tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29972464
Lý luận phê bình văn học
23.12.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (19)

NHÀ THƠ SỐ MỘT CỦA THƠ MỚI


 


Vương Trí Nhàn


 


Đi tìm một cách nói hợp lý


Xuân Diệu thường nói ông mang trong mình quê hương thống nhất. “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong” - cái lý của ông thật cụ thể.


Mượn cách nói ấy, khi xem xét sang lĩnh vực thơ, tôi cũng muốn nói rằng ông mang trong mình nền thơ thế kỷ Việt Nam thế kỷ XX.


Nửa đầu thế kỷ, thơ Việt có chuyển đổi về mặt cơ cấu, từ mô hình kiểu trung đại chuyển sang một mô hình hiện đại. Khi thơ như một cơ cấu đã ổn định, từ sau năm 1975, cái định rõ nhất là chuyển đổi chức năng để phục vụ xã hội. Trong cả hai cuộc vận động, người ta đều thấy Xuân Diệu là một trong những tên tuổi được nhắc nhở nhiều nhất.


Trong phạm vi thơ mới, ông không có những bài thơ coi là mở đầu như Phan Khôi. Ông không có những vai trò người khai phá đầy tài năng như Thế Lữ, không có những tác phẩm chín như Huy Cận. Song nói đến thời đại này là phải nói đến ông. Qua ông, thấy cả sự vận động của thơ mới.


Tuy cùng nằm trong khuôn khổ hiện đại hóa văn học, song những gì diễn ra trong thơ tiền chiến khác hẳn trong văn xuôi. Với văn xuôi, các nhà văn của ta bằng lòng là người học trò nhỏ của văn học Pháp. Thơ thì khác. Ban đầu người ta không chịu. Phạm Quỳnh từng kể, có những ông đồ tự hỏi: bên Tây cũng có thơ à?


Quan niệm như vậy, cho nên trong thực tế, đồ thị diễn tả vận động của mỗi thể loại cũng khác nhau. Ở văn xuôi mọi chuyện từ từ, không có đột biến. Thơ cũ, sau một hồi chống chọi, như là xảy ra tình trạng “vỡ trận”. Kết quả là có thơ mới náo động một thời.



Có thể tìm thấy bóng dáng cuộc vận động này trong bước đi của Xuân Diệu. Ông đến trong tư thế ào ạt khẳng định. Ban đầu thơ mới làm cho người ta ngỡ ngàng ư? Thì Xuân Diệu làm cho chúng ta ngỡ ngàng. Rồi cuối cùng chúng ta thấy thơ mới gần với ta ư? Thì Xuân Diệu được cả một thời say đắm.


Xuân Diệu là tất cả cái hay cái dở của thơ mới. Là sự cởi mở và tham vọng của con người đương thời. Là hào hứng đi ra với thế giới. Nhưng cũng là nông nổi, cạn cợt, là nhanh chóng chán chường và bế tắc.


Nếu cần nói gọn một câu về vai trò của Xuân Diệu trong thơ mới thì nên nói gì?


Hoài Thanh là người đầu tiên cho rằng “Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới”. Ở Sài Gòn năm 1967, trong tập Bảng lược đồ của văn học Việt Nam (Ba thế hệ của nền văn học mới), Thanh Lãng cũng viết một câu tương tự. Tôi vừa đọc lại hồ sơ cuộc hội thảo kỷ niệm mười năm nhà thơ Xuân Diệu qua đời. Cho đến nay công thức đó vẫn được nhiều người nhắc lại.


Có lẽ ý kiến đó hình thành một phần là do từ trước, Hàn Mặc Tử còn ít được đọc và được nghiên cứu. Còn ngày nay với sự phổ biến của Hàn Mặc Tử, thì theo tôi, vai trò người mới nhất của thơ mới thì phải thuộc về Hàn mới đúng.


Nhưng sao người ta vẫn thích trích dẫn cái câu của Hoài Thanh?


Tạm thời có thể diễn giải như thế này: Nếu từ góc độ khoa học của vấn đề, Hàn đã là người đi xa nhất, và do đó mới nhất. Còn nếu xem xét hiệu ứng của thơ trong đời sống thì những ấn tượng Xuân Diệu để lại trong lòng người không ao có thể bì kịp.


Thay cho công thức “gương mặt tiêu biểu” đã mòn, tôi muốn nói Xuân Diệu là hiện thân của thơ mới. Là nhà thơ số một không phải với nghĩa hay nhất, già trị nhất, đứng cao hơn hết…, mà là, nếu bây giờ chỉ cần gọi tên một nhà thơ trong thơ mới thôi, thì gần như tất cả sẽ gọi Xuân Diệu.


Giữa các phong cách của thơ mới, Xuân Diệu là một cái gì vừa phải, hợp lý,, ông vốn có cái dễ dàng để đến với đám đông trong văn chương cũng như trong cuộc đời. Thế Lữ hơi cổ. Trong thơ Thế Lữ người ta vẫn cảm thấy một cái gì hơi già, hơi cũ, mắt nhìn về cái mới chứ chân chưa đặt tới cái miền mới mẻ đó. Mong muốn kéo nhà thơ này đi tới nhưng con người ông không theo kịp. Lưu Trọng Lư cũng vậy, mà lại ngả sang mơ mộng xa xôi. Huy Cận chậm rãi khoan thai đậm chất văn hóa, và Huy Cận như già trước tuổi nữa.


Về độ chín của thơ, Xuân Diệu không bằng Huy Cận song sự trẻ trung làm cho Xuân Diệu có sự hấp dẫn hơn, phổ biến hơn nhiều.


Hàn Mặc Tử và Chế Lan Viên ăn nhiều ở sự hướng tượng, suy tư, độc đáo. Các ông có cái gì đó mà người bình thường khó với tới. Họ nhìn theo các ông mà ngại.


Xét về ảnh hường với các thế hệ sau, vai trò của Xuân Diệu cũng rất lớn. Như ở thế hệ những người sinh khoảng năm bốn mươi của thế kỷ trước, những Bằng Việt, Xuân Qùnh, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật. Nếu đặt ra một hàng những Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử thì trong sự khác nhau rất rõ, họ vẫn gần với Xuân Diệu hơn cả, số người nằm cùng một trục dọc với Xuân Diệu khá đông đảo.


Xuân Diệu như hoa hồng trong một vườn hoa loại nào cũng đẹp. Như một thứ cơm tẻ vừa với mọi người. Đi đến một tổng hợp khái quát nhất, Hoài Thanh ở cuối bài tổng luận về thơ mới bảo Xuân Diệu là “nhà thơ đại biểu đầy đủ nhất cho thời đại”.


Thêm một ít khía cạnh trong con người Âu hóa và mỹ cảm hiện đại.


Xuân Diệu trước hết đại biểu cho những con người tiếp xúc với văn hóa phương Tây ngay từ trong nhà trường, làm nên một thứ nhân tố mới hình thành trong xã hội. Nhiều người đã nói về điều này, mấy nghi nhận dưới đây chỉ là một ít khía cạnh nhỏ.


Ông làm con người của ham muốn say đắm muốn sống hết mình. Chỉ cần đọc một câu thơ: “Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh - Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi”, nghe hết cái sự nồng nàn của nó… người ta đã biết ngay nó không thể có ở nhà thơ cổ điển, nó phải thuộc về một nhà thơ hiện đại.


Mặc dù có những bài tuyệt cú, song Xuân Diệu thường vẫn để lại ấn tượng có chỗ sượng chưa chín, chưa đều tay. Ông là người rất có ý thức mà cũng là rất nhạy cảm khi bênh vực cho cái dang dở. So sánh ca dao Nam Trung Bộ và ca dao miền Bắc, ông nói ca dao miền Bắc quá trau chuốt quá, hoàn chỉnh, trong khi ca dao Nam Trung Bộ trần trụi thô mộc nên dễ gần. Có lần, nhận xét về một bài thơ, Xuân Diệu khi người ta cảm động quá, người ta có gì đó run rẩy lúng túng. Trong những trường hợp này, Xuân Diệu đã biện hộ cho mình. Chính ở cái vẻ vội vàng hấp tấp dở dang chưa thành này mà Xuân Diệu gần với con người đương thời.


Nhưng không chỉ có thế. Không chỉ có hồn nhiên tuổi trẻ, mà càng về sau, Xuân Diệu càng tỏ ra sống hết vứoi cái đã đầy của cuộc sống. Bài Hy Mã Lạp Sơn là một cách ướm thử sự việc lên cái thông thường, tự làm khác mình đi và đẩy suy nghĩ của mình tới cùng, tới cái tuyệt đối. Nhưng một lần tới rồi thì lộ ngay ra là không bao giờ nên trở lại nữa. Biết điều tội nghiệp run rẩy thiết tha, Xuân Diệu là chính mình hơn trong Lời kỹ nữ.


Sự khác nhau giữa thơ cũ và thơ mới bắt đầu từ sự đổi khác của tâm lý con người, của cách xúc động… và điều này đã được nhiều người như Lưu Trọng Lư, Hoài Thanh diễn tả sâu sắc. Mối quan hệ giữa lý trí và cảm xúc là một vấn đề lớn của con người hiện đại. Hồi năm 1961, nhân tuyển thơ mười lăm năm sau Cách mạng, Chế Lan Viên nói như một câu buột miệng: “Xuân Diệu cần hồn nhiên hơn và Tế Hanh phải bớt tự nhiên đi”. Tôi đọc và tưởng là về già Xuân Diệu mới vậy. Sau đọc lại, thấy cái cách sống và làm việc theo lý trí này có từ Xuân Diệu hồi thơ mới. Xét trên toàn cục, Xuân Diệu đã là một con người nhất quán, những năm cuối đời chỉ tô đậm những nét vốn có của ông lúc trẻ. Và đó chính là dấu hiệu làm chứng cho sự có mặt của nền văn hóa mà ông tiếp nhận từ nhỏ.


Nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn gần đây nói rằng con người ông có cả văn hóa Việt Nam lẫn văn hóa Mỹ. Trong Xuân Diệu, cái yếu tố Mỹ được thay bằng văn hóa Pháp. Cố nhiên là cách kết hợp những yếu tố khác nhau ở người này không bao giờ giống như ở người khác, nhưng họ đều là hiện tượng đa văn hóa.


Thơ tám chữ, thơ bảy chữ


Trên phương diện hình thức nghệ thuật thơ, so với các nhà thơ mới khác, Xuân Diệu cũng để lại ấn tượng riêng, về một cái gì vừa miệng với số đông, nghĩa là rất phổ biến.


Sáng tạo của thơ mới trên phương diện thể thơ gồm hai phần: một là đưa thể tám chữ lên mức hoàn chỉnh và thứ hai là có những cách tân mới đối với các thể cũ như thơ bảy chữ, thơ lục bát.


Sở dĩ đọc Thế Lữ ta cảm thấy một cái gì cũ cũ, bởi vì ngoài Nhớ rừng, các bài tám chữ khác của ông để lại ấn tượng nặng nề do sự xâm nhập của yếu tố văn xuôi còn thô. Ở các bài như Đi giữa đường thơm, Nhạc sầu của Huy Cận, Nhớ con sông quê hương của Tế Hanh, chúng ta thấy thơ tám chữ tự nhiên như một sản phẩm thuần Việt. Mà cái đó đến sớm với Xuân Diệu. Những bài như Tương tư chiều, Vội vàng, Hoa đêm của ông cùng với Lời kỹ nữ, Hy Mã Lạp Sơn vừa nói ở trên là những sáng tác hoàn thiện.


Hoài Thanh bảo thơ tám chữ của Xuân Diệu có nguồn gốc ở ca trù. Cảm giác gần gũi có được là do cái hồn thơ, một cái gì thanh thoát mà lại hơi lẳng lơ tinh nghịch. Mặt khác là hơi thơ, biểu hiện ở độ dài. Tính số câu của một bài thơ, trong khi Tiếng địch sông Ô của Huy Thông làm chúng ta ngợp thì các bài tám chữ của Xuân Diệu và những bài vừa nhắc trên của Huy Cận, Tế Hanh cũng gần gũi hơn hẳn.


Một đóng góp khác của Xuân Diệu trong thể thơ bảy chữ, những bài gồm ba - bốn khổ, nó là một hơi thơ mạnh đi như một lát dao sắc.


Tản Đà không có bài thơ nào sử dụng tứ tuyệt như vậy. Trong số 47 bài của Mấy vần thơ của Thế Lữ, tôi chỉ thấy có một bài mang tên Yêu là cũng gòm ba khổ như thế này. Nhưng đây là một bài thơ rất ít người nhớ.


Còn với Xuân Diệu chúng ta thấy hàng loạt trường hợp Nguyệt cầm, Nụ cười xuân, Trăng, Huyền diệu, Gặp gỡ, Yêu, Tình trai, Đây mùa thu tới, Ý thu, Hẹn hò, Đơn sơ. Tôi chợt nhớ tới xonnê( ) của Pháp, và muốn giả thiết rằng ở những bài thơ nói trên, Xuân Diệu đã làm một cuộc hôn phối giữa thơ Pháp và thơ dân tộc. Ông Việt hóa xonnê từ nền văn hóa mà ông mới tiếp nhận và mang lại cho nó một âm hưởng phương Đông, bằng cách lai tạo nó với thất ngôn tứ tuyệt. Giờ đây loại thơ gồm 3 hay 4 khổ tứ tuyệt: 12 hoặc 16 câu 7 chữ - đã là một cấu trúc cổ điển. Thơ tình của Xuân Diệu sau năm 1945 thường trở lại với thể này: Nguyện, Hoa nở sớm, Tình yêu san sẻ, Ngược dòng sông Đuống. Và đây, tạm kể một số bài thơ được nhiều người thuộc của tác giả về sau:


Buồn, Xuân, Em về nhà, Vạn lý tình, Gánh xiếc của Huy Cận.


Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử.


Cô hái mơ của Nguyễn Bính.


Xuân ý của Hồ Dzếnh.


Sầu chung, Chiều loạn (“Chiều loạn mây rồi gió đã lên”) của Trần Huyền Trân.


Từ sau năm 1945, tôi muốn nhắc Hoa cỏ may (“Cát vắng sông đây cây ngẩn ngơ”) của Xuân Quỳnh cũng như bài Thanh xuân( ) của Nhã Ca, giữa hai bài của hai thi sĩ có gì như đồng vọng và cùng âm hưởng.


Cái mới đến từ hội nhập


Nhớ lại khi Xuân Diệu mới xuất hiện, Hoài Thanh thú nhận:


“Bây giờ khó mà nói được cái ngạc nhiên của làng thơ Việt Nam hồi Xuân Diệu đến. Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy. Nhưng rồi ta cũng quen dần vì thấy người cùng ta tình đồng hương vẫn nặng”.


Cái tình đồng hương nói ở đây gồm hai yếu tố:


Một là những yếu tố thuần Việt. Đã nhiều người nói tới cái phần thi liệu Việt ở Xuân Diệu từ: “Đã nghe rét mướt luồn trong gió - Đã vẵng người sang những chuyến đò” tới “Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya” hoặc “Con cò trên ruộng cánh phân vân”.


Hai là những yếu tố mượn từ đời sống và văn hóa Trung Hoa đã được Việt hóa. Cái yếu tố Tàu này vốn thấy ở nhiều nhà văn tiền chiến, từ những ông già thả thơ đánh thơ ở Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, tới chú khách bán mằn thắn và mấy người khách ở phố Cẩm Giàng của Thạch Lam,…


Bây lâu ta cứ ngỡ ở Xuân Diệu chỉ có Ranhbô với Vécden, hóa ra ta nhầm.


Nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ đọc lại báo Ngày nay năm 1938 còn dẫn ra cả một đoạn Xuân Diệu ca ngợi mùa thu: “Mặc dầu ở bên Tây vẫn có mùa thu, thiên hạ vẫn cứ thấy mùa thu là ở bên Tàu. Mùa thu cũng đồng một quê quan với Tây Thi, với nàng Tây Thi quá xa nên quá đẹp”.


Trong cả Thơ thơ lẫn Gửi hương cho gió, cái chất Trung Hoa này xuất hiện ở nhiều dạng. Trong vốn từ ngữ. Trong cái nhịp thơ tứ tuyệt nói trên. Và trong thi liệu: “Tôi yêu Bao Tự mặt sầu bi - Tôi mê Ly Cơ hình nhịp nhàng - Tôi tưởng tôi là Đường Minh Hoàng - Trong cung nhớ nàng Dương Quý Phi”. Có cả một bài mang tên Mơ xưa, nhắc lại những “Gió liễu chiều còn nhớ kẻ dương quan”. Yếu tố Trung Hoa cổ điển ở đây là một bộ phận của yếu tố Việt Nam. Nước Việt trong thời gian. Nước Việt với chiều dài lịch sử, với cái vẻ quý tộc tinh thần,… Tất cả hiện diện.


Xin nói tiếp về Nguyệt cầm. Trăng ở đây được gọi là nguyệt, đàn gọi là cầm. Nguyệt là trăng, đàn và cầm cùng tồn tại song song. Cái hồn hiện đại nhập vào cảnh cũ: “Linh lung bóng sáng bỗng rung mình”. Nhưng trăng và đàn lại là những mô típ của thơ cổ phương Đông. Còn chữ linh lung với nghĩa ánh sáng chấp chới thì không biết có phải lấy từ bài Ngọc giai oán của Lý Bạch (“Khước há thủy tinh liêm - Linh lung vọng thu nguyệt”), chỉ biết sau Xuân Diệu không ai dùng nó nữa, và các từ điển tiếng Việt mới in nửa sau thế kỷ XX chỉ ghi lung linh chứ không còn ghi linh lung.


Với bài viết kinh điển Một thời đại trong thi ca, Hoài Thanh đã sớm cảm thấy cái mới ở Xuân Diệu nói riêng và thơ mới nói chung là đến từ hội nhập. Gần đây nhà thơ Hoàng Hưng (bài Thơ mới và thơ hôm nay) phát hiện thêm. Ông bảo: “Thơ Pháp thế kỷ XIX đã thúc đẩy Huy Cận, Xuân Diệu tìm ra những ý vị lãng mạn của thơ Đường mà suốt một thế kỷ trước đó, các vị túc nho không cảm nhận nổi mà chỉ nhai cái bã niêm luật”. Tức là nhờ hội nhập hôm nay mà ta phát hiện lại thành tựu của hội nhập hôm qua. Ta được làm giàu lên nhiều lần hơn là ta tưởng.


Hơn thế nữa, hội nhập không phải chỉ có một chiều là hướng ngoại, hội nhập nay còn quay trở về phát hiện lại bản thân và nhận diện lại những yếu tố nội sinh. Nói cách khác, nhờ hội nhập mà cốt cách của dân tộc được phát hiện.


Xuân Diệu đã làm công việc này một cách có ý thức. Ông có riêng một bài viết mang tên Tính cách An Nam trong văn chương (báo Ngày nay, số ra ngày 28-01-1939), ở đó ông nói rằng: “Trong lòng An Nam của chúng ta vẫn có những phần những ý những cảm giác mà người Tây có. Xưa kia ta không nói là vì ta không ngờ; bây giờ cái não khoa học của Âu Tây đã cho biết rằng ta có, vẫn có đã lâu những của cải chôn dấu trong lòng thì sao ta không nói”.


Lịch sử không lặp lại


Không phải là thơ Việt Nam sau năm 1945 không có những đổi mới về hình thức, song một sự thay đổi có tính chất bước ngoặt như hồi năm 1932-1941 không còn nữa. Nhu cầu của xã hội lúc này là tận dụng sự phát triển đã có từ thơ mới để hướng thơ vào các hoạt động tuyên truyền giáo dục quần chúng. Ngay ở Sài Gòn trước năm 1975 - nơi sự hội nhập với thế giới còn được làm trong lặng lẽ - thì thơ vẫn không tạo được những bước nhảy đáng kể. Tuy xuất phát từ những tình thế khác nhau, song giữa sự tìm tòi của Thanh Tâm Tuyền, Nhã Ca,… với tìm tòi của Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh, Trần Dần, Hữu Loan ở miền Bắc suy cho cùng có sự tương tự. Nhìn chung là thưa vắng lác đác và không sao tạo được cao trào hoặc trở thành xu thế bao trùm.


Nổi lên trên bề mặt thơ sau năm 1945 vẫn là sáng tác của các nhà thơ mới Huy Cận, Chế Lan Viên, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh, ấy là không kể một lớp nhà thơ trẻ mới hình thành, tất cả mang lại cho thơ mới một sự hồi sinh, một đỉnh cao thứ hai.


Trên hướng phát triển này, Xuân Diệu tiếp tục vị trí hàng đầu của mình. Năng lực của ông không còn hướng vào việc tìm tòi cái mới; có cảm tưởng với ông tất cả đã đủ, vấn đề bây giờ chỉ là tìm cách khai thái tận dụng cái đã có. Mà về việc này thì từ bản tính “Tay hay làm lụng mắt hay kiếm tìm” ông có cả, từ sự thành thạo tức thói quen lao động siêng năng tới sự nhạy cảm biết tìm ra những phương án tối ưu trong lao động.


Thơ Xuân Diệu những năm cuối đời gợi cho ta cảm giác một trái cây không còn được tiết nhựa sống từ toàn thân mà chỉ tự chín, thời gian chín lại kéo quá dài, nên - nói như dân gian vẫn nói - chín rụ chín rỵ, tức có cả cái phần đã đầy, nát, vỡ, lữa ra, là cái phần “suy đồi” xảy ra ở mọi quá trình lão hóa. Nhưng ở chỗ này nữa lại càng thấy tính chất “đại diện toàn quyền” của Xuân Diệu với thơ mới.


Người ta không thể đòi hỏi quá nhiều ở một người. Đặt trên cái nền chung của lịch sử thì vẫn thấy ông đứng sừng sững ở giai đoạn chuyển đổi của nền thơ Việt Nam, như một thách thức và một điểm đối chiếu.


 


(Tạp chí Thơ, số 9-2007)


 


 


MỘT NHÀ THƠ LỚN ĐÃ ĐI XA…


 


Mirâi Găngxen


 


Trái tim em thức đập


Nơi gốc của thời gian


Một nhịp nhanh, nhịp khẽ


Ấy tay anh nồng nàn.


(Trái tim em thức đập)


Trong tháng Chạp này, trái tim của anh ngừng đập - anh bạn Xuân Diệu của tôi - nhưng tiếng hát thơ ca của anh vẫn còn thức.


Một nhà thơ là rễ cây và gió, là đất và nhạc. Khi một nhà thơ lớn đi xa, nhân dân của nhà thơ khóc trước hết. Và nhân dân các nước dần dần sẽ khám phá ra anh, có khi nhiều năm sau, có khi những thế kỷ sau, và một ngày nào đó sẽ biết đến cái chết của anh và nghe được tiếng nói của anh.


Xuân Diệu là rễ cây và gió, là đất và nhạc.


Cũng như các nhà văn lớn của Việt Nam (khi tôi nói lớn, đó là những người được mọi người biết đến, ở nơi gặp gỡ của những cuộc đời riêng và số phận chung), Xuân Diệu là một nhà thơ bắt rễ sâu trong nhân dân.


“Con một nhà nho của một tỉnh miền Bắc và một người làm nước mắm của một tỉnh miền Nam, tôi bắt rễ đến hai lần trong dải đất Việt Nam của tôi”.


Không có bài thơ nào của anh không ngợi ca một hương thơm:


Nhẹ nhàng gió thổi tháng ba


Trong hơi thanh mát có hòa nồng say


Xuân còn, hè đã thoảng bay


Một mình xa vợi, ngất ngây khí trời.


(Chớm sang vị hè)


Một phong cảnh:


Sông Hương hương nước thanh trong,


Trăng lam Đèo Cả, mây hồng Hải Vân;


Hỡi mình, biển đẹp vô ngần,


Sông xanh như đến dừng chân Sa Huỳnh.


(Hỡi mình)


Một con đường nhỏ của đất nước:


Tôi đã đi hàng chục đêm sao,


Một chiếc xe - đạp băng vào bóng tối;


Cũng có lúc mây trời đen kịt lưới,


Cũng có tuần trăng mới ánh trăng trong.


(Những đêm hành quân)


Một cuộc chiến đấu, một nụ cười, một giọt nước mắt của nhân dân mình:


Tôi cùng xương thịt với nhân dân của tôi


Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu


Tôi sống với cuộc đời chiến đấu


Của triệu người yêu dấu gian lao.


(Những đêm hành quân)


Dù cho là một bài thơ tình hay một bài thơ hùng tráng ca ngợi cuộc chiến đấu gian khổ và lâu dài của nhân dân, câu thơ nào của anh cũng được tạo nên từ đất của quê hương và in dấu tay của nhân dân:


Em đến thăm anh trên đôi dép cao su


Em đã vào nhà, mà anh còn thấy bóng em in trên


 trời rộng


[…] In giữa đêm trăng, in trong giấc mộng


Vì thế anh lồng lộng yêu em.


(Bức tượng)


Tôi từng nghe Xuân Diệu ngâm những bài thơ của mình trong các nhà máy và ở nông thôn. Ở đâu cũng vậy, qua một câu thơ, một hình ảnh, lại vang lên tiếng cười tán thưởng và đồng cảm của người nghe.


Xuân Diệu, như một người hát dạo của nhân dân trong thời kỳ hiện đại, thường đi bình thơ từ tỉnh này đến tỉnh khác, từ làng quê đến phố phường. Những câu thơ của anh là nhạc - một nhạc điệu nhẹ nhàng, tinh tế, rất uyên bác và gọt giũa rất kỳ công, như anh từng đề cập trong các tiểu luận và suy nghĩ về thơ ca.


Chắc chắn rằng bản chất - cái hồn như anh thường nói - là điều tinh tế nhất, khó dịch nhất của thơ anh cũng như của mọi bài thơ, đặc biệt là thơ Việt Nam.


Cũng như hương thoảng của hoa dạ hương ở cửa sổ buồng anh, các bản dịch công phu nhất cũng chỉ có thể miêu tả một phần rất nhỏ nhạc điệu của thơ anh, tuy vẫn vang vọng tới trái tim của mọi người trên trái đất.


Người ta bảo Xuân Diệu là nhà thơ của tình yêu. Làn tóc anh đen, mềm, đôi mắt anh đen nhánh, giọng nói anh ấm áp và trầm bổng. Lứa đôi, tìm kiếm người thương ở trung tâm thơ ca của anh. Và trước hết là người phụ nữ. Tình thương mênh mông, xúc cảm luôn mới mẻ, anh mang trong lòng nỗi đau thương của bà mẹ bị vùi dập do lễ giáo phong kiến và anh nói về người phụ nữ bằng trái tim trẻ thơ, quý trọng vô cùng và thương yêu dịu dàng:


Má ơi, má của con đã già yếu lắm,


Má là nguồn gốc của con,


Má là vạn Gò Bồi, làng Tùng Giản,


Má là sông không cạn, núi không mòn.


 


[…] Má kháng chiến ở trong Bình Định,


Con ngoài này Việt Bắc tám năm,


Khi ốm đau, má đắp chiếu nằm,


Bà con với láng giềng chăm sóc.


 


[…] Má vẫn nghĩ như không hề mà chết,


Không phí dù một hạt gạo, lá rau.


(Thơ tặng Má)


Xuân Diệu, với những nhà thơ cùng thế hệ, sinh ra vào những năm hai mươi: Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh, Tố Hữu, đã đem lại cho nền thơ ca Việt Nam trong thời gian trước cuộc Cách mạng năm 1945 một sự đột phá, một âm điệu mới, đưa nền thơ ca của đất nước thoát khỏi thời đại phong kiến và dẫn nền thơ ca ấy vào thế kỷ XX đầy biến động lớn. Xuân Diệu đã đề cập những biến chuyển sâu sắc ấy của tiếng nói, vần điệu, hình ảnh trong thơ trên những tiểu luận cơ bản, từng được trình bày bằng tiếng Pháp, đặc biệt là trong cuộc thuyết trình của anh tháng 10-1981 ở Pari với chủ đề: “Sự đóng góp của thơ Pháp vào thơ Việt”. Anh đã nói lên sự gặp gỡ có ý nghĩa với những nhà thơ Pháp, từ Sáclơ Óolêăng đến Clôđen, qua Rôngxa, Lamáctin, Muýtxê, Bôđơle,, Véclen,… Trong một lá thư gần đây nhất gửi cho tôi, Xuân Diệu báo tin anh đã dịch xong bài thơ Chiêm ngưỡng của Víchto Huygô và những ngụ ngôn của La Phôngten, sắp được Nhà xuất bản Văn học ở Hà Nội ấn hành.


Xuân Diệu chẳng những đã giới thiệu với nhân dân nước mình nền thơ ca Việt Nam bằng những bài tiểu luận rất đặc sắc về những nhà văn và nhà thơ lớn của dân tộc: Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Du, Nguyễn Trãi,… anh còn là một nhà dịch thuật lớn của các nhà thơ thế giới. Anh viết: “Đã sáu mươi nhăm tuổi, tôi vẫn còn say mê với thơ của thế giới, với thơ Pháp và trong công việc này tiếng Pháp là một công cụ tuyệt vời”.


Năm 1962, anh giới thiệu tác phẩm của Nadim Hítmét bằng tiếng Việt và viết: “Tôi là học sinh của nhiều nhà trường: mãi mãi tôi vẫn là học sinh. Dù vậy, tôi đi trên đôi chân của mình và điều cơ bản nhất mà thơ tôi hiến cho bạn đọc là những giọng điệu của tôi, là tâm khảm, là linh hồn tôi”.


 


(In trong Xuân Diệu con người và tác phẩm, Sđd)


 


 


NGƯỜI BẠN LỚN CỦA NỀN VĂN HỌC BUNGARI


 


BLAGA ĐIMITRÔVA


 


Anh sinh ra ở Hà Tĩnh, miền Bắc Việt Nam. Trước Cách mạng tháng Tám 1945, anh là nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Trong bài nói đầu của hợp tuyển của nhóm này( ), Hoài Thanh đã viết: “Chưa bao giờ ở chúng ta xuất hiện những rung động mãnh liệt, những tìm tòi sáng tạo ghê gớm như ở Xuân Diệu”. Thơ tình yêu của anh được phổ biến rất rộng rãi và rất được hâm mộ. Thơ của anh phôi thai, nảy mầm từ sữa, mật của đất. Đánh giá tập Thơ thơ của Xuân Diệu, Thế Lữ viết: “Lầu thơ ông xây dựng trên đất của một tấm lòng trần gian, ông đã không trốn tránh mà lại còn quyến luyến cõi đời( ).


Nhà thơ khát khao thiên cảm về cuộc sống, và một giây trôi đi cũng làm cho cuộc sống bị tổn thương:


Tôi muốn tắt nắng đi


Cho màu đừng nhạt nhất,


Tôi muốn buộc gió lại


Cho hương đừng bay đi.


Đây là quá trình giải phóng con người khỏi thứ luân ly và đạo giáo trung cổ ở Việt Nam thuộc địa đã từng đẩy con người ra ngoài lề xã hội. Và con người luôn luôn thấy cô đơn, bơ vơ:


Bốn bề ánh nhạc: biển pha lê,


Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề.


Sương bạc làm thinh, khuya nín thở


Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.


Khi không tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống, nhà thơ đã chán chường trước sự vội vã của thiên nhiên:


Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,


Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,


Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.


Sau Cách mạng tháng Tám, với tất cả tấm lòng bốc lửa của con người có nhiệt huyết, Xuân Diệu đã nhanh chóng hòa mình vào cuộc sống mới. Chính anh đã trở thành một bộ phận của dòng thác quần chúng trong những ngày sôi động này. Anh là một trong những người sáng lập nên nền thơ ca Việt Nam hiện đại - một nền thơ ca có sức thuyết phục lớn. Nó có khả năng diễn tả, truyền đạt sự rung động về cuộc sống tinh thần của con người trong xã hội mới sau bước ngoặt lịch sử vĩ đại của Việt Nam. Những rung cảm sâu sắc của cá nhân đã hòa lẫn và quyện chặt với cái chung của xã hội. Điều này đã được Xuân Diệu thể hiện qua tên gọi một tập thơ của mình - tập Riêng chung (1960).


Xuân Diệu là nhà dịch giả kiệt xuất với các hơn dịch thơ Exênhin, Puskin, Maiacốpxki,… Anh là người bạn lớn thân thiết của nền văn học Bungari, từ Bôtép đến những nhà thơ trẻ nhất sau này. Anh đang chuẩn bị một hợp tuyển thơ Bungari ra tiếng Việt. Không biết các nhà thơ của chúng ta sẽ được thể hiện thế nào với sự gieo vần và nhịp điệu thơ phương Đông, với sự tái tạo dưới ngòi bút trữ tình tuyệt vời của anh.


Tôi không thể đưa ra một nhận xét gì khác trước một thiên tài độc đáo, duy nhất ngoài việc chỉ có thể thể hiện qua thơ:


 


TRÒ CHUYỆN VỚI MỘT NHÀ THƠ


Ở TUYẾN LỬA MIỀN NAM


 


Tặng Xuân Diệu


 


Tôi gặp anh trên những lòng đường tan hoang và sẫm uất


Anh mang trong ba lô một nắm gạo và một quyển sổ thơ


Chúng tôi ngồi dưới một bụi tre bóng chẳng còn nguyên.


Phía xa xa, là chòm sao Nam Tào mới mọc.


Sao Nam Tào đóng vào trời biếc


Bằng năm cái đinh óng ánh xuyên suốt lòng tôi.


Anh bạn nhà thơ không có mái che trên những mộng mơ


Anh không có những tấm ảnh vớt vát được của những


 người thân thiết


Đặng chứng tỏ rằng anh đã từng có họ.


Vật duy nhất anh đang còn sở hữu


Là chiếc xe đạp dãi dầu.


Cả hai đều rất giống nhau


Nhà thơ, có nụ cười như chiếc xe đạp có những nan hoa


 tỏa vầng mặt nhật.


Và chiếc xe đạp bị xám bởi bụi dường như là đã đứng tuổi


 rồi.


Tôi hỏi anh: - “Cái bí quyết của nụ cười anh là do đâu?”


Để bắt lấy nguồn gốc nụ cười của mình, anh trở nên


 trầm mặc…


- Bí quyết thật là đơn giản.


Để dựng lại đống hỗn độn mà không bị nó dìm tôi đi mất,


Thì phải tựa mình vào một điểm duy nhất trên đời.


Là trái tim con người.


Đó là một điểm vững chắc không thể nhổ lay.


Mặc dầu tôi là hữu hạn, bằng yêu thương tôi trở thành


 vô tận.


Nếu tôi yêu, tôi ôm choàng cả không gian rộng lớn.


Nếu tôi yêu, tôi không biết sợ hãi là gì


Nếu tôi yêu, thì cả bóng tối cũng đầy ánh sáng của tình tôi.


Tôi còn thiếu cái gì trên quả đất này,


Dầu tôi không cần sở hữu vật gì cả?


Vì lòng yêu thương tôi không hề thiếu, chẳng bao giờ( ).


Xuân Diệu còn là tác giả của nhiều tập tiểu luận và phê bình văn học. Sau chuyến đi thăm Bungari lần đầu, tháng 8-1971, anh đã viết một số bài thơ, bút ký tràn đầy rung động về cuộc sống của nhân dân Bungari, về cảnh đẹp thiên nhiên, về những công trình mới xây dựng và ca ngợi sự đóng góp chân thành của chúng ta vào sự nghiệp của nhân dân Việt Nam đang chiến đấu.


 


NGUYỄN THỊ HƯỜNG dịch


(Trong tuyển tập Thơ Việt Nam


do Blaga Đimitrôva tuyển dịch và giới thiệu,


NXB Văn hóa nhân dân, Xôphia, 1972)


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
“Khắc khoải lòng” thơ Tô Thùy Yên - Thanh Thảo 24.10.2019
Nhà văn Trang Thế Hy gió đưa gió đẩy - Thanh Thảo 24.10.2019
Bùi Giáng trong cái nhìn của các nhà phê bình văn học miền Nam trước 1975 - Trần Hoài Anh 24.10.2019
An Bình Minh – thêm một mảng trầm tích về hậu chiến - Nguyễn Thị Minh Ngọc 24.10.2019
Thời gian không đổi sắc màu (6) - Phan Quang 24.10.2019
Tiểu thuyết Cơ may thứ hai của Virgil Gheorghiu - Hoàng Hữu Đản 23.10.2019
Tiểu thuyết Giờ thứ hai mươi lăm - Tư liệu sưu tầm 23.10.2019
Thời gian không đổi sắc màu (5) - Phan Quang 23.10.2019
Nhật ký một cuộc bắt cóc - Một tác phẩm khó phân thể loại - Phan Quang 22.10.2019
Thời gian không đổi sắc màu (4): Ước mơ và hoài niệm của Nguyễn Khắc Viện và những bài khác - Phan Quang 22.10.2019
xem thêm »