tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29849859
13.01.2014
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (kỳ cuối)

CUỘC GẶP GỠ VỚI NHÀ THƠ XUÂN DIỆU


 


M. Ilinxki


 


Xuân Diệu - một trong những người mà mọi người nói: “Tỉnh dậy anh ta bỗng trở thành nổi tiếng”. Hạnh phúc của thơ ca sớm mỉm cười với Xuân Diệu. Ngay tập thơ đầu tay Thơ thơ ra đời năm 1938, đã đem lại cho anh danh tiếng lừng lẫy. Trong những thập kỷ cuối đời, anh đã bỏ nhiều công sức cho công việc dịch. Chẳng hạn, anh đã dịch trường dịch Vlađimia Ilích Lênin của Maiacốpxki. Mỗi lần đến thăm Liên Xô, thế nào anh cũng đi viếnt thăm Lênin. Những cuộc viếng thăm đó phảng phất trong cả bài thơ của anh Thăm lều cỏ Lênin và một trong những bài tiểu luận của anh viết dành cho tờ Tin tức vào trước Đại hội lần thứ 26 của Đảng Cộng sản Liên Xô, tất nhiên, cả những câu thơ sau:


Bỗng nhiên tôi thấy một ngôi nhà có lá cờ bay


Sáng sủa, bao la, dường như không tường chặn lại,


Lênin đi giữa bốn bề rộng rãi.


Vầng trán mênh mông soi mãi tới trời,


Đôi mắt nheo nheo thấu suốt lòng người


Bước chân nhanh nghiêng mình phía trước.


“Đối với nhân dân Việt Nam - Xuân Diệu nói, - tên tuổi Lênin, đất nước của Lênin, đó là ngọn cờ đỏ thắm, chiến thắng tung bay trên ngọn cột buồm cao vọi của con tàu khổng lồ của chủ nghĩa xã hội, đó là ánh sáng và sự sáng tạo, đó là sức mạnh thúc đẩy lịch sử.


Chủ tịch Hồ Chí Minh từng gọi chủ nghĩa Lênin là “mặt trời chiếu rọi con đường của chúng ta đi đến thắng lợi hoàn toàn”, và Người nhấn mạnh rằng ảnh hưởng của Cách mạng tháng Mười và V.I. Lênin đối với những người cách mạng Việt Nam “giống như nước uống và thức ăn đối với người đi đường đói khát”.


Tôi sung sướng là một lần đã viết những dòng thơ nói lên tình cảm lớn này - Xuân Diệu nói thêm.


Còn đây là bài báo của Xuân Diệu mà bản chính tôi phát hiện ra trong lưu trữ của mình. Bài báo viết về ngày Một tháng Năm - ngày hội của tình đoàn kết quốc tế của những người lao động:


“Tôi biết ở Mátxcơva xa xôi và bao giờ cũng gần gũi với trái tim tôi, mồng Một tháng Năm đó là thời kỳ bắt đầu nở hoa của các vườn cây. Tôi đã nhìn thấy hoa linh lan nở như thế nào vào ngày mồng Một tháng Năm ở Pari, nhưng tôi biết rằng những bông hoa linh lan đẹp nhất - là ở ngoại ô Mátxcơva. Một lần Êrenbua gửi cho tôi bấm bưu ảnh mồng Một tháng Năm, trên đó có hình hoa dưới tuyết. Những bông hoa ấy mãi mãi ở lại trong ký ức tôi. Chúng dịu dàng, dường như sống động, với những sao tuyết trên cánh. Những bông hoa ấy đã xuyên qua tuyết. Và không hiểu tại sao tôi so sánh những bông hoa dưới tuyết, những sứ giả mùa xuân ấy, với cách mạng, cái mà để giành chiến thắng cần phải đi qua nhiều gian khó”.


Những thành tựu rực rỡ của quê hương Cách mạng tháng Mười vĩ đại, Xuân Diệu viết, - là thành tựu đối với tất cả mọi dân tộc đang đấu tranh để giải phóng dân tộc và xã hội. Và nhiều tác phẩm thơ ca của tôi đã được sáng tác ra với ấn tượng sâu sắc bởi những thành tựu của những con người Xô viết trong tất cả mọi lĩnh vực kinh tế, khoa học và văn hóa.


Tôi sống bằng những hồi ức về những chuyến đi của tôi tới Liên Xô.


Tôi nhớ những bông hoa dịu dàng của những vườn lên ở nông trường Mônđavi mang tên Kirốp. Tôi nói “xin chào” các cây thông trên bờ biển của Látvia, mà tôi gọi là những cây thông Ianhít Rainhitô thán phục những bản trường ca tuyệt vời của ông.


Trong thời gian chuyến thăm Liên Xô cuối cùng, Xuân Diệu tặng tôi thêm một cuốn sách của anh - tập thơ Hồn tôi đôi cánh, gồm bảy mươi bài thơ. “Anh có biết không, - anh nói - lần này hơn một nửa là thơ về tình yêu”.


Nhà thơ của tình yêu. Ngay từ những năm ba mươi người ta đã gọi Xuân Diệu như vậy. Có lẽ là, cả khi ấy, cả ngày nay, không có một nam nữ học sinh nào ở Việt Nam lại không mang trong cặp một tập thơ Xuân Diệu hay không chép lại những câu thơ yêu thích vào nhật ký.


“Lâu đài thơ tôi đứng trên cái nền những tình cảm trần tục, nhưng trong lâu đài này có sự e dè trước thời gian còn qua nhanh”. - Bây giờ Xuân Diệu cho như vậy, mặc dù anh vẫn nhớ và yêu mến nhiều bài thơ những năm ấy.


Tôi muốn tắt nắng đi


Cho màu đừng nhạt nhất,


Tôi muốn buộc gió lại


Cho hương đừng bay đi…


Mặc dù sự nổi tiếng đến với Xuân Diệu sớm, cuộc sống vẫn không hứa hẹn sẽ dễ dàng gì. Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, nhà thơ đã buộc phải thay đổi nhiều nghề nghiệp: Anh coi nghĩa vụ của mình là phải nuôi các em, gửi tiền cho người bạn chung thủy Huy Cận để Huy Cận có thể hoàn thành việc ăn học. Và tất nhiên, anh đã làm thơ, làm thơ liên miên. Trong việc đó, nhà thơ không thể “gửi hương cho gió” - và giác ngộ chính trị của anh cũng trưởng thành. Anh bắt đầu suy nghĩ lại hiện thực vây quanh, các suy tư của anh thấm đượm cái lý tưởng giải phóng nhân dân và đổi mới thế gian. Rồi Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã thổi căng cánh buồm thơ của anh bằng luồng gió mạnh và hướng con tàu tình cảm và suy nghĩ của anh cùng với nhân dân trên con đường những thành tựu vĩ đại. Bản thân Xuân Diệu đã nói như vậy gần chục năm sau khi chúng tôi gặp nhau tại nhà anh trên phố Điện Biên Phủ. Kể ra, ở nhà “anh” - nói như vậy không thật chính xác. Cả toàn bộ gia đình Huy Cận cũng sống ở đấy, bấy giờ Huy Cận đã là một trong những nhà thơ lớn nhất của Việt Nam. Con nhỏ của Huy Cận, cháu của Xuân Diệu, là Hà Vũ. Cháu sinh vào ngày mà người công dân Xô viết luri Gagarin lần đầu tiên trong lịch sử loài người bay vào vũ trụ. Vậy là chú bé có cái tên như thế - Hà Vũ có nghĩa là thế giới các thiên hà, vũ trụ,…


Hai gia đình ấy, mọi cái bao giờ cũng chung nhau. Và sự chung thủy như vậy của các trái tim, sự ruột thịt tinh thần trong một căn nhà thống nhất thật là đẹp.


Vậy là cách mạng đã cho cánh buồm thơ của anh no luồng gió mạnh. Năm 1945 ra đời cuốn sách của Xuân Diệu Ngọn quốc kỳ, năm 1946 - Hội nghị non sông. Trong tác phẩm này vẫn giữ trật tự lãng mạn các tình cảm, anh đã đưa ra sự so sánh lịch sử: trong quốc hội của quốc gia công nông đầu tiên ở đông nam châu Á, trở lại gần bảy thế kỷ trước, anh nhìn thấy sự giống nhau so với hội nghị quốc dân triệu tập năm 1285 và đã đóng góp vai trò cực kỳ quan trọng trong cuộc đấu tranh lúc đó của Việt Nam chống những kẻ xâm lược ngoại bang. Sự so sánh thơ “qua các thế kỷ” tưởng chừng có thể tranh cãi, nhưng bản trường ca đã phù hợp đúng lúc mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược do bọn thực dân gây ra, và đã là lời kêu gọi đến cuộc kháng chiến quyết liệt, đến cuộc đấu tranh toàn dân.


Trong những năm tháng dài của cuộc chiến tranh, nhà thơ cống hiến tất cả sức lực cho nhân dân, bằng ngòi bút, bằng thơ của mình chiến đấu với kẻ thù. Các tập Dưới sao vàng, Sáng, Mẹ con đã được xuất bản tại vùng giải phóng. Nhân dân trong các tác phẩm ấy là các chiến sĩ quân đội nhân dân đi theo các nẻo đường chiến tranh, những người du kích không để cho giặc yên ở vùng quê, những người công nhân và nông dân - tất cả nhân dân chiếu đấu.


Việt Nam đã chiến thắng, nhưng do âm mưu của bọn đế quốc, đất nước còn bị chia cắt làm hai miền: Bắc và Nam. Và nỗi đau này đã vang lên trong những vần thơ của nhà thơ.


Xuân Diệu, như mọi người yêu nước thực sự của Việt Nam tin tưởng rằng ngày thống nhất Tổ quốc sẽ tới, nhưng biết rằng để có được ngày ấy sẽ phải đấu tranh lâu dài và gian khổ.


Đề tài miền Nam là một trong những đề tài chủ yếu trong sáng tác của nhà thơ trong giai đoạn từ năm 1956 đến năm 1964. Ngày trước anh đã từng sống nhiều năm ở miền Nam đất nước; thiên nhiên, con người ở đấy rất gần với anh. Anh yêu tất cả những cái đó. Anh trung thành với thiên nhiên và những con người ấy. Lòng trung thành, tình yêu quê hương và tinh thần chiến đấu cổ vũ ba tập sách của Xuân Diệu: Riêng chung (1960), Mũi Cà Mau - Cầm tay (1962), Một khối hồng (1964).


Một lần vào năm 1967, Xuân Diệu trở về sau chuyến đi vào thành phố Vinh đặc biệt xúc động. Chúng tôi đã trò chuyện với anh khi ấy cho đến tối khuya. Trước khi ra về, anh bảo: “Mắt người bất kể như thế nào, ngoài màu sắc bẩm sinh còn có hai màu sắc nữa - màu xanh lam và màu đen. Màu xanh lam - đó là tình yêu là niềm tin hạnh phúc. Màu đen - đó là sự căm thù tức giận. Tôi đã bao nhiêu năm sáng tác, đã nhìn thế giới bằng cặp mắt xanh”.


Tôi biết, Xuân Diệu có con mắt hiền từ, cực kỳ hiền từ. Nhưng hôm ấy tôi đã nhìn thấy anh nghiêm nghị, kiên quyết, thậm chí tức tối; và tôi hiểu rằng anh đang nghĩ về điều gì đó rất nghiêm trọng, vượt ra khỏi giới hạn của những quan hệ con người đơn giản. Và tôi đã không lầm.


“Bây giờ, khi kẻ thù động đến đất đai chúng ta, - nhà thơ tiếp, - tôi nhìn những kẻ xâm lược bằng con mắt đen”.


… Nhà thơ, nhà văn, nhà báo Xuân Diệu căm phẫn tố cáo chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa khủng bố quốc tế, nạn diệt chủng, những hành động dã man của bọn quân phiệt trên hành tinh của chúng ta. Khi Oashington dấy lên chiến dịch vu cáo ầm ĩ chống lại Liên Xô và Việt Nam, vu cáo Liên Xô và Việt Nam dùng các chất độc ở Ápganitxtăng, Lào, Campuchia, Xuân Diệu đã gửi thư từ Pari, nơi bấy giờ anh đang giảng bài về văn học Việt Nam: “Bọn đế quốc âm mưu vu cáo cái chuyện mà chính chúng có tội, Xuân Diệu viết. - Bởi vì chính chúng tôi, những người Việt Nam, đất nước của chúng tôi, đồng ruộng của chúng tôi đã đau khổ vì vũ khí hóa học Mỹ. Giả dối và nhục nhã! Tôi đã đọc cho sinh viên Pháp nghe những bài thơ viết trong thời gian chiến tranh. Tôi hy vọng những bài thơ ấy sẽ để lại dấu vết trong tâm trí thanh niên Pháp.


Giặc nữ can thêm tội ác phá rừng


Rừng của miền Nam, đẹp giàu trong sạch


Mỹ - thuốc - độc, Mỹ - vi - trùng - dịch - hạch


Giặc Mỹ vào mưu phá sạch rừng Nam!


Nhà thơ yêu nước, nhà thơ quốc tế chủ nghĩa Xuân Diệu tiến hành công việc dịch thuật rất lớn. Anh đã tặng cho bạn đọc Việt Nam những bài xonnê của Sếchpia, các chương trích trong Épghênhi Ônhêghin và tất nhiên, các bản dịch thơ của nhiều nhà thơ Xô viết. Mới đây anh vừa được in tập thơ Thơ thế giới cùng Việt Nam chiến đấu.


Thơ của anh cũng chiến đấu. Chiến đấu cho hạnh phúc không chỉ của Việt Nam, mà cả của các dân tộc khác. Tiếng thơ Xuân Diệu đang vang âm như một lời tố cáo nghiêm khắc khi thảm kịch Chi Lê diễn ra, khi quân Nam Phi xân lược Ăngôla, khi bộ máy chiến tranh Ixraen tàn sát ở Libăng, gây ra những cuộc hủy diệt dã man ở Xbra và Satila, khi Hoa Kỳ tiến hành cuộc xâm lược chống Grênađa. Tiếng thơ của anh đang vang lên ngay cả lúc này, khi chủ nghĩa đế quốc Mỹ đang chuẩn bị can thiệp vào Nicaragoa.


“Nhà thơ không thể bàng quan, khi mà người khác gặp tai họa, khi cái ác và hà hiếp đang gây ra chuyện đen tối. Điều xác nhận đó được nhà thơ Xuân Diệu biểu hiện bằng lời mà mỗi người làm văn Việt Nam đều mang trong tim mình. Là công dân của đất nước, từng biết sức mạnh của sự giúp đỡ thân ái của các dân tộc anh em cả trong những năm tháng thử thách gian khó, cả trong những ngày khó khăn hồi phục kinh tế quốc dân, anh không thể không là một người quốc tế chủ nghĩa đến tận xương tủy. Là người Việt Nam, nhiều lần bảo vệ Tổ quốc với lòng hy sinh kiên quyết táo bạo quyết không nhượng bộ kẻ thù, anh không thể không là người yêu nước hết lòng. Hai tính chất ấy đang gieo hứng khởi cả cho văn học Việt Nam xã hội chủ nghĩa hôm nay, nền văn học giữ gìn một cái thiêng liêng truyền thống dân tộc và soi sáng cho nhân dân con đường đi tới tương lai tươi sáng.


 


THÚY TOÀN dịch


In trong tạp chí Văn học nước ngoài (Liên Xô), số tháng 9-1985.


 


 


NGƯỜI TÌNH THƠ CUỐI CÙNG CỦA NHÀ THƠ XUÂN DIỆU


 


Hàn Anh Trúc


 


Hôm ấy, thành phố vào chiều của ngày 22-10-1982. Nắng trở nhạt. Một cái gì như mây biếc, hoa lạnh, chiều thưa và kia nữa… ngoài sân, hai cây me ríu rít tiếng chim,… Tiếng gõ cửa rất nhẹ như tiếng thơ gọi vậy. Chị ra mở cửa. Nhà thơ Hoàng Trung Thông bước tới chào:


- Châu Anh Phụng biết ai đây không?


Người đứng bên cạnh nhà thơ Hoàng Trung Thông im lặng trán xòa mái tóc vừa như ảo, vừa như thực,… Một cái gì như rất xa hiện về mà chị cũng đã vốn quen mái tóc, cái ánh mắt, cái phút giây lặng lẽ cũng từ xa của thuở ấy. Chị bất ngờ như xuất thần, vụt gọi:


 


- Ồ, thi sĩ Xuân Diệu.


Nhà thơ Xuân Diệu bước nhẹ lên một chút, giọng ríu ra đặc giọng miền Trung. Nhà thơ nói như thông báo: Ông Thông ở Sài Gòn ra được biết Châu Anh Phụng đang làm một việc có ích lớn, tự bỏ tiền xây bia mộ cụ Đồ Chiểu ở Cần Giuộc, trong lúc tôi cũng đang sửa soạn cho chuyên luận mới cũng là bài bổ sung cho tiểu luận Đọc lại thơ văn Nguyễn Đình Chiểu viết năm 1963, một nhà thơ của “Trước đèn xem truyện Tây Minh” châm ngòi cho thơ những thế kỷ tới của bộ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập 2.


Chị với nhà thơ Hoàng Trung Thông đi vào nhà còn lại nhà thơ Xuân Diệu ngoài sân ngẩn ngơ với mây biếc, chiều thưa, hoa lạnh. Nhà thơ đi vào nghiêng nghiêng đầu, giọng nói to:


- Châu Anh Phụng có nghe thu đến, tiếng thu động, hơi thu dang cánh, chân đang trong nước thu êm không?


Nghe nhà thơ nói, bỗng những câu Thơ duyên của Xuân Diệu dâng lên nghèn nghẹn rưng rưng trong chị: “Chim nghe trời rộng dang thêm cánh - Hoa lạnh chiều thưa sương xuống dần”.


Gặp thi sĩ Xuân Diệu lần đầu nhưng chị đã quen thuộc Thơ duyên, nhất là ở câu hai lòng cùng gặp: “Trông thấy chiều hôm ngơ ngẩn vậy”. Cũng chiều hôm ấy nhóm thơ Đường của Châu Anh Phụng đến thăm hỏi và chúc mừng nhà thơ vừa được Viện Hàn lâm khoa học Đông Đức phong Viện sĩ, một vinh dự cho Tổ quốc Việt Nam. Luôn tiện nhóm thơ Đường mời nhà thơ bình thơ Đường cho nhóm thưởng thức.


Chiều 24-10-1982, nhà thơ Xuân Diệu làm một công việc không theo nghi thức xưa này là mỗi lần bình thơ trước đông đảo công chúng phải có bục đứng, có bình hoa và người nghe thơ phải ngồi đối diện với diễn giả. Hôm ấy nhà thơ ngồi cùng người nghe quanh chiếc bàn dài hình trái xoài trong phòng trà chị Mai Huỳnh Hoa tức là bà Phan Văn Hùm giữa không khí ấm cúng của nhóm thơ Đường vây bọc. Nhưng chỉ có một chị Châu Anh Phụng được ngồi bên theo yêu cầu nhỏ của nhà thơ.


Hôm ấy nhà thơ chọn ba bài tứ tuyệt Trời vọng chân mây, Nắng vắng chiều, Hoa tím tương tư làm trong thời kỳ kháng chiến còn trong ký ức của nhà thơ. Luận về thơ Đường để rồi bình, hôm đó hồn nhà thơ như được cảm nhận và mở ra từ những kỷ niệm gần sáu mươi năm về trước với ba bài thơ chưa được công bố. Đấy cũng là hồi ức từ lúc nhà thơ lên tám tuổi, vừa học thơ Pháp, vừa học thơ Đường và tập làm thơ Đường dưới lằn roi của bố, ông tú Ngô Xuân Thọ. Lên mười tuổi đã có nhận xét trong một bài tập làm văn của mình thơ Đường hay lắm, cao siêu lắm, thuần khiết, sáng trong như ánh nắng, mỏng nhẹ như giọt trăng, hơi thơ có lúc là gió thoảng mây bay, có lúc giọng ngân như cung đàn, sáo rắt, rờ rỡ như xiêm y, tha thướt lợ nghê thường. Nhìn thơ thấy bóng, dùng nhịp tưởng biển lặng sông chuồi…”.


Gần một giờ bình thơ người nghe cứ lặng đi, hồn nhập vò hồn thơ sống động. Bỗng chị Châu Anh Phụng như người làm trở mái chèo cảm xúc hỏi nhỏ nhà thơ: “Bài Thơ duyên năm khổ, mỗi khổ là một tứ tuyệt Đường thi độc lập từ tứ thơ đến cấu trúc bố cục, nhưng toàn bài là một chỉnh thể có phải vậy không?”. Nhà thơ gật đầu tán thành và yêu cầu chị đọc cho một khổ. Chị Châu Anh Phụng không ngần ngại đọc: “Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu - Lả lả cành hoang nắng trở chiều - Buổi ấy lòng ta nghe ý bạn - Lần đầu rung động nỗi thương yêu”. Chị đọc xong ngồi im lặng mắt xa xăm.


Chiều ấy nhà thơ và Châu Anh Phụng trao đổi thật tâm đầu ý hợp không ngoài bài Thơ duyên. Bài thơ đã thật tinh tế vào cái tuổi nhà thơ hồi ấy độ mười tám, còn người yêu bài thơ cũng từ cái tuổi học trò vừa hết phổ thông lại ra trường đi dạy học, đi làm cho đến tuổi bốn mươi chưa một lần thành lập gia đình. Vẫn vậy, yêu Gửi hương cho gió nói chung, Thơ duyên nói riêng. Cái tinh tế đã qua độ tuổi trưởng thành nay hỏi nhà thơ, sao trong bài thơ chỉ có hoa rất chung, trong khi đó một cành hoa cụ thể, mây biếc càng cụ thể và anh với em cụ thể hơn của một cặp vần. Hai mắt nhà thơ nhìn chị lấp lánh bái phục. Bất ngờ, nhà thơ quay hỏi:


- Vậy chớ Phụng biết nhà thơ sau này lắp một thứ hoa nào vào chỗ chung cái tưổi mười tám của anh không?


- Thưa, có phải hoa ngọc trâm không thi sĩ? - Chị Phụng vui ra mặt. Nhà thơ bồi thêm như đố:


- Bài thơ Hoa ngọc trâm Xuân Diệu viết năm nào vậy?


- Thưa, tháng 6-1962, viết sau hai tháng bài Biển - chị Phụng như một đáp án đúng cho vị thầy giáo của mình. Cả nhóm thơ Đường vỗ tay tán thưởng.


Chiều 24-12-1983, nhà thơ Xuân Diệu vào công tác đến thăm Châu Anh Phụng, chép bài thơ Biển với lời đề tặng: “Biển cho cô Châu Anh Phụng”. Cùng chuyến đi ra Vũng Tàu có cả nhà thơ Hoàng Trung Thông nhân vào tiếp nhận ảnh chân dụng cụ Đồ Chiểu và khánh thành lăng thờ nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Ở phố thì chép thơ biển, ra biển thì đọc thơ hoa. Đó là ý của nhà thơ Hoàng Trung Thông gợi Châu Anh Phụng đọc bài Hoa ngọc trâm của Xuân Diệu. Chị Phụng hỏi lại nhà thơ ở khổ thơ nào nhà thơ cho là thích để có trùng hợp với ý mình. Nhà thơ Xuân Diệu bảo chờ một chút, trăng canh một lên khỏi biển mới đọc. Châu Anh Phụng ý nhị reo khe khẽ: “Trùng với ý Phụng rồi đấy”. Trên mặt biển sóng Vũng Tàu đã rựng trăng canh một cùng với giọng đọc thơ trong ngần của chị:


Hoa giúp cho anh tỏ mối tình


Vì ta hoa đã nở năm canh


Dịu dàng canh một trăng soi bóng


Tha thiết canh năm nguyệt trở mình.


Từ hôm sau trên mặt biển Ô Cấp, dưới bóng dù xanh, Châu Anh Phụng mở sổ tay chép lời thuật của Xuân Diệu chiều 24 năm ngoái: “Nữ thi sĩ Rumani Maria Bmus có một tập thơ tình thế giới bắt đầu từ thời Sume của Ai Cập, tức 4000 năm trước tới bây giờ, trong đó có thơ Trung Quốc, thơ Triều Tiên, thơ Pháp, thơ Anh, thơ Gama, thơ Việt Nam, v.v… Thơ Việt Nam thì lấy bài Thơ duyên của Xuân Diệu”. Dưới lời thuật, bài thơ Hồi tưởng sau buổi trưa chia tay nhà thơ Xuân Diệu về Hà Nội, một nỗi xốn xang trong tình trong ý của chị:


Ngọc trâm cài áo duyên còn nợ


Sóng biển hôn bờ sóng vẫn thanh


Và tiếp hai câu thơ cuối thất ngôn bát cú của chị là cái nghĩa của lòng biết ơn cho một tình chung vạn thuở đề tặng nhà thơ:


Cảm ơn trời đất cùng thầy mẹ


Nào uổng sanh ra giống hữu hình.


Người ở Hà Nội, người ở Sài Gòn khoảng xa cách trở. Anh Tịnh Hà, em cùng mẹ của nhà thơ, lâu lâu lại đến gõ cửa nhà chị để chuyển một bài thơ mới chưa in, một tập thơ mới vừa xuất bản và Tuyển tập thơ, tập I và những lời nhắn thăm. Cứ mỗi lần nhận được tin anh Xuân Diệu, trong sổ tay thơ của chị lại thêm những câu lục bát nét chữ chân phương để nhớ người tình thơ của mình: “Nhớ khi thơ bắt nhịp cầu - Nỉ non vẳng lại bên lầu tiếng tiêu - Biết em sống giữa cô liêu - Anh thường nắng sớm mưa chiều đến thăm”. Sớm ấy anh Tịnh Hà mang thư xanh Xuân Diệu gửi cho tôi, thư đề ngày 31-8-1985 hẹn gặp ở khách sạn Bông Sen, buồng 106 đường Đồng Khởi. Tôi hỏi anh Tịnh Hà, anh Xuân Diệu đến thăm chị Phụng chưa. Anh Tịnh Hà cho biết, anh Diệu có việc gấp đi đồng bằng sông Cửu Long, nhờ Tịnh Hà nhắn chị Phụng sẽ gặp sau. Anh Tịnh Hà hôm đến “thông báo” cho chị Phụng, sau đó đến tôi trông vẻ mặt anh đau khổ nói: “Này Trúc Chi, ông biết không, mình vừa nói anh Diệu hẹn về gặp chị thì chị liền đứng dậy lặng đi rồi như vừa hờn vừa thương, đọc hai câu thơ xuất thần thật tài hoa như thơ tình cổ điển: “An như chớp bể mưa nguồn - Em như dáng liễu trong vườn ngóng ai”.


Anh Xuân Diệu ở đồng bằng sông Cửu Long về phút giây đầu tiên gặp gỡ chị Phụng gửi nhà thơ tấm hình chụp chị và nhà thơ tại nhà hàng Ngọc Linh đường Huỳnh Quang Tiên, Quận 1 ngày 25-01-1983 với dòng chữ chị ghi: “Xuân Diệu - Châu Anh Phụng”. Bài thơ Nhớ chị viết trên tờ giấy rời đề tặng “Riêng tặng tác giả tập thơ Gửi hương cho gió”. Mười tám câu thơ lục bát da diết một tâm hồn, một đồng điệu ấm nóng. Cuối bài thơ chị lấy hai câu ca dao của ngàn năm thường để làm ngàn năm nhớ và yêu của chị: “Núi cao chi lắm núi ơi - Núi che mặt trời không thấy người thương”.


Tháng 12-1985, trước mười lăm phút anh Tịnh Hà đến, chị Châu Anh Phụng mệt không đi đến cơ quan, lòng bồn chồn, mắt mờ mịt. Chị ngồi dậy chép lại bốn câu thơ đầu của bài Nhớ:


Mây bay mà ngỡ trăng đi


Nhớ anh đã nói những gì với em


Một mùa lá đổ bên thềm


Tương tư nặng gánh tăng thêm nét sầu.


Chị chưa kịp lau hai mắt ướt, anh Tịnh Hà đột ngột đến báo tin anh Xuân Diệu mất rồi, lúc 12 giờ 40 phút ngày hôm nay, 18-12-1985. Chị như tan trong sóng. Còn 20 phút nữa anh Tịnh Hà lên máy bay ra Hà Nội thọ tang anh. Chị Châu Anh Phụng bước đến bàn thờ rút một nén nhang. Ông Thọ bọc vào máy điều gửi anh Tịnh Hà. Cho đến bây giờ chị Phụng không quên cái giây phút trong ngày tháng đau buồn nhất của đời chị. Đó cũng là cái ngày nhà thơ Huy Cận đang ở Xênêgan châu Phi trên diễn đàn Hội nghị tổ chức hợp tác văn hóa và kỹ thuật khối Pháp ngữ bỗng nhiên rùng mình, ngực đau nhói, máu từ mũi chảy ra. Còn ở Sài Gòn trong căn nhà nhỏ nằm sâu trong hẻm đường Nguyễn Tri Phương, chị Phụng ốm mệt, chép lại thơ, mắt mờ lệ.


Sau năm ngày thọ tang Xuân Diệu, anh Tịnh Hà trở về nói cho tôi biết, nén nhang của chị Phụng vừa cắm xuống lư hương đồng thì lửa bốc lên đỏ rực. Lửa làm mờ hết tấm hình anh Xuân Diệu đặt trên bàn thờ sắp cử hành nghi lễ. “Có lạ không Trúc Chi?”, anh Tịnh Hà vịn vào vai tôi thổn thức.


Sau cái tang lớn nhà thơ Xuân Diệu, năm năm sau tôi được gặp chị Châu Anh Phụng trong trường hợp thật đặc biệt. Nhà Văn hóa Lao động tổ chức lễ tưởng niệm nhà thơ năm năm ngày mất 28-7-1990. Sau lễ tôi nói chuyện: “Xuân Diệu - Thơ và cuộc đời”. Đang cuộc, bỗng từ ngoài chị Châu Anh Phụng đi vào, chị xin phép cuộc nói chuyện được đọc bài thơ Tưởng niệm nhà thơ Xuân Diệu. Giọng chị đọc ngắt quãng của một hồn thơ dằn vặt, nuối tiếc cùng với nức nở của lời đồng vọng từ phía chân mây, từ phía đang gọi của một hồn thơ kỳ lạ:


Mây về viễn xứ lạnh lùng trôi


Chầm chậm cho đây tỏ mấy lời


Sóng biển Vũng Tàu lưu bước khách


Hương thơ Hà Nội thấm hồn tôi


 


Tương phùng những tưởng trùng phùng nữa


Tạm biệt nào ngờ vĩnh việt thôi


Lá đổ bao mùa ai nức nở


Khóc sao Khuê rụng cuối chân trời.


 


Tạp chí Nhà văn, số 3 – 2006.


 


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »