tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29972946
04.12.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (16)

NHÀ THƠ XUÂN DIỆU ĐẾN CHƠI


Nhà thơ Xuân Diệu đến thăm tôi ở 31 Hàng Ngang. Ông đã đến chơi một lần khi tôi vừa xây dựng gia đình (năm 1964), nhưng vẫn không quen lối. Căn nhà quanh co tối tăm, qua nhiều hành lang nhỏ rất khó đi cho khách, nhất là với người cao tuổi. Tôi nghe tiếng lịch kịch ở cầu thang và chạy ra đón. Ông vào nhà và nói: “Mình vẫn chưa thuộc đường, đúng là một mê lộ, một labyrinthe”. Ông đến chơi đúng lúc một số sinh viên đến thăm tôi. Có một em nam và ba em nữ. Các em rất vui vì được gặp gỡ một nhà thơ lớn mà lâu nay chỉ biết trên sách vở. Tôi giới thiệu với Xuân Diệu đây là các em sinh viên năm thứ tư, năm cuối cùng sắp ra trường. Xuân Diệu ngạc nhiên: “Sao trông còn trẻ quá, nhưng tuổi này cũng là tuổi bước vào thời yêu đương rồi. Hai em gái cùng trả lời: “Dạ chưa ạ, chúng cháu còn ít tuổi”. Xuân Diệu cười: “Nói ít tuổi là với chuyện lấy chồng. Còn yêu đương thì đang ở giữa thì, có đúng không?”. Nhà thơ Xuân Diệu lại hỏi: “Có em nào làm thơ tình không?”. Một em mạnh dạn nói: “Dạ có làm nhưng không dám cho ai xem cả”. Một em khác lại nói: “Yêu thì có thể học nhau, bảo ban nhau rồi cũng biết yêu nhưng làm thơ tình thì khó lắm ạ. Bác Xuân Diệu dạy cho chúng cháu kinh nghiệm làm thơ tình”. Nhà thơ Xuân Diệu cười và nói. Không có gì khó lắm, chuyện tình yêu cũng là chuyện trong đời sống thôi nhưng phải có cảm xúc, có tưởng tượng và phải thổi tâm hồn vào trong câu chuyện”. Nhân một em nữ sinh bưng một chén nước để trên đĩa đến cho nhà thơ. Em đi chậm vì sợ nước sóng sánh đổ ra ngoài nên vừa đi vừa nhìn xuống chén nước. Khi em nữ sinh đặt chén nước xuống bàn, Xuân Diệu liền cười và bảo: “Đây đúng là đề tài mà tôi đã làm mấy năm trước, bài Chén nước. Chén nước trở thành không bình thường khi có ánh mắt cô gái nhìn vào chăm chú, chén nước đã có thêm hương thơm và vị, uống vào say chết người”. Nói rồi Xuân Diệu cười to và đọc:


Em cho anh chén nước


Anh biến thành rượu nho


Rượu triền miên mộng ước


Rượu nồng nàn thơm tho


 


Cái men trong mắt em


Anh để vào chén nước


[…] Mời em nhấp môi cho


Em ơi đừng uống hết


Kẻo say chết bây giờ.


Các em sinh viên đều vỗ tay và cười vui. Nhà thơ Xuân Diệu nói: “Phải có tình, tình sâu, tình đằm thắm thì các chuyện bình thường cũng dễ thành thơ như các bài thơ tình của Xuân Diệu (Anh thương em khi ngủ, Anh đợi em về ăn cơm, Giọng nói, Ngủ mà tay vẫn quạt, Mùa ổi,…)”. Xuân Diệu hỏi: “Nói như thế có đúng không?”. Các em đáp: “Dạ đúng ạ”. Cuộc gặp không hẹn trước mà thật vui vẻ và có ý nghĩa.


 


NHÀ THƠ XUÂN DIỆU DỊCH THƠ BÁC


Dịch thơ Bác là một công việc khó nhưng được nhiều nhà thơ tham gia nhiệt tình và có trách nhiệm. Nam Trân, Khương Hữu Dụng, Hoàng Trung Thông, Huy Cận, Xuân Diệu, Tố Hữu đều có bài dịch. Nhà thơ Khương Hữu Dụng trong một lần nói chuyện đã cho biết những khó khăn của việc dịch thơ Bác. Bác không gợi ý hoặc chỉ bảo điều gì mà để các dịch giả tự làm, tự giải quyết. Có lần Bác nói vui là “thơ các chú dịch hay hơn thơ của Bác”. Tuy nhiên, theo nhà thơ Khương Hữu Dụng, một lần trong bài Đăng sơn (Lên núi), Bác có ghi mấy chữ nho nhỏ bằng bút chì để chỉnh lại câu thơ dịch. Bản dịch bài Đăng sơn là của Xuân Diệu. Trong bài Yêu thơ Bác, Xuân Diệu viết: “Tập thơ Nhật ký trong tù đứng vô song trong văn học nước ta vì nó là những tiếng tâm hồn của Hồ Chủ tịch. Thơ Nhật ký trong tù theo ý tôi vừa rất dễ lại rất khó”. Nghĩ như thế nên việc dịch lại càng khó. Nhà thơ dịch bài Đăng sơn, Bác viết trong chiến dịch Biên giới:


Huề trượng đăng sơn quan trận địa,


Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân.


Nghĩa binh tráng khí thôn Ngưu Đẩu,


Thệ diệt sài lang xâm lược quân.


 


(Chống gậy lên non xem trận địa,


Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây.


Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu,


Thề đuổi xâm lăng diệt cả bầy).


Câu chữ Hán trong nguyên bản là “Thệ diệt sài lang xâm lược quân”.


Dịch như Xuân Diệu là chưa thật sát. Mấy chữ Bác viết bằng bút chì: lũ sói cày gợi ý để dịch lại: “Thề diệt xâm lăng lũ sói cày”. Câu thơ dịch sát nghĩa và hay hơn. Nhà thơ Khương Hữu Dụng còn cho biết hai chữ Huề trượng trong câu thơ đầu được Xuân Diệu cân nhắc mãi.


“Huề trượng đăng sơn quan trận địa”. Dịch là chống gậy, sợ hơi già về tư thế, nhất là Bác đi kiểm tra trận địa. Nếu dịch là cầm gậy, mang gậy lại không hợp và hơi ngang, và cuối cùng Xuân Diệu cũng chấp nhận hai chữ chống gậy, đây không phải là chống gậy giữa đời thường mà là trèo vượt núi non.


Tôi nhớ một lần khác, Nhà xuất bản Khoa học xã hội tổ chức cuộc họp về dịch thơ Bác. Thời kỳ này nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu đều muốn một mình dịch trọn vẹn cả tập Nhật ký trong tù như cụ Nguyễn Sỹ Lâm, Giáo sư Hoàng Xuân Nhị. Trong mỗi tập đều có một số bài vượt trội bên cạnh những bài non yếu hơn tập thơ dịch đã có. Cuộc họp có sự tham gia của các cụ nhà nho, các nhà thơ như Huy Thông, Xuân Diệu, một vài nhà nghiên cứu thơ Bác. Cuộc họp bàn nhiều về yêu cầu dịch phải thể hiện được tầm cao về tư tưởng ý thơ và vẻ đẹp của tình cảm trong thơ Bác. Phải dịch cho thanh nhã. Nhà thơ Xuân Diệu thiên về hướng này. Trong bài Hạn chế (Bị hạn chế) nguyên bản là:


Một hữu tự do chân thống khổ,


Xuất cung đã bị nhân chế tài;


Khai lung thi thì đỗ bất thống,


Đỗ thống chi thì lung bắt khai.


Các cụ Nho học cũng không tán thưởng những câu dịch như:


Đau khổ chi bằng mặt tự do,


Đến buồn đi ỉa cũng không cho;


Cửa tù khi mở, không đau bụng,


Đau bụng thì không mở cửa tù.


(Nam Trân dịch)


Cụ Nguyễn Sỹ Lâm nói câu thơ chữ Hán ngụ ý kín đáo: “Xuất cung đã bị nhân chế tài”. Tác giả chỉ muốn nói là muốn đi ra khỏi nơi này thôi chứ không nói thô thiển như câu thơ dịch. Cụ Nguyễn Sỹ Lâm dịch là “Ở tù cực khổ đủ trăm điều - Ngặt nghèo đến cả chuyện đi tiêu”. Cũng đỡ hơn một chút nhưng vẫn chưa nói được cái ý kín đáo của nguyên tác. Cứ xét lại từng bài thì thấy bài nào cũng có thể có ý luận bàn. Trong bài Tải giải (Giải đi sớm) với khổ đầu:


Nhất thứ kê đề dạ vị lan,


Quần tinh ủng nguyệt thướng thu san,


Chinh nhân dĩ tại chinh đồ thượng,


Nghênh diện thu phong trận trận hàn


bản dịch vẫn còn để lại hai chữ Hán:


Gà gáy một lần đêm chửa tan,


Chòm sao nâng nguyệt vượt lên ngàn,


Người đi cất bước trên đường thẳm,


Rát mặt, đêm thu, trận gió hàn.


Cụ Nguyễn Sỹ Lâm đọc khổ thơ dịch của mình:


Gà gáy một lần, bóng đêm còn,


Sao đỡ vầng trăng vượt đỉnh non.


Người đã bước dồn trên dặm thẳm,


Gió thu rát mặt lạnh từng cơn.


Nhiều ý kiến khen khổ thơ dịch khá hơn bản dịch cũ và loại bỏ được hết các chữ Hán.


Cuộc họp tập trung vào bài Mộ (Chiều tối):


Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,


Cô vân mạn mạn độ thiên không


Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,


Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.


Dịch là:


Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ


Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không;


Cô em xóm núi xay ngô tối,


Xay hết, lò than đã rực hồng.


Bản dịch có nhiều chỗ luận bàn. Câu dịch thứ ba có nhiều ý kiến hơn cả. Có nên để Bác gọi cô gái trong thơ là cô em không. Một cụ nhà nho cho rằng gọi cô em thân tình quá sợ không hợp với tuổi tác và vị thế của Người. Xuân Diệu lại có ý khác. Trước hết, nên quan niệm bình thường. Gọi cô em cũng không có chuyện gì, vấn đề là ở cách nghĩ của từng người, ta không nên nghĩ theo một định kiến nào. Hơn nữa nếu câu thơ được dịch là:


Cô gái xóm núi xay ngô tối


thì sẽ nặng nề. Bốn dấu sắc trong bảy chữ làm cho câu thơ và bài thơ mất đi vẻ mềm mại của nhịp điệu.


Một số ý kiến lại băn khoăn về hai chữ xay ngô tối. Ngô tối là ngô gì sao không nói cụ thể hơn là ngô bột. Người Trung Quốc ở nông thôn thường xay ngô bột rồi đồ lên thành bánh. Nhà thơ Xuân Diệu đứng lên phản đối gay gắt: thêm một chữ bột vào sẽ làm hỏng bài thơ. Thơ không cần cụ thể như thế. Xuân Diệu nhắc đến một cuộc họp bàn về dịch thơ ở Hungari. Một nhà thơ nêu một so sánh khá hấp dẫn. Thơ dịch cũng giống như những người phụ nữ. Người phụ nữ đẹp thì thường dễ không chung thủy, bài thơ dịch hay không quá bám sát nguyên bản. Người phụ nữ không đẹp thường chung thủy cũng giống như bài thơ dịch quá sát nghĩa, không tô điểm. Mọi người cười, Xuân Diệu nói tiếp: “Dịch thơ đúng nhưng không quá lệ thuộc, bám sát tỷ mỷ nguyên bản. Phải thanh thoát, gợi cảm, đẹp”. Dịch thơ Bác là vấn đề khó. Người có công đầu là nhà thơ Nam Trân. Bản dịch đầu có giá trị nhưng cũng cần bổ sung với sự đóng góp của các nhà thơ các bậc thâm nho và nhà nghiên cứu văn học. Xuân Diệu dịch không nhiều nhưng có những suy nghĩ hay trên vấn đề này.


 


XUÂN DIỆU VÀ CÔNG VIỆC XUẤT BẢN SÁCH


Trong các nhà thơ của thời kỳ hiện đại thì Xuân Diệu là người có khối lượng tác phẩm đồ sộ gồm nhiều tập thơ, dịch thơ, bút ký và các công trình nghiên cứu văn học. Khoảng 50 cuốn sách của Xuân Diệu được xuất bản đều đặn trên bốn thập kỷ, tính ra trung bình mỗi năm một đầu sách. Các tác phẩm thơ, dịch thơ, bút ký, khảo luận,… của Xuân Diệu hầu hết được sáng tác ở thời kỳ sau Cách mạng, đều in ở Nhà xuất bản Văn học. Xuân Diệu chọn lọc thương hiệu xuất bản có uy tín về văn chương. Xuân Diệu không chiếm chỗ của ai, vì tác phẩm của ông hay, đáp ứng nhu cầu bạn đọc. Tuy nhiên không tránh khỏi có lúc bị dồn toa, và ông phải lo lắng điều chỉnh nội dung và thời gian xuất bản. Nhà thơ Nguyễn Bao, nguyên Phó Giám đốc Nhà xuất bản Văn học, là người biên soạn và giới thiệu Toàn tập Xuân Diệu (1996) cho biết Xuân Diệu là tác giả thơ quan tâm chăm sóc nhất đến việc in ấn tác phẩm của mình. Theo ông Nguyễn Bao, năm 1985, nhân kỷ niệm bốn mươi năm thành lập nước, Nhà xuất bản in tuyển cho một số tác giả tiêu biểu. Các tác giả văn xuôi như Nguyễn Công Hoan, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng đều được in ba tập. Với các nhà thơ như Huy Cận, Chế Lan Việt, Xuân Diệu,… được in tuyển hai tập. Tuyển tập Xuân Diệu gồm hai tập và ông bảo: “Hai tập không chở hết được Xuân Diệu”. Ông nói vui: “Thơ của tôi chọn không in ở tập này, tôi in tập khác. Biên tập viên có thể thay đổi với thị hiếu khác nhau nhưng tác giả chỉ là một. Xuân Diệu không có thơ để phải chọn rồi loại bớt ra. Bỏ ra ở tập này nó lại vòng vào ở tập khác. Mình là đại úy còn các cậu là thiếu úy, mình có kinh nghiệm và hiểu thơ mình”. Trong các tuyển tập thơ của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, việc tuyển thơ trước Cách mạng có tác giả còn dè dặt vì thơ mới lúc này chưa được đánh giá đúng giá trị vốn có. Nhà thơ Chế Lan Viên chỉ chọn năm bài trong tập Điêu tàn (Trên đường về, Đêm tàn, Xuân về, Xuân, Mơ trăng). Trong tuyển Huy Cận (tập I), tác giả đã chọn đến 34 bài trong tập Lử thiêng và Xuân Diệu cùng một cách chọn lựa như Huy Cận.


Trong các tập bút ký tiểu luận của mình về đề tài xã hội, Xuân Diệu lấy cái tôi làm điểm nhìn, điểm tựa chủ yếu của bài viết - chủ thể sáng tạo quan sát, lắng nghe, bình luận kết hợp tư duy chính luận với cảm xúc và hình ảnh. Ông không quen thích viết kiểu bình luận chính trị xã hội thuần túy. Một lần Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia) có chủ trương ra tập sách về đường lối văn nghệ của Đảng và chú ý nhấn mạnh tính dân tộc của văn nghệ cách mạng, Nhà xuất bản mời các nhà văn nhà thơ tiêu biểu tham gia viết. Nhà thơ Huy Cận nhận viết về tính dân tộc của văn hóa văn nghệ Việt Nam. Còn nhà thơ Xuân Diệu thì dè dặt chưa trả lời ngay. Anh Phúc Khánh - nguyên Phó Giám đốc kiêm Tổng Biên tập Nhà xuất bản Sự thật, nhờ tôi, vốn là cộng tác viên lâu năm của Nhà xuất bản đưa anh đến thăm nhà thơ Xuân Diệu để ngỏ lời mời trực tiếp. Tôi nói trước với anh Xuân Diệu và hẹn ngày gặp. Hôm đến nhà, sau lời chào hỏi, anh Phúc Khánh nói chủ trương của Nhà xuất bản và trân trọng mời nhà thơ tham gia vào công trình. Nhà thơ Xuân Diệu hỏi qua những nhà văn nhà thơ đã nhận lời tham gia viết. Xuân Diệu cảm ơn Nhà xuất bản và nói: “Mình biết Sự thật là Nhà xuất bản chính trị của Đảng và tôi chưa có dịp cộng tác. Nhưng công việc anh Khánh đề nghị thật khó nhận lời. Vì nếu viết theo đúng yêu cầu của nhà Sự thật thì không còn Xuân Diệu mà viết theo đúng quan niệm của Xuân Diệu thì nhà Sự thật sẽ không in. Cũng nên nói sòng phẳng như thế. Và bây giờ thì ta nói chuyện khác, mời anh Phúc Khánh uống trà và cảm ơn anh đã đến thăm tôi”. Câu chuyện kết thúc chóng vánh, tôi nói nhỏ với anh Phúc Khánh là không nên nài ép vì anh Xuân Diệu sẽ không thay đổi ý kiến.


Với Xuân Diệu, cái giá trị đích thực của cuộc sống là lao động có hiệu quả, và chính ông là tấm gương sáng của một đời lao động. Ông say mê lao động và cũng khích lệ người khác trong công việc. Một lần tôi đem tặng ông cuốn sách vừa in. Sách dày ba bốn trăm trang và in đẹp, ông cảm ơn và cầm cuốn sách ngắm nghía rồi nói: “Nhà xuất bản Đại học và trung học chuyên nghiệp cũng là một nhà xuất bản đàng hoàng. Các thầy giáo - như thế là đã có một hậu phương vững chắc. Nên mở rộng các đầu sách cho nhiều loại”. Ông lại nói tiếp: “Ở đấy, họ có nhận in các loại tiểu luận văn học không?”. Tôi nói là loại sách đó rất có ích cho sinh viên và thầy giáo nhưng phải ít nhiều gắn với những vấn đề của chương trình học. Xuân Diệu nói tiếp: “Mình có một tập tiểu luận bàn về chất lượng trong thơ hiện nay và đánh giá một số nhà thơ hiện đại. Nếu có điều kiện Hà Minh Đức giới thiệu với Nhà xuất bản. Tập này khá nhưng vì mình cũng còn hai ba tập trong kế hoạch của Nhà xuất bản Văn học nên phải chờ lâu. Thôi cứ xem nó là con đẻ của Xuân Diệu và là cháu nuôi của Hà Minh Đức”. Tôi cám ơn anh và hứa sẽ đề nghị với Nhà xuất bản Đại học. Tôi ghi cho anh địa chỉ Nhà xuất bản Đại học ở 45 Hàng Chuối, địa chỉ nhà ông Lương Vân Đang và chị Nguyễn Thị Bé phụ trách phần này. Tôi sẽ nói trước với Nhà xuất bản và có điều kiện anh nên đến găp trực tiếp. Gặp tác giả lớn họ sẽ nể và dễ dàng trong công việc. Khoảng hai tuần sau, chị Nguyễn Thị Bé gọi điện thoại cho tôi: “Thầy Đức ơi, ông Xuân Diệu đến chỗ em và bàn chuyện in sách”. Tôi trả lời: “Thật vinh dự quá rồi, cô nên ủng hộ cho tác giả”. Ngồi viết những dòng này, tôi hỏi lại chị Nguyễn Thị Bé - hiện là Trưởng ban biên tập sách Văn học của Nhà xuất bản Giáo dục tại Hà Nội về chuyện được nhà thơ Xuân Diệu đến thăm. Đã gần ba mươi năm rồi chị vẫn nhớ từng chi tiết và nói qua điện thoại: “Hồi ấy em ở nhà tập thể của Bộ Đại học trên tầng ba. Một buổi sáng chủ nhật, đang nghỉ ở nhà thì thấy bọn trẻ gọi: “Cô Bé ơi, có khách”. Em vừa ra ngoài hiên đã thấy nhà thơ Xuân Diệu. Ông tươi cười chào và hổi có cần giới thiệu không. Em quá xúc động: “Chào bác Xuân Diệu, bác đến tìm cháu hay gặp ai?”. Nhà thơ Xuân Diệu chỉ vào em và cười: “Tôi đến gặp chị Nguyễn Thị Bé”. Em mời nhà thơ vào nhà, mời ngồi rồi pha nước. Bác Xuân Diệu nhìn căn phòng đơn giản, hai chiếc giường một, một chiếc bàn con và một kệ sách rồi hỏi: “Cô Bé vẫn sống một mình à?”. “Dạ, cháu chưa có gia đình, cháu vừa ra trường được ít năm”. Bác Xuân Diệu gật đầu và bảo: “Không vội vàng, phải chọn lọc, tuổi trẻ có quyền chọn lọc”. Nói rồi bàn vào chuyện in sách. Em hứa sẽ trình lên Ban Giám đốc và nói là em rất ủng hộ công việc này vì đây là niềm vinh dự cho Nhà xuất bản. Bác Xuân Diệu ngồi một lát rồi cáo ra về. Em tiễn bác xuống tầng một và ra chỗ bác để xe đạp. Chiếc xe đạp còn tốt được khóa bằng sợi xích to cột vào một cọc sắt. Người to béo nên dáng bác lên xe vất vả. Em nhìn theo mà lòng vẫn còn thảng thốt. Một năm sau, Bác gửi lời cám ơn và bảo mạch xuất bản bên nhà Văn học đã thông nên không phải cậy nhờ bên Nhà xuất bản Đại học nữa”.


Tôi cảm ơn câu chuyện của cô Bé kể qua điện thoại và càng hiểu hơn những vất vả của một nhà thơ từ những dòng chữ đầu tiên trên trang sách cho đến khi cuốn sách ra đời. Xuân Diệu viết sách trong thời kỳ dài có nhiều khó khăn, chiến tranh, rồi chiến tranh và những năm trước thời kỳ đổi mới. Cái khó ở cả điều kiện vật chất lẫn cả tinh thần. Nhà thơ đã vượt lên luôn giữ cho mình bản lĩnh của một nhà thơ lớn và thực sự ông có quyền lực của một nhà thơ tài năng và giàu sức sáng tạo.


 


8-2008


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »