tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24366708
Tiểu thuyết
05.12.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

Cười đùa suốt ngày, cái tỉnh lỵ nhỏ chưa kịp có rạp hát. Radio cá nhân bấy giờ rất hiếm. Tối lại họ thắp một cây đèn dầu hôi lớn, đèn tọa, quây quần cùng bàn chấm bài, đọc sách hoặc nói chuyện tiếu lâm hoặc âm thầm, kẻ mân mê cái nhíp nhổ từng sợi râu bắt đầu lún phún trên mép, vừa suy nghĩ vẩn vơ, kẻ thì nằm trên phản gỗ ngủ gật, người học thêm.


Chiều thứ Bảy nào chàng và anh Chu cũng đạp xe về thăm vợ con, mình, Khác ở lại buồn hiu chỉ mong mỏi sao cho chóng đến thứ Hai để khỏi cái cảnh một mình một bóng bên cái mâm cơm tẻ ngắt.


Thỉnh thoảng, các đồng nghiệp trẻ đến chơi, trong số có Phan Cảnh Bút và Nguyễn Dũng. Nghe nói Dũng là cháu của đại úy Mai Ngọc Dược, người mới được bà Ngô Đình Nhu đưa về thay ông Bùi Quang Sơn làm đời Tỉnh trưởng thứ ba tại đây.


Dược cùng tuổi với anh Bảy, người Huế, nhà nghèo, từ quê lên Kinh thành trọ học, ăn cơm tháng ở nhà bà vợ của giáo sư thi sĩ Thanh Tịnh, người rất nổi tiếng với bài thơ Mòn mỏi mà trước khởi nghĩa 1945 ai cũng thuộc.


Năm 1946, Thanh Tịnh đi Kháng chiến. Dược về thành, đi lính, làm sĩ quan. 1956 về Quãng Ngãi đóng vai một người tâm huyết, bí mật chui vào nhóm Quốc dân đảng địa phương, đứng vào hàng ngũ ngấm ngầm chống đối họ Ngô.


Đêm 17/6, Dược hẹn cùng các đồng chí làm lễ kỷ niệm các liệt sĩ Yên Bái đồng thời kết nạp thêm một số người mới trong giới trí thức, tại một ngôi nhà cổ của một nhân sĩ địa phương bí danh Thị Ẩn. Từ bộ bà ba đen mang nhiều miếng vá để chứng tỏ sự sa sút thực sự của một gia đình địa chủ nhằm gợi lòng thương của cán bộ Việt minh. Giờ đây, Ẩn sớm bận quần áo trắng vạt hò, kiểu một nhân sĩ thứ thiệt tỉnh lẻ.


Dưới bốn mươi, ông đã để râu và mang kính trắng trên mũi. Chữ Nho biết được chút ít, dăm bảy câu trong Luận ngữ, Mạnh Tử, Minh Tâm bửu giám, ông võ vẽ làm thơ chữ Hán.


Lấy tên hiệu như vậy, ông tự ví như một kẻ ở ẩn giữa lòng thị tứ trong cái thời buổi nhiễu quan nhiễu dân này và chăm lo hòn non bộ với một số cây cảnh trước ngôi từ đường tổ truyền mái ngói rêu phong, nóc là hai con rồng chầu một vòng thái cực theo kiểu lưỡng long tranh châu trong khu vườn rộng im mát, đầy cây ăn quả um tùm, chim chóc làm tổ tứ thời ríu rít.


Quả là một bậc có tư cách thanh cao. Ông thâm giao với một người ít tuổi hơn quê tận đảo Lý Sơn, không biết chữ Nho nhưng cũng nhớ một số kinh điển, có cái tên rất kêu: Hoàng Ái Việt.


Vợ Ẩn, một phụ nữ Huế đẫy đà có hai cô con gái đang tuổi dậy thì tuy chẳng chim sa cá lặn nhưng cũng vào hạng sạch nước cản. Một số công chức và sĩ quan từ dinh cố vấn miền Trung ở An Cựu (Huế) vô làm việc thường ghé thăm Thị Ẩn để được nghe những lời cao đàm đầy đạo lý và nặng trĩu ưu tư trước vận nước.


Bọn họ, lim dim mắt như để tiếp thu kỹ những lời vàng ngọc của vị chủ nhân minh triết đó, nhưng thỉnh thoảng họ lén đảo mắt nhìn trộm một bóng hồng thoáng hiện ở sau rèm, hoặc nề nếp hơn, hai cô khoan thai uyển chuyển bước ra, kính cẩn dâng một bình trà rồi cúi xuống, dịu dàng lui vào hậu đường.


Từ đó, họ có thể nghe tiếng đàn Mandoline thánh thót của một bản Tango vẳng lại, nỉ non mời gọi một cuộc sống lứa đôi êm đềm.


Mai Ngọc Dược và đồng chí bày bàn thờ Tổ quốc có lư hương, chân đèn với một lá cờ đỏ, giữa là vòng tròn xanh và ngôi sao trắng, cờ của đảng Việt quốc bấy giờ. Dược đứng lên dõng dạc chào bằng nắm tay và đọc lời thề thiêng liêng nguyền hy sinh đến giọt máu cuối cùng cho chánh nghĩa. Một khẩu súng lục đen ngòm trong tư thế nhả đạn đặt trong chiếc khăn tay trắng trên bàn, tượng trưng cho kỷ luật sắt của tổ chức cách mạng theo Tam dân Chủ nghĩa của Tôn Dật Tiên với hình lãnh tụ Nguyễn Thái Học. Giây phút uy nghiêm vừa dứt thì bên ngoài có tiếng động. Tất cả nhốn nháo, kẻ chạy ra phía trước, người luồn vào phía sau nhà bếp, kẻ lớ ngớ chưa biết làm gì. Dược nhanh chân chui vào núp dưới tấm khăn bàn rủ sát nền nhà, nín thở, co chân rụt cổ, không động đậy, ai cũng khâm phục cho cái thân hình đồ sộ của anh khi cần có thể thu gọn đến thế.


Mật vụ Ngô Đình Cẩn ùa vào, tất cả không còn hột máu. Giáo sư Trần Hoàng, Phạm Viết Tùng được lễ phép mời lên xe để đưa vào nhà giam. Ông chủ nhà, nhân sĩ Thị Ẩn được lôi ra từ gầm giường. Người ta không hiểu sau đó Dược thoát ra thế nào nhưng trong khi những người khác bị thẩm vấn, tra tấn thì vị nhân sĩ gốc sĩ quan được trả tự do và tháng sau Dược xuất hiện, thăng đại úy và được cử làm Tỉnh trưởng. Ai cũng nghĩ Dược chủ mưu gài bẫy, còn Thị Ẩn và Ái Việt là hai con mồi của họ Ngô.


Bộ ba thầy giáo trường Trần Quốc Tuấn gồm chàng, Chu và Khác không chủ ý mấy việc chính trị kể trên.


Chu đang tính mua miếng đất nhỏ có nhà sẵn ở gần Cống Kiểu để đưa vợ và hai con xuống. Khác chuẩn bị thi vào Đại học Sư phạm Huế mới mở, chàng chưa có con đường gì mới. Ba chàng ngự lâm pháo thủ, mỗi người một cảnh. Thỉnh thoảng họ cười đùa với nhau, vào vai giả bộ cái vẻ lúc nào cũng long trọng của đại úy Tỉnh trưởng.


Dược hay biểu lộ từ tâm của mình mau lẹ và cụ thể. Miền quê nông dân còn rất nghèo, ai cũng có thân nhân đi tập kết, ông hay đi hành hạt, tập hợp đồng bào, gợi cho họ nói lên nổi thống khổ của mình. Để được lòng chế độ mới, nhiều người nhanh nhẩu kể tội Cộng sản.


Nào đấu tố, nào thuế nông nghiệp, có kẻ giơ một chiếc nồi đất đã lủng đít để tâng công chứng minh.


Nhất là đám xã trưởng, hay tìm đến những cô có chồng tập kết, vừa tán tỉnh họ, vừa mớm cho họ kêu van cảnh phòng không gối chiếc. Mỗi lần tố Cộng như thế Dược khóc, nước mắt đầm đìa. Trên chiếc bục gỗ dã chiến ông sịt mũi, rồi rút khăn lau dòng lệ như anh Hồng Long đau đớn vì tám mươi năm mất nước trước đây, ai thấy cũng mủi lòng khóc theo. Xong, Dược truyền xuất quỹ Viện trợ Mỹ lấy tiền bạc, bột mì, sữa, thuốc men phân phát cho mọi người. Đích thân Dược tự tay trao những đồng bạc mới cho những kẻ già cả và nghèo nhất. Ai cũng nức nở khen Dược nhân đạo. Nhưng ông ta bị giới trí thức cho là hoạt đầu và giả dối, do đó thường bị họ chế giễu trong những bữa cơm.


Tại thị xã, Dược đỡ đầu những con buôn mới từ Huế và Đà Nẵng vô đây làm ăn. Chễm chệ trên bộ xa lông gỗ bóng loáng, Dược rót nước trà mời các thương gia khúm núm xung quanh:


Quí bác vô đây mần ăn ra răng?


Thưa Tỉnh trưởng, còn khó khăn lắm.


Cái chi?


Dược nói giọng Huế, và tiếp:


Bầy min chín mười năm ni nhờ Quốc gia ngoài nớ mà giàu có. Chừ trong ni người bổn thổ có vốn mô, đó là ký mạnh của bầy min. Cứ mạnh dạn biểu nhau vô đây tui giúp cho.


Dược cố tạo một lớp tư sản mới trong cái tỉnh nhỏ này để ủng hộ mình. Gia đình Ngô Đình Diệm muốn có chỗ dựa mạnh mẽ, vừa muốn trả ơn Hồng Y Spellman nên đang ra sức phát triển và dành mọi đặc quyền cho Công giáo thì Dược bí mật khuyến khích giới Phật giáo mới giàu có ở đây xây chùa, đúc tượng. Tối rằm, mồng một nào vợ chồng Dược cũng đi lễ chùa. Ông không có con, một lần lên thăm Hòa thượng Giải An, vị sư được coi là đạo cao đức trọng nhất tỉnh, Dược gặp một cô bé lên mười, mặt mày sáng sủa có tài múa hát, Dược nhận ngay làm con nuôi.


Hồng Vân, tên cô bé, là học trò của chàng, sau này vô Sài Gòn trở thành một ngôi sao về dân ca ba miền nổi tiếng ai cũng biết. Số phận. Nhưng ở quê chàng cũng có một cô bé, cùng tên, cùng tuổi với Hồng Vân mà mệnh trời đã định cho một cuộc sống hoàn toàn ngược lại.


Dạy quốc văn các lớp đệ ngũ, chàng cố công nghiên cứu Chinh phụ ngâm, học thêm chữ nôm để đọc các cổ bản. Đồng thời chàng tìm được một cuốn L’Anglais Sans Peine, mỗi tuần học ba bài, từng chút từng chút, kiên trì đọc thêm Pháp văn, khoa học cũng như tiết kiệm từng hào bạc tích lũy từ đồng lương nhỏ, nuôi giấc mộng dành tiền thuê nhà, chờ sau Tết sẽ đưa vợ con ra tỉnh.


Qua thời gian hộ sản, vợ chàng đưa con về Thi Phổ. Tiếng khóc oe oe của thằng cu làm mẹ vui lên dù bà đã có quá nhiều cháu nội. Mỗi tuần trên con ngựa sắt, quần xanh xăn tận háng, tấm ni lông trùm đầu, chàng đạp hai mươi cây số về thăm nhà, có khi phải vác xe lên vai qua những khúc đường cái quan bị nước lụt xoáy lở. Giỗ cha lần thứ tư, sau buổi dạy chiều trời đã tối sầm, mưa như thác đổ. Qua sông Vệ đến Mỏ Cày, cánh đồng trống mênh mông một màu nước bạc không một bóng người. Chiếc xe cà tàng, con ngựa Ô Long như chàng thường gọi đùa, không sao nhảy qua Đàn Khê[1] được. Chỗ này hơn một sải tay, chẳng biết nông sâu, trời sau Đông chí tối nhanh, chàng vừa đói vừa rét, vô kế khả thi. Nhấc xe cho nó tựa vào đùi mình, chàng chấp tay hướng về phía đông nam hình dung ra ngôi mả nhỏ của cha trong vũng ruộng Gò Găng mà có lẽ cỏ may đang hoang tàn phủ kín chiếc bia đá, chàng khấn:


Cha linh thiêng, xin giúp con kịp về trong đêm nay.


Chàng nhớ lời cha dạy, phàm làm việc gì mà theo hiếu đạo thì bao giờ trời kia cũng không nỡ phụ. Lại vác xe lên vai, chàng lội quanh vùng ruộng sâu, nước ngập đến gần ngực, cách chỗ xoáy, mò mẫm dò từng bước một trong bùn đất và trong bóng đêm, mắt nhìn ngôi sao trời hiếm hoi ở mãi nẻo không trung vô tận, giữa tối tăm và ma quỷ.


Hú vía, chàng qua được chỗ lở về đến nhà. Bà con tới ăn giỗ đã vãn hết, thức ăn không còn gì ngoài tí thịt luộc và dưa cải nhưng còn có bánh tráng, có mái tóc của mẹ, ánh mắt mừng rỡ của vợ và sự ngọ nguậy của đứa bé trong nôi, tất cả nồng ấm trở lại. Chàng thầm biết ơn cha.


Tết năm đó vui làm sao. Các thửa ruộng hương hỏa đều được người ta trả lại, anh Cả trở thành phú ông trẻ, lúa thóc đầy bồ, gà vịt mỗi sáng kêu đói rộn sân. Gia đình anh Sáu cũng về sum họp, mẹ quây quần quanh một lũ con đàn, cháu đống gần mươi đứa, chia bánh mứt, những viên pháo lẻ và lì xì cho chúng những đồng bạc mới. Trên bàn thờ nhành mai nở đẹp xin từ nhà ông cậu cửu phẩm chuồng trâu. Hoa cải trổ vàng kín sân. Chàng khai bút một bài thơ:


Ngày đi về đâu? Ngày đi về đâu?


Ngày êm trôi về những chiều tháng Chạp.


Cho cải nhà ai nở vàng lưng giậu


Trời rộng mông mênh mây trắng một màu


Sau Tết, anh chị Cả lại ra đồng, chàng, anh Sáu và chú Út lại nghề bán cháo phổi. Thức soạn bài, chong đèn học hằng đêm, ăn ở nhà trọ vẫn kham khổ, vẫn coi học trò như anh em ruột tựa thời kháng chiến và hàng tuần lại trên con ngựa sắt già qua đoạn đường đầy sỏi đá khứ hồi hơn bốn chục cây số về thăm con, cưng vợ.


Và sự lao nhọc đã xuất hiện.


Vào một chiều Chủ nhật chàng lên cơn sốt và không sao tiểu tiện được. Thầy Cứu, một y tá vườn đứng tuổi giỏi cả Đông lẫn Tây y được mời đến. Thầy hốt một thang lục vị kèm với mấy viên Tifomycin và Urotropine thông đái. Vẫn không bớt, tức tốc người ta chở chàng ra tỉnh. Nơi đây, Giám đốc bệnh viện, bác sĩ Hoàng Bá sau khi khám đã quyết định: Mổ!


Hồi đó, chàng chưa đọc Tương đối luận của Einstein. Nhưng với cái tinh thần yếu ớt của chàng, việc phải giải phẫu. Chàng nghĩ là coi như chết tới tám mươi phần trăm. Hỡi cái cơ thể thiêng liêng bao giờ cũng độc nhất vô nhị của mỗi con người, đã làm cho những hạt muối calci li ti có cơ duyên đoàn kết nhau thành viên đá cuội bề ngoài thật hiền lành nhưng đang phát tác trong bọng đái chàng. Và cả một rừng yếu tố nội, ngoại cảnh khác.


Nào nhà thương, chỉ là những dãy lều tôn trống huếch, nào rác rến vung vãi, thối ùm, dơ dáy lung tung, nào con dao mổ còn lụt hơn bộ đồ nghề làm thịt chó của anh xã Thọ, tất cả đã khiến chàng sợ hãi đến ngất đi, quên cả cơn đau đang hành hạ sinh thực khí của mình.


Không một ai, dù là vua chúa cãi được số phận. Tiếng nói của nó ngắn ngủi, tàn nhẫn, lạnh lùng như thép. Nó còn có tên là Karma?


Chích thuốc tê vào bụng rồi gây mê, thoạt tiên chàng còn nghe có tiếng thịt mình bị rọc lục bục, tiếp theo là tối sầm, quay mòng mòng và mê đi.


Tỉnh dậy đau đớn vô ngần… nhưng chàng thấy mình còn sống. Rồi vết thương nhiễm trùng, nước tiểu tràn lên bụng, phải nằm liệt hàng tháng, mẹ và vợ con phải cùng ra tỉnh thuê nhà nuôi bệnh. Tiền thuốc men, ăn uống đã làm cho cái lương dạy giờ hết chịu nổi, vẻ quê mùa thiếu thốn không giấu được ai. Đồng nghiệp và học trò thấy tình cảnh đáng thương hại thường tới thăm và tế nhị, có khi kín đáo giúp đỡ, trong số có anh Nguyễn Xuân Tảng, dạy Pháp văn. Ngồi bên giường, mùi mồ hôi của anh xông ra nồng nặc từ bộ đồ Tây tuy bằng vải nhập đắt tiền nhưng vẫn cái màu xám tro xi ta hồi đi bộ đội, anh Tảng hỏi:


Nghe nói thằng Diễn sắp từ Phan Rang đổi về Bồng Sơn?


 Dạ, hình như vậy.


Tảng học cùng lớp với anh Sáu.


Mày biết hôm qua có chuyện gì không? - Anh giơ bàn tay phải, ngón cái đã bị cụt, từ hồi làm xưởng quân giới kháng chiến, chỉ về phía dãy nhà lớn, bấy giờ là Tòa Tỉnh trưởng.


Chàng mệt nhọc lắc đầu. Anh nói:


 Lúc mày vừa mổ xong, mấy đứa học trò tới thăm nhằm lúc thằng Tỉnh trưởng Dược đến đây. Nó hỏi sao đông vậy? Xừ bác sĩ Bá khúm núm thưa có mầy, dạy Trần Quốc Tuấn, mới mổ calcul. Nó vô ngó mày một cái ra chiều thương xót rồi thị uy tuyên bố cho mày một bao gạo! Cái thằng khoác lác thô bỉ. Hồi đó mà có tao, tao nói thẳng vào mặt nó: Không cần!


Chàng còn yếu, nghe chuyện anh Tảng tính cự lại Tỉnh trưởng sợ quá. Cha anh người Huế trước làm trợ giáo vô dạy học và lấy vợ ở Quảng Ngãi, sinh anh tại đây nên dù gốc Huế, anh nói đặc giọng Quảng. Hồi còn Trung học anh ngồi cùng lớp với Dược nên bây giờ anh kêu bằng thằng nghe đã tai quá. Tính khí anh rất thẳng thắn. Lúc đi bộ đội, anh phụ trách cả một xưởng quân giới. Trong một cuộc thí nghiệm, thuốc súng cướp ngòi nổ đoành, anh bị bay mất ngón tay cái và lốm đốm mấy vết sẹo trên mặt, may không đui mắt. Bấy giờ, anh đã được dự bị vào Đảng. Nhưng một hôm cơ quan tổ chức bình bầu khen thưởng, các Đảng viên được ưu tiên đề nghị Chiến sĩ thi đua, người ngoài thì không. Anh đứng dậy lớn tiếng vấn nạn Chính ủy:


 Chúng ta thảy đều đi chiến đấu. Tôi hỏi đồng chí, viên đạn của quân thù bay tới trước ngực chúng ta, nó có dừng lại suy nghĩ để quyết định xem thằng nào là Đảng viên thì găm vào, đứa nào phi Đảng thì thôi không? Tư vị với nhau quá, tôi không ở trong hàng nữa!


Không chờ ai trả lời, anh cởi trả bộ quân phục, áo trấn thủ ra về.


Lấy vợ ở bãi biển Mỹ Khê, giỏi thực dụng, vợ chồng làm nghề bánh tráng, lấy nước gạo nuôi heo. Anh bằng bàn tay có tật, lăn những viên phấn màu cung cấp cho các trường học, còn kinh doanh mỗi cái xấc cốt thuốc Tây, nên gia đình anh sống thong thả. Khỏi nói, ai cũng biết, anh rất ghét Mai Ngọc Dược và họ Ngô. Lãnh lương của một chế độ, nhưng vẫn có quyền bày tỏ sự bất bất bình với nó. Anh tự hào như thế.


Hai tháng sau, vết thương của chàng bít dần còn một lỗ nhỏ dưới rún chỉ bằng đầu mũi kim, thỉnh thoảng nước tiểu lại rịn ra phải băng bó thật kỹ để giữ vệ sinh. Nghe nói ở Đà Nẵng có bác sĩ Hạng rất giỏi, chàng nhờ một đứa cháu đưa ra đó khám bệnh. Đã lâu không có dịp ra khỏi tỉnh, lúc qua phà Cô Lâu, chàng nghe có tiếng gọi giật ngược:


Thầy! Thầy ơi!


Ngoảnh lại, chàng thấy một người đàn ông xấp xỉ tuổi mình bận bà ba đen lấm láp, đang cùng một phụ nữ đội nón lá rách, khiêng mấy bao lớn võng bện bằng xơ dừa xuống đò.


Ai đó?


Em. Cống đây mà, thầy không nhận ra sao? Tưởng thầy tê ka rồi chứ! (tập kết)


Ủa, chú. Trông lạ hoắc mà già đi rồi, thiếm cũng vậy.


Cống lấy nón lá của vợ quạt mồ hôi đẫm trên trán:


Đình chiến rồi gạo trong Nam ra rẻ rề, việc lúa mía xong, rảnh ra tụi em đi buôn. Lấm láp nhưng có tiền.


Cống mời chàng hút thuốc:


Hôm nào có dịp, thầy ghé lại chơi. Em đã sửa nhà lợp ngói đàng hoàng, có con trai đầu lòng, sắm được cả cái radio nữa đó. Cha em mất rồi.


Chàng thật cảm động:


Tội nghiệp ông già, tôi không hay, để thắp ổng cây hương.


Học trò của mình đã có người trưởng thành, kẻ tay bồng tay mang, cuộc đời chẳng đẹp sao. Chàng lẩm bẩm:


Chỉ riêng mình giờ vẫn trắng tay, lại còn nỗi nay đau mai ốm nữa.


Cống hỏi:


Thầy Ỷ và thầy Giới đâu?


Chàng nói:


Thầy Ỷ đi Sài Gòn làm Bưu điện trở lại, nghe đâu tận Cần Thơ. Còn thầy Giới trở về cơ ngơi điền sản và cái tước ấm sinh con quan của mình, một địa chủ giàu có. Thong thả nhưng vẫn không con trai nối dõi tông đường, ổng buồn lắm.


Hai thầy trò xuôi ngược nhau trên nẻo đời, kẻ ra Đà Nẵng, người về Qui Nhơn như hai con nước trôi theo giòng đời, kẻ lái buôn, người thầy giáo. Sáng đầu thu đó, trời nắng mà gió thổi áo bay phấp phới, chàng tự lấy làm vui vẻ, đã có những đứa em nên người, trưởng thành.


Chuyến đi đã mang lại điều kỳ diệu: nước tiểu không rịn ra nữa. Tuy nhiên chàng vẫn ốm tong teo, lâu lâu lại bị sâu sốt rét rừng hành một lần, có người mách chàng xin chó con mới đẻ hầm với thuốc bắc mà uống. Chiều chiều, cứ tới xế là chàng ớn lạnh phải độn vào người ba bốn cái áo ấm, sau đó lại nóng hâm hấp, mồ hôi toát ra. Chàng có cảm giác mình sắp từ giã cõi đời. Nhưng nhìn thằng cu trắng trẻo, bụ bẫm và đôi mắt trìu mến của người vợ khi bồng nó cho bú, chàng tự thấy mình phải sống bằng mọi giá. Chàng nhắm mắt uống nguyên cả một con khỉ nấu cao. Có hôm chàng trùm chiếc mền, hai tay hơ lửa đang sưởi thì có cô bán gạo đến đòi tiền. Vợ chàng trả nợ xong, cô ta quay quả ra về chào: Thưa chị. Nhưng khi nhìn thấy chàng, cô cúi đầu:


Thưa bác, cháu về.


Chàng nghe mà thấm thía tận tim.


Tất cả đã làm chàng tự dìu mình vào nỗi bi quan vô hạn. Bấy giờ ông Diệm đã dẹp hết những người tình nghi chống đối ở địa phương, vai trò Mai Ngọc Dược chấm dứt, anh ta được thăng Thiếu tá đổi vào Nam.


Cậu Cẩn sai một người con của người chị Cả mình, anh ruột cha Nguyễn Văn Thuận, tên là Nguyễn Văn Tất vào thay. Tỉnh trưởng Tất tự cho mình có bản lĩnh, khinh thường nhóm Việt quốc, nhờ đó, anh Sáu, một giáo sư bị đuổi đi vì tội chống chánh quyền, nay được chấp thuận cho trở về lại trường Trần Quốc Tuấn, hai anh em cùng trường.


Lợi dụng cơ hội mỗi năm tới hè đi chấm thi trung học tại Sài Gòn và Đà Lạt, anh bí mật liên lạc với nhà văn Nhất Linh, tức lãnh tụ Nguyễn Tường Tam mà anh tôn thờ như một thần tượng. Anh kể việc anh tìm được Nhất Linh ở Đà Lạt mà anh gọi là ông Ba:


Tối đó tôi đến thăm vườn hoa của ông Ba. Mùi lan thanh ngọc tỏa ra khắp sân. Ngồi trên băng đá ở lưng chừng đồi nhìn xuống con đường lên dốc, những cặp tình nhân trẻ đang dắt tay nhau lần từng bước một tâm tình.


Ánh trăng tỏa sáng lung linh, sương đêm muối trắng núi rừng, tất cả trở nên kỳ ảo, mờ mờ nhân ảnh. Ông pha một bình trà Thiết Quan Âm mời tôi một chén, từ tốn:


Anh hỏi tại sao chúng ta lại làm Đảng ư? Đảng là gì? Ấy là cái thứ ánh trăng để những tâm hồn đồng điệu đến với nhau, đắm mình trong đó mà cùng làm một cái gì. Như những người trai trẻ đang yêu nhau kia. Họ lên đây nhờ khung cảnh thiên nhiên này để lắng nghe nhịp đập trái tim của nhau.


Anh Sáu về, vô cùng thỏa mãn, tự hào đã gặp minh chủ. Anh cùng hai trí thức khác trong tỉnh, anh Trần Hoàng và anh Phạm Viết Tùng, tập họp những người trẻ phần lớn có học, gốc địa chủ, phú nông bất mãn với chế độ Diệm, trước gia đình từng bị Việt minh đấu tố, làm thành Tỉnh Đảng bộ Chấn hưng của Quốc dân đảng Quảng Ngãi.


Một hôm, Hiệu trưởng Như được Tỉnh trưởng Tất mời đến dinh. Như mừng rỡ hiểu rằng muốn vững cái ghế, phải trở thành quân gia dưới trướng Tất, ông thắng bộ đồ tây Dormeuil, cà vạt xanh thẫm, oai vệ ra phết.


Như khúm núm ghé đít xuống xa lông nhà Tỉnh trưởng.


Nghe ông Tỉnh gọi, tôi rất lo. Nhưng thấy ông Tỉnh khỏe, tôi rất mừng. Anh Hà tôi kính lời hầu thăm ông Tỉnh.


Như nhắc khéo tên người anh ruột mình đang là cận thần của ông Nhu. Nhưng Tất làm như không để ý, hất hàm hỏi việc.


Về chỗ ni, trường mới thầy lạ, zất quỷ zì ma [2], công việc ra răng?


Thưa ông Tỉnh tôi có kỷ luật sắt. Đâu vô đó hết.


Được. Còn mấy ông giáo lướng cướng trước đây? Nên zớ[3] đất ni là cái xứ Quảng Ngãi hay co đó.


Dạ, thưa ông Tỉnh. Giáo sư trong trường đều trẻ, phần lớn dân Huế chúng ta hết. Chỉ có hai người lớn tuổi, ông Chu và ông Diễn. Ông Chu là công chức gương mẫu. Ông Diễn là quần dài đen[4], ông Tỉnh mới đặc ân cho về lại đây.


Hừ, tui biết hết. Diễn và Hoàng nhen nhúm cái Quốc dân đảng Nguyễn Tường Tam. Bọn nớ, túi [5] thứ Ba nào cũng gặp nhau, nhại lại mấy cái tin BBC rồi bình luận mí nhau. Tôi đã bảo đảm với ông bà Cố vấn ở trỏng (chỉ vợ chồng Ngô Đình Nhu) là chẳng có thằng nào làm được cái trò gì khi đã ở dưới hai bàn tay nhung của tui. Ông Hiệu trưởng cứ làm việc đối đãi bình thường, chỉ mỗi thằng Tùng lì lợm và có mưu, tôi đã cho bắt rồi.


Dạ, xin vâng lời ông Tỉnh trưởng.


Như cáo từ ra về, tuy thấy Tất hơi hách nhưng vui vì được đối xử có phần tâm phúc.


Anh Sáu và anh Hoàng đang sống trong những giấc mơ. Dưới mắt hai anh, Diệm và Cộng sản đều không thể theo được. Phải có Chủ thuyết: tam dân chủ nghĩa, phải có lãnh tụ: Nguyễn Tường Tam và phải có Đảng: Việt quốc.


Nhưng thật tội nghiệp, hai anh chỉ có mỗi địa bàn chút xíu là tỉnh Quảng Ngãi, quanh quẩn chỉ là nhóm trí thức đơn độc. Ai cũng sợ bể cái nồi cơm của mình nên không dám hoạt động công khai. Giả như một cán bộ Quốc gia nào đó mới bị mất chức hay một thanh niên phú hào nào ở quê bị phe Công giáo gạt ra khỏi chính quyền hương thôn, muốn tuôn hết nỗi bất mãn của mình thì lựa lúc trời nhá nhem tối lò dò tới nhà, lấm lét nhìn trước nhìn sau thật an toàn, rồi lẻn nhanh vào bằng ngõ sau. Những cuộc nói chuyện thầm thì, quan trọng và bí mật như thế có khi đến thật khuya. Người khách nào đặc biệt thì ở lại nghỉ một đêm, sáng hôm sau, ra đi thật sớm.


Anh Sáu chăm chỉ soạn những bài lý thuyết về dân chủ, xã hội, cách mạng Quốc gia chân chính… chỉ in thạch bản rồi bí mật chuyền cho anh em. Anh cũng ráng dạy thêm giờ, góp từng đồng bạc phụ trội đó mà thăm nuôi anh Tùng cùng một số người khác.


Sau hai năm không chịu thi hành Hiệp định Genève, ông Diệm cho bầu cử Quốc hội.


Anh Chu được Phong trào Cách mạng Quốc gia đưa ra ứng cử. Đắc cử dân biểu, anh chuyển cả gia đình vô Sài Gòn. Anh Khác muốn tiến thân đã về Huế học Đại học Sư phạm. Ba chàng ngự lâm pháo thủ đã tan tác, mỗi người một nơi, không kèn không trống.


Chàng vẫn chân chỉ hạt bột trong nghề gõ đầu trẻ. Thằng Cu bụ bẫm nhưng đau yếu luôn. Có lần nó sốt cao bị động kinh, sủi bọt mép, mắt đứng tròng, co giật lia lịa. Vợ chàng bưng mặt khóc, chàng cũng sợ hãi tới không dám nhìn.


May có ông sư đi qua. Ông nhanh nhảu lấy cây kim hơ lửa rồi chích lể, nặn máu bầm ở một đường chỉ tím nhỏ đang lên nơi ngón tay trỏ của nó. Thằng bé bớt nóng. Bác sĩ sau đó cho nó nhiều trụ sinh, nó cắt cơn và khá dần. Ông sư tới thăm, nói: Số nó khó nuôi. Òi ọp mãi, như lời nội tả cái bịnh tình của ba nó hồi nhỏ. Dù đã có chục đứa cháu, mẹ rất thương thằng Cu, bà lo lắng:


Thầy nói vậy thì làm sao?


Sư đáp:


 Cho nó vô chùa quy y.


Thế là sau một khóa lễ tụng kinh cầu an tại chùa Hội Phước gần nhà, nó được đặt tên trở lại là Quới, cái tên thân mật trong gia đình mà nó mang suốt đời, cả sau khi có một bầy em đông đúc.


Chưa đầy hai thôi nôi, Quới tập nói, đi chập chững trong căn nhà thuê ở Cống Kiểu, nó nhanh chóng nhận ra mặt chữ trên các quân cờ tướng: Xa, pháo, mã… Điều đó làm cho mẹ nó vô cùng hãnh diện: đứa con trai của một dòng dõi văn chương chữ nghĩa. Nhưng cả chàng và đứa bé dường như lúc nào cũng phải thuốc thang. Cha thì bốn mùa áo len, con thì quanh năm Tifomycine… không mấy ai nghĩ rằng hai cái hình hài mong manh đó còn ăn báo cô cái cõi đời ô trọc này nổi tới vài năm nữa.


Chàng một mặt nghiền ngẫm kinh Phật để an trú sinh tử cho cái tấm thân ngũ uẩn giai không[6] của mình.


Nhưng còn đứa bé? Bề gì đời sống của chàng cũng phải được tiếp nối. Chàng được ông bác sĩ Bá, Giám đốc bệnh viện kết làm bạn tâm giao.


Ông người Quảng Bình, làm việc tại đó thời chiến tranh và đã đại diện Liên hiệp Pháp ký biên bản bàn giao với bên kia.


Ông có thế giá lắm đó, đồng hương của Ngô Chí Sĩ mà!


Thế nhưng, tháng Mười năm 1954 ông cùng bác sĩ Lê Khắc Quyến, một bác sĩ danh tiếng ở Huế, ký tên đòi trung lập hóa miền Nam, cả hai liền được nếm mùi nhà lao Thừa Phủ.


Ra tù, người ta bổ ông về Quảng Ngãi làm Giám đốc bệnh viện, chỉ có mảnh đất trống và hai bàn tay trắng. Đắp nền, xin tôn làm nhà, cơ sở y tế đầu tiên của ông chỉ có mấy dãy nhà trệt, nắng nóng hừng hực những trưa hè mà mùa đông thì lộng gió lạnh thấu tim.


Ông bác sĩ hay khóc. Đến thăm phòng đẻ, nhìn những người đàn bà nhà quê không có tới hai cái quần vải ú để thay, ông đầm đìa nước mắt. Thấy người hoạn nạn, ông không ngăn được dòng lệ. Đám y tá dưới quyền rất tin tấm lòng thương người của ông. Nhưng anh Tảng nói:


Ổng dối trá, có thể thắng cả ông Lưu Bị về môn chảy nước mắt.


Chàng không hiểu ra sao cả.


Ông bác sĩ rất quý chàng. Chàng biết ơn ông đã mổ lấy cái cục sỏi từ trong bọng đái ra. Ông hay tới thăm chàng trong túp lều tranh nhỏ ở Cống Kiểu, bên lề Quốc lộ. Ông mê man nói chuyện thì thào khi to khi nhỏ, lại cái giọng Quảng Bình khó nghe, chàng vẫn cố tập trung chú ý để theo dõi…


Ông tâm sự:


Anh biết không, ai cũng gọi tôi là bác sĩ nhưng tôi chỉ đậu Cao đẳng tiểu học rồi làm y tá. Tôi có người vợ trẻ, dòng dõi hoàng tộc mà tôi rất si mê. Tôi cũng hết lòng với bạn bè. Nhưng hai cái này không thể chung sống hòa bình trong cuộc đời tôi. Người bạn mà tôi rất quý mến, kêu về ở chung đã cuỗm mất người vợ mà tôi hết mực yêu thương đi xây tổ mới. Hận đời và để quên nàng, tôi chúi đầu vô việc học thêm. Đỗ thành chung, người ta cho tôi theo học lớp Cán sự Y tế (assistant medical, ông chêm tiếng Pháp), tôi được bổ đi nhiều nhà thương. Đình chiến, người ta tái xếp (reclasser) tôi vào ngạch médecin indochinois, y sĩ Đông dương hạng nhì. Tôi không có tú tài, chưa hề được học Triết học nhưng thích môn đó lắm, anh phải… phải… dạy tôi.


Chàng hốt hoảng, bụm miệng ông:


Ối chết… Bác sĩ đừng nói thế. Tuổi tôi chỉ đáng hàng con cái bác sĩ và cái biết của tôi cũng chưa đong đầy một muỗng cà phê, xin bác sĩ đừng làm tôi tổn thọ. Tôi sẽ kính gửi bác sĩ một số sách để đọc cho vui.


Bác sĩ rất kính trọng phe Kháng chiến, nói về chiến lược phòng bệnh hơn chữa bệnh, về cá tính của cậu Cẩn, người đồng hương đã bốc ông ra khỏi tù và cho ông đi làm trở lại. Ông nhấn mạnh.


Ơn thì tôi nhớ hoài. Nhưng bảo thờ nhà Ngô làm Chúa thì tôi không bao giờ.


Khuya quá, thấy chàng ngáp ngắn ngáp dài, ông đành đứng dậy bắt tay. Nhưng khi đưa ông ra ngõ, ông nắm chặt bàn tay gầy đét của chàng nói chuyện thêm một tiếng đồng hồ nữa. Gà gáy sáng.


Cuối cùng, ông đánh thức người tài xế đang ngáy khò khò trên chiếc xe Com măng ca sơn chữ thập đỏ. Chàng vào nhà, đồng hồ gõ hai tiếng, trăng vừa xuống núi.


Hồi chưa có vợ con, không mấy khi chàng chú ý đến sức khỏe của mình, ăn gì cũng được, miễn rau khoai đầy bụng. Ngủ đâu cũng được, trên tràng kỷ, có khi trên đường công tác ban đêm vừa đi vừa ngủ, lúc lăn ra trên bãi biển, nằm một lát là ngáy. Chàng nghĩ tuổi trẻ thần tiên biết bao.


Bây giờ, chàng tự thấy mình phải phấn đấu để sống. Chàng yêu thương đứa con vô hạn, nó là lẽ sống của mình. Cho nên, chàng quyết tâm học thêm tiếng Pháp và chữ Hán, đọc sách thuốc đông tây kim cổ, tự tìm kiếm các phương thang.


Nào ngờ nhờ đó, chàng hiểu thêm về sinh học, thuyết Darwin, thuốc tây, thuốc bắc. Bác sĩ Bá đã trao đổi với chàng những kinh nghiệm trị liệu của ông và bản thân ông cũng nhờ chàng mà sáng tỏ nhiều điều liên quan tới nghệ thuật dưỡng sinh Đông phương, từ Hoàng đế nội kinh đến Lão Trang, Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh…


Một hôm anh Sáu đến thăm mẹ lúc ấy đang ở với chàng. Hai anh em nói chuyện vãn. Anh ngỏ ý muốn chàng tham gia Việt quốc với anh. Chàng rất kính trọng và biết ơn anh đã nuôi dạy mình, nhưng chàng thỉnh thoảng góp chút tiền nhỏ để giúp đỡ một số người của anh chống họ Ngô đang phải ở tù thì được. Và cương quyết dừng lại ở đó…


Anh Sáu thắc mắc:


Chú ngần ngại gì mà không dấn thân?


Chàng lựa lời giây lát rồi đáp: Sau vụ Pháp xử bắn mười ba người ở Yên Bái[7] giai tầng tư sản Việt Nam đã hết vai trò. Không thể có một Đảng quần chúng để chống lại họ Ngô đang được Mỹ ủng hộ được!


Chàng không hiểu tại sao bỗng dưng mình lại cương lên một cách bất thường như thế so với thói quen ít nói và rụt rè của mình, chàng thêm:


Đế quốc ủng hộ ta? Rồi nhất định cũng biến ta thành công cụ, hơn gì ông Diệm.


Anh Sáu không dằn được cơn nóng:


Chú nói vậy thì thôi. Chú nhiễm nặng cái lý luận của Cộng sản rồi, tôi không cần chú nữa.


Anh vụt đứng dậy bỏ ra về, quên cả cái mũ trên bàn. Thương anh rơi nước mắt, thấy anh tốt và lý tưởng quá, chống Ngô Đình Diệm là điều đúng, nhưng đứng vào hàng ngũ một giai tầng đã hết vai trò lịch sử, chàng đành mất lòng anh, thấy hối hận quá.


Hôm sau, vợ chàng mua được con ba ba to. Chàng bảo vợ nấu cháo rồi đích thân mang lên biếu anh, cùng với cái mũ anh đã bỏ quên. Hai anh em ngồi xì xụp húp, như để kéo dài sự thưởng thức món hải vị, không nhắc gì tới chuyện cũ.


Cuộc đời cứ thế dần trôi, cọc cạch đạp xe tới trường, đọc sách thâu đêm, vợ chồng ky cóp từng đồng xu nhỏ, nói theo tiếng nhà quê là ăn mắm mút giòi. Cuối năm Tuất, họ mua luôn được căn nhà tranh đang ở thuê.


Thỉnh thoảng chàng giấu vợ mấy trăm bạc ngầm giúp những học sinh nghèo. Đổi lại, chàng được học trò yêu mến. Có nước đồng nước sông mới ngẩy, tục ngữ nói vậy. Cũng đúng cho cả lĩnh vực cảm xúc nữa: mối tương tác ngọt ngào trong quan hệ xã hội đó làm cho cảm hứng của chàng tăng lên, thêm hồn trong thơ văn chàng sáng tác.


Hè về, dưới những chùm hoa phượng nở đỏ trên mái trường, trong giọng ve ngâm bùi ngùi, vào một buổi liên hoan tiễn đưa học trò, chàng đã đọc một bài thơ khiến cả lớp rưng rưng nước mắt, dù nó cũng kết thúc một cách có hậu, hứa hẹn cảnh tương phùng giữa dòng đời xuôi ngược, khói lửa khắp nơi:


Tới tiễn các em đi


Tháng Ba gió vừa thổi mát


Mịt mù đường đất vời xa


Thời đại chúng ta,


Đầy rẫy những chia ly


Mà không nên buồn hiu hắt


Mà vui vẫn sáng bờ mi…


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info








[1] Nhại chuyện trong Tam Quốc Chí: Lưu Bị nhờ con ngựa nhảy qua suối Đàn Khê mà khỏi bị Tào Tháo giết.




[2] Nhất quỷ nhì ma thứ ba học trò.




[3] Nhớ.




[4] Quần dài đen: tức QDĐ tiếng lóng gọi là Quốc dân đảng ở miền Nam, thời Diệm.




[5] Túi: tối.




[6] Theo đạo Phật, cái thân ta do năm uẩn, hợp lại mà có. 5 uẩn đó là: Sắc, Không, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. 5 sắc (ngũ uẩn) này luôn có có, không không.


 




[7] Pháp xử bắn Nguyễn Thái Học và 12 chiến sĩ Quốc dân đảng 17-6-1930.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trả giá - Triệu Xuân 23.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »