện Phả Lại chiếm hết cả. Những bãi xỉ than, những kênh thải nước làm mát máy cho quá trình sản xuất, đã nuốt chửng vết tích thành quách xưa rồi.


 


Bến đò Nhạn Loan cũng nằm trong số đó.


 


1-     Thử tìm lại địa danh Nhạn Loan cổ độ?


Nghe đến đây hẳn có người sẽ cho là thừa? Bởi từ lâu trong sách này sách khác, trong truyền ngôn, vẫn nói và viết rằng: Bến đò Nhạn Loan thuộc đất Chí Linh, có bến Triền Dương, nơi xẩy ra chuyện Trần Khánh Dư một tướng của triều Trần bị cách chức làm thứ dân đã về đây quăng chài, bán than kiếm sống...”


Một lần tình cờ mở mạng, trong mục huyện Gia Bình, Bắc Ninh thấy có đoạn viết “ Năm 1282, nhà Trần tổ chức hội nghị Bình Than ở tổng Vạn Ti, nay thuộc xã Cao Đức, huyện Gia Bình, (Bắc Ninh), để nhất trí toàn dân chống giặc Nguyên Mông. Ở hội nghị này Trần Quốc Tuấn được phong là Quốc công tiết chế tổng chỉ huy quân đội.


Lại  có bạn xem truyền hình viết thư hỏi rằng “Nhạn Loan cổ độ” là ở đâu. MC trả lời “ Nhạn Loan ở huyện Gia Bình”.


Xem như thế, vấn đề địa danh Nhan Loan, vẫn còn phải có lời giải tiếp.


 


2- Giải mã  Nhạn Loan.


Theo từ điển Đào Duy Anh,  Nhà xuất bản Trường Thi xuất bản năm 1938 tại Sài Gòn , Nhạn là  con ngỗng trời.. Còn Từ điển Thiều Chửu (NXB Thành phố Hồ Chí Minh- 1998)chữ nhạn cùng tự dạng là chim nhạn, bay theo thứ tự, mùa thu lại, mùa xuân đi, cho nên gọi là hậu điểu- chim mùa. Còn gọi là chim mòng.


Cả hai tác giả đều giải thích rằng đó là loài chim.


 Loan có  tới 6 chữ , tự  dạng  khác  nhau và  nghĩa  cúng  khác  nhau. Ví  như  Loan là  cái  chuông, là  dáng  núi , là cong queo, là  chuông đeo cổ  ngựa , là  tên loài  cây, là một loài chim phượng và  chỗ  hõm  nước  chảy  vòng.


Chúng  tôi cho rằng  chữ  Loan trong Nhạn  Loan phải    chỗ  nước  chảy  vòng , hõm  vào bờ đất.


Như thế , Nhạn Loan trong Nhạn Loan cổ độ, phải là vụng nước hõm vào, có những con ngỗng trời hay chim nhạn bay vờn trên mặt nước. Nhưng  trên khu vực Lục Đầu Giang rộng lớn ấy có bao nhiêu chỗ hõm nước và những cánh chim trời thường lui tới vui đùa?


 


3-     Vậy  bến đò Nhạn Loan ở đâu?


Địa danh Nhan Loan có muộn nhất cũng cách đây hơn 700 năm. Sách cũ chép sau khi bị cách chức làm thứ dân, Trần Khánh Dư về đốt than, chài cá kiếm sống trên sông Lục Đầu giang, rồi gặp vua Trần cho phục chức...Ta có thể suy ra, đó là vào cuối thế kỷ 13.


Vậy Trần Khánh Dư là người như thế nào?


Trần Khánh Dưthân vương nhà Trần , con trai Thượng tướng Nhân Huệ hầu Trần Phó Duyệt, có thái ấp ở châu Chí Linh.  Đến khi vua Trần Thánh Tông nhận làm con nuôi (thiên tử nghĩa nam) ông mới được hưởng tước Nhân Huệ Vương. (chúng tôi nhấn mạnh- KHL). Như thế khẳng định là thái ấp của Trần Phó Duyệt thân phụ Trần Khánh Dư là ở đất Chí Linh, nay là thị xã Chí Linh, chứ không liên can gì đến Gia Bình.


Xin nói thêm: Chỉ vì quan hệ tình cảm với  công chúa Thiên Thụy là vợ Hưng Vũ Vương Trần Quốc Nghiễn, con trai Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, nên ông bị xử tội. Trong phiên tòa, vua Trần Thánh Tông đã phạt vào tội đánh cho đến chết. Nhưng vì quá yêu người con nuôi này, nên nhà vua lại ngầm hạ lệnh cho lính đánh chúc đầu gông xuống.  Qua 100 gậy, Trần Khánh Dư vẫn sống. Luật thời bấy giờ, nếu  đã đánh qua 100 gậy  mà không chết,  nghĩa là trời tha.  Trần Khánh Dư bị cách chức làm thứ dân, phải về Chí Linh sinh sống.


Trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên, một lần triều đình tổ chức hội nghị Bình Than, khi thuyền vua đi qua bến Nhạn Loan, thấy một người chèo thuyền bơi nhanh vun vút, thì lạ lắm. Khi hỏi ra mới biết là Trần Khánh Dư đang khổ sở kiếm sống trên đoạn sông này. Vua Trần đã phục chức cho ông , và cử làm Phó tướng trấn giữ Vân Đồn. Khánh Dư có công lớn trong việc đánh tan đạo binh thuyền chở lương thực, khí giới của quân Nguyên do Trương Văn Hổ chỉ huy vào tháng 12 năm 1287, góp phần làm xoay chuyển tình thế chiến tranh.


Không chỉ giỏi võ, Trần Khánh Dư am tường văn chương. Ông là người viết lời tựa cho cuốn Vạn Kiếp tông bí truyền thư của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn. Đại Việt Sử ký Toàn thư có chép lại lời tựa ấy.


Người giỏi cầm quân thì không cần bày trận, người giỏi bày trận thì không cần phải đánh, người giỏi đánh thì không thua, người khéo thua thì không chết....


Cho nên trận nghĩa là "trần", là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, Hoàng Đế lập phép tỉnh điền để đặt binh chế. Gia Cát xếp đá sông làm bát trận đồ.....Nhưng người đương thời ít ai hiểu được, thấy muôn đầu ngàn mối, cho là rối rắm, chưa từng biến đổi....Cho nên Quốc công ta(chỉ Trần Quốc Tuấn- KHL chú,)  mới hiệu đính, biên tập đồ pháp của các nhà, soạn thành một sách, tuy ghi cả những việc nhỏ nhặt, nhưng người dùng thì nên bỏ bớt chỗ rườm rà, tóm lược lấy chất thực.


Sách gồm đủ ngũ hành tương ứng, cửu cung suy nhau, phối hợp cương nhu, tuần hoàn chẵn lẻ...đều rất rõ ràng, ngang với Tam Đại, trăm đánh trăm thắng.


                                                           


Vẫn tưởng một người như vậy không chú ý tới kinh doanh, nhưng Trần Khánh Dư lại là người thực tế. Ông biết vào rừng đốt than, ra sông quăng chài, làm nón buôn bán để sống. Trong thời gian làm tướng ông cũng kinh doanh. Đây là điểm đặc biệt ở ông, khác với nhiều quan lại chỉ sống nhờ bổng lộc do chức tước, không quan tâm đến sản xuất.


Năm 1323, Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư xin về trí sĩ, tại vùng ấp ông được phong, thuộc xã Dương Hòa, lộ Lý Nhân (Hà Nam). Một lần, ông đi chơi đến Tam Điệp, Trường Yên (Ninh Bình), qua vùng đất thấy đồng cỏ bát ngát, sông nước hữu tình, ông bèn sai gia nhân đến khai khẩn, lập thành làng mới. Trong buổi đầu khai hoang lập ấp, ông đã bỏ tiền nhà ra giúp vốn cho dân, ông còn hướng dẫn dân  trồng cây và làm nghề dệt cói. Sau 10 năm,  khi trở về ấp Dưỡng Hòa cũ, ông giao lại các trại mới lập cho hai gia tướng họ Bùi và họ Nguyễn coi sóc.


Năm 1340, ông mất. Nhân dân trong vùng lập đền thờ ông ở trại An Trung, trên nền nhà xưa ông đã ở, để ghi tạc công đức của ông. Trong đền có bức đại tự: " Ẩm hà tư nguyên" (Uống nước nhớ nguồn) và đôi câu đối :


* Nhân Huệ Vương tân sáng giang biên, thố địa phong hoà kim thượng tại


* Bùi, Nguyễn tộc cựu mô kế chí, gia cư trù mật cổ do lưu.


Tạm dịch :


* Nhân Huệ Vương mở mới bến sông, đồng ruộng tốt tươi nay vẫn đó


* Họ Bùi Nguyễn theo nền nối chí, cửa nhà đông đúc trước còn đây.


.Không rõ Trần Khánh Dư sống ở Chí Linh bao lâu, nhưng tên tuổi ông thì mãi mãi gắn liền với mảnh đất này. Có một đền Gốm thờ Trần Khánh Dư, và một xã Nhân Huệ mang t ước v ương của ông đến nay vẫn hiện diện trên bản đồ quốc gia.


Trở lại vấn đề địa danh Nhan Loan. Bấy giờ ở khu đất mà Trần Khánh Dư sinh sống có một  làng Triền hay Triền Dương, có khi gọi là Lý Dương. Làng Triền có bến sông gọi là bến Triền. Bến Triền này là nơi Trần Khánh Dư thường lui tới đây để chài cá và mang than đến bán cho thương khách. Chính bến Triền này, mãi hơn ba trăm năm sau vẫn còn được nhắc lại trong câu chuyện về  Thám hoa Nguyễn Minh Triết, thời Lê - Mạc thế kỷ 17.


Tóm tắt câu chuyện như sau:


Nguyễn Minh Triết  đã 54 tuổi, cảnh nhà nghèo, người làng Thiên, nay là phường Thái Học, thị xã Chí Linh, lên Thăng Long thi Hội. Thi xong, vội vã về quê vì hết tiền ăn. Ông đã chịu ơn nhà chủ quán cưu mang  trong những ngày trọ chờ  thi Hội thi Đình.Trước khi ra về, Nguyễn Minh Triết   đã gửi lại ông chủ quán ở thành Thăng Long một bản  lộ trình , kiểu như là giấy đảm bảo, để sau này có dịp đáp đền. 


   Bản lộ trình  kê ra danh tính, quê quán, nhưng đặc biệt là như một bản hướng dẫn đường về quê ông: Trong đó có những câu:


Ngo, Nghe, Ngụ, Triện, lái sang Triền


Qua Dâu, Lang Giản, Nẻo, Cùa, Thiên...


Nghĩa là đường về làng Thiên quê Nguyễn Minh Triết phải đi tới làng Ngo, làng Nghe, làng Ngụ, làng Triện(thuộc đất Bắc Ninh) rồi mới sang làng Triền(Triền Dương). Rồi  ven theo bờ đê sông Kinh Thầy, qua làng Dâu, làng  Nam Giản,  làng  Nẻo,  làng Cùa rồi mới về tới làng Thiên quê ông.


Nguyễn Minh Triết thi và đỗ Thám hoa khoa Tân Mùi 1631.


Gần ba trăm bảy chục năm qua, , bây giờ các tên làng trong bản lộ trình vẫn còn. Đó là làng Triền , Dâu, Lang Giản,  Nẻo, Cùa, Thiên (thuộc thị xã Chí Linh).


 


Theo sách Lịch sử Đảng bộ huyện Chí Linh, xuất bản 1987,  xã Nhân Huệ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gồm các làng Ninh Giàng, Tú Linh, Lý Dương(còn gọi là Triền Dương), Cổ Châu, Đáp Khê, Chí Linh.. Từ khi có nhà máy Nhiệt Điện Phả Lại, thì có sự phân chia lại mốc giới cấp xã,  thị trấn. Xã Nhân Huệ mới bây giờ chỉ còn lại ba thôn Chí Linh , Đáp Khê và thôn Bạch Đằng, bao gồm các gia đình làm nghề chài nước tụ tập lại thành làng. Làng Triền Dương có bến  Triền Dương chuyển về xã Cổ Thành, đang thuộc địa phận thị xã Chí Linh.


Vậy là khá rõ: Theo lộ trình đường bộ từ kinh thành Thăng Long về bến đò Nhan Loan, thì ven theo sông Đuống, rồi về tới đất Gia Bình, Kinh Bắc, phải qua đò Triền Dương.


 


4- Bến Nhạn Loan là một địa danh có từ thời vua An Dương vương?


Cứ tưởng địa danh Nhạn Loan có khoảng tám trăm năm, nhưng nó có  sớm hơn rất nhiều.


Sách Chí Linh phong vật chí, do gia đình họ Đào Ngọc, người xã An Lạc phụng sao năm Bính Tý - Bảo Đại 11 thánh 3 nhuận, hiện đang lưu trữ tại Thư viện tỉnh Hải Dương, có chép bài thơ chữ Hán:


Triền Dương giang miếu cổ anh linh


Quy trảo nga mao di cố lộ


Lang Gián, Đông Hồ tích hiển linh


(miếu cổ sông Triền Dương linh thiêng lâu đời.


Móng rùa, lông ngỗng để lại dấu con đường cũ


Xứ Đông Hồ, Lang Gián xưa vẫn còn thiêng)


Sách này chú thích rằng: Miếu xã Triền Dương gọi là miếu Nỏ thần, là miếu có ghi trong sử nước ta. Ngày xưa vua An Dương Vương sai làm nỏ thần bằng móng rùa vàng, khơi ngòi lập đền mà thờ. Hàng năm người làng  hát xướng rộn rịp, chuẩn bị thuyền bè, chiêng trống, thao diễn qua sông, sau đó mới đón về trong dinh.


Có điều chú ý là , không chỉ một lần nhắc tới “ móng rùa lông ngỗng “ trong khu vực Triền Dương, mà trong một bài thơ khác  với tiêu đề” Nhạn Loan cổ độ” của Nguyễn Tri Hoa. được miêu tả rất sinh động,


Vẫn theo Chí Linh phong vật chí, thì ông Nguyễn Tri Hoa người làng Hộ Xá, đỗ hương cống (tức cử nhân), làm thơ bát cổ khắc ở bia đá để ở bên tả đền thờ tiên hiền, phía trước phủ lỵ.


Nguyên văn bài thơ như sau:


 


         Nhạn Loan cổ độ


Quy trảo nga mao vân thủy lộ


Tướng quân thán phiệt thành danh độ


Ngư lang thuỳ điếu địch ca nhàn


Chu tử tế nhân thoa lạp cổ


Giang trung quang cảnh thường như thử


Minh nguyệt thanh thu kim kỷ độ


Khách thuyền nhàn phiếm cổ giang thu


Truy ký tiên triều nhất kỳ ngộ


 


 Dịch thơ:            


Móng rùa lông ngỗng chuyện khôn bàn


Danh tiếng còn truyền bến Nhạn Loan


Chú lái chở đò tơi nón rách


Ông chài câu cá sáo ca vang


Cảnh xưa sông nước coi như hệt


Thu trước gió trăng thú vẫn nhàn


Thuyền khách dạo chơi trên bến cũ


Duyên may gặp gỡ buổi lầm than


                   (Nguyễn Huy Đại và Nguyễn Thanh Giản dịch)


 


 


Chỉ xét hai câu thơ đầu đã thấy nói tới chuyện “ lông ngỗng, móng rùa” trong chuyện Trọng Thuỷ Mỵ Châu và vua An Dương Vương  xung quanh chiếc nỏ thần. Lại còn liên quan tới Trần Khánh Dư qua chi tiết” Tướng quân thán phiệt” chỉ bè chở than của tướng quân Trần Khánh Dư làm cho  bến đò thành danh tiếng..


Có thể trên đường vua An Dương Vương chạy trốn giặc , đã cùng con gái qua bến sông này. Dọc đường Mỵ Châu rắc lông ngỗng cho chồng đi tìm , nên đời sau truyền lại và có những bài thơ như thế.


Thương tiếc mối tình thuỷ chung đầy bi tráng, dân Việt đã lập miếu thờ, nay chỉ còn trong hoài niệm.


Bến đò Triền Dương đối ngạn với làng Cao Đức thuộc đất Gia Bình(Bắc Ninh). Thuở xưa, một bến sông bao giờ cũng có hai bờ. Theo thói quen người ta thường gọi địa danh hai bờ làm một.


Với quan niệm như vậy, thì người Gia Bình cũng nhận bến Nhạn Loan là thuộc về quê mình. Có điều là  Nhạn Loan không chỉ đơn thuần là một bến đò ngang cố định. Nó có không gian rộng,  


 Theo từ điển Thiều Chửu, sách đã dẫn, thì có 4 chữ độ khác nhau. Chúng tôi chỉ xét chữ ĐỘ có ba chấm thuỷ, là gần nghĩa với cổ độ. Chữ Độ này có tới 4 nghĩa khác nhau:


-          Độ là bến đò


-          Độ là cứu vớt cho con người qua cơn khổ ải, như tế độ


-          Độ là giao phó


-          Độ là qua, đi qua sông từ bờ này sang bờ kia.


Trong nghĩa thứ tư này, có không gian rộng rãi hơn, chứ không hẳn là một bến đò. Nếu một bến đò thì tĩnh tại, cố định. Bến chỗ này, chở sang bến chỗ kia. Vì thế  độ ở đây phải hiểu là  chỗ qua lại, chỗ từ bờ này sang bờ kia. Có lẽ vì thế mà người Gia Bình cũng nhận rằng Nhạn Loan là thuộc vùng quê của họ. Nếu nghĩ như thế cũng được, nhưng lại không thoả mãn với chi tiết sau đây:  Trần Khánh Dư là con trai của Nhân Huệ hầu Trần Phó Duyệt, có thái ấp ở châu Chí Linh. Và nơi cư trú sinh sống của Trần Khánh Dư sau khi bị cách chức cũng lại ở vùng đất ấy. Ông đã buôn bán, chài lưới qua lại khúc sông này. Chính là khúc sông đối ngạn với Cao Đức, Gia Bình, tức là bến Triền Dương, hay còn gọi là Lý Dương.


KHL.


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Mừng bác Hữu Ngọc - Trần Đăng Khoa 23.05.2019
Về đại hội “Đối thoại văn minh châu Á” - Hà Phạm Phú 20.05.2019
Mười năm xa - Nhớ Bế Kiến Quốc - Nguyễn Văn Thọ 20.05.2019
Vĩnh biệt anh Hoàng Ngọc Biên, nhớ lại vài kỷ niệm - Hoàng Hưng 17.05.2019
Nhớ ngày xuân gặp nhà văn Xuân Thiều - Nguyễn Hữu Sơn 15.05.2019
Truyện ngắn "Truyền thuyết về Quán Tiên" của nhà văn Xuân Thiều lên phim - Tư liệu 15.05.2019
Chuyện chị em đi “cave” - Tư liệu 13.05.2019
Thay lời nói đầu của bộ sách "Đỗ Quang Tiến - Tác phẩm chọn lọc" - Đỗ Quang Hưng 11.05.2019
Đỗ Quang Tiến và ký ức tuổi thơ - Trương Công Thành 08.05.2019
Nhà báo đã đưa Phạm Xuân Ẩn 'ra ánh sáng' - Tư liệu 07.05.2019
xem thêm »