tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30126066
Tiểu thuyết
03.09.2008
Lê Văn Thảo
Cơn giông

Bằng nổ máy ghe chạy theo sông Ông Trang, đi tiếp con đường hôm rồi anh đã đi. Sáng sớm, trời tinh mơ, vẫn rừng đước chạy dài, ban ngày nhìn rõ những chỗ trống quang rừng bị chặt phá, những đống cây đước ngập một nửa dập dềnh trong nước. Lần đầu tiên lái ghe anh thấy con sông thật dài, nhiều chỗ rẽ không có trong bản đồ anh liều đi tới, trổ ra con sông lớn xuồng ghe tấp nập, anh biết đó là sông Lòng Tàu, ngã ba sông rộng mênh mông, gió thổi mạnh, mùi nước, mùi gió quen thuộc phả ra từ mặt sông và từ trong ký ức xa xôi. Nắng lên cao anh chạy thong thả, băng qua mấy doi sông sóng nhồi lắc, một làn bụi nước bao phủ quanh ghe, hai bên vẫn không có làng xóm gì cả, độ hơn một tiếng đồng hồ bỗng thấy trước mặt ghe đậu ken dày, cả một làng ghe, anh biết đó là chợ xã có ghi trong bản đồ, các cơ quan chính quyền ở đó, nơi nay mai anh đến đối phó với vấn đề đốn cây định cư của anh. Anh cho ghe chạy thẳng tới tắp vào, không biết hướng nào, không nhìn thấy gì khác ngoài bốn bên ghe là ghe, ghe chở củi chở than, gạo nước hàng tạp hóa, gà vịt, heo con kêu eng éc, những trạm xăng, hàng quán tiệm tiện tiệm máy nông ngư cơ, nhiều ghe là một căn nhà nổi, cả gia đình sống trên đó từ đời này sang đời khác, phía trước có hàng lan can xanh đỏ, phía sau có chậu trồng rau thơm, hành ớt, chó chạy loanh quanh từ trước ra sau, ngồi chồm hổm trên mái nhà ngó coi xuồng ghe qua lại. Bằng len lách đi tới mãi, va đụng liên hồi, nhiều ghe cố tình xáp lại trầm trồ bàn tán về chiếc ghe của anh. Cuối cùng anh đến một quán cạnh bến sông, đậu lại khóa xích leo lên sàn nhà. Đứa con gái nhỏ mười hai tuổi đi ra nói: Đậu ở đây phải trả tiền giữ ghe. Nó cười nói vẻ thành thạo, như biết anh là người thành phố, dịch vụ mà chú ơi, như giữ xe hông đa trên thành phố vậy. Bằng tìm bàn ngồi. Quán khang trang, khách khứa ồn ào, chỗ bàn bi da đám thanh niên đánh lóc cóc, máy cát xét lảnh lót bài ca vọng cổ. Một người đàn ông tuổi trung niên có vẻ là chủ quán, mình trần ngồi trên chiếc ghế mây không nhìn ai cả, cũng không thấy động đậy gì. Bằng kêu một tô hủ tiếu và một ly cà phê, gợi chuyện:


“Buôn bán sao ông chủ?”.


“Cũng sống được thôi”, chủ quán đáp, lưng thẳng đơ.


“Xứ này tôm cá thiếu gì, ai không sống được”.


“Cũng phải đánh bắt mới có”.


“Tôi ở thành phố mới xuống”.


“Biết rồi, dòm chiếc ghe biết liền”.


“Tôi muốn mua chiếc vó. Mua ở đâu?”.


“Vó mà mua cái gì?”.


“Mướn người đóng hả? Biết ai không?”.


“Tôi nè”.


Chuyện hóa ra dễ dàng. Chủ quán tên Hai Chất. Ông ta tuột xuống chiếc ghế mây đi vào trong một chút, trở ra với chiếc giỏ xách lớn đựng kềm búa, cưa đục và một chiếc túi nhỏ đựng quần áo đứng chờ Bằng ra đi, thản nhiên như không có hàng quán vợ con ở nhà.


Chợ xã là khu dân cư đông đúc cuối cùng của vùng đất Mũi, cơ quan hành chánh, doanh trại quân đội, công an ở chung trong mấy dãy nhà cũ tường đã tróc lở, thêm vài gian mới mái tôn trắng lóa. Nhà lồng chợ ở chính giữa, một đường “xương sống” đâm ngang không đi tới đâu, đầu này cũng như đầu kia, tiếp nối hai bên là những dãy nhà sàn sát liền nhau không có vách, sàn nhà chồm một nửa ra sông, đường đi là dãy hành lang phía trước. Hai Chất dẫn Bằng đi rảo khắp các tiệm quán, như người không biết nói, ra dấu chỉ chỏ mua nhợ lưới, ghim đan, dây choại, mây tre các cỡ, mua thêm đinh lớn nhỏ, ốc vít, lầm lì săm soi từng chiếc một, đưa lên cân thử bằng tay, đưa ra ngược nắng không biết tìm gì trong đó. Rề rà mãi tới xế chiều, Bằng nổ máy chạy một mạch thẳng về nhà. Trời đã tối mịt. Không thấy hai đứa sinh đôi đâu cả. Con chó cột giữa nhà sủa inh ỏi. Hai người mang vác đồ đạc lên nhà. Bằng nấu cơm, Hai Chất lại săm soi các thứ đồ đạc. Cơm chín ăn xong đã giữa khuya. Bằng nói phải ngủ dưới ghe để giữ ghe. Hai Chất lặng lẽ trải đệm giăng mùng nằm. Bằng xuống ghe đóng cửa cabin ngủ một giấc dài, thức dậy trời đã sáng, ngó lên nhà thấy Hai Chất đang nổi lửa nấu nướng, một đám khói đậu trên mái bếp.


Cơm nước xong, họ bắt tay vào làm chiếc vó. Đúng ra chỉ có Hai Chất làm, Bằng chỉ hụ hợ theo, Hai Chất nhướng mắt hất hàm Bằng vội chụp lấy chiếc kềm, chiếc búa nhét vào cho, suốt ngày không có tiếng nói nào cất lên. Khung vó làm mất một tuần lễ, thêm tuần nữa cho việc đan lưới. Bằng ngồi kế bên đan theo Hai Chất. Vài ba ngày ông ta sai anh chạy ghe ra chợ xã mua thêm thứ này thứ nọ, có lần chỉ lấy cục đá về làm vật đối trọng.


Không thấy Hai Chất nhắc tới vợ con hàng quán, cũng không hỏi tại sao Bằng cất nhà ở một mình nơi hoang vu như thế này. Gần một tháng chiếc vó làm xong, hai người ngồi lại với nhau.


“Công xá sao đây?”, Bằng hỏi.


“Khỏi”, Hai Chất đáp.


Có chiếc ghe chở muối đi ngang, Hai Chất quá giang về chợ xã. Bằng đứng nhìn theo, không chào hỏi vẫy tay. Sau đó nhiều lần Bằng ra chợ xã ghé quán Hai Chất cũng không hỏi han gì, như không hề có chuyện ông ta đến nhà Bằng ở cả tháng làm chiếc vó.


***


Mùa mưa đến một cách đột ngột và ầm ĩ, bắt đầu bằng một cơn giông nhỏ. Rừng đước vặn mình kêu răng rắc. Tiếp theo là những cơn mưa kéo dài, rả rích từ sáng tới chiều. Bằng ở trong nhà lo sửa sang dậm vá lại những chỗ dột, làm thêm sàn bếp. Trời hửng nắng anh vào rừng đốn cây làm đường ra nhà cầu, suốt ngày cặm cụi không ngơi tay. Hóa ra còn nhiều chỗ phải sửa sang tu bổ, nào việc cột lại các mối lạt trên mái nhà, việc đánh thêm mấy chiếc quai chèo, việc nào cũng thấy mới lạ khó khăn. Ngày hai buổi anh cất vó bắt cá, đón xuồng ghe qua lại gạ bán. Không ai mua, anh đem xẻ khô treo phơi giăng giăng. Trời vẫn mưa, khô bốc mùi anh thảy hết xuống sông.


Một bữa có chiếc ghe chở than ghé nghỉ trưa chịu mua cá, cầm mớ tiền trong tay, thành quả lao động đầu tiên anh thấy mừng vui lẫn lộn.


Mưa vẫn rả rích mù mịt cả mặt sông, nước chảy thành một màn sáo trước hiên nhà. Bằng ngồi trong nhà hút thuốc uống trà không màng cất vó. Lại một chiếc ghe đi ngang quành lại ghé vào. Một người đàn ông mang chiếc ba lôto kềnh đứng chờ sẵn ở mũi ghe, ghe chưa cặp sát vào đã nhảy tót lên, quay lại vẫy chào người dưới ghe, đi lên tươi cười hớn hở, như người quen lâu ngày:


“Mưa quá hả? Giông mù trời mù đất, xứ sở hai mùa mưa nắng!”.


Người đàn ông chừng năm lăm hoặc hơn, đúng ra là một ông già, có thể trên sáu mươi, loại người khó đoán tuổi, nhỏ thó ốm yếu, bận đồ bộ đội cũ, mang chiếc ba lôlớn có chiếc đệm nhỏ cuộn tròn giắt ngang bên trên. Ông ta đứng lại ở hàng hiên giũ nước mưa, ngó dáo dác tìm chỗ đặt chiếc ba-lô, nói tiếp giọng ngân nga như hát:


“Chào ông bạn, mạnh giỏi không? Biết ông bạn ở đây lâu rồi hôm nay mới ghé. Chào ông bạn này nữa!”, ông ta nói tiếp với con chó. “Thấy người lạ không sủa hả? Ở đây buồn quá khách đến chơi mừng chớ gì?”.


Con chó chỉ hơi gầm gừ, ngoắc đuôi nhè nhẹ, ngước nhìn ông già mắt long lanh ướt.


Bằng hỏi:


“Ông ghé chơi hay có chuyện gì?”.


“Chơi thôi. Nhưng cũng có chuyện”, ông ngồi xuống xoa tay một cách thoải mái. “Có trà uống không? Tôi có trà, anh nấu nước đi. Trời mưa ngồi trong nhà uống trà không gì bằng”.


“Ông đến có chuyện gì?”, Bằng lặp lại.


“Thì uống trà cái đã”, ông già nói.


“Ông là công an? Hay chính quyền xã?”.


“Cán bộ về hưu thôi. Nhưng có làm hợp đồng với công an. Có giấy tờ đây coi không?”.


“Không”.


“Tôi là Sáu Thiên cán bộ về hưu lương bậc bốn, thương binh loại ba, nghe nói anh đốn cây cất nhà ở đây ghé coi thế nào. Sao tự tiện đốn cây cất nhà?”.


“Tôi định vài bữa ghé xã trình báo”.


“Làm xong rồi trình báo cái gì?”.


“Chưa làm lấy gì trình báo?”.


Sáu Thiên mở ba lôlấy chiếc đệm trải ra vuốt phẳng, lấy gói trà đặt trước mặt, xoa tay nhìn quanh, hấp háy mắt nói sang chuyện khác:


“Nhà được lắm, tốn bao nhiêu là cây. Chiếc vó nữa. Làm một mình à?”.


“Có người tiếp làm chiếc vó”.


“Khá lắm! Cũng biết làm đó! Đầu đuôi thế nào nói nghe coi!”.


“Đầu đuôi gì?”.


“Sao về đây?”.


“Đây là quê tôi. Tôi sanh đẻ ra ở đây, lang bạt từ nhỏ, giờ trở về quê. Có luật nào cấm không?”.


“Không. Nhưng đốn cây thì cấm, tội phá rừng bị tù, ở không đăng ký hộ khẩu cũng vậy. Bỏ quê từ hồi nào? Sao bỏ?”.


“Lâu lắm rồi, tôi chỉ còn nhớ mang máng, đâu hồi năm sáu tuổi gì đó. Tôi đang ở dưới ghe, một cơn giông nổi lên, ba má không thấy đâu, chiếc ghe trôi đi tôi nằm bất tỉnh, có người cứu giúp nuôi tôi lớn lên, đời tôi cũng trôi giạt từ đó...”.


“Kể chậm lại coi!”.


“Vậy thôi. Người đàn ông sau thành ông già nuôi, bán chiếc ghe lấy tiền nuôi tôi, thật ra gởi chỗ này chỗ nọ, đem tôi ra chợ Cà Mau, lên thành phố, tôi lấy được vợ giàu làm giám đốc rồi đi tù...”.


“Mấy năm?”.


“Ba năm”.


“Tham nhũng?”.


“Đại khái như vậy. Một hôm người ta phát hiện số tiền lớn bị thất thoát, không biết ai lấy, tôi là giám đốc phải chịu trách nhiệm”.


“Hiểu rồi, chuyện đăng báo hoài. Châm trà uống đi! Tôi có đem theo gạo mắm, lương khô, ở chơi với anh vài ngày. Hay lâu hơn cũng được. Tôi về hưu rảnh rang lắm, làm hợp đồng với công an, hàng tháng ghé trụ sở kiểm điểm, làm báo cáo. Gì chớ họp hành báo cáo nhà nước mình rộng rãi lắm. Có lần tôi dự họp cả tháng trời...”.


“Ông ghé đây nói chuyện tôi hay chuyện ông?”.


“Chuyện anh. Anh đốn cây không phải tôi. Anh mới về đã có căn nhà, tôi ở xứ này cả đời không nhà cửa vợ con gì ráo, gia tài chỉ có chiếc ba lô với đôi dép râu. Ta nấu cơm ăn, hả?”.


“Ông định ở đây bao lâu?”.


“Ở chán thì đi, đã nói tôi rảnh mà. Anh cũng đâu tốn gì. Nhà này như nhà nhà nước, tôi tiếp anh cất vó, mình góp công sống chung với nhau”.


Bằng ra sông cất vó được ít cá, trong ba lô ông Sáu Thiên có đủ tiêu, hành, tỏi, ớt, bột ngọt, nước mắm, cơm chín lại thấy ông Sáu Thiên lòi ra chai rượu nhỏ.


“Đưa cay một chút”, Sáu Thiên nói, hấp háy đôi mắt tròn xoe. “Cho tiêu hóa đi cái sự đời”.


“Đời ông hả?”.


“Không, đời anh. Đời tôi trong sáng, không vướng mắc chuyện gì. Anh kể tiếp đi”.


“Chuyện gì nữa?”.


“Không muốn kể thì thôi, ta uống trà nói chuyện chơi, ngủ sớm làm gì. Ngủ sớm, chết sớm. Un khói cho đỡ muỗi. Muỗi xứ này cắn ngứa thôi không độc, không như muỗi miền Đông, Sài Gòn của anh. Trà được quá phải không? Anh về đây là phải, mình gốc dân quê sống với đồng ruộng sông nước thôi, như tôi đây cả đời không rời khỏi vùng bán đảo Cà Mau này, cũng không làm việc gì quá sức mình”.


“Ông đã làm gì?”.


“Đủ hết, không thiếu việc gì, ai làm gì tôi làm nấy. Hồi kháng chiến chống Pháp tôi chỉ có bơi xuồng chèo ghe cho mấy ông cán bộ, cũng gọi là công tác. Rồi đi làm rẫy, lưới cá, tự túc lương thực cho đơn vị. Rồi đi theo gánh hát, lại chỉ có chèo ghe, kéo phông màn cho mấy đứa con gái, nhưng cũng vui. Một dạo về làm việc trong văn phòng, ghi chép lung tung không ra sao, lại đưa ra làm rẫy, lưới cá, nuôi một bầy vịt bảy tám trăm con”.


“Sao bị thương?”.


“Không bom đạn gì đâu. Một bữa qua sông ghe bị sóng lớn lật chìm, trôi tấp vào cọc đáy, bị kẹt gãy chân, may là không chết cũng còn theo kháng chiến được tới ngày giải phóng. Sau giải phóng có phong trào làm kinh tế ba lợi ích. Tôi được giao làm quản đốc một phân xưởng nhưng mới chỉ làm mấy ngày thấy không kham nổi tôi lên gặp ông giám đốc nói: không xiết đâu, chữ nghĩa ít quá không ghi chép được, cho làm việc gì nhỏ hơn một chút. Làm phân xưởng trưởng được không? Được. Nhưng rồi cũng không xiết, xuống làm tổ trưởng. Rồi lại xuống nữa, làm bảo vệ gác cổng, kiêm trưởng ban thi đua khen thưởng. Tới kỳ họp bình bầu cho tiên tiến ráo hết, ai nấy đều vui mừng, chỉ riêng ông trưởng ban bị khiển trách, thiếu tinh thần trách nhiệm. Chẳng may có kẻ thù giai cấp lọt vào cũng bình bầu hay sao? Sợ quá! Đụng tới kẻ thù giai cấp là gay rồi. Đang có đợt giảm biên chế bèn xin về hưu luôn, không nhà cửa vợ con sống sao cũng được, đi lang thang từ đó tới giờ, chiếc ba lôlà bạn đường thân thiết nhứt”.


Bằng cười:


“Vậy coi như ông cai quản cả bán đảo Cà Mau này”.


“Cũng đúng”, Sáu Thiên cũng cười theo. “Thật ra như con ong, con bướm nhởn nhơ thôi. Trâu già chẳng nệ dao phay, còn có đôi chân đi đây đó, châm chích, cự cãi chút đỉnh, chẳng làm được gì, cũng gọi là có tiếng nói... Anh không còn chuyện gì kể nữa hả?”.


“Người cứu sống tôi trở thành ông già nuôi, bán chiếc ghe gởi tôi chỗ này chỗ nọ, lang thang khắp vùng đất Mũi. Rồi tôi ra chợ Cà Mau làm công khắp các hàng quán xưởng thợ, nhồi bột bánh mì, lâu lâu ông ta ghé thăm dẫn tôi đi ăn hủ tíu cho tiền, mấy hôm sau lại đến mượn tiền, mượn thêm mấy tháng lương, không biết ông ta nuôi tôi hay tôi nuôi ông ta”.


“Rồi sao lên Sài Gòn?”.


“Đi kiếm tiền. Ra chợ Cà Mau kiếm tiền, lên Sài Gòn kiếm tiền. Thành phố càng lớn tiền càng nhiều. Phải đổi đời thôi, ông ta nói. Làm thằng bụi đời cũng phải bụi đời hạng sang. Hai cha con quá giang chiếc ghe chở cá, đổ lên một bến sông cùng với thúng mủng, bao tải, cần xé khô mắm. Không biết đường sá phương hướng gì, không có chỗ nào tá túc, cứ thế mò mẫm đi, moi thùng rác kiếm thức ăn, lộn trở lại bến sông nhào vô đám khuân vác, hùng hục suốt ngày đến giữa đêm chỉ đủ mua cục xôi trám lỗ miệng. Nhưng con người ta không dễ chết. Sau đó rồi cũng kiếm được việc làm, bồi bàn, đánh giày, bán báo, bán mì gõ, có dạo được làm thợ nhà in, chữ nghĩa ít quá sắp chữ lung tung chuyển sang làm phụ hồ, thợ thổi bóng đèn, hàn khí đá, có lúc hết việc phải lang thang ngoài đường, sa vào đám moi hàng trong các kho Mỹ, ông già nuôi biến mất rồi lại xuất hiện tươi cười dẫn đi ăn hủ tíu, cho tiền rồi lại mượn tiền, thoắt ẩn thoắt hiện, cha con không khi nào rời nhau...”.


“Kể chuyện ở tù đi”.


“Năm Bảy Lăm, tháng tư, tôi đi mua lông vịt ở mạn Bắc thành phố, nghe súng nổ quân giải phóng tràn vào, một toán quân đánh vào một tòa nhà cao từng, tôi ham vui chạy theo coi, xung kích chiếm từng lầu một, tôi theo lên tới sân thượng, một người cầm cờ ngã xuống tôi cầm lấy lá cờ giương cao lên...”.


“Hay lắm!”.


“Không phải cờ của tôi. Sau giải phóng, tôi tiếp tục đi mua lông vịt. Một hôm bỗng thấy có tờ báo đăng hình tôi cầm lá cờ, phường khóm kêu lên khen ngợi, cho đi học bổ túc, được làm thư ký phường. Ông già nuôi thấy có cơ hội mần ăn tìm đến gạ gẫm. Một tay nhà giàu có cô con gái cần phải lấy chồng, nhà giàu biệt thự, của chìm của nổi. Tôi nhận lời về sống cuộc sống an nhàn, sau đám cưới bốn tháng có được đứa con, được ông già vợ cho tiền thành lập công ty, làm giám đốc vay tiền ngân hàng rồi đi tù...”.


“Thôi được rồi, ngủ thôi!”.


Ông Sáu Thiên ngủ say Bằng vẫn ngồi trầm ngâm. Đúng chuyện không đáng gì, nhưng cũng gần cả đời người. Anh ở tù ba năm, ra tù về nhà cô vợ ngồi đợi sẵn, gói tiền đặt trên bàn, dằn trên tờ giấy ly hôn. Anh ký liền không cần đọc: tiền làm chồng mười mấy năm phải không? Còn muốn gì nữa, cô vợ nói, tôi đã làm gì phá hại đời anh? Không làm gì cả, chỉ do hoàn cảnh thôi. Vợ anh không nói gì nữa thảy cho anh xâu chìa khóa, đứa con gái đã về bên ngoại, lát nữa cô cũng về đó, anh ở lại nhà bao lâu cũng được, chừng đi điện báo cho cô biết, khóa cửa thảy chìa khóa vào trong sân, hay quăng xuống cống rãnh cũng được, cô đã làm chìa khóa khác rồi. Anh không ở thêm ngày nào cả, một giờ cũng không, cô đi rồi anh đi liền sau đó, đến trạm điện thoại công cộng gọi điện không phải cho cô vợ mà cho đứa con gái. Anh rất mực yêu thương nó, tuy không phải con đẻ, trong nhà nó là người duy nhứt gần gũi anh. Rồi anh ra bến xe mua vé về đây.


Anh xuống ghe ngủ, sáng thức dậy ông Sáu Thiên đã đi từ hồi nào. Tuần sau ông lại đến cũng đột ngột, ồn ào như lần trước, đưa cho Bằng mấy mẩu giấy bảo điền vào tên họ ngày sinh tháng đẻ quê quán, tên cha mẹ vợ con họ hàng, cùng trăm thứ dây mơ rễ má khác. Anh gò lưng viết, ông nói láp giáp kế bên, lôi từ trong ba lôra như chiếc hũ thần nào gạo, trà, gia vị, măng khô, mắm ruốc kho mặn với thịt heo, để sắp thành hàng trên đệm. Rồi quay sang uống trà rung đùi nói:


“Viết chậm thôi, chừng nào xong cũng được. Có ai đến chơi đây vậy?”.


“Hai đứa nhỏ sinh đôi”.


“Của quí trời cho đó! Con chó đâu?”.


“Nó đi chơi trong rừng”.


“Nó có vẻ không phải là một con chó giỏi, nhưng cũng đừng chê bai. Người cũng như vật không thứ gì là đồ bỏ đi. Uống trà đi, có gì đâu mà viết nhiều. Quê hương yên bình lòng người thư thái, cứ nghỉ ngơi hưởng ơn đức của đất trời...”.


Ông dọn hẳn một chỗ nằm cho riêng mình ở một góc nhà, vuốt trải tấm đệm cong queo, xếp quần áo cuộn làm gối, giăng mùng, tấn kỹ, vào nằm trong nói vọng ra, bắt đầu xưng hô suồng sã:


“Nhưng lý lịch mày cũng gay đấy, vừa mới ra tù, hộ khẩu gốc tích không có, lại tự tiện đốn cây cất nhà ở một mình. Ai biết mày làm trò gì, đầu mối buôn lậu hay tổ chức chống đối? Hay chán đời? Chỉ riêng việc chán đời thôi cũng bỏ tù được rồi”.


“Tôi ở tù rồi”, Bằng nói.


“Biết rồi, ở tù như đi nghỉ mát. Giờ về đây kiếm chuyện làm, đàn ông sức vóc như mày chẳng lẽ suốt ngày đi ra vô cất vó? Gác rừng được không? Để tao nói với đằng kiểm lâm cho mày làm hợp đồng, sẵn có chiếc ghe người ta cấp xăng, tuần lễ vài lần đi rảo quanh canh chừng tụi đốn cây trộm. Làm được không?”.


“Được”.


“Làm đi. Không tốn công gì đâu, chiếc ghe cũng không đến nỗi hư hao gì, xăng của nhà nước coi như đi dạo mát, lấy công chuộc tội. Tội nặng quá mà. Nguyên lý lịch không rõ ràng cũng là một tội. Có ai không gốc tích, cha mẹ họ hàng lý lịch không biết viết gì, tội lỗi lút đầu đó. Tao làm bản hợp đồng cho nghen?”.


“Khỏi”.


“Làm đi, tao ký tên, không mộc dấu gì đâu, coi như mày làm chân rết cho tao, có thể lập biên bản bọn đốn cây trộm như tao lập biên bản mày vậy. A, về tới đó hả?”. Con chó nhảy xổ vào vung vẩy bùn đất, ông già vuốt ve con chó không nề hà bị vấy bùn: “Đi chơi đã đời chán chê rồi chớ gì? Chó giữ nhà rong chơi như thế không tốt đâu, đi rừng tìm bắt con rắn con kỳ đà cho chủ có hơn không. Ai cũng phải làm việc, chó mèo cũng vậy, con gà lên bồ lúa còn phải bươi”. Ông lục trong ba lôlấy ra miếng bánh đưa cho con chó, nó hửi hửi quay ra tiếp tục vẩy bùn. “Chê à? Mốc chớ gì? Thôi được để tao ăn”. Ông đút tọt miếng bánh vào miệng nhai trợn trạo quay sang Bằng: “Nhà hết gạo hay sao bếp núc lạnh tanh vầy nè? Tao còn ở đây lâu, mày cho ăn nhờ bữa nào tao trả”.


Bằng nổi lửa nấu cơm, ông Sáu Thiên ra sông cất vó, bữa cơm dọn ra ông lại lòi ra chai rượu.


“Mày có hay rượu không?”, ông hỏi.


“Tôi uống đủ phần của tôi rồi”.


“Rượu không biết bao nhiêu là vừa”.


Ông kể một lần uống thách với một tay đầu gấu, uống đến chết sững người, lưng thẳng đơ như nuốt cây thước trong bụng, suốt đêm cứ phải ngủ ngồi.


“Ôi cha ơi, ăn uống khô hạn không có rau rác gì vầy nè”, ông la lên. “Không có ông thần nông nào tính chuyện trồng rau xứ này hay sao?”.


“Tôi tính làm giàn trồng rau ở đây”, Bằng nói, ý nghĩ chợt nảy ra trong đầu.


“Làm đi, mày không còn nhiều thì giờ đâu, người xưa đi khai hoang cũng bắt đầu như vậy”.


“Có người ở đây rồi ông à”.


“Ai?”.


“Có một cứ cũ trong kia”.


“Cứ ở đây thiếu gì, hồi chiến tranh cơ quan bộ đội ở khắp trong rừng”, ông Sáu Thiên thản nhiên nói, khoát mùng bước ra đút thêm củi vào bếp quạt khói, bỗng trở nên thẩn thờ nói tiếp giọng trầm hẳn xuống. “Cứ cũ à? Chà lâu quá rồi... Chắc hoang tàn hết rồi phải không?”.


“Có một bọc quần áo con nít...”.


“Phải rồi, phải rồi…”.


Bằng xuống ghe ngủ một giấc dài, thức giấc nghe ông Sáu Thiên còn ho lẹc khẹc, con chó chạy rột rẹt, chiếc ghe chòng chành liên hồi. Anh ngủ tiếp, sáng ra cơm đã dọn sẵn, như ông Sáu Thiên không hề ngủ. Anh ngồi vào ăn, ông Sáu Thiên nói rầm rì với con chó. Không thấy ông nói chuyện ra đi. Bằng cũng không hỏi. Buổi sáng, buổi chiều, ông tiếp Bằng cất vó, xẻ cá, phơi khô, làm mắm, nói láp giáp một mình. Hai đứa sinh đôi đến ông bắt qua hỏi chuyện rừng U Minh. Xuồng ghe qua lại ông kêu réo, chuyện vãn vang vang.


Hơn tuần lễ trôi qua. Buổi sáng Bằng nói có việc đi chợ ông đòi đi theo. Trời âm u mù mịt, chiếc ghe chạy băng băng, đến một chỗ không thấy có nhà cửa làng xóm gì cả, ông kêu dừng lại, nhảy lên, xốc chiếc ba lô, biến mất vào trong khu rừng đước.


Bằng đi tiếp đến chợ xã, ghé quán Hai Chất. Chủ quán vẫn yên vị trên chiếc ghế mây. Con bé mười hai tuổi xé vé giữ ghe, anh kêu tô hủ tíu xương heo cùng ăn với con chó. Một gã thọt đi tới lui xiên xẹo bên bàn bi da, liếc nhìn Bằng một lúc rồi sà đến gạ chuyện:


“Chiếc ghe đã quá!”.


“Mày dòm ngó cái gì?”.


“Ghe này đi biển được không?”.


“Đi làm chi ngoài đó?”.


“Có người tìm chiếc ghe này”.


“Ai?”.


“Biết vậy thôi”.


“Mày nói hay muốn tao bẻ răng?”.


“Nhờ vả suông thôi hả?”.


“Uống chai bia đi”.


“Một ông già xưng là cha nuôi”.


“Có nhắn hỏi gì không?”.


“Chai bia nữa nghen?”.


“Uống nhiều nghẹn họng đó”.


“Ông ta nói lúc nào sẽ tìm gặp anh, nhưng bây giờ thì chưa”.


Bằng xua gã thọt đi, lên chợ đến trụ sở công an. Trời đã xế chiều người thư ký nhìn anh vẻ mệt mỏi:


“Xin nuôi tôm hả?”.


“Dạ không, tôi xôi xin đăng ký hộ khẩu”.


“Ở đâu?”.


“Ở sông Ông Trang”.


“Là đâu?”.


“Tôi có nhờ ông Sáu Thiên...”.


“A, ông Sáu Thiên! Biết rồi! Ông ấy đâu?”. Người thư ký trở nên vui vẻ. “Tháng này không thấy ông ấy ghé đây, tháng trước cũng vậy, lúc nào tụi này cũng dành sẵn giường ngủ, cơm bưng nước rót... Ông già mắc dịch! Ông ấy ghé nhà anh à?”. Người thư ký cúi xuống với mớ giấy tờ nói tiếp, trở lại vẻ lạnh lùng khô khan: “Ông ấy chứng nhận cho anh hả? Chứng nhận cái gì? Thôi hết giờ rồi, anh để giấy tờ lại đây chúng tôi nghiên cứu sau...”. Người thư ký nhìn qua đầu Bằng gọi lớn ra bên ngoài: “ Còn ai xin nuôi tôm nữa không?”.


Bằng đi ra ngoài ngồi xuống chiếc băng ở hàng hiên. Một người đàn ông cao lòng khòng tay cầm chiếc lưỡi hái cắt cỏ dài ngoằng từ xa đi lại, ngồi xuống cạnh Bằng nói giọng chán ngán mệt mỏi:


“Xin nuôi tôm hả? Hay đóng đáy?”.


“Tôi xin đăng ký hộ khẩu”.


“Khó đó! Có quen ai không?”.


“Có quen ông Sáu Thiên”.


“Quen ông Sáu Thiên thì được, ông già dẻo miệng lắm. Nhưng cũng không dễ. Hộ khẩu bây giờ như giấy thuế thân hồi Tây, không có hộ khẩu con người không là gì cả, còn thua cái bóng ma”.


“Tôi ở thành phố mới xuống”.


“Biết rồi, thấy chiếc ghe mấy lần rồi. Đẹp quá hả? Ban đầu tưởng ghe du lịch, hoặc nghiên cứu môi trường, hóa ra người đi xa trở về”.


“Tôi tính đến trình báo nhưng hết giờ rồi”.


“Mai trở lại thôi, chuyện giấy tờ phải bám riết như cóc gặm chân trâu”.


“Anh làm ở đây à?”.


“Tôi làm nhân viên tạp vụ ở đây. Đúng ra là cắt cỏ, hai mươi năm qua hai chế độ”.


Ông ta bỏ đi, vung vẩy chiếc lưỡi hái. Bằng đi ra chợ mua rau về nấu cơm, gã thọt vẫn lảng vảng dòm ngó. Cơm chín, anh xẻ một nửa cho con chó, nó nhìn anh rồi nhìn dĩa cơm không nhúc nhích.


“Giận chớ gì?”, anh nói. “Muốn đi chơi phải không? Không có kiểu đó đâu, đây không còn là nhà giàu chó đi chơi với chủ, phải thông cảm nhau mới sống được”.


Con chó vẫn không nhúc nhích, anh dọn dẹp, châm trà ngồi xếp bằng ngó ra sông. Trời đã xế chiều quán đông khách, đám thanh niên đánh bi da lốc cốc, gã thọt lượn lờ biến mất một lúc, lại thấy ngồi chồm hổm nói vọng xuống:


“Đánh ván bi-da chơi không?”.


“Ăn tiền hả?”.


“Chút đỉnh cho vui thôi”.


“Được”.


Bằng đánh bi da giỏi, tập tành từ hồi ở chợ Cà Mau, lên Sài Gòn giao du trong giới kinh doanh đánh những độ lớn, mấy tay cá độ đều gờm mặt, ngữ điếm vườn này ăn thua gì. Nhưng anh có ý định riêng. Anh đánh thắng liền hai ván, gã thọt bắt đầu chảy mồ hôi, anh tấp thêm ván nữa lôi gã lại bàn nói:


“Mày khỏi trả tiền, tao đãi chai bia, nói lại chuyện hồi sáng coi”.


“Ông già ôm kè chiếc thùng sắt nói là của hồi môn cho anh”, gã thọt cười lau mồ hôi tráng. “Có đúng là vàng trong đó không?”.


“Còn gì nữa không?”.


“Ông già nói có biết anh cất nhà ở sông Ông Trang, ông chưa muốn ghé thăm, còn bận nhiều chuyện, nhưng rồi sẽ ghé... Có vàng cho tôi ít không?”.


“Mày ham vàng lắm hả?”.


Anh xuống ghe định ngủ một chút, nhưng có đám đông đàn ông, đàn bà, con nít bu xuống coi chiếc ghe, anh đóng kín cửa tiếng ồn ào cười nói vẫn dội vào. Yên một lúc anh trở dậy nấu cơm lại nghe tiếng gọi “Anh ơi! Anh ơi!”. Thủy, cô gái làm công cho bà mập. Anh nhớ hồi sáng có thấy chiếc ghe chài của bà ta đâu đây. Anh ngồi sau bếp ăn cơm, tiếng chân cô gái đi xuống, con chó sủa khe khẽ mừng rỡ, xích rung loảng xoảng, tiếng cô vuốt ve vỗ về, con chó rên ư ử. Rồi tiếng nói lớn lên:


“Em mua cho anh chậu ớt, ghe có chút cây xanh cho vui. Em thấy ghe anh từ sớm, bà chủ sai nhiều việc quá không đến được. Cực lắm anh à, nhưng em sắp thôi việc chỗ bà chủ rồi”.


Trời sẩm tối nóng hầm hập. Bằng ăn cơm xong, dọn dẹp rồi vào trong cabin châm trà, hút thuốc. Con chó vẫn lăng xăng phía trước, anh biết Thủy vẫn còn đó. Có chiếc ghe chài chen vào đậu kế bên, người trong ghe lên hết trên mui, đàn ông mình trần, đàn bà xoã tóc, con nít chạy tới lui.


“Sao thôi việc chỗ bà chủ?”, Bằng hỏi cho có chuyện.


“Cực quá vậy thôi, mình hầu hạ người ta”, Thủy nói. “Em tính thôi không đi ở nữa, có ít vốn hùn hạp mần ăn, mua đất nuôi tôm hoặc buôn bán gì đó, mới chỉ tính thôi chưa quyết định được gì. Em gặp nhiều người tệ bạc lắm rồi. Thôi em về đây, chút rảnh em ghé...”.


Bằng vào cabin ngủ một chút lại nghe tiếng con chó kêu mừng rỡ, tiếng Thủy nói sát bên cửa cabin:


“Anh ngủ rồi hả? Em ghé chút thôi, ngồi ngoài này nói chuyện được rồi. Bà chủ sai em đi mua đồ ăn, giờ này còn nhậu nhẹt, khách khứa coi dị hợm lắm. Chắc em phải thức suốt đêm nay thôi, cực còn hơn hồi em làm tiếp viên ở chợ Cà Mau. Tại hồi đó em ham tiền quá, có biết gì đâu, vào quán bưng bê được mấy bữa bà chủ bắt em ngồi tiếp khách, em hoảng quá nghĩ bụng thôi chết rồi, phải bám lấy một thằng sau này còn có chỗ nương tựa. Em tìm được một người, một ông chủ nhà máy xay lúa, ông ta mướn nhà cho em ở cưng chiều em hết mực. Nhưng bà vợ dữ quá, như một mụ la sát. Mụ ta tổ chức đánh ghen, em bị xé hết quần áo bị đuổi ra khỏi nhà, bà chủ quán cũng đuổi em ra khỏi quán”.


“Chịu thua mụ la sát hả?”.


“Em không chịu thua. Em bỏ tay chủ xay lúa, vòng vàng cũng trả hết, một bữa rình lặn đục lủng ghe mụ bán hàng”.


“Chìm không?”.


“Không chìm. Nhưng hàng họ trôi mất hết, mụ ta kiện em ra tòa, toà xử em thua kiện, phải làm công cho bà mập để trừ nợ, đến năm ngoái hết nợ rồi, em để dành được ít tiền, anh hùn mần ăn với em không?”.


“Để cô lặn đục lủng ghe tôi hả?”.


“Em đục ghe anh làm chi? Em ghét mụ vợ xay lúa vì mụ xé quần áo em, nhưng sau đó tay chủ có vợ bé nữa mụ lại rủ em đi đánh ghen, con bồ nhí của tay xay lúa bị một trận te tua... Thôi chuyện kỳ quá, em mắc cỡ lắm, ngồi ngoài này trời tối em mới dám nói. Thôi anh ngủ đi, em về đây, còn phải lo hầu hạ đám nhậu. Họ đánh bài anh à, bà mập cho neo ghe giữa sông, xuồng ghe không biết từ đâu đâm ra, ông già ròm búng vuốt bộ bài lẹt rẹt tài tình như ông thần đèn, bà mập ngồi kề bên, không thấy tiền đâu chỉ nghe họ hăm he đâm nhau lủng bụng, em sợ quá không dám ló mặt lên...”.


Gần sáng hình như Thủy có đến, nghe con chó rung loảng xoảng sợi dây xích, nhưng Bằng đã ngủ lịm đi.


Bằng thức đậy trễ, nấu cơm ăn, ngồi uống trà một chập rồi lên trụ sở công an xã. Người trưởng công an tóc hoa râm tiếp chuyện thái độ dè dặt vừa phải:


“Chúng tôi có nhận được giấy tờ của anh, có nghe ông Sáu Thiên nói thêm. Cũng khó! Anh trở về quê là tốt, nhưng không có nghĩa muốn ở đâu thì ở. Vừa mới ra tù, tự tiện đốn cây cất nhà ở một mình cheo leo ở sông Ông Trang, ai biết anh làm gì, quản lý anh như thế nào?”. Người trưởng công an ngưng một chút nhăn mặt lắc đầu, như muốn xua đi những khó khăn không phải của Bằng mà của chính ông: “Thật tình chúng tôi cũng không biết phải như thế nào. Thôi anh cứ ở tạm đó, nhưng không được đốn cây, không đi đâu xa, thỉnh thoảng ra đây trình diện. Cũng nên tìm việc gì làm. Nghe ông Sáu Thiên nói anh nhận việc gác rừng, làm được không?”.


“Dạ được”.


“Chúng tôi không cấp xăng theo định kỳ đâu, không có kinh phí, có dư gởi anh chút ít vậy thôi. Nghe nói nhà anh rộng rãi, có đi tuần tra chúng tôi ghé nghỉ. Ông Sáu Thiên thường ghé đó phải không? Lâu rồi không thấy ông ta ghé đây, cơ quan có dành riêng giường đệm, ông ta cứ đi lảng vảng bên ngoài, nghe văng rảng nhắn tin trình báo...”.


Bằng trở về ghe, đứa con gái nhỏ đưa cho anh chậu hành nói cô Thủy gởi. Cô bị bà chủ canh chừng không đến được. Trời trưa, Bằng nấu cơm ăn chờ con nước xuôi trở về. Gã thọt lảng vảng bên trên con chó hực sủa, anh nói vọng lên:


“Có tin gì hả? Hay muốn đánh bi da để tao lột da mày?”.


Gã thọt lủi mất. Lại thấy người trưởng công an đi xuống, ngồi chồm hổm tươi cười nói:


“Anh rảnh không? Ghe tụi này đang trét chai, nhờ anh chở đi một vòng tuần tra được không? Tụi này chịu xăng. Mình đi xuống Mũi, ra biển, vòng vào sông Cái Lớn, đi ngược lên, vào sông Ông Trang về đây. Coi như đi một vòng bán đảo Cà Mau cho anh có dịp nhìn lại quê hương. Đi liền hén?”.


Người trưởng công an đi lên, chút sau trở xuống với ba người công an. Họ xách theo súng đạn, xăng nhớt, thức ăn đi đường, kêu Bằng nổ máy ghe đi ngay. Trời bỗng tối sầm, gió thổi mạnh, mây đen từng đám bay sà thấp. Ghe chạy cặp sát bờ, nhà cửa thưa dần rồi dứt hẳn, rừng đước, rừng mắm chạy dài. Ba người công an ngồi ở khoang trước, người trưởng công an đứng sau Bằng ngửa mặt cười nói, tiếng chao đi trong gió:


“Không mưa đâu, gió thổi mây tan hết thôi... Mây đùn lên như khói kìa... Ôi nhớ nhà quá! Bà ngoại tôi nói mây do khói đọng lại, mưa là do rồng phun...”.


Mây đen tụ lại rồi tan ra, nắng hửng lên một chút lại tối sầm, cứ thế vần vũ mãi. Ghe bắt đầu ghé chỗ này chỗ kia, tốp công an lên nhà làm việc gì đó, trở xuống đi tiếp. Vẫn rừng đước, rừng mắm chạy dài, đôi khi có một khóm nhà thưa thớt, không thấy có xuồng ghe đậu dưới bến, không biết người trong nhà đi lại bằng gì. Bỗng người trưởng công an chỉ tay cho Bằng ghé vào, Bằng nhìn thấy ghe bà mập đậu lấp ló trong một khóm đước.


“Nghỉ trưa hả bà chủ?”, người trưởng công an nói vọng sang.


“Mần ăn cực quá nghỉ chút ông công an ơi!”, tiếng bà mập lanh lảnh từ trên mui chiếc ghe chài. “Ông đi bắt ai vậy?”.


“Đi dạo chơi thôi”.


“Ông rảnh rang dân tình lại đâm cực”.


“Bà rảnh, tụi tôi cũng rảnh”.


“Ông nói xiên xỏ cái gì? Ông đi ghe người mới ra tù, tôi chỉ đậu nghỉ ông dòm ngó là sao?”.


“Tôi không dòm ngó gì đâu, hỏi thăm bà chủ vậy thôi”.


Người trưởng công an ra dấu bằng mắt, ba người công an nhanh chóng nhảy chuyền qua ghe chài leo lên rừng. Con chó cũng nhảy lên theo, người trưởng công an đi sau rốt, nghe tiếng chó sủa xa xa một lát sau mất hút trong rừng sâu.


Bà mập nói chõ xuống với Bằng:


“Kết với công an rồi hả? Chỉ điểm cái gì? Hại người người hại thôi nghen!”.


Bằng không đáp quay qua coi lại xăng nhớt. Hơn một tiếng đồng hồ sau tốp công an về tới. Người trưởng công an lầm lì kêu Bằng nổ máy ghe chạy đi. Đã nghe thấy mùi biển. Trời đã xế chiều, tốp công an ghé vào một nhà kêu Bằng cùng lên. Nhà chỉ có người đàn ông mặt mày lạnh lẽo ngồi thổi lửa. Bằng ngồi lại bên ngoài. Trong nhà mọi người rầm rì nói chuyện.


Người trưởng công an:


“Tình hình thế nào?”.


Người chủ nhà:


“... Chúng vẫn đốn cây trộm, một mình tôi làm sao canh giữ được... Buôn lậu cũng vậy... Có thằng cha đánh con...”.


“Sao đánh?”.


“Say rượu… Tệ như vậy đó… Thằng nhỏ hộc máu phải đi cấp cứu... Dân tình khổ cực… Rừng đước bị đốn trộm ngày đêm… lấy đất nuôi tôm… Trống quang…”.


“Có thấy con tôm nào không?”.


“Tôi không ăn tôm”.


“Ông Sáu Thiên cũng không ăn tôm. Ông ta có ghé đây không?”.


“Mấy hôm rày có nghe tiếng ông ta la ơi ới ngoài sông”.


Họ nấu cơm, kêu Bằng cùng ăn rồi lên đường đi ngay. Biển đây rồi, nổi sóng đục ngầu. Lâu nay Bằng chỉ hình dung trong tâm tưởng. Anh chưa thấy biển bao giờ. Thật lạ, bao nhiêu năm ở Cà Mau rồi lên thành phố anh chưa từng đi biển, không biết bất cứ vùng biển nào. Anh cầm chắc tay lái, chiếc ghe lướt đi dễ dàng, cỡi lên những ngọn sóng lớn, nhiều lúc treo dựng đứng rồi rớt xuống một hố nước sâu đen ngòm tung bọt trắng xóa. Chẳng mấy chốc người và ghe ướt đẫm. Ba người công an phía trước ngồi bám xuống sàn, người trưởng công an níu vào nóc cabin ngửa mặt hứng lấy bụi nước, chỉ tay cười nói gì đó. Bằng nhìn lên thấy quả cầu đỏ ối đậu ở chân trời, sát mép nước, cùng nhấp nhô với sóng biển. Phút chốc cả bầu trời mặt nước cùng ánh lên một màu như dát vàng.


“Biển Cà Mau mình đó, thấy không?”, tiếng người trưởng công an lẫn trong tiếng sóng gió gầm gào. “Ôi lâu rồi mới ra biển, sóng ơi là sóng. Mũi Cà Mau nhọn quá thấy không? Sông Cái Lớn kìa, rộng sao là rộng!”.


Một cửa sông mù mịt, như biển này cạnh biển kia. Ánh chiều đã tắt, gió bắt đầu thổi mạnh, chiếc ghe quen sóng nhồi lên xuống nhịp nhàng. Bằng chạy ghe cặp sát bờ, âm thầm trong bóng tối, độ hơn một tiếng, người trưởng công an chỉ tay ghé vào một nhà, nói là của ông già trăm tuổi.


Căn nhà nhỏ nằm cheo leo trong khóm đước. Ông già ngồi lặng im giữa sàn, ngọn đèn dầu leo lét trước mặt. Tốp công an xách chiếc giỏ nặng lên nhà ồn ào cười nói. Bằng cũng lên theo, con chó nhảy chồm chồm đòi lên. Ông già vẫn ngồi yên, tốp công an ngồi vây quanh, người trưởng công an lôi từ trong giỏ ra hết món này tới món khác:


“Tụi con đem đường sữa cho ông bồi dưỡng sống thêm trăm tuổi, mì tôm đổ nước sôi vô ăn liền, quần áo mới cho ông cưới vợ... Tụi con đi chiếc ghe đẹp quá ông thấy không? Ông đi chơi một vòng không? Lâu quá rồi tụi con không ghé, bận việc lắm, chiếc ghe đang trét chai, may có ghe du lịch ông bạn đưa đi. Ông bạn đây cũng là người quê mình, bị trận bão năm nào trôi giạt giờ mới trở về. Ông có nhớ trận bão năm nào không?”.


“Năm nào?”.


“Ông biết hết mà, chuyện gì ông cũng biết. Ông ngồi đây canh bọn đốn cây trộm, có bắt được đứa nào không?”.


“Tao là lính của tụi bây hả?”.


“Ông là cha của tụi con, cả vùng đất Mũi này là con cái của ông. Ông kể chuyện cho tụi con nghe đi, ông bạn đây đi xa trở về, ông kể trận bão năm nào đi”.


“Tao quên hết rồi”.


Người trưởng công an quen ông già từ hồi chiến tranh, những năm đó ông cũng đã già lắm rồi. Tiểu đội trinh sát của anh bị tàu tuần tiểu Mỹ rượt đuổi, ghé tắp vào chính căn nhà này, nhà vắng tanh đi vòng quanh không thấy ai, đi ra sau rừng ngó lên thấy một ông già đang ngồi vắt vẻo trên chòi gác cao chót vót trên một ngọn đước. Ông coi máy bay ném bom vùng rừng nào bị tàn phá. Trước đó hồi còn sức ông rất thích đi rừng, có con chó đi cùng, sau con chó già chết ông đi một mình. Ông đi săn bắt thú rừng chồn cheo, kỳ đà, moi cua biển, mò lượm nghêu sò ốc hến kiếm sống, thực sự là muốn được sống với rừng. Rừng là nhà của ông, ông biết rõ mọi ngóc ngách, từng vạt rừng thưa rừng dày như vườn nhà mình. Chiến tranh kéo dài, máy bay ném bom hằng ngày, pháo từ hạm đội Bảy bắn vào, rừng xơ xác dần, ông già cũng không còn sức lội rừng nữa. Ông làm một chiếc chòi gác trên ngọn đước cao để coi rừng, là trạm quan sát, con mắt tấm lòng của ông. Sau lần đó, người trưởng công an còn ghé nhiều lần nữa, lâu dần thành quen, không có việc gì cũng ghé, nhà ông già như một bến đậu một chỗ nghỉ, không có ông ở nhà họ tự tiện nấu nướng ăn uống, để lại ít gạo mắm, đồ hộp vớt được của hạm đội Bảy từ ngoài biển trôi giạt vào. Ngày tháng trôi qua, ông già già đi đến độ không thể già hơn nữa, người khô quắt lại, nhưng như vậy lại leo lên chòi gác dễ hơn. Cho đến một hôm có chuyện xảy ra. Hôm đó đang giữa trưa, ông đang ngồi ngủ gà ngủ gật chợt nghe có tiếng bom nổ, nghe gần lắm, sát bên tai, ông vội choàng dậy chạy ra leo lên chòi gác. Nhưng không thấy gì cả, rừng vẫn lặng yên, cả bầu trời không gợn bóng một chiếc máy bay. Pháo cũng không. Vậy là bom nổ trong đầu ông. Ông đã già quá rồi, lẫn lộn hết rồi. Ông ráng leo lên chòi gác được hơn một năm nữa, cho đến hôm té từ trên cao xuống. Chiếc thang đã mục, tay chân ông cũng đã run rẩy, ông nằm chết giấc trên mặt bùn một lúc, tỉnh dậy bò vào nhà nằm cả tháng, ăn cháo uống nước lá ô rô để tan máu bầm. Từ đó ông thôi leo lên chòi gác, cũng không đi đâu, suốt ngày ngồi trước nhà đón xuồng ghe qua lại hỏi thăm máy bay ném bom ở đâu, pháo bắn vạt rừng nào. Có một người du kích thường ghé chăm sóc, đỡ đần ông mọi chuyện. Đó là vào những năm cuối cùng của cuộc chiến tranh. Mọi người đã bắt đầu thôi đếm tuổi ông và ông cũng không còn nhớ rõ chuyện gì, chậm chạp nghễnh ngãng, nhiều lúc xuồng ghe đi qua ông cất tiếng gọi họ đã đi mất. Rồi chiến tranh chấm dứt ông không hề hay biết, đó là điều may cho ông. Rừng đã bị rải chất độc hóa học chết trụi cả, nhiều vạt rừng trống quang như thuở mới khai thiên lập địa.


Tốp công an nấn ná mãi đến giữa khuya mới dứt được ra đi. Bằng lái ghe chạy âm thầm trên sông Cái Lớn, qua nhà vào lúc gần sáng, nhà vắng tanh, chiếc vó chỏng ngược lên, anh lặng thinh cho ghe đi qua luôn. Đêm khuya thanh vắng tiếng máy nổ ầm ầm, anh lái ghe theo khe sáng bên trên, chỗ hai hàng ngọn cây hai bên bờ giao nhau. Đã trở lại đoạn đường anh đi hôm qua, cảnh đêm trở nên khác hẳn, rừng âm u, dòng sông như hẹp lại, nhiều chỗ nước chảy tràn, không thấy có lối đi, trời tối không nhìn thấy ba người công an phía trước, người trưởng công an vẫn đứng sát bên, tiếng máy ầm ầm khiến anh không nghe thấy tiếng súng nổ.


Không thể tưởng tượng được, phát đạn không biết từ đâu bắn tới, chỉ thấy lửa chớp sáng lên, con chó sủa vang, người trưởng công an ngã đè lên người Bằng, anh vội buông tay lái ôm lấy thân hình nặng trịch, chiếc ghe chúi mũi vào một bụi rậm, chiếc máy bị anh đè lên chổng ngược, chân vịt quay tít trên không, gầm rú dữ dội, cùng lúc với tiếng súng của ba người công an phía trước bắn trả. Hình như ba người công an phía trước có kêu bảo gì đó nhưng Bằng không nghe thấy, đầu óc điếc đặc. Một người chạy ra sau tiếp tay níu đỡ người trưởng công an. Hai người kia phóng lên bờ, con chó phóng lên theo, ánh đèn pin quét loang loáng vào các bụi rậm, nhiều tiếng nổ tiếp theo vang xa dần.


Người trưởng công an đã chết. Bằng biết thế, thân hình dịu quặt, máu chảy ướt đẫm, không thấy động đậy gì. Bằng cố đặt anh nằm xuống theo một quán tính mơ hồ, lấy thân mình che bên trên chờ những phát đạn bắn tới. Nhưng không có phát đạn nào nữa, lặng thinh lặng ngắt, như không hề có chuyện gì xảy ra. Máu vẫn chảy từ tấm thân bất động của người trưởng công an. Người công an soi đèn pin lấy băng băng vết thương, cùng Bằng phụ khiêng đem vào trong cabin, kêu anh trở ra giữ máy nổ chờ hai người công an kia trở về.


Thời gian như kéo dài vô tận. Ai? Cái gì? Sao có chuyện người bị bắn chết? Anh ấy hiền lành tốt bụng như thế này? Anh ấy đã làm gì? Không một ý nghĩ nào rõ ràng, không thể hiểu nổi, tai họa như đến từ thinh không trời đất. Bằng cho máy nổ nhỏ ngồi chờ, không biết bao lâu. Hai người công an cùng con chó về tới, ba người vào trong cabin bàn luận, một người thò đầu ra kêu Bằng cho ghe chạy đi.


Họ về tới chợ xã trời vẫn còn tối, xác người trưởng công an nhanh chóng đưa về trụ sở công an. Bằng nghĩ mình phải đi theo. Suốt buổi sáng anh quanh quẩn ngoài hành lang, ngồi ở băng đá ngoài sân, đến gần trưa một người ra kêu anh đi ăn cơm rồi trở về viết bản tường trình. Không biết như thế nào, hẳn anh không liên quan gì, họ nhờ anh đưa đi, lộ trình anh hoàn toàn không biết trước, phát súng từ chỗ nào bắn ra anh cũng không nhớ rõ. Nhưng như vậy không có nghĩa là anh được yên thân, anh biết như vậy. Anh ăn cơm ngay tại quán bên kia đường, từ cổng cơ quan mọi người có thể nhìn thấy, lòng nặng trĩu, anh chỉ ăn lưng dĩa cơm, gói phần còn lại cho con chó. Trở vào trụ sở, anh nhờ một người dẫn vào một phòng riêng cặm cụi viết bản tường trình, kể lại tất cả những gì anh nghe thấy, chuyện người trưởng công an nhờ anh đưa đi, anh đã gặp ai, ghé vào nhà nào. Anh viết cặm cụi đầu óc trống rỗng, vẫn không hiểu chuyện gì xảy ra, tại sao lại như thế.


Anh trở về ghe ngủ. Sáng hôm sau trở lên trụ sở, người ta nói anh cứ về nhà ở sông Ông Trang, đừng đi đâu, họ còn phải gặp anh hỏi thêm một số việc. Anh về ghe nổ máy chạy thẳng một mạch, bao nhiêu hình ảnh lẫn lộn: người trưởng công an, ông già trăm tuổi, phát súng nổ, một thân hình đẫm máu ngã xuống...


Không thể hiểu được, nỗi buồn bã tức giận vô cớ âm ỉ trong lòng.


Ghe về đến nhà, lòng vẫn nặng trĩu. Nhìn từ xa thấy trên nhà có khói sau bếp Bằng không hiểu như thế nào. Anh cặp ghe vào cột khóa xích đi lên và không thể tin ở mắt mình: Thủy, cô làm công bà mập đang ở trong nhà, đang lui cui nấu nướng, lăng xăng tự nhiên như ở nhà mình! Cơn giận của Bằng được dịp bùng lên.


Nhưng hãy từ từ, không việc gì phải vội. Hãy để cơn giận thấm sâu vào tận tim gan. Anh đi thong thả, cố gắng chưa biểu lộ thái độ gì. Con chó không sủa, rối rít chạy bươn lên mừng anh rồi quay trở lại quấn quít với cô gái. Nó đã quen rồi, bao nhiêu lần gặp gỡ với những chậu ớt, chậu hành. Nhưng Bằng thì chưa quen. Nhứt là ở ngay trong nhà anh như thế này. Cô gái vẫn lăng xăng tới lui trong nhà, chiếc túi xách ở góc nhà, bộ quần áo vải mỏng giăng phơi phấp phới, mâm cơm dọn sẵn đậy nắp lồng bàn. Đơn sơ giản dị, như một gia đình! Cũng thật đơn giản, chỉ việc lôi cô ta ra cầu nước xô xuống sông. Nhưng anh chỉ đi thẳng vào ngồi xuống sàn nhà vấn thuốc hút, ngó ra chỗ chiếc vó rồi ngó ra sau hàng lu nước. Một chiếc lu đã đầy nước, không biết mưa từ lúc nào, anh không nhớ có đặt ống máng. Sực nhớ có mua thêm chiếc lu nhựa dưới ghe anh chẫm rãi xuống ghe vác đem lên, chiếc lu nhẹ tênh cồng kềnh, anh đi vòng quanh để tránh mặt cô gái. Anh kê chiếc lu cẩn thận, sửa đi sửa lại chiếc ống máng. Anh đã có được ba chiếc lu, tính còn phải mua thêm nữa, độ chục chiếc, hoặc hơn, đủ chứa nước dùng cho cả mùa khô, tưới mấy giàn rau. Anh quyết định làm giàn trồng rau. Anh hút thêm điếu thuốc rít khói nhả ra một cách khoái trá, trở ra thả chiếc vó xuống, ngồi đợi một chút, cất vó được mấy con cá con thả trở xuống, thong thả đi lên đến đứng trước mặt cô gái:


“Cô đến đây có việc gì?”.


Thủy cúi gằm, giọng như có nước mắt:


“Em ghé thăm anh chút thôi... Bà mập đuổi em rồi...”.


“Sao đuổi?”.


“Bà thấy anh chở công an, nói em nói ra vô gì đó, kêu em đi ở với anh đi, bà không nuôi ong tay áo”.


“Đó là chuyện của cô, tôi hỏi chuyện cô ghé đây kìa?”.


“Em ghé chút thôi, có ghe đi ngang em quá giang đi liền”.


“Vậy cô đi đi, dẹp mấy thứ này đi”, Bằng chỉ bộ quần áo giăng phơi. “Tôi cất nhà để được ở một mình, đâu phải nhà nghỉ khách sạn ai muốn ghé thì ghé”.


“Em đi liền mà”.


Thủy đứng dậy cúi gằm đi ngang qua Bằng đến lấy bộ quần áo, tháo sợi dây phơi nhét vào túi xách, ngồi xuống cúi gục đầu, hai vai run run. Bằng bước qua mâm cơm, xuống ghe vào cabin đóng kín cửa lại.


Cabin nóng ngột ngạt, Bằng ngồi yên không hút thuốc không uống trà, không coi bản đồ, nhưng cũng không ngủ được. Có tiếng chân Thủy đi xuống, tiếng nói vọng vào:


“Anh lên ăn cơm đi”.


“Tôi ăn rồi”, Bằng đáp vọng ra.


“Có ghe em đi liền, anh làm gì mà...”.


“Đã nói tôi ăn rồi”.


Vẫn không thể ngủ. Con chó không chịu xuống. Anh giở mấy tờ báo cũ lấy ở chợ xã đọc đủ thứ tin tức không biết từ thời nào, những vụ đụng xe tham nhũng, người này bỏ vợ, người kia lấy chồng, lót vỉa hè, rút ruột công trình. Có chuyện vị giám đốc bị tù anh đọc lướt qua thấy không giống chuyện mình, bỏ tờ báo nằm nhắm mắt rồi cũng ngủ thiếp đi được một lúc. Chợt có tiếng ồn ào như một đạo quân kéo đến, anh trở dậy mở cửa ngó ra thấy có chiếc ghe ghé cặp vào. Một đám con trai mình trần nhốn nháo cười nói chỉ chỏ chiếc ghe của Bằng:


“Ghe đẹp quá, nghe đồn lâu rồi giờ mới thấy...”.


“Như ghe rước dâu vậy. Đứa nào muốn cưới vợ không?”.


Một gã đầu đinh leo sang chống nạnh xem xét chỗ này chỗ nọ, chợt nhìn sững những hình xăm trên người Bằng:


“Ôi cha mẹ ơi! Coi nè tụi bây, tay tổ vua đại bàng đây!”.


Bằng nói:


“Thôi đi đi! Rùm beng quá! Phá làng phá xóm hả?”.


Đám con trai đang cơn vui tiếp tục cười nói:


“Hình xăm hả? Vua đại bàng hả? Cho tụi này coi chút đi”.


Chúng tiếp tục leo sang, một đứa nhìn lên nhà la lên:


“A, coi ai kìa? Phải người quen cũ kia không?”.


Thủy đang đứng trên nhà nhìn xuống. Đám con trai nhìn lên cười đưa tay vẫy. Cả bọn kéo thành hàng đi lên, chút sau nghe tiếng cười nói, tiếng chó sủa vọng xuống. Bằng vẫn ngồi yên dưới ghe, lâu lâu một đứa chạy xuống ghe lục lọi mang vác đồ ăn thức uống đem lên, tiếng cười nói lại tiếp tục, càng lúc càng rộn ràng vui vẻ. Bằng vào cabin đóng kín cửa tiếng cười nói vẫn dội vào, anh dụi tắt điếu thuốc mở cửa thong thả đi lên.


Đám con trai đang ngồi vây quanh Thủy, đồ ăn thức uống, bia lon, đồ hộp nước ngọt, nước trái cây đổ tràn vương vãi. Cả bọn chợt ngưng bặt quay nhìn lên Bằng.


“Thôi đủ rồi, đi đi”, Bằng nói, cố không lên giọng.


“Tụi này gặp người quen cũ, vui chơi chút thôi”, gã đầu đinh cười nói. “Tụi này quen nhau ở chợ Cà Mau, bạn bè chơi với nhau vui lắm, có lần bán hết ghe củi để chơi...”.


“Ờ thì vui, nhưng đi chỗ khác chơi. Hay muốn tắm sông?”.


“Thôi để tụi này đi”, gã đầu đinh thôi cười. “Đi thôi tụi bây! Chào em gái! Nhớ hồi ở chợ Cà Mau vui quá, bữa nào kiếm ghe củi chơi một phen nữa. Chào ông anh!”.


Nhanh chóng như lúc lên, cả bọn ào xuống ghe nổ máy chạy đi. Thủy ngồi lại bên mâm đồ ăn thức uống vương vãi. Bằng cười khẽ nói:


“Chơi bời như thế hả?”.


“Mấy thằng bạn quen cũ... Em cũng không nhớ...”.


“Sao nhớ hết được! Sao không đi với chúng? Chán chê rồi chớ gì?”.


“Anh đừng nói giọng ấy. Thật tình em không nhớ chúng là ai, nhưng đuổi chúng làm sao? Thôi anh xuống ghe đi, em dọn dẹp chút có ghe đi ngang em quá giang đi liền. Em làm phiền gì anh?”.


Bằng xuống ghe ăn phần cơm nguội còn dư. Con chó vẫn không chịu xuốn. Anh uống trà, trời tối giăng mùng ngủ liền một giấc dài, giữa khuya thức dậy nghe tiếng Thủy bên ngoài, cạnh cửa cabin:


“Em ngồi đây đợi ghe quá giang. Anh nằm trong đó đi. Em định ghé nói anh chuyện này, nhưng anh làm dữ quá em chưa kịp nói. Chuyện người trưởng công an. Mọi người biết chuyện hết rồi, bà mập cũng biết, nói sẽ tố cáo cho anh chết luôn. Em nói chết cái gì, người ta mướn anh chở đi anh biết gì đâu. Bà mập nói em binh anh đuổi em đi. Đi thì đi, em cũng chán rồi, không ra chợ Cà Mau nữa đâu, theo con bạn bán hàng trên sông còn hơn. Em đi tìm con bạn ngang qua thấy nhà anh, nghĩ bụng ghé báo chuyện người trưởng công an cho anh biết...”.


Bằng ngủ thiếp đi, sáng ra Thủy đã đi mất.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Cơn giông. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Rút từ Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 05.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 05.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
xem thêm »