tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24366321
Tiểu thuyết
30.12.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

Cha cô được tin bà Quận bất thần tới thăm cũng hết hồn, hối vợ trải chiếu hoa và pha trà. Vợ Nồng ung dung thưa:


Thưa hai bác, cháu là vợ anh Nồng. Nghe nói, trên đường công tác ảnh hay ghé đây và được hai bác cũng như cô Ba nhà này chăm sóc ân cần như con rể trong nhà. Cháu rất biết ơn. Nếu được, hai bác cho cháu xin cô Ba về cùng cháu cho có chị em.


Khỏi nói ai cũng biết, hai ông bà hốt hoảng chối bai bải, nói không hề hay tự sự và hứa nếu quả con gái họ có ý tình gì thì sẽ xử trị nghiêm minh theo gia pháp. Và tức thời thì dẹp ngay quán nước.


Chủ nhà còn khen vợ Nồng về cái thân thể nở nang của nàng thì nàng khóc, nức nở tố khổ cái bệnh háu ăn bất trị của mình:


Bác ạ, cháu biết ăn nhiều thì hình dung nó nhất định sẽ ra cớ sự này, chồng nào thấy mà không chán. Nhưng không ăn thì cái đói ở đâu tới, nó hành hạ cháu quay quắt, không sao chịu nổi.


Bây giờ tới lượt chủ nhà đâm ra thương hại khách. Thấy Hoạn Thư ăn nói phải phép dịu dàng, đúng là con gái Huế, khác với cái bề ngoài cao lớn đẫy đà của nàng. May sao, ông cũng là thầy thuốc Nam, từng đỗ Rime. Ông thông cảm với người đàn bà có chồng hảo ngọt, lựa lời khôn ngoan an ủi:


Không sao đâu cô. Cô đừng nghe người ta bày bậy mà uống dấm có hại cho sức khỏe sau này. Cô nghe tôi, kêu người nhà đi chợ mua sẵn rau sống chuối cây thật nhiều. Mỗi khi thấy đói, cô tộn vào bụng. Thứ này chỉ toàn xenluylo, không một chút bổ béo gì. Ngoài ra, hai bữa cơm thường, cô cứ giữ vài chén làm chuẩn, kiên trì chừng một tháng là thấy kết quả.


Ai dè cái chuyện bày bậy thế mà hiệu nghiệm. Ít lâu sau, người ta thấy vợ chồng Nồng sánh bước ngoài đường xứng đôi vừa lứa lắm. Còn cô Ba thì về làm dâu ngoài Huế. Riêng chàng, chàng bất ngờ được cái bài học nhịn ăn để tự làm sút cân, nhằm tránh được nạn bắt lính vào sĩ quan Thủ Đức hai năm sau (1960).


Rồi ngày tháng qua đi, xuân thu hải hà. Từ tháng giêng cỏ non vãn cảnh Thiên Ấn, nay khí hậu của dải đất nằm dưới chân Trường Sơn đã vào mùa mưa bão. Tháng Mười của quê hương miền Trung yêu mến, miên man bất tận, tháng Mười của những đêm bất ngờ tạnh ráo, trăng sáng vằng vặc, tiếng gió gõ cửa đánh thức chàng nửa khuya trở giấc. Chàng rón rén nhẹ bước chân như con mèo, sợ vợ tỉnh ngủ, mở cửa nhìn ra đường. Nhà chàng sát con Quốc lộ I, không một bóng người, lại một gã gió tinh quái chạy ngang qua, đuổi lăng tăng những chiếc lá vàng. Châm một điếu thuốc, chàng thơ thẩn la cà trong cơn gió mây thu muộn, lẩm nhẩm bắt chước Alfred de Musset (Nuit de mais), sáng tác một bài thơ:


ĐÊM THÁNG MƯỜI


Một đêm tháng Mười, heo may hiu hắt


Trời cao xa vời, mây trắng mênh mang


Ta đi trên đường, đường đầy xác lá


Tiếng chân khô giòn, này những bước chân hoang


 


Không gian cúi đầu, bóng đêm tòng phạm


Ngơ ngẩn nhìn ta, hàng cây bên đàng


Lửa thuốc cháy môi, mà sao chẳng ấm?


Vì thu qua rồi, hơi đông đã sang!


 


Nhà ta bên đường, tranh tre mái cỏ


Những đêm tháng mười, gió chạy lang thang


Nhớ thuở hai mươi, ta viết bài thơ nhỏ


Mà bao lâu rồi vẫn còn dở dang


 


Tháng mười đêm nay trăng soi hờ hững


Tin gì ngày mai cho tươi thắm mộng vàng?


Nàng thơ hỏi lũ dã tràng se cát


Chúng hiểu gì không về những bước thời gian?


Trở vào với vợ, nhìn cái bầu đã gần ngày sinh của nàng, vô lý thay, chàng tự thương mình và thương cho Hướng Dương biết bao. Hồi đó chưa có siêu âm trước để biết sẽ có con trai hay con gái như ngày nay. Rồi cũng đến ngày vợ chàng lâm bồn. Mẹ chàng sinh nở cả thảy mười một lần, nhưng nuôi dạy lớn lên chỉ toàn trai, không một mụn gái nào và ngày ấy đã có chín cháu nội trai.


Vậy mà lần này, ôm thằng bé đỏ hỏn trong tay, bà vẫn mừng rỡ:  


     – Quí quá, cũng là phước đức ông bà đây. Và anh nó là thằng Cu thì tên nó phải là thằng Cu em, giản dị vậy thôi. Nội nói: – Tuổi Hợi nằm đợi mà ăn, thằng này về sau sẽ an nhàn.


Đầu tháng Mười một âm lịch ở quê chàng trời đã hết mưa, nhà nào có sân cũng mang một ít đất ngoài ruộng về úm từng đống nhỏ bằng chiếc nón lá mà gieo hạt cải vào. Đặc biệt, ai cũng trồng vài chục cây vạn thọ. Năm ấy, chàng có người học trò cũ học đệ tứ, ba năm về trước may thi đỗ vào Y khoa. Cha anh ta, một nhà nho không hiểu sao nhất định khăng khăng cho rằng đấy là công lao của chàng bèn mang tới cho một cây mai vàng cổ thụ trồng trong chiếc chậu sứ, gốc to đã bằng cổ tay. Nó làm chàng nhớ đến cây mai đã được ông ngoại trồng trước sân nhà ở quê Thi Phổ. Cây mai đó đã chết năm Ất Dậu trong cơn bão lớn thổi qua miền Trung và đến năm Thìn thì cha chàng lâm chung. Giống cha, chàng chuộng cái hình nét của cành nhánh, hơn là bông hoa gầy hay béo, theo như bài Vịnh mai mà cha thường ngâm mỗi sáng sớm xuân sang, đi đi lại lại giữa làn sương mỏng còn lan tỏa như một đạo sĩ thời xưa:


Bất ái hoàng hoa, chỉ ái chi


Khởi tri mai sấu dữ mai phì


Dịch:


Chỉ thích hoa vàng, chỉ thích cây


Biết đâu mai béo với mai gầy


Tất nhiên chàng quí cây mai này lắm. Để kỷ niệm sự xuất hiện của nó, cùng lúc ra đời của đứa con thứ hai, chàng đặt tên thằng bé: Hoàng Hoa. Những đóa mai vàng bên cạnh hoa cải vàng và những đóa vạn thọ vàng, cuộc đời rồi sẽ mãi mãi rực rỡ vậy chăng? Dù sao, mỗi chiều đi dạy học, lia chiếc xe đạp bên hè là chàng đến bên nó. Có hôm, chàng thì thầm với nó mà thành lời thơ:


Đầu xuân, ta có cội mai vàng nở đẹp


Báo tin vui thời khương thạnh nhà ta


Con cái thêm đông, bạn bè tứ xứ


Ngàn dặm mây trời, khánh chúc lời hoa.


Tiết giảm nhu cầu, nuôi hồn tĩnh lặng


Là điều ước mong từ thuở ông cha


Ta vẫn nhớ, Tổ đức xưa từng dạy:


Đừng cầu cái gì ngoài bản thân ta…


Nhưng có người còn mê cây mai của chàng hơn cả chủ nó: ông Tự hớt tóc mướn ở bên kia đường cái. Ông lớn hơn chàng dăm tuổi, chỉ biết đọc biết viết nhưng có khi ông bỏ cả công việc sang sân nhà chàng hàng giờ nhìn ngắm nó, vuốt ve từng chiếc lá, tóm bắt từng chú sâu nhỏ. Ông kiếm đâu được chút lông gà, chút phân heo cũng mang đến cho nó. Say sưa, ông như quên lãng đời sống đang réo gọi, nồi cơm của mấy đứa con, tấm áo của chúng. Có khi khách phải hết hơi kêu la ông mới trở về với thực tại mà cầm chiếc tông–đơ uể oải cành cạch đi những đường tóc lắm khi xéo xiên. Không ai chia sẻ với ông sự lặng thinh thưởng thức sự vật, nhưng chàng thì chàng hiểu: không cần phải đọc hết năm xe sách đông tây kim cổ, không cần phải làm thơ vẽ tranh, viết nhạc và ồn ào giới thiệu mới là nghệ sĩ. Ông giống anh xã Thọ nghiện hột me của chàng hồi nhỏ, quơ con dao lên đẹp lạ thường mà đâm vào cổ một con heo, sáng tinh mơ ngày nhà có đám cưới anh Cả.


– Phải đem cái đẹp cho đích thực kẻ nào thờ phụng nó - Chàng nghĩ.


Một hôm gần Tết, nhà nào cũng cố mua cho nhà mình một nhành mai thì chàng coi chừng trời đã về chiều, ông Tự sắp dọn đồ. Kêu sẵn một chiếc xích lô và trả tiền cho anh phu xe, chàng bảo ông Tự chở cây mai về nhà mình.


Ông rất ngạc nhiên không chịu:


Tui là thằng dốt nát, biết gì bông huê?


Chàng cương quyết:


Anh xứng đáng hơn tôi mà làm chủ cây mai này. Đừng thắc mắc. Nhưng anh cũng nên nhớ là phải tập trung làm việc mà kiếm tiền lo Tết cho lũ nhỏ nhé. Săn sóc cây mai đi, bao giờ ngán rồi thì cho lại tôi.


Ông đành đem cây mai về, cưng nó lắm, trưng Tết ngay trước bàn thờ ông bà, mỗi lần ông cúng kiếng nó cũng được vái lạy cẩn thận.


Vậy mà theo như người ta kể lại, sau ngày Nguyên tiêu, ông bê nó ra sân trùm chiếc áo choàng hớt tóc lên trên rồi bật diêm đốt. Hàng xóm đều cho là nhà ông có máu điên. Ít lâu sau ông bỏ nhà đi đâu mất. Năm 1969, chàng đã đổi vùng vô Nam, có lần về Sa Đéc vận động phong trào phát hiện ra ông ở thị xã, có tiệm hớt tóc đàng hoàng với một người vợ Sài Gòn rất trẻ và đã có một đứa con. Chàng lánh mặt đi và nghĩ rằng Thượng đế thật nhiệm màu, ta không nên hoài công tra tìm những an bài bất khả tri nhỏ nhất thầm lặng và huyền nhiệm của ngài.


Đó là bài học về sự khiêm nhường mà Lão Tử dạy Khổng Tử khi tiễn ông này ra cửa sau một cuộc viếng thăm ngắn ngủi của người trẻ tuổi hơn: Ngươi hãy bỏ cái dâm chí và cái kiêu khí của ngươi đi. Chớ tưởng ngươi có thể biết được tất cả và ham hố thay trời an bài, xếp đặt mọi thứ trong cái xã hội tam cương ngũ thường theo ý ngươi.


Sau năm năm diệt xong hết các giáo phái và các nhóm Quốc dân đảng, Đại Việt chống đối, phe ông Diệm gắt gao củng cố hàng ngũ. Một làn sóng vừa sợ hãi vừa chống đối ngấm ngầm dâng lên trong hàng ngũ trí thức, giáo chức tỉnh lẻ, trong số có một thư ký kế toán người Nghệ An tên Cường. Ông này một mắt, biệt danh là độc nhãn long, vai vế rất nhỏ, nhưng khẳng khái, luôn cự cãi, nên được mọi người về phe.


Những người bị áp bức trên toàn thế giới hãy đoàn kết lại!. Chàng đã học Tuyên ngôn Quốc tế Cộng sản từ 1953 ở chiến khu. Không biết trong cái thế giới nhỏ bé của trường Trần Quốc Tuấn nơi tỉnh lẻ này chàng bị áp bức nổi gì so với hàng ngàn nông dân bị lùa vào ấp chiến lược, nhưng không hiểu sao chàng ghét cay ghét đắng cái chế độ ông Diệm.


Thật đáng kiếp, dạo đó chàng bệnh hoạn liên miên. Nghỉ hè, chàng mở một lớp dạy kèm toán cho người bạn nối khố Lê Vàng cùng tuổi, chú Út em ruột và một người bà con, một nhân vật sau này sẽ rất nổi tiếng: Hồ Anh Triết. Cả ba cùng thi trung học và đều đậu. Vàng vào Sài Gòn tiếp tục học tú tài, chú Út thi Sư phạm Long An và Triết đang làm công an, có thêm bằng được xếp ngạch phó thẩm sát viên. Định mệnh đã chỉ ra cho họ mỗi người một con đường.


Chàng uống hàng trăm thang thuốc Bắc nơi một lương y nổi tiếng khắp vùng: ông giáo Tám. Ông có cô con gái nhỏ thi vào năm đầu Trung học đến nhờ chàng tìm cách giúp đỡ. Chàng cố lục quyển thi đã cắt phách xem điểm thì bị ông hiệu trưởng bắt được nhưng may thay, cô gái đủ sức để đỗ. Ông nhà nho đáng tuổi cha mẹ chàng đích thân mang đến biếu chàng một mủng đường và cả mười ngàn đồng bạc, hồi đó là số tiền lớn. Chàng đặt gói tiền lại vào chiếc khay và vòng tay thưa:


– Thưa bác, cháu xem bác như bậc cha mẹ, thì cô Thanh cũng như em cháu vậy. Nhưng kỳ thực là cô ấy dư sức đậu, cháu khỏi phải xin xỏ gì ai. Ông nội cháu, cả đời làm việc nghĩa, tự phá kỳ gia sản chẩn tế người nghèo, được vua phong tước Đăng sĩ tá lang thì lẽ nào cháu dám lấy bất cứ cái gì của ai. Cha cháu thường đọc Phú Xích Bích của Tô Đông Pha cho cháu nghe: Phi ngô chi sở hữu, tuy nhất hào nhi mạc thủ mà ông dịch nôm na: Của mình không có thì thôi, có bao nhiêu nữa cũng coi bằng thừa. Cháu mà nhận tiền của bác thì tội nghiệp cho ông cha cháu lắm. Xin bác thông cảm cho.


Ôn già đành cười, cất gói tiền lại vào bọc:


Té ra thầy cũng nhớ cổ văn Tàu dữ đa!


Từ đó hai bên, một già một trẻ lại thành bạn trong vong niên với nhau. Chị cô Thanh đã ngoài hai mươi, thùy mị, ở nhà phụ ông hốt thuốc Bắc, cũng võ vẽ học chữ Nho và húy hoáy lên toa được chàng xin về làm em dâu, vợ chú Út, ông cụ bằng lòng ngay, nói:


Tôi rất trọng thầy. Thầy bảo sao tôi nghe vậy.


Chú Út đã xong Sư phạm, được bổ đi dạy ở Phú Yên. Đám cưới linh đình hơn hồi đám cưới của chàng nhiều, nhưng chàng vẫn ân hận cho tới già là không kịp làm cho chú một chiếc đèn kéo quân như chàng vẫn hẹn lòng. Ôi, có những việc nhỏ biết bao, trong tầm tay biết bao, nhưng ta vẫn không làm được, để mối ăn năn dài suốt cả đời người.


Chú Út được mẹ cầm ruộng mẫu ba mua cho chiếc xe Vespa và dẫn vợ theo vào nhiệm sở.


Bấy giờ Tỉnh trưởng Tất ra lệnh cho Công an bắt tất cả những người tình nghi, gồm: những người Cộng sản và những người Quốc gia chống Diệm. Nhà lao Quảng Ngãi trở thành nơi hội ngộ chật hẹp và hôi thối của một số thân tộc nhà chàng mà chánh kiến hoàn toàn trái ngược nhau: bác xã Đệ đang hoạt động Cộng sản và anh Khuê, con bác chánh tổng Trần, cha và chú anh đều chết trong khởi nghĩa, anh thù ghét Việt minh nhưng đang chống Diệm trong hàng ngũ Quốc dân đảng.


Một ông bác, một ông anh, bác Xã và anh Khuê đều rách rưới màu bà ba đen, cơm tù gạo hẩm cá khô và cùng chịu roi vọt, nên tuy không cùng giới tuyến họ sớm nhận ra nhau có chung một giọt máu đào, cùng chia quà thăm nuôi của chàng: bộ quần áo, đôi dép râu, lon thịt mặn…


Bác Xã đỗ Tiểu học Pháp Việt, nổi tiếng là bậc thông minh nhưng có dính dáng đến phong trào Cộng sản năm 1930 ở Quảng Ngãi nên không chạy được cái chân giáo làng, đành ở nhà làm ruộng. Lần nọ, một người khá giả trong xóm có đứa con một bị tiêu chảy, chữa mãi không khỏi. Người ta nhờ bác cho thuốc.


Bác vào nhà, giật một tờ giấy trong quyển tập của con gái, xé làm tư, rồi dùng bút lông chấm mực đỏ, ngoằn ngoèo vẽ lên mỗi mảnh ba bốn hình thù kì quái, tựa như những con thú bốn chân, đưa cho người này: Mang về, đừng cho cháu ăn gì hết ngoài cháo trắng. Mỗi ngày đốt một miếng giấy nhỏ này hòa trong nước lã, cháu uống là hết ngay.


Quả nhiên, bùa của ông hiệu nghiệm như thần. Người nhà giàu đem tạ ông cặp gà và mấy cân nếp. Vợ ông thắc mắc:


Hồi giờ tôi không thấy thầy nó học pháp thuật gì mà đang không lại tự dưng giỏi thế?


Bác tinh nghịch đáp:


Thì bà tính, mỗi ngày tôi cho uống hình của bốn con chó vào ruột, thằng bé có bao nhiêu phẩn, lũ chó của tôi chúng ăn hết, lấy gì ỉa ra nữa, mà không hết bịnh?


Ai cũng phục cái óc hài hước của ông. Nó vui vẻ làm cho đời sống bùn lầy ở cái xứ Quảng tối tăm này dễ chịu hơn và vô hại, có khi còn hữu ích nữa. Nào ai biết là ông rất rõ người nhà giàu nọ có đứa con một, cưng chiều mớm cho đủ thứ bổ béo, chỉ cần cháo hoa với muối vài ba hôm là khỏi.


Còn anh Khuê, anh không quên được cái chết thảm khốc của cha. Cả hai cùng bị hành hạ, cộng với chút tình máu mủ, bác Xã đã quên đi lằn sông Bến Hải mà đỡ đần anh Khuê, người cháu họ xa không nhỏ hơn mình mấy tuổi. Thằng Bích, con trai cả của anh ở nhà chàng đi học. Sau Tết, vợ chàng còn nấn ná trong quê với mẹ, chàng và Bích hai chú cháu phải tự nấu ăn lấy mấy ngày.


Gió nồm thổi ngọt, cho kìn kịt trên vai những gánh cá biển tươi rói về chợ tỉnh. Bích đi mua mấy con cá nục, hai chú cháu cùng lui cui làm cơm, kho cá trong cái om đất nhỏ. Chú thì ăn mặn, thỉnh thoảng lại thêm mắm vào, cháu thích cay, cứ mãi bỏ ớt vô. Kết quả của công trình tập thể này là khi ngồi vào bàn chú và cháu hai nhân vật đối diện nhau vừa và cơm vừa nước mắt nước mũi chảy ròng ròng.


Ba lăm năm sau cháu đi diện HO sang Mỹ, vào Sài Gòn thăm chú, ngồi cùng ăn cơm kể chuyện cũ vừa cười lại cũng ra nước mắt. Chú ngoài lục tuần, tóc vẫn xanh đen làm cán bộ có xe đưa rước, bồ bịch lăng nhăng, răng rụng má hóp như ông lão bảy mươi, vì từng là giáo chức bị động viên sĩ quan phải tù cải tạo sáu năm mới về, cật lực cày sâu cuốc bẫm mấy sào vườn bên vợ cho vẫn không ngăn được nỗi đói rét của mấy đứa con gầy rộc. Được vé máy bay, cháu hộ tống một gánh thê nhi vào Sài Gòn để sang Cali, mừng rỡ như sắp được vào nước Chúa Thiên đàng. Chúc cháu may mắn và hằng bằng an, nhớ mãi những ngày ớt cay mắm mặn thuở nào.


Anh Sáu, nhà lý thuyết gia chống Cộng vẫn tôn thờ thần tượng Nhất Linh của mình, vẫn những chuyến đi Sài Gòn hay Nha Trang chấm thi vào dịp hè, rồi lẻn lên Đà Lạt, vẫn bí mật mà không giấu được ai, viết những tài liệu về Tam dân Chủ nghĩa, Ngũ quyền Hiến pháp, chống lại nền độc tài của họ Ngô. Đảng của anh in lại bằng thạch bản mà truyền tay nhau xem, nói là của Trung ương Việt quốc gửi về, nhưng chàng nhìn đi nhìn lại thì thấy chẳng có mấy người ngoài thầy Trần Hoàng, tú tài Triết học, người Dung Quất, da ngăm đen, miệng nói khít rịt và có giọng khôi hài vừa tế nhị vừa như thâm thâm, khiến người nghe rất thích, nhất là khi giễu cợt về đám chân tay cao thấp của ông Diệm.


Còn Phạm Viết Tùng thì như ta đã biết, chỉ đỗ trung học nhưng dưới mắt chàng là tay đại thông minh, dù ăn nói lắp bắp vụng về tới nỗi không làm xong cái nhiệm vụ lèo lái cái gánh gia đình ít ỏi của mình, chớ đừng nói tới tổ dân phổ. Còn anh Sáu của chàng, nóng tính, tốt bụng xông vào việc nghĩa một cách sỗ sàng và thẳng thừng, điều dễ làm kẻ khác chạnh lòng tự ái. Đã tự cho mình cái thiên chức phải noi gương Nguyễn Thái Học Không thành công cũng thành nhân, anh trương hai lá phổi chẳng mấy mạnh khỏe của mình ra mà bán cháo, để gom tiền thăm nuôi đông đảo các đồng chí đang bị Diệm bắt. Anh khóc mỗi lần có ai đó nhắc đến cái chết của cha hay khi lên thăm bác xã Đệ và anh Khuê. Và anh cũng làm thơ nữa, những bài thơ về những kỷ niệm êm ả thời bé anh được sống gần ông ngoại, bấy giờ đã về hưu mà học trò của ông có những vị tiến sĩ, cử nhân đang làm tổng đốc, tuần vũ lâu lâu ghé thăm thầy, những bài thơ về những lần sang bên kia con sông Cầu Đập nhỏ bé thăm bà dì, được dì cưng, cho những con gà ri mới nở, lông trắng nuốt như một dúm bây bạc thuở ấu thơ.


Nhưng anh Sáu nặng gia đình. Một chí sĩ như anh lẽ ra không vợ con, nhưng đã chẳng không độc thân, anh còn rất nhiều con nữa, những mười ba đứa. Sau những giờ mệt lử người vì dạy học, anh bí mật tụ họp anh em bàn việc chính trị, nào Diệm độc tài, gia đình trị thế này, Mỹ nó dân chủ và áp lực thế kia, sớm muộn gì Diệm cũng đổ. Anh nặn óc viết những đề cương Tuyên huấn cho Đảng Bộ? Rồi in thạch bản mấy chục bản, lén lút phát hành. Buổi tối về nhà, vừa chấm bài siêng năng, anh chiu chít những đứa con trên tay.


Bên vợ anh chiếm một vai trò rất quan trọng trong đời sống của anh. Chính vì vậy, anh Bảy thường phê bình anh nhu cảm. Bố vợ anh từ nhỏ vào Quảng Ngãi làm thợ bạc và cưới con gái bà chủ. Về sau chính ông làm chủ cái cửa hàng vàng lớn nhất ở thị xã nhỏ bé này. Hồi Việt minh (1945–1954), ông bị xem là địa chủ phú hào nên khi ông Diệm về, ông mê tín và thực sự hân hạnh xem người đồng hương có nguồn gốc quan lại cao sang này là bậc cứu tinh. Lẽ dĩ nhiên ông hết mình tham gia vào cái phong trào Cách mạng Quốc gia của lãnh tụ Ngô Đình Nhu dù với một địa vị rất khiêm nhường nơi khu phố.


Còn gì thú vị hơn khi đã có sẵn một cửa hàng ở con đường lớn Lê Trung Đình, mang tên một danh nhân Quảng Ngãi, con đường chạy vào Cổ Thành qua một chiếc hào sâu quanh năm nước đen sì, mùa nắng có hoa súng nở. Hàng vàng của ông, với những tủ lớn tủ nhỏ bóng loáng, bên trong trưng bày nào hoa tai, cà rá, vòng xuyến sáng chói, với đám khách hàng áo quần tươm tất, thơm tho, túi đầy tiền. Ông an tâm cùng bạn bè đánh tổ tôm và tôn sùng Ngô tổng thống. Anh Sáu chống ông Diệm nhưng sợ đụng phải nhạc phụ, nên khi về thăm nhà vợ, chỉ cách mấy trăm thước anh lại càng giữ gìn hơn. Phải kín đáo trong hoạt động, theo anh mới là thực sự cách mạng. Anh có người bạn rất thân là anh Tảng, cùng học Sư phạm, cùng ra đi dạy, đặc biệt cùng ăn cơm Diệm mà ghét cay ghét đắng Diệm. Tảng ở gần nhà bố vợ anh Sáu, có cái máy nước đá nhỏ để kiếm thêm thu nhập. Nước thải nhà Tảng chảy ra phía bếp nhà bố vợ anh Sáu, thế là hai gia đình đấu khẩu nhau liên tu bất tận. Và anh Sáu ngầm bênh nhà vợ, một mảng băng giá vô hình ngăn cách hai người.


Từ ngày có dòng nước thải nhỉ qua biên giới hai nhà, dòng nước màu sẫm, yếu ớt đó trong trí tưởng các thành viên bên vợ anh Sáu đã biến thành sông Bến Hải. Nhưng anh Tảng biết làm ăn, luôn có tiền. Nhà chàng thì luôn túng thiếu nên thỉnh thoảng chàng phải giấu anh Sáu sang Tảng mượn tạm dăm ba ngàn, và lúc nào anh cũng sẵn sàng, không lấy lãi.


Dĩ nhiên, từ hai anh, chàng cũng phải thường đau đến gióng cả hai lỗ tai lên để nghe những lời không tốt đẹp về nhau. Và lúc nào chàng cũng lặng thinh, cùng lắm là ừ à cho qua chuyện:


Cái thằng Tảng nó keo kiệt dữ lắm, bóc lột công nhân, làm cả mười tiếng đồng hồ mà lương chết đói, vợ nó sang mua vàng ở nhà hàng đối diện với Lợi Long và cho vay cắt cổ. Đúng là thứ tư sản bóc lột, kẻ thù của cách mạng.


Nghe anh nói như thế, kẻ mới gặp có thể nghĩ anh là một chiến sĩ quốc tế Cộng sản mà sách vở về Chủ nghĩa Lênin anh đã đọc một cách sớm sủa, cả bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp từ những năm đầu bốn mươi.


Còn anh Tảng? Hãy nghe anh bình luận về cái người bạn hồi còn học Sư phạm Huế cùng tắm sông Hương, cùng thầy Võ Nguyên Giáp mà họ luôn thán phục, cùng du ngoạn lăng tẩm, cùng đá banh, cùng bơi xuồng Vĩ Dạ những gần hai chục năm trước:


Ôi, cái thằng Diễn, nói tới nó làm gì. Nó coi cái gia đình bên vợ bằng trời mà đòi đi làm Quần dài đen. Ông Nhất Linh, lãnh tụ của nó viết văn thì hay thiệt, tao mê Đoạn tuyệt, Bướm trắng từ hồi còn nhỏ. Thiên tài đó. Nhưng thờ ổng làm minh chủ chống Ngô Đình Diệm thì tao chẳng chịu chút nào. Nó kêu tao vô, tao từ chối, chỉ góp chút tiền ủng hộ, nên nó ghét tao lắm.


May mà Thượng đế hào phóng đã cho con người của chúng ta cái khả năng khinh bạc coi như nơ pa mọi thứ. Bằng không, ai cũng có thể bị tâm thần hết, vì phải luôn chất chứa trong mình bao điều mắt thấy tai nghe bất toại.


Cuối năm Canh tý (1960), Ngô Tổng thống mừng thọ lục tuần, khắp nơi treo đèn kết hoa. Một buổi chiều chàng vừa về Thi Phổ thăm anh Cả, ngồi thảnh thơi trên nền đất cỏ của chiếc điếm canh hoang phế trước nhà. Mùa thu ở quê chàng đẹp làm sao, những đám ruộng lúa lên xanh mượt và đỉnh núi Dàng thiêng liêng của tình yêu ngày thơ ấu vẫn quấn một mảnh khăn tang. Heo may thổi nhẹ đùa với ánh nắng vàng yếu ớt trên đầu cây ngọn cỏ. Ôi! Sao mà nhung nhớ, tất cả vọng về từ một quá khứ êm đềm, tiếng ngâm thơ nửa khuya của cha, giọng cười như nắc nẻ của lũ bạn trong những kỳ dạy hè của anh Sáu, cành khế già và đôi mắt sáng tinh anh như cả một vùng trời mơ ước của nàng Nhụy mười ba trăng mới nở. Oh, Treize ans Juliette de Rome’o, tất cả đã ra đi và không bao giờ trở lại:


Lòng riêng hoài niệm ngàn xưa


Tuyết hoa năm cũ bây giờ là đâu!


Chàng thừ người trên bãi cỏ, đến nỗi anh Cả phải ra kêu và hối chàng về thị xã kẻo tối. Lại gò mình trên chiếc xe đạp cũ, ra đến nhà thì đà chạng vạng. Viên, một cán bộ hành chánh phù động trạc tuổi chàng, đỗ Rime thời Pháp, nổi tiếng ăn mặc chải chuốt, đệ tử ruột của anh Sáu, nghĩa là cũng Quốc dân đảng nhảy bổ ra ôm lấy chàng:


Ông có nghe gì không?


Không kịp chờ chàng có phản ứng gì, Viên reo lên:


– Sài Gòn có đảo chính, Đài Phát thanh loan tin từ chiều. Tui tới đây, mở nho nhỏ radio của ông nghe. Sướng quá, chờ ông về.


Tôi không dám qua nhà ông Diễn. Ông vô nghe một chút cho đã tai, rồi lên trển thăm dò xem sao. Nhớ đi qua, đừng liếc mắt vô cổng, coi động tĩnh ra sao, rồi về nói dùm tui, tui ở đây chờ nghen.


Không hiểu tại sao, khi được tin có kẻ lật Diệm, chàng chan chứa niềm vui: Sau một đoạn Quân nhạc thì là lời tuyên bố của một nhóm sĩ quan nhảy dù do Nguyễn Chánh Thi cầm đầu, nói đã chiếm được các vị trí quan trọng ở Thủ đô (Sài Gòn), chỉ còn nhờ anh em Diệm - Nhu đầu hàng, với điều kiện Nhu phải ra đi.


Vâng lời Viên, chàng đạp xe lên đường Trần Hưng Đạo, ngang qua nhà thờ, nhìn vào con hẻm nhỏ, thấy cổng nhà anh Sáu đang đóng im ỉm. Chàng trở về nói lại với Viên. Viên thừ người suy nghĩ giây lát rồi bảo chàng:


Thôi, tôi phải về cho vợ con biết qua một cái, rồi sẽ ra tìm cách gặp anh em.


Y phóc lên chiếc xe đạp Lucifer thời thượng như một tay đua lành nghề và biến mất.


Suốt đêm đó, chàng ôm chiếc radio canh thức tới sáng chỉ để nghe ngần ấy tin tức, có thêm chăng là một cái Tuyên cáo ủng hộ đảo chánh của đám ông Phan Khắc Sửu, Phan Quang Đán, Trần Văn Hương, Hoàng Cơ Nghị, Nguyễn Thành Vinh, Phạm Đình Nghị… Trời hừng đông thì chàng mới thiếp đi.


Hóa ra những gì trọng đại nhất chỉ xảy ra trong lúc chúng ta ngủ quên. Lại Viên, đến lúc nào chẳng biết, vén mùng, vỗ vào mông chàng:


Dậy đi ông ơi, thua rồi - Nét mặt anh ta thất vọng, buồn thiu.


Chàng còn ngái ngủ: Sao vậy?


– Cóc khô, Nhu là cái thằng hút thuốc phiện lắm mưu sâu kế độc. Nó hứa hão với đám đại tá võ biền Thi, Đông là sẽ ra đi, trong khi đó nó ngầm liên lạc với Trần Thiện Khiêm từ miền Đông và Huỳnh Văn Cao từ Mỹ Tho kéo quân về, bắn tụi nhảy dù chạy tét đít phải hoảng loạn lên máy bay trốn sang Phnompenh rồi. Chúng còn hạ sát luôn Ngô Xuân Soạn. Hồi hôm, không nhờ cái chín chắn của anh Hoàng thì đám tụi này sáng nay lãnh đủ.


Chàng cũng tự cảm thấy buồn chán quá chừng. Thằng Võ, cháu vợ chàng, vừa đi học nhưng mới đến cổng trường đã quay lưng xách cặp về, chàng đưa mắt ra dáng hỏi, nó đáp:


– Dạ, ông hiệu trưởng nói hôm nay đặc biệt cho nghỉ.


Chàng vào rửa mặt, pha ấm trà ngon mang ra bàn viết, rót mời bạn. Đến đây, Viên mới có thì giờ kể lể:


– Tối hôm, cơm nước xong, tui phóng xe tới ông Sáu. Hóa ra phải có mật khẩu mới vô được. Ngoài bờ rào xe cộ dựng ngổn ngang, đến cửa giày dép bừa bãi cả đống, khói thuốc lá xông mù mịt, không khí im ắng, nét mặt người nào cũng quan trọng.


Bên trong, nào anh Hoàng, Tùng, Tế, Triết, Lê Nguyên Long, Lê Trung Nho, Nguyễn Mậu Ba, Phạm Hồng Thọ… đủ mặt văn võ bá quan. Chương trình làm việc: Thông báo cách canh phòng và lối đi bí mật giải tán nhanh khi có chuyện gấp, rồi mới báo cáo tình hình và chương trình hành động.


Về tình hình, anh Sáu Diễn nhận định: Kennedy chắc sẽ đắc cử là một thắng lợi cho những ai chống Diệm. Cuộc đảo chánh chắc chắn phải được Mỹ bật đèn xanh. Nhưng phe quân nhân Thi, Đông này ta chưa biết rõ thuộc cánh nào. Anh đề nghị cử người ngày đêm nay vào gặp ông Ba (bí danh của Nhất Linh trong QDĐ Chấn hưng).


Mọi người tán thành.


Về chương trình hành động: có hai ý kiến, một nhóm cho rằng phải ra ngay một tuyên ngôn hưởng ứng nhiệt liệt lực lượng đảo chánh, nhưng nhóm thứ hai, anh Hoàng đã chặn lại.


Anh nói: – Chẳng vội gì. Ngô Đình Nhu khôn lắm, biết đâu cái ông nghiện thuốc phiện nặng, từng tốt nghiệp École des charters Pháp, con người thâm hiểm thực sự cầm đầu triều đại nhà Ngô này, ông ta lại không có cách lật ngược thế cờ. Vậy thì, tôi nghĩ, anh Diễn cứ thảo sẵn hộ cho một bản Tuyên cáo của nhóm anh em ta, thêm cả tên anh Phạm Đình Nghị người đang ở Sài Gòn vào đấy, in thạch bản để sẵn nhưng xếp cất vào tủ để đó, đợi sáng mai coi tình thế ra sao, hãy hay.


Ý kiến của anh được anh em, nhất là đám có giắt thỏ đế trong người hoan nghênh nhiệt liệt. Và anh Sáu, sau khi ra lệnh cho gia nhân bắt mấy con gà nấu cháo khao quân đợi thời rồi lẳng lặng lui vào giường vợ với cây bút, mảnh giấy. Anh châm một điếu thuốc lá, điều ít khi tôi thấy anh làm. Tụi thằng Đình, thằng Giáp, thằng Nhượng… đứa thì nói cách mạng thành công phải mời anh Nghị về làm Tỉnh trưởng, đứa nhất định phải là anh Hoàng, đứa nói phải giao cái chức trưởng ty Công an cho thằng Triết, cãi nhau như mổ bò. Tội nghiệp luống cải trước nhà, chắc chịu một đêm nước đái của ngần ấy con người ta, e khó bề sống nổi – Chàng để ý Viên hay có lối nói khôi hài kiểu đó.


Gần sáng, bỗng nghe đài Sài Gòn trỗi bài ca ngợi Tổng thống: Ai bao năm từng lê bước nơi quê người… đứa nào cũng lạnh xương sống. Thằng Mậu Ba nổi tiếng hùng hổ, giờ mặt cắt không còn chút máu. Anh Hoàng ra hiệu giải tán. Hầu hết dắt xe tuông ngõ sau, theo hẻm vô trường Chánh Lộ về hết. Mấy con gà chết oan uổng không được chiếu cố.


Tui ở lại sau, cứ nghĩ tới đâu thì tới, Diệm có bắt thì cũng chẳng có đường trốn lên trời. Thôi thì sẵn rượu thịt hãy làm một chầu với ông Hoàng lỳ, Tùng gan và Diễn khó tánh một bữa. Là người rời nhà ông Sáu sau cùng, tôi chưa thấy có động tịnh gì về phía chánh quyền. Ngoài phố của cái tỉnh lẻ này, dân đang tụm năm tụm ba, thì thào bàn tán, chợ búa vẫn buôn bán bình thường.


Chàng cũng không biết lựa lời gì an ủi Viên, đành kêu một tô don nóng. Viên nói còn no, chàng ngậm ngùi bảo bạn:


– Thôi, ông cứ vô Quận làm việc như thường xem sao. Tôi nghĩ, tỉnh trưởng Tất chắc mừng thấy Ngô lãnh tụ của y đấu trí thắng đám đảo chánh, chắc mừng quá rồi, không còn khủng bố gì ai đâu.


Viên nghe lời, lại leo lên xe, lần này đạp yếu xìu, chiếc xe hiệu Lucifer.


Mà đúng vậy thật. Tỉnh trưởng Tất không cho bắt bớ một ai, ông còn báo cáo với ông Ngô Đình Nhu rằng vì cớ ông đã nắm được hết từ sĩ nông công thương, trí thức Quảng Ngãi. Xin ông Cố đừng lo.


Vậy mà rồi ông Cố cũng về cái dải đất nghèo Quảng Ngãi này, để coi tận mắt công trình xây dựng ấp chiến lược kiểu mẫu ở Quít Lâm. Đứng trên lô cốt cất dọc một hàng rào tre ba lớp thật chặt và kiên cố để ngăn Việt cộng xâm nhập tại một xã duyên hải đông nam Mộ Đức, quê của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bên cạnh bà cố vấn Trần Lệ Xuân đã gần tứ tuần nhưng nom trẻ đẹp như cô gái hai mươi, căng phồng trong bộ đồng phục Thanh niên Cộng hòa, ông Cố vấn đĩnh đạc giải thích:


Địch xây dựng chiến khu để đánh ta, thì ta cũng có chiến khu chống lại. Hàng rào ấp chiến lược này, với hệ thống thành lũy, chiến hào do nhân dân tự động (?) lập nên, phải được nâng thành Quốc sách ấp chiến lược. Ấp chiến lược là khu….


Nhu đang nói đến đây, bỗng phía đông nam từ rừng tràm Phổ An nghe có tiếng súng trường du kích vắt bụp vẳng lại mỗi lúc một gần, rồi đại bác liên thanh của một Sư đoàn lính Quốc gia đáp trả, gào lên ầm ầm, át cả tiếng nói của lãnh tụ.


Màn trình diễn của một tốp nữ Thanh niên Cộng hòa sau đó vẫn tiến hành để bảo vệ danh dự cho tỉnh trưởng, nhưng được rút ngắn. Các thính giả bất đắc dĩ hôm đó nhớ mãi cái chiến khu của ông Cố, trong số có người bạn cùng lớp của chàng là anh Cao Phụng. Anh chàng này học chuyên Toán, nhưng lại bét lớp về môn này mà lại giỏi Anh văn. Quốc gia tiếp thu tới, anh đi làm công cho phòng Thông tin Huê Kỳ tại thị xã. Mới gần đây, phòng bị giải tán, anh chạy được một chân công chức, nên kiểu ăn nói của anh còn khá bạo phổi:


Ông Cố chủ trương lập chiến khu, nhưng khu mà không có quần (chúng) thì sớm muộn gì khu cũng lạnh ngắt.


Rồi anh cười ha hả. Câu chuyện đến tai quan trên, anh chối phăng.


Một hôm chàng gặp anh Tùng, hỏi về cuộc đảo chánh. Anh vừa đưa tay gãi đầu, đã bạc hơn và gầu bay tứ tung. Anh cũng theo thói quen, lấy tay quẹt mũi:


Tối hôm đó, tao mặc cho thằng Hoàng và thằng Diễn đóng vai thiết triều. Tao biết tỏng đó chỉ là trò chơi cảm giác mạnh của tụi cao bồi Texas (ý anh chỉ các thứ chính quyền Mỹ), bao giờ cũng phải có lửa cháy, người chết mới vui. Thằng đại sứ Durbrow và thằng cớm chúa Lansdale lợi dụng ba đứa: Đỗ Mậu ghét Thiên chúa, Trần Kim Tuyết bất mãn và Hà Huy Liêm gàn, hù anh em Diệm chơi.


Chúng nó vừa trắc nghiệm xem trong lũ lính tẩy do Pháp để lại, đứa nào thật lòng trung thành hầu hạ bạo chúa Ngô triều, đứa nào rồi ra CIA có thể bỏ tiền, bỏ chức ra để mướn sai bảo. Chúng lại nhân đó tìm cách đánh bóng một số nhân sĩ trí thức, cho Sửu, Đán, Hương… được dịp chửi Diệm thỏa thuê, rồi để nguyên xi cả đám lại cho Diệm bắt, trả thù, đặng rửa nhục, đánh đập, hành hạ, chỉ trừ Hoàng Cơ Thụy may đâu có thằng cháu cho được cùng chạy sang Campuchia.


Chỉ tội nghiệp cho anh Nghị cả tin của quê mình, bao giờ cũng bị tụi nó phỉnh. Nghe nói ảnh cùng đám thằng Liệu, thằng Tương, Nguyễn Thành Vinh, Vĩnh Lợi… tưởng bở giành nhau ký tên vào Tuyên cáo hoan hô đảo chánh mà bị Diệm hốt hết vào Chí Hòa.


Cuộc đảo chánh 11-11-1963 của Thi, và sau này chàng mới biết thêm, phong trào Đồng Khởi- Bến Tre của bà Định nữa, đã làm Diệm- Nhu thấy cần phải động viên bắt thêm lính, đào tạo thêm sĩ quan. Thế là một sắc lệnh động viên những người trên 18 tuổi (sinh từ năm 1928 về sau) buộc tất cả ai có bằng Tú tài phần thứ nhất trở lên đều sẽ phải đi khám sức khỏe để đưa vào trường Võ bị Thủ Đức.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trả giá - Triệu Xuân 23.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »