tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30523094
25.11.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (13)

VỀ BÀI THƠ MỴ CHÂU - TRỌNG THỦY


Ngày 06-3-1970


Thơ Pháp nặng didactique (giáo huấn) mà didactique không hấp dẫn với thơ. Bài Mỵ Châu - Trọng Thủy không kể lể câu chuyện xưa, cũng không nhằm răn dạy. Mỵ Châu - Trọng Thủy làm chủ hai dòng monologue (độc thoại) không có tự sự. Văn học châu Âu có những cặp tình nhân muôn đời được dựng thành tình nhân vĩnh cửu. Hai đứa bên nhau trong đêm tâm sự, một lòng, con người như một Est ce toi? Est ce moi? (giống như bên ta nói Tay ải tay ai?). Mình đọc Mỵ Châu - Trọng Thủy lúc mười bốn tuổi. Nhiều câu hỏi đặt ra với câu chuyện cảm động này. Bài thơ của Xuân Diệu muốn nói sự hy sinh của người đàn bà sẵn sàng quên mình. Tôi đã chứng kiến cảnh nàng dâu về nhà chồng, khóc thương mẹ cha, tạm biệt gia đình. Nữ nhân hướng ngoại. Tất cả cho tình yêu, cho nghĩa vụ:


Xưa nay muôn kiếp làm con gái,


Khăn gối sang sông hướng phía ngoài.


Xuân Diệu làm Mỵ Châu - Trọng Thủy trước ngày 9-3-1945, thời điểm xã hội sắp bước vào những xáo trộn lớn. Câu chuyện có tâm tình đau thương hy sinh trong tình yêu. Muốn làm prélutte (khúc dạo đầu) nói về tình yêu, về Mỵ Châu - Trọng Thủy.


Tặng lòng con trai


Tặng lòng con gái


Tặng hoa tặng đời


Tặng tình mãi mãi


 


Lòng riêng riêng tặng


Của chung chung mời


Lệ vàng đá nặng


Mời mây gió cười


 


Lệ em châu ngời


Tình anh biếc thủy


Một triền miên ý


Trăm man mác lời


 


Tạng đài tặng nhị


Tăng hương, tặng đời.


Tản Đà có làm một bài thơ về Mỵ Châu - Trọng Thủy. Mỵ Châu khi bị chém vẫn biểu hiện tình thương với đời.


Thơ Xuân Diệu không chịu chìm trong siêu hình, phải đi vào cụ thể. Mình hay dùng ngôi thứ nhất nhưng ở đây dùng ngôi thứ ba qua hai cái tôi. Tính chất nhân đạo, nhân tình cao hơn các bài khác. Nói tiếp tình sử của văn học thời kỳ trước Mác, Mỵ Châu - Trọng Thủy pha kịch thành déchirant (đau vò xé). Cao độ đau khổ, chín hơn về nhân tình, có không khí Sếchxpia. Xuân Diệu nói lên đau khổ của nhân vật với tình cảm yêu thương. Mỵ Châu chỉ có một khuyết điểm là nhẹ dạ. Mỵ Châu yêu, quên mình, mất cảnh giác, đến chết vẫn còn như ngơ ngác. Trọng Thủy chứng kiến bi kịch Mỵ Châu thảng thốt:


Thôi thiếp chết đây, nước hỡi nước,


Chồng hỡi chồng ôi ta hỡi ta.


Và đến lượt Trọng Thủy than thở:


Tóc tơ xõa phất như ngày mới


Mắt ngọc ngời như một mối sầu


Vợ trẻ muôn đời chồng vợ trẻ


Đôi ta mai mốt chết cùng nhau


Chẳng hẹn nhân gian thấy bạc đầu


Đã say rồi Mỵ Châu, Mỵ Châu.


rồi:


Mắt em hình lặng dồi trên sóng,


Em ngủ giấc tiên hay chẳng động


Đoạn đầu là không khí thành bốc lửa, cha con chạy trốn:


Cha đưa lên ngựa chao ôi đau lòng


Khói thành nghi ngút cơ đồ nát không


Tôi lên lưng ngựa tôi đi trốn chồng


Lửa còn ánh đỏ trên mông ngựa…


Đi làm chi nữa cha ơi cha


Mà biết đi đâu nhà hỡi nhà.


Tâm trạng Mỵ Châu rất thương đau. Có người con thương bố, người con tội lỗi với đất nước, người con gái yêu chồng, tin chồng và bị lừa dối nhưng tất cả vì lòng tin lầm lỗi, vì nhẹ dạ. Mỵ Châu - Trọng Thủy được viết với cảm hứng rất yêu cuộc đời, con người, chia sẻ bi kịch với mọi người cho dù trong lịch sử hay hiện đại. Trái tim vẫn không ngừng đập với lịch sử, nhất là những số phận cá nhân gặp bi thương.


Mỵ Châu - Trọng Thủy cố gắng kết hợp cảm hứng lịch sử với tình cảm con người hiện tại. Kết hợp cổ với moderne vẫn là một hướng phấn đấu của thơ Xuân Diệu. Nói về Xuân Diệu, Thế Lữ rồi Hoài Thanh đều nhấn mạnh tính chất moderne. Đúng thế nhưng còn một phương diện nữa là ông vẫn ngưỡng mộ cái cổ, có khi là một câu chuyện cổ, nhân vật cổ như Mỵ Châu - Trọng Thủy, Bá Nha - Tử Kỳ, người kỹ nữ, có khi là cổ nhạc, cổ ngôn dùng trong thơ. Tuy nhiên cái mới, cái hiện đại vẫn nổi trội hơn.


 


 


THƠ LÀ TIẾNG NÓI TƯƠNG HỢP


29-3-1970


Vội vàng nói lên lòng yêu đời. Hạn chế ở chỗ còn có tính chất cá nhân chủ nghĩa (cùng giọng điệu với bài Giục giã). Mình và Huy Cận là học sinh nghèo thương cha mẹ, không chơi bời, rượu chè, thuốc lá, cô đầu và mang nỗi buồn như người kỹ nữ: “Lòng thi sĩ cũng sầu như biển lớn”. Nói vộng vàng là sợ sự trôi chảy của thời gian, sợ tuổi trẻ sớm qua đi. Vội vàng, ý thơ trong thơ Pháp có từ Rôngsa, sau này đến Lamáctin, Bôđơle. Vội vàng, Giục giã là những tâm trạng, những thôi thúc của thanh niên. Thanh niên nói hăng hái nhưng hạn chế là không có hành động. Nói chung phải năng động trong suy nghĩ, phải gấp gáp trong hành động. Và mặt khác, về chất lượng phải ở cao độ. Không có cao độ, không tạo được điển hình. Tâm sự về bài Bác ơi, Tố Hữu cũng bảo phải nói cao độ. Vội vàng là nói cao độ - đặc điểm của tuổi trẻ. Xuân Diệu muốn nói tuổi trẻ, sức trẻ trong thơ. Một yêu cầu nữa của thơ mới là vẻ đẹp, cụ thể của cuộc đời, của thiên nhiên tạo vật, nghĩa là phải nhiều màu sắc, giàu chất họa. Nguyễn Du miêu tả còn chung chung:


Làn thu thủy, nét xuân sơn,


Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.


Nguyễn Du thấy quê hương nhưng không thấy đất nước. Nguyễn Gia Thiều cũng trong giới hạn đó:


Liễu thược dược mơ màng thụy vũ,


Đóa hải đường thức ngủ xuân tươi.


Nguyễn Khuyến miêu tả cụ thể hơn mùi hương, vầng trăng, cảnh vườn nhà, nhất là không khí của làng quê. So với thơ xưa, thơ mới miêu tả khá chân thực và cụ thể nhiều bức tranh thiên nhiên. Thơ mới có sương mù, có hàng liễu xanh, có hoa tươi, có đê Yên Phụ, Hồ Tây.


Xuân Diệu rất yêu hoa, những đóa hoa thân thuộc trong vườn nhà:


Vàng tươi, thược dược cánh hơi xòa;


Ửng rạng; phù dung nghiêng mặt hoa;


Nhánh vút làm cho lan chớm ngợp;


Lòng trinh giữ lại nửa bông trà.


(Lạc quan)


Trong thơ mới cũng có đủ bốn mùa. Xuân Diệu từ khi ra miền Bắc cũng diễn tả vẻ đẹp của bốn mùa trong thơ. Một mùa xuân rất đẹp không chỉ trong thiên nhiên mà cả trong tâm hồn. Có một cái gì đó có tính chất hồi sinh trong suy nghĩ, cảm xúc, Xuân không mùa là một sáng tạo tinh vi. Nhà thơ cảm nhận được mùa xuân trong thiên nhiên và ở mỗi con người. Mùa hạ trong thơ Xuân Diệu có những bài đau đớn. Năm 1942 vào Mỹ Tho, cuộc đời chung bế tắc và hoàn cảnh riêng cũng rất buồn nên có những câu thơ vào loại đau đớn nhất trong thơ Xuân Diệu:


Tiếng gà gáy buồn, nghe như máu ứa,


Chết không gian, khô héo cả hồn cao!


Thắm tuyệt vọng hai hàng bông phượng lửa,


Thê lương đời như trải mấy binh đao.


(Hè)


Thơ mới ít có những câu thơ đẹp về mùa hè như trong thơ Nguyễn Du:


Dưới trăng quyên đã gọi hè,


Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông.


Và mùa thu là mùa đẹp, thơ mới có nhiều thành tựu. Hồn thu nhập vào thơ mới. Lưu Trọng Lư với Tiếng thu, Xuân Diệu với Đây mùa thu tới, Chế Lan Viên với Thu, Huy Cận với Thu rừng. Mỗi tác giả có một cách nói riêng. Mùa thu của Lưu Trọng Lư không giống với mùa thu của Xuân Diệu và mùa thu của Xuân Diệu cũng khác với mùa thu của Chế Lan Viên. Nhưng nói chung vẫn là những mùa thu đẹp, buồn và nhiều mơ mộng, hợp với tâm hồn của nhà thơ biết tìm cái đẹp trong tâm trạng buồn.


Thơ mới cũng đặc biệt quan tâm đến nhạc, nhạc trong thiên nhiên tạo vật, trong đời và nhạc của tâm hồn con người. Trong thơ cổ cũng đã có nhiều nhà thơ sử dụng nhạc có hiệu quả trong thơ. Trong Chinh phụ ngâm có những câu thơ giàu tính nhạc:


Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo


Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò


nghe như có tiếng gió thổi.


Trong Truyện Kiều có tiếng xe trên con đường không bằng phẳng:


Vó câu khấp khểnh bánh xe gập ghềnh


có tiếng nhạc quân:


Thì thùng trống trận râp rình nhạc quân


đặc biệt là cảnh của buổi chiều hôm:


Buồn trông cửa biển chiều hôm


Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa


Buồn trông ngọn nước mới sa


Hoa trôi man mác biết là về đâu


Buồn trông nội cỏ rầu rầu


Sự hòa hợp âm thanh, màu sắc, hương vị và thơ sẽ có một chất lượng mới. Chúng mình ảnh hưởng Bôđơle: “Les parfums, les couleurs, et les sons se répondent”. Phải có sự tương hợp, hòa hợp, tinh tế và sáng tạo.


 


VỀ TƯ TƯỞNG NGHỆ THUẬT


Ngày 08-4-1970


Nghìn dặm chày khua đều một sắc,


Nửa vầng trăng ló nhạt năm canh.


(Vấn nguyệt)


Thơ phương Đông, phương Tây cùng tìm đến cái đẹp nhưng cũng rất khác nhau từ khởi điểm cho đến cái đích cuối cùng. Từ thơ tình cảm, triết lý mỗi nơi một khác. Ở châu Âu, xã hội phát triển nhah nên có nhu cầu về nhiều mặt, trong đó có nhu cầu thẩm mỹ: từ lettre (văn0 thành belle lettre (văn chương), art (nghệ thuật) thành beaux arts (mỹ thuật) - cuộc sống phát triển từ nhu cầu bình thường thành nhu cầu chọn lọc. Văn học rồi bảo tàng văn học chỉ là một phần nhỏ trong bảo tàng chung của văn hóa nhân loại nhưng là bảo tàng hạt tiêu. Thơ châu Âu coi trong vie sentimentale (đời sống tình cảm) trong vie nationale (đời sống dân tộc). Ở ta nation xuất hiện sớm nhưng thấp, châu Âu có thể muộn nhưng tập trung hơn. Xã hội phát triển nên sớm tiêu chuẩn hóa, trong đó có tiêu chuẩn hóa cái đẹp. Ở Pháp luôn có sự phân loại, ngay từ thế kỷ XVII - XVIII có loại được xem là thi sĩ có loại chỉ là poète médiocre (nhà thơ xoàng) hay poète secondaire (nhà thơ loại hai), có loại gọi là écrivain (nhà văn) có loại chỉ là écrivant (người viết). Văn chương phương Tây individu xuất hiện sớm dễ kết tinh thành tác phẩm hay. Với Lamáctin, những bài thơ lớn như Le lac (Hồ), L’isolement (Cô đơn) được yêu thích. Individu xuất hiện sớm làm điểm xuất phát và điểm tựa cho cái tôi trong văn học phát triển. Thơ và tâm trạng trong thơ phải gắn với cái tôi cá thể, với chủ thể sáng tạo mới gây xúc cảm. Kể cả với tiểu thuyết cũng thế. Tình trạng quy phạm hóa và ước lệ chung chung sẽ làm văn chương mờ nhạt.


Nên văn học trong xã hội có giai cấp không giải quyết được mâu thuẫn giữa individu và xã hội, Pétsôrin của Lécmôntốp muốn rời orbite (quỹ đạo) của noblesse (quý tộc) nhưng không có lối ra. Hồng lâu mộng cũng đặt vấn đề individu nhưng không có lối thoát. Hécnani của Huygô là héros fatal (nhan vật định mệnh). Anphrét đơ Vinhi cũng vậy.


Suy nghĩ trong nhiều tác phẩm của Xuân Diệu cũng là vấn đề đó. Nguyệt cầm đặt vấn đề theo lối Trần Tử Ngang và Thôi Hiệu. Nói cho cùng là người muốn hành động tobe or not to be, tồn tại cho có ý nghĩa. Suy nghĩ cũng là để hành động, không hành động được nhưng vẫn suy nghĩ. Hy Mã Lạp Sơn đặt nhiều suy nghĩ giữa cái bình thường và cái cao cả, giữa cá nhân và cộng đồng. Nguyễn Du cũng đặt nhiều vấn đề suy nghĩ về thân phận con người. Về chữ tâm và chữ tài, về thân phận người phụ nữ. Làm sao bảo vệ được sự trong sạch trong xã hội xấu xa và ông phải hai lần thốt lên: “Đau đớn thay phận đàn bà” trong Truyện Kiều và Văn tế thập loại chúng sinh. Bút ký Người lệ ngọc của Xuân Diệu cùng tư tưởng với người có óc vàng của Anphôngxơ Đôđê. Thơ là sáng tạo, thơ là tình cảm, là ánh sáng từ vibration (rung cảm) này sang vibration khác, là suy nghĩ bằng tình cảm. Lời kỹ nữ cũng là lời thi sĩ. Nhà thơ muốn ban phát và muốn làm giàu cho người khác. Phải tự tin, tự đại mới làm thơ được. Xuân Diệu cũng có máu muốn tự hy sinh để làm giàu cho người khác. Và quan trọng là tình thương. Thơ Xuân Diệu, đặc biệt là văn xuôi rất giàu tình thương. Trong Phấn thông vàng các truyện Tỏa nhị kiều, Chó hoang, Mèo hoang, Cái giường đều giàu lòng thương người. Không có action révolutionnaire (hành động cách mạng) nên mới đau kổ vì muốn chia sẻ, hành động.


Cho tôi đau và bớt khổ loài người


Tôi nguyện chết ở trên cây thánh giá.


Hình tượng và tư tưởng nhân đạo của Giêsu ám ảnh nhà thơ. Lại có luồng tư tưởng giống như con Pélican. Với tư tưởng đó, sau Cách mạng, Xuân Diệu muốn chan hòa và chia sẻ vui buồn với quần chúng và sẵn sàng hiến dâng:


Trong buổi tằm lên nhân loại mới,


Lòng tôi như thể chiếc nong xanh.


(Mê quần chúng)


Không nên nghĩ rằng Xuân Diệu có tính chất ban ơn mà là tình bạn bè đồng bào, đồng chí chân tình san sẻ tình cảm.


So sánh trình độ thơ của Chế Lan Viên và của Xuân Diệu thì dễ thấy sau Cách mạng Xuân Diệu đã sớm giải quyết được tư tưởng và xuống đường cùng với quần chúng (Đi giữa dòng người, Mê quần chúng). Xuân Diệu đã hòa ngay với cuộc sống mới. Processus (quá trình) của Chế Lan Viên chưa hoàn thành vẫn nặng về chất tiểu tư sản - rêve - idéaliste; Chế Lan Viên ở trên cao nên có những yếu tố tự kìm mình hay nói như tác giả “Đi xa về hóa chậm”. Thơ Xuân Diệu sau Cách mạng là một quá trình phát triển về tư tưởng qua các chặng đường. Không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu có Những bước đường tư tưởng của tôi. Riêng chung là tập thơ thu hoạch về tư tưởng, xây dựng fondement (nền tảng) vững. Bài Gió: “Hồn tôi cánh rộng mở - Đòi bên gió thổi vào - Nghĩ những điều hớn hở - Như trời cao cao cao”. Hồng Chương có lần phê phán mình, chất vấn nhà thơ là: ngọn gió hai bên thổi vào là gió gì, phải chăng là thứ gió cơ họi? Xin thưa với bạn Hồng Chương, với nhà tư tưởng Hồng Chương rằng khi tôi nói hồn tôi cánh rộng mở đó là gặp cánh tâm hồn, mà đã là cặp cánh thì gió phải thổi cả hai bên nâng cặp cánh tâm hồn lên chứ. Hiểu thơ mà đơn giản thì chẳng còn gì. Bài Gió cùng dòng tư tưởng nhất quán từ trước Cách mạng cùng với bài An ủi giữa loài người. Xuân Diệu trước Cách mạng cũng luôn có ý thức thoát khỏi bản ngã. Bài Một đêm sao đăng Thanh nghị, được Hoài Thanh chú ý. Bài viết muốn từ bỏ le moi (cái tôi). Nhìn đêm sao đặt vấn đề không gian, ngắm sao mãi và cảm thấy muốn rời khỏi cái tôi mà đi vào vũ trụ rộng lớn nhưng rồi cũng bơ vơ. Cách mạng đã đem đến cho nhà thơ cuộc đời và nhất là quần chúng: “Trời ơi quần chúng hóa tình nhân”. Riêng chung là tập thơ giác ngộ về tư tưởng. Chú ý bài Ốm, bài thơ trung bình thôi nhưng biết nhược điểm của mình về tư tưởng. Luôn có ý thức đấu tranh, chiến đấu và tự nhiên, không chiến đấu là chết. Lúc này Xuân Diệu cũng đã năm mươi nhăm tuổi. Mình phải cố gắng hy sinh cho tác phẩm, tác phẩm phải cao hơn tôi. Từ năm 1961, Xuân Diệu đã có hiện tượng trở lại về tình yêu như bài Hỏi trong Riêng chung. Từ Mũi Cà Mau - Cầm tay mạch thơ tình phát triển đến nay đã có 230 bài.


Bài Lệ mang ý nghĩa lịch sử. Trước Cách mạng, trong buổi họp lớn ở Đông Dương học xá có hai vạn người dự lễ kỷ niệm Hai Bà Trưng, Xuân Diệu đã khóc. Sau Cách mạng, say sưa với cuộc đời mới và năm 1957 đón Chu Ân Lai ở sân bay thấy bộ đội đẹp. Lệ mở đầu là những giọt lệ đau khổ của thời phong kiến về nạn thê thiếp, kỹ nữ, vợ lẽ con riêng.


Sang phần hai, romantisme, thích fiction (tưởng tượng), thích nói tiếng nói từ trái tim. Sang phần ba là tình người, tình đời có tính chất époée (sử thi), époée de l’homme (sử thi về con người).


Trong Riêng chung, bài Ngọc tặng em có ý nghĩa tượng trưng, tình yêu dưới dạng một viên ngọc. Tình yêu - ta biết rằng người đến nhưng vất vả lắm. Vầng trăng cũng trở lại với thơ Xuân Diệu. Trăng là tượng trưng cho tình yêu. Mơ mộng, yêu đương gắn với trăng. Khi cơ thể già dần, răng cọc cạch thì không còn thích trăng nữa. Thơ Xuân Diệu đã mở ra một thế giới trăng cho tình yêu, cho sự sống của con người.


Trăng mơ mộng gắn với không gian. Phải đến romantisme trăng mới đẹp, mới hay, có individu vầng trăng mới có vẻ đẹp của chiều sâu gắn với người ngắm cảnh có tâm trạng. Trăng Xuân Diệu hơi rờn rợn, trạng thái này không có trong vầng trăng trung đại. Trăng Hàn Mặc Tử không xanh mà là vầng trăng bạch. Trăng Xuân Diệu xanh. Và thời ta hiện nay có rất nhiều thứ trăng: trăng hội hè, trăng du kích, trăng sơ tán,… thiên nhiên luôn gắn bó và là tín hiệu cho xã hội.


Xuân Diệu tạo không khí giỏi trong thơ, nhất là không khí thiên nhiên. Chỉ một vài nét đã có thể tạo khung cảnh:


- Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá,


Ánh sáng tuôn đầy các lối đi.


(Trăng)


- Trăng, vú mộng đã muôn đời thi sĩ


Giơ hai tay mơn trớn vẻ tròn đầy.


(Ca tụng)


- Trăng nập vào dây cung nguyệt lạnh


Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần.


(Nguyệt cầm)


- Gió sáng bay về; thi sĩ nhớ,


Thương ai không biết, đứng buồn trăng.


(Buồn trăng)


Xuân Diệu không lạp lại mình. Không phải là miêu tả đêm trăng, ánh sáng, thiên nhiên, cảnh vật mà cao hơn là tạo không khí của đêm trăng phù hợp với ý tưởng bài thơ. Không phải là phương pháp, là bí quyết mà là tài năng thi sĩ:


Trăng vừa đủ sáng để gây mơ,


Gió nhịp theo đêm không vội vàng.


Khí trời quanh tôi làm bằng tơ,


Khí trời quanh tôi làm bằng thơ.


Đó là đêm trăng của thi sĩ với nhiều mộng tưởng.


 


MẠCH THƠ TÌNH LẠI ĐƯỢC TIẾP NỐI


Ngày 29-6-1970


Cầm tay là chùm thơ đầu về thơ tình sau một thời gian dài nhà thơ như im hơi lặng tiếng. Thực ra thì Xuân Diệu vẫn viết nhưng không khí cách mạng rồi chiến tranh không thuận lợi cho cảm hứng sáng tác thơ tình. Chiến tranh là hy sinh, tổn thất, là tạm quên cái riêng cho trách nhiệm với đất nước, chiến tranh là xa cách - vì thế thơ tình khó viết và chưa phải là một nhu cầu thiết thực của người đọc. Hòa bình lập lại, đất nước lại hồi sinh sau những tháng năm bị tàn phá, con người lại nghĩ đến hạnh phúc, đến tổ ấm gia đình. Trong bài thơ chúc Tết năm 1961, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:


Đường lên hạnh phúc rộng thênh thênh.


Thơ tình lại đến với người đọc. Số lượng những bài thơ tình sau Cách mạng của Xuân Diệu khá lớn. Xuân Diệu nói: “Dường như giai đoạn nào cũng có thơ tình nhưng không in thành tập riêng. In riêng khác nào lạy ông tôi ở bụi này. Không trốn tránh nhưng phải kín đáo. Như một bữa ăn gồm các thứ thực phẩm chính rồi thơ tình là món ăn tráng miệng, món ăn tinh thần. Nó gồm một hai chục bài đằng sau các đề tài chiến đấu, sản xuất. Thiếu nó tập thơ sẽ hụt hẫng”. Theo mạch phát triển đó, thơ tình Xuân Diệu lẫn lượt in qua các chùm thơ tình Một khối hồng, Hai đợt sóng, Tôi giàu đôi mắt, Thanh ca. Ông nói tiếp: “Thơ tình sau Cách mạng khó viết hơn. Trước hết là vì năm tháng tuổi tác mình già dần, tiếng hót của con chim không non tơ nữa, nhất là khi đã bước vào tuổi năm mươi. Cảm xúc không còn thanh thản nhẹ nhàng. Mình ở đầu này processus mà lớp trẻ ở đầu kia của processus nên đã rất khác nhau. Song phải có kinh nghiệm bù đắp, lấy của người làm của mình. Mình nói hộ tình yêu của tuổi trẻ, tình yêu đẹp ấy nhập vào nhà thơ và nhà thơ nói hộ, nói có cảm xúc như chính của bản thân mình. Phải có độ giao cảm, hòa nhập cao. Cái khó thứ hai là thơ tình thường phải tìm đến sự vô biên và tuyệt đích, mà điều này dễ dàng chạm đến thị hiếu cộng đồng. Thơ tình không phải viết cho riêng mình mà phải chú ý đến mọi người với tinh thần: “Cầm tay chủ nhật hòa trong phố người”. Bài Biển vượt ra khỏi ràng buộc đó vì mượn hình ảnh tượng trưng của thiên nhiên mà thiên nhiên thì có quy luật riêng của nó và có khi lại phù hợp với quy luật của tình yêu hơn vì nó không chịu ràng buộc nào”.


“Trong các tập thưo sau Cách mạng, Một khối hồng, vững. Chùm thơ xây dựng chủ nghĩa xã hội vững hơn Hai đợt sóng và cả Tôi giàu đôi mắt. Nhưng nhìn chung, Tôi giàu đôi mắt khá hơn cả. Mỗi bài thơ của Xuân Diệu là một tế bào. Nếu mở rộng thì nó cũng phát triển xoay quanh cái trục của nó là cái lõi của tế bào. Bài thơ của Chế Lan Viên là một chùm liên kết của những suy tưởng và có thể nhược điểm tự nó mở rộng ra. Tập Tôi giàu đôi mắt khi nói về nhân dân thế giới vẫn phải bám vào cái cơ bản là cảm nghĩ của đất nước đang chống Mỹ cứu nước. Phải có hình tượng Mẹ - lấy đó để phát triển và mở rộng ra các hình ảnh khác. Trong một số bài bút pháp của Xuân Diệu học tập ở Huygô, mở đầu là chùm thơ về Bác Hồ, Cách mạng tháng Mười Nga - là một trong những bài thơ khá với những hình tượng khái quát:


Sông Nêva bỗng nghe một tiếng gầm rung


Vỡ lịch sử ra làm hai nửa,


Bài đi đến thăm nhà đồng chí Lênin, là thời kỳ khá fécond (phong phú). Sau tập này đã thấy viết khó hơn. Viết về những sự kiện trong cuộc sống thật là khó vì hay rơi vào kể lể. Tôi đã ngấy lối thơ nói rồi, phải cô đọng hơn. Phải có cái gì nói từ bên trong ra chứ không phải là kể lể. Nói cho cùng, cũng như với người đàn bà là buồng trứng. Yếu tố vô hình nhưng rất quan trọng là buồng trứng còn sinh sôi không. Hết chu kỳ hoạt động của buồng trứng là chỉ có phần bên ngoài. Chùm Cầm tay và chùm Đôi đũa mun khác nhau. Chùm Cầm tay hay hơn, trở lại với duyên đầu. Thơ tình gắn với thời sự nhưng không kể về thời sự. Thời sự ở đây là cái hằng ngày, cái chi tiết nhưng có tính khái quát và gắn với thời cuộc qua cái tôi của mình cảm nhận. Viết thơ tình, Xuân Diệu thích chen vào trái tim của con người để lắng nghe nhịp đập. Phải ở cao độ của xúc cảm viết mới hay. Tuổi trẻ mới có tình yêu sét đánh, còn về sau thì như con tằm ăn lá dâu. Như bài thơ tình hai câu: “Đến như tia chớp vậy thôi - Mà gieo trận bão kinh người trong anh” là bài thơ tình của tuổi trẻ chất chứa lắm. Lúc còn trẻ thì cảm xúc tràn đầy nên nói thẳng mạch cảm xúc chứa chan tình cảm như những bài Phải nói, Tương tư chiều, Buồn trăng, Vội vàng. Khi tuổi đã cao phải tạo cách nói khác. Con đường thẳng không đưa mình đến đích. Phải dựa vào tứ, tứ là đường dây dẫn dắt cho tình cảm, làm điểm tựa cho tình cảm có chỗ đậu. Các bài thơ Hôn cái nhìn, Mắt em, Hai tấm gương, Đèo xe đạp đều có cái tứ gợi cho cảm xúc phát triển. Thơ tình tinh vi và mỏng manh lắm. Làm thơ như người đi trên dây thép. Phải tự nó tạo được sự cân bằng. Thơ tình đồng hành với tiếng nói bên trong, với sự im lặng. Trái tim xúc động, nhỏ nhoi, thầm lặng. Thơ Chế Lan Viên như người bắn pháo hoa, người cầm gươm múa sáng loáng. Mỗi người có một hướng đi, một cách biểu hiện. Thơ tình Xuân Diệu chiếm lĩnh ở bề trong và điều quan trọng là thơ tình phải có triết lý, triết lý không sống sượng, vấn đề đặt ra thường xuyên là to be or not to be. Thơ tình cũng là vấn đề sống, chết, tồn tại hay không. Có tình yêu chân chính nâng sự sống lên tột đỉnh, không có tình yêu là không tồn tại. Sự sống sẽ tạo nên những giá trị bất tử trong quá khứ và hiện tại. Kỷ niệm chính là sự sống còn ghi đậm trong quá khứ, và xúc động mãnh liệt là sự sống trong tương lai, đường dây cảm xúc phải như dòng điện chạy trong bài thơ, nối quá khứ với hiện tại và cả tương lai. Người thi sĩ là người mắc dây điện giỏi nên đưa điện về với cuộc đời. Nhà thơ đi tìm cái đẹp trong cuộc sống rồi đưa về trong thơ. Xuân Diệu đi nhiều vùng đất, thiết tha gắn bó với cuộc sống. Từ vùng cao Mã Pí Lèng cho đến vùng biển Cô Tô, đồng đất Thái Bình. Cố gắng tìm cái đẹp của cuộc sống nhiều khi trần trụi hoặc ca hát về cuộc sống như Véclen đã từng ca hát. Những bài thơ về Điện Thác Bà, Rừng Cúc Phương, Ổi Hồ Tây là những cách cảm nhận chuyển tải cái đẹp của cuộc sống. Ngay một bài Ổi Hồ Tây cũng tốn nhiều bút lực cho những câu thơ tưởng như là hồn nhiên, ngây thơ: “Ổi là thứ trẻ con ưa”. Xuân Diệu cũng viết một số bài về trẻ con: Con làm toán, Bố nhìn con, không hẳn là con mình nhưng cũng là tình cảm yêu thương hai thế hệ, giàu tính nhân đạo che chở, đùm bọc cho trẻ thơ. Đề tài cách mạng trong thơ phong phú và cũng nhiều thử thách với người viết. Nhà thơ phải biết chọn cái gì hợp với tạng của mình.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »