tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29883930
20.11.2013
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (11)

Phần hai: TRÒ CHUYỆN VÀ GHI CHÉP VỀ THƠ XUÂN DIỆU


 


NHỮNG CÂU HỎI VỀ THƠ XUÂN DIỆU


 


Vào những tháng cuối của năm 1969, tôi gửi đến nhà thơ Xuân Diệu những câu hỏi về thơ ông và mong được ông giải đáp. Dạo ấy tôi đang viết Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, một công trình kết hợp giữa lý luận và thực tiễn thơ Việt Nam và thơ ca nói chung. Công việc đòi hỏi phải khảo sát và tìm hiểu thơ Việt Nam quá khứ và nhất là thời kỳ hiện đại. Điều may mắn là lúc này các thế hệ nhà thơ hiện đại vẫn đang sung sức trong cảm hứng sáng tác của thời kỳ chống Mỹ cứu nước. Lớp trước Cách mạng có Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Tố Hữu, Tế Hanh, Anh Thơ. Lớp Cách mạng và kháng chiến có Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nông Quốc Chấn, Chính Hữu. Thế hệ chống Mỹ cứu nước, người đang phát triển tài năng, người đang định hình phong cachs với Giang Nam, Thanh Hải, Lê Anh Xuân, Thu Bồn, Dương Hương Ly, Xuân Quỳnh, Phạm Tiến Duật, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Bằng Việt, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Trần Đăng Khoa… Tôi bắt đầu tìm đến Xuân Diệu, trình bày ý định của mình và gửi đến ông các câu hỏi về thơ. Thực ra thỉnh thoảng tôi vẫn lui tới nhà Xuân Diệu - Huy Cận và nghe chuyện đời, chuyện thơ. Lúc này Xuân Diệu năm mươi mốt tuổi còn tôi ba mươi tư tuổi. Ông là một tài năng thơ có nhiều trải nghiệm, một nhà thơ giàu tri thức và ở chặng đường thơ nào cũng có thành tựu, đặc biệt ưu trội hơn là chặng đường thơ trước Cách mạng - thời của tuổi trẻ và mơ ước. Xuân Diệu nhận lời và công việc được tiến hành qua nhiều lần gặp gỡ( ). Tôi hỏi và lắng nghe, ghi chép là chủ yếu. Thỉnh thoảng xen vào đôi ý kiến riêng, để có không khí cho câu chuyện. Tôi cảm ơn ông đã dành cho tôi thời gian và cho tôi nhiều ý kiến quý báu. Có buổi mất điện, tôi phải ghi chép trong đêm. Trên ba mươi năm đã trôi qua, tôi vẫn giữ gìn tập bản thảo, giấy đã nhuộm màu vàng thời gian, chữ viết vội nhiều lúc khó đoán ra.


Xuân Diệu là nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới. Hiểu được ông và hiểu cho đúng ông, chắc là không dễ dàng. Đọc kỹ lại những ghi chép về ông, càng thấy một Xuân Diệu tài năng, nhất quán, đa dạng trong thơ, văn, nghiên cứu phê bình; trong cuộc đời năng động, nhân ái và cô đơn của mình.


 


Những câu hỏi gửi đến nhà thơ Xuân Diệu


Xin gửi đến anh mấy câu hỏi để anh giải đáp giúp cho:


1. Theo anh thì phong cách thơ Xuân Diệu trước Cách mạng bao gồm những đặc điểm chủ yếu nào?


2. Trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng, trong tình yêu nam nữ có bao hàm những trạng thái tình cảm nào khác không?


3. Cái tôi của Xuân Diệu trong thơ, ngoài những trường hợp biểu hiện trực tiếp, người đọc còn thấy qua hình ảnh người kỹ nữ, chú lái khờ, Hy Mã Lạp Sơn. Anh cho biết cái tôi của nhà thơ còn bộc lộ ở những trường hợp nào khác?


4. Trong thơ anh có những trạng thái biểu hiện tình cảm đối lập hoặc khác biệt trong quá trình sáng tác như giữa lãng mạn và hiện thực, giữa tình yêu cuộc sống và sự thoát ly chán nản,…?


5. Những bài thơ mang tính chất triết lý trong hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió.


6. Những bài thơ về trăng. Hình ảnh trăng trong thơ anh được sử dụng theo những ý định tư tưởng nào.


7. Nét chủ yếu về sáng tạo và cách tân về hình thức trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng.


8. Tình cảm yêu đời gắn bó với đời theo anh được biểu hiện rõ nhất trong những bài thơ nào (trước Cách mạng).


9. Xin anh nói kỹ cho môt số bài thơ tiêu biểu: Lời kỹ nữ, Nguyệt cầm, Cảm xúc, Đây mùa thu tới, Vội vàng…


10. Ảnh hưởng của thơ ca phương Tây đến thơ Xuân Diệu. Anh thích nhất nhà thơ nào trong các tác giả Lamáctin, Đơ Noai, Bôđơle, Anphrét đơ Vinhi.


11. Những sáng tạo về ngôn ngữ của thơ Xuân Diệu.


12. Về tính đa dạng của thơ Xuân Diệu từ sau Cách mạng. Phong cách truyền thống và phần sáng tạo.


13. Nhà thơ Xuân Diệu khai thác và phát triển tính dân tộc trong nội dung và hình thức thơ như thế nào.


14. Thơ tình lĩnh vực Xuân Diệu có nhiều thành tựu. Xin cho biết tính chất đặc biệt của chủ đề này.


15. Ảnh hưởng ít nhiều của Nadim Hítmét, Pablô Nêruđa, Lui Aragông với thơ Xuân Diệu thời kỳ sau Cách mạng.


Thưa anh, ngoài những câu hỏi trên, trong quá trình làm việc có điều gì thắc mắc tôi lại đề đạt thêm.


 


Cám ơn anh


Hà Minh Đức


 


SUỐT ĐỜI, THƠ TÔI KHÔNG ĐI RA NGOÀI TIẾNG NÓI CỦA TRÁI TIM MÌNH


 


Vào các năm 1969 và 1970, mặc dù trong những năm chiến tranh chống Mỹ cứu nước, tôi có may mắn được nhà thơ Xuân Diệu tiếp và nói chuyện về thơ và thơ Xuân Diệu trong nhiều buổi. Xuân Diệu là nhà thơ lớn, giàu suy nghĩ và kinh nghiệm sáng tạo. Tôi đã ghi chép khá đầy đủ ý kiến của Xuân Diệu. Một số ý đã được trích ra và giới thiệu qua hai bài: Xuân Diệu nói về hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió, Xuân Diệu nói về Đây mùa thu tới. Nhân dịp kỷ niệm 85 năm sinh của Xuân Diệu (02/02/1916 - 18/12/1985), tôi giới thiệu tiếp một số ý kiến của Xuân Diệu. Tôi nhờ nhà thơ Huy Cận xem lại giúp và đã được ông nhận lời.


 


HMĐ: Thuở ban đầu thường ghi lại nhiều kỷ niệm trong đời, trong thơ. Xin anh cho biết một chút về buổi ban đầu của thơ anh:


XD: Có lẽ phải bắt đầu từ tuổi học trò, tuổi nhỏ nhiều yêu mến. Hồi còn học ở College (trung học), tôi viết tập thơ đầu lấy tên là Bậc thang đầu. Tập thơ này chịu ảnh hưởng của lối thơ cổ thể có phú, đối. Tôi học viết theo kiểu thơ Tản Đà, có nhiều bài vịnh cảnh thiên nhiên như vịnh bãi biển Quy Nhơn và lấy biệt hiệu là Trúc Tùng. Cũng có một lần tôi lấy tên là Chim Sương trong một bài thơ đăng trên loại sách ba xu của Phạm Ngọc Thọ làm theo điệu thơ của Rôngsa với thể một câu dài ba câu ngắn. Về sau mới đi vào romantisme (chủ nghĩa lãng mạn). Cảm hứng theo romantisme hợp với tâm hồn mình, không gò bó mà tự do, bay bổng. Những bài viết đầu trong Thơ thơ cũng gắn nhiều với cảm xúc đẹp trước thiên nhiên và một tình yêu ban đầu hồn nhiên, tươi trẻ.


Bài thơ đầu của tôi đăng trên báo Phong hóa năm 1935 là bài Với bàn tay ấy. Số Tế Ngày nay năm Mậu Dần đăng bài Cảm xúc. Lúc viết bài Cảm xúc, tôi chưa cảm thấy hay nhưng khi gửi đến tòa soạn, Thạch Lam rất khen. Tôi viết tự nhiên nhưng có nhiều ý cho rằng tôi bộc lộ khá đầy đủ quan điểm nghệ thuật của thơ ca lãng mạn. Có thể hình ảnh và cảm xúc thơ gợi lên nhiều cách cảm nhận ở bạn đọc.


Bài thứ hai là bài Nụ cười xuân với khổ thơ mở đầu:


Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui,


Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời.


Sao buổi đầu xuân êm ái thế,


Cánh hồng kết những nụ cười tươi.


Chị Anh Thơ trong một lần trò chuyện đã nói là chị thích bài thơ này. Chị cho rằng nó tươi tắn, hồn hậu và trong sáng.


Bài thứ ba là bài “Vì sao?”, đã thấp thoáng hình ảnh một Xuân Diệu trong buổi đầu đến với tình yêu:


Tôi khờ khạo lắm, ngu ngơ quá,


Chỉ biết yêu thôi, chẳng hiểu gì.


Bài thơ đầu của Huy Cận là bài Chiều xưa cũng đăng trên Ngày nay số Tết, bìa số báo này do Nguyễn Gia Trí trình bày với tranh Ngũ hổ. Huy Cận trước có một số bài đăng trên báo Tràng An của Hoài Thanh ký tên Hán Quỳ. Khi viết bài Cảm xúc, anh Thế Lữ có chữa cho tôi một chữ. Tôi viết:


Là thi sĩ, nghĩa là run với gió,


Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây.


Anh Thế Lữ chữ lại là:


Là thi sĩ, nghĩa là ru với gió


Anh Thế Lữ rất tinh về thơ. Một số góp ý của Thế Lữ cùng giúp cho anh em thơ mới nhiều.


HMĐ: Các nhà thơ trong phong trào Thơ mới hay trao đổi và góp ý cho nhau về thơ. Anh Xuân Diệu cho biết là có trường hợp nào những gợi ý của bạn thơ không được tác giả tiếp nhận?


XD: Chuyện ấy cũng bình thường thôi. Khi mình viết bài Đây mùa thu tới, có câu thơ:


Hơn một loài hoa đã rụng cành.


Bài thơ đăng trên Ngày nay số Trung Nam Bắc và anh Thế Lữ đã chưa cho tôi câu đầu:


Đã mấy loài hoa rụng dưới cành


Sau này in sách, tôi phục lại câu thơ của mình.


Thời gian trong câu thơ “Đã mấy loài hoa rụng dưới cành” đã trôi chảy nhiều không phù hợp với ý mùa thu mới tới, đang tới của tôi. Dù sao thì tác giả cũng là người hiểu đứa con đẻ của mình trừ trường hợp ngoại lệ là mình chủ quan quá hoặc là có hoàn cảnh cần đến sự viện trợ của bè bạn tri kỷ.


HMĐ: Trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân khi viết về Huy Cận có nhắc tới hai câu thơ trong bài Chiều xưa:


Ngàn năm sực tỉnh lê thê


Trên thành son nhạt - chiều tê tái sầu…


Câu thơ được Xuân Diệu gợi đổi mấy từ cuối của câu tám thành “Trên thành son nhạt - chiều tê cúi đầu…”. Hoài Thanh và Hoài Chân băn khoăn: “Tôi có nghe người ta nói vốn Huy Cận viết Chiều tê tái sầu. Nhưng có lẽ vì như thế rõ ràng quá nên Xuân Diệu chữa lại Chiêu tê cúi đầu. Không rõ sự thực có vậy không”( ).


Anh có nghĩ như thế không trong trường hợp này?


Xuân Diệu: Kể ra có khá hơn nhưng vẫn chưa thích lắm. Bài Chiều xưa của Huy Cận là một bài thơ hay mà hơi thơ buồn thoảng nhẹ, chữ tê cúi đầu hơi cầu kỳ: Ngay trong thời kỳ thơ mới tôi cũng không thích style alambiqué (văn cầu kỳ), nó không thật gợi cảm. Trong toàn bài thì những chữ tê cúi đầu tạo thành một note discordante (điểm không hòa hợp). Nhưng dù sao thì vẫn khá hơn tê tái sầu, mấy chữ này nặng nề, không phù hợp với không khí chung của toàn bài.


HMĐ: Hình ảnh chiều tê cúi đầu là một ước lệ, một hình ảnh tưởng tượng để nói lên trạng thái tâm tình, mượn và nhân hóa thiên nhiên để nói về con người. Anh nghĩ như thế nào về hình ảnh thơ này?


XD: Mình tưởng tượng cả buổi chiều buồn và trạng thái buồn kéo dài gắn với thời gian kéo dài từ trong quá khứ cũng giống như một người đang cúi xuống, nhưng không phải là gục xuống (Xuân Diệu nói và đứng dậy, giơ hai tay về phía trước, mắt nhắm lại lim dim rồi ngả đầu cả người về phía trước, cúi đầu xuống thấp, miệng đọc mấy từ chậm và kéo dài chiều tê cúi đầu. Tôi xúc động và lặng im để tiếp nhận bằng hình ảnh và ngôn từ chất thơ thấm đượm và lắng sâu).


Xuân Diệu lại nói tiếp: “Cũng ở một trường hợp khác hồi mình còn ở với Xuân Sanh ở phố Triệu Việt Vương, cùng sống một pô pốt, có cả Phạm Biểu Tâm. Khi được đăng bài Tiếng không lời tiếp theo điệu thơ của Véclen:


Sao em không nghe


Bao lời van vỉ


Cảu nguyệt đêm hè


Bao lời ủy mị


Của thời xuân xanh


Nguyễn Xuân Sanh góp ý chữa lại của mình là:


Sao em không nghe


Bao lời van vỉ


Của nguyệt đêm hè


Nao trời ủy mị


Của thời xuân xanh


Xau khi có morasse (bản bông), mình lại chữa lại là Bao lời ủy mị. Chữ Nao trời ủy mị có tính chất alambiqué. Nỗi buồn làm cho bầu trời của tuổi trẻ nao nao nhớ thương, buồn tủi, sợ cầu kỳ và phức tạp. Sau này mình chữa lại là:


Sao em không nghe


Bao lời van vỉ


Của nguyệt đêm hè


Bao lời ủy mị


Của thời tươi xanh


Bài thơ này đăng trên báo Sinh viên số 1 của Xuân Sanh.


HMĐ: Thưa anh Xuân Diệu, từ một đời thơ nếu có thể nói đến một hồn thơ thì hồn Xuân Diệu là sự hội tụ, kết tinh của những giá trị tinh thần nào?


XD: Tôi có nhiều kỷ niệm về tuổi thơ. Những kỷ niệm đó đã nuôi dưỡng trang viết và sau này thơ cũng chỉ hút về hai tình cảm lớn yêu và thương. Cả yêu lẫn thương đều là tiếng nói của con tim. Suốt đời thơ tôi không đi ra ngoài tiếng nói của trái tim tôi. Hình như trong thơ, yêu nhiều hơn và trong văn, cảm thương lại rõ hơn. Truyện ngắn Cái hỏa lò bộc lộ tình thương, cảm thương những số phận đau khổ. Tỏa nhị kiều cũng nằm trong tình cảm yêu thương đó. Tuổi nhỏ của Xuân Diệu cũng bị chi phối bởi nhiều nỗi lo sợ, học trò hay bị đội Tây đe dọa, cuộc đời nhiều khổ cực. Tuy có nhiều ước mơ bay bổng, nhưng cảm nhận của tôi về cuộc đời cũng có nhiều mảng tối, nhiều chuyện buồn. Điều may mắn là tuổi trẻ có tình cảm gia đình và quê hương. Bố tôi là ông đồ Nghệ, vừa dạy học vừa làm thuốc. Mẹ tôi làm nghề buôn nước mắm ở Quy Nhơn. Mùi vị cũng tạo thành kỷ niệm khó quên. Mùi nước mắm thoảng đưa lại nhó đến tuổi thơ. Ở Trung Kỳ ra Bắc học, tôi biết ơn miền Bắc đã đưa phù sa lên tâm hồn. Trung Bộ rất đẹp với cảnh đẹp của núi non, sông biển. Năm 1934 lần đầu tiên ra Bắc thấy cảnh vật thật đẹp, buổi sáng bảng lảng sương mù, những hàng liễu thướt tha.


Huy Cận viết được nhiều bài thơ hay về mùa xuân là nhờ miền Bắc. Miền Bắc đã cho Xuân Diệu mùa thu, mùa xuân và mùa đông, nói tóm lại là vẻ đẹp của bốn mùa.


Một thiên nhiên đẹp quyến rũ nâng đỡ tâm hồn thi nhân biết bao. Nhưng điều nghịch lý là sự trái ngược giữa thiên nhiên đẹp và cuộc đời nhiều khổ cực.


Sự khẳng định của bạn thơ tri kỷ cũng rất quan trọng. Bài Thu tôi viết câu “Tuyệt mù mây rộng dáng thu xa”, rồi cứ đọc “Tí tỉ ti ti ti tỉ tà…”. Huy Cận bảo tôi cứ đọc bừa một câu vào đó, đừng ti tỉ nữa! Tôi liền đọc: “Tuyệt mù mây rộng dáng thu xa - Mới tạm mưa trưa chiều đã tà”. Huy Cận kêu lên: “Hay rồi! Rất hay rồi!”. Khi đầu tôi chưa tin. Mấy hôm sau đọc lại thấy hay thật - Huy Cận rất tinh. Cũng có trường hợp chuyện sửa chữa câu chữ trong thơ mang tính chất ngẫu nhiên. Huy Cận có nói với mình về bài Gánh xiếc. Câu kết của bài thơ là:


Xếp với màn to của rạp dời


nhưng khi đem in thì thợ xếp chữ sắp là:


Xếp với màn to của rạp đời.


Huy Cận chấp nhận chữ đời và một lần trò chuyện với Thạch Lam - bạn văn trong Tự lực văn đoàn, ông bảo: “Người thợ sắp một cách vô ý thức, còn chính anh chấp nhận mới là người sửa một cách có ý thức. Chuyện văn thơ cũng nhiều ngẫu nhiên lý thú.


Tôi đỗ tú tài xong nhưng chưa có nghề. Tôi xin dạy Trường Thăng Long do Nguyễn Cao Luyện giới thiệu.


Lúc này tôi và anh Huy Cận cùng ở phố Hàng Than, phố không cây, không có vẻ đẹp đặc biệt nào. Huy Cận than thở trong thơ:


Đời hiu quạnh, thời gian nghiêng bóng nhớ,


Phố không cây ôi sầu biết bao chừng!


(Trò chuyện)


Ở cùng nhà có Lưu Trọng Lư, anh viết nhiều tiểu thuyết để kiếm sống như Nàng công chúa Huế, Giặc Tàu ô. Xuân Diệu và Huy Cận không viết được nên Diệu đi thi làm tham tá Nhà đoan. Nghĩ công việc và ví mình như Thúy Kiều xin đi làm đĩ cho chính phủ. Gặp Vũ Đình Liên lúc này cũng đang xin việc. Xuân Diệu thi đậu và vào Mỹ Tho làm Nhà đoan ba năm. Huy Cận học canh nông đậu kỹ sư và mời Xuân Diệu ra cùng ở, đoạn tuyệt cái nghề Tây đoan. Nhật đảo chính Pháp rồi Cách mạng tháng Tám bùng nổ. Huy Cận được cử giữ chức Bộ trưởng, Xuân Diệu do Lê Văn Hiến giới thiệu được bầu là đại biểu quốc hội tỉnh Hải Dương. Mười lăm năm là đại biểu quốc hội, đến năm 1960 thì hết. Cách mạng đối với tôi là cuộc đổi đời. Trong cuốn Những bước đường tư tưởng của tôi đã nói rất kỹ những đổi thay này: “Được cách mạng giải phóng khỏi cuộc đời tủi nhục nô lệ, lại được tôn vinh nghiệp văn chương, tôi vô cùng cảm kích. Không khí những ngày đầu dựng nước thật sôi nổi tạo nhiều cảm hứng trong thơ. Tôi làm thơ ca ngợi lá cờ đỏ sao vàng (Ngọn quốc kỳ) theo gợi ý của bạn tôi là Nguyễn Huy Tưởng, ca ngợi quốc hội đầu tiên của đất nước (Hội nghị non sông), ca ngợi quần chúng cách mạng (Đi giữa dòng người) và từ đấy hòa nhập một lòng một dạ với cách mạng trong hai cuộc kháng chiến. Hồn thơ Xuân Diệu đổi thay và lớn lên theo đất nước”.


HMĐ: Xin anh cho biết một chút kỷ niệm thơ qua hai trường ca Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông.


XD: Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng ngày đầu cách mạng có một sức lôi cuốn lạ lùng. Màu đỏ tươi thắm, màu vàng rạng rỡ cho phép thi nhân có thể tưởng tượng thêm để ngợi ca, để liên tưởng với bao cái đẹp trong cuộc đời mới. Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng tung bay trong những buổi chào cờ, thượng cờ với hàng trăm con mắt chiêm ngưỡng đã tạo không khí thiêng liêng, uy nghi. Lá cờ cuộn bay theo gió, theo hồn dân tộc: “Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo”.


Và màu cờ thật rạng rỡ:


Vàng huy hoàng sinh giữa thắm hây hây.


Thắm lộng lẫy nở quanh vàng rực rỡ.


Và lá cờ đã đến với cuộc đời mới ngự trị trên những tầng cao:


Có mấy bữa mà Việt Nam thắm cả


Nếp cờ bay xen lẫn sóng bài ca.


HMĐ: Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông có cảm hứng anh hùng ca. Anh cho biết cảm hứng ấy được sáng tạo trên cơ sở nào của thực tế và tâm trạng nhà thơ.


XD: Chủ yếu là tình yêu Tổ quốc, là cảm hứng công dân và niềm vui lớn của một nghệ sĩ được giải phóng về tâm hồn và sức sáng tạo. Đã lâu lắm tình cảm công dân của người nghệ sĩ thiếu vắng và phải nén chờ. Và bây giờ là lúc được bộc lộ giãi bày. Tôi cũng học tập cái hơi anh hùng ca của Víchto Huygô nhưng chưa có một sự cảm thông đầy đủ và cũng không học tập được chất anh hùng ca của Huygô vì đề tài tình yêu không dễ tạo được hơi anh hùng ca. Bây giờ Xuân Diệu đã tìm nguồn sáng tạo cho Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông, từ những sự kiện chính trị tiêu biểu của đất nước. Chất liệu của cuộc đời và phần tưởng tượng của thi sĩ. Xuân Diệu chưa có dịp đến hồ Ba Bể và gặp các chiến sĩ du kích nhưng những tin tức và chiến công của du kích hồ Ba Bể dánh Nhật thật nức lòng. Và tôi đã tưởng tượng và miêu tả quân du kích trong Ngọn quốc kỳ:


Ai từng nghe nói quân du kích?


Nhắc đến lòng son đầy cảm kích.


Ôi những chiến sĩ những anh hùng,


Những kẻ hồn xanh như ngọc bích.


Đây là phần cảm xúc và ngợi ca phần hồn của người chiến sĩ. Sau đó đi vào miêu tả hình ảnh cụ thể:


Hồn còn theo đuổi bóng cờ bay


Nhìn lại chân không chẳng có giày!


 


Áo đơn một chiếc rách sờn vai,


Quần thủng móng heo chưa kịp vá.


Thấp cao hai ống, buộc dây thừng


Nhà cửa để trong khăn gói cả.


Nhiều hình ảnh tưởng như là hiện thực nhưng cũng do trí tưởng tượng tạo ra. Đến Hội nghị non sông mình nghĩ đến sức mạnh của những lá phiếu thiêng liêng và lần đầu tiên người dân được làm chủ vận mệnh, mình được cầm lá phiếu bầu cho người mình chọn lựa:


Bỗng non sông lên một tiếng reo hò,


Bươm bướm trắng nở mùa xuân đất nước.


Bướm hoan hỷ trên cành mang hẹn ước,


Cánh mong manh mà có sức di sơn.


HMĐ: Những đóng góp của thơ Xuân Diệu trong năm đầu cách mạng thật quan trọng. Từ một nhà thơ lãng mạn, anh đã thực sự trở thành nhà thơ trữ tình cách mạng.


XD: Nói thế đúng nhưng chưa đủ. Thời kỳ này Xuân Diệu lại có thêm một mạch mới là thơ châm biếm, đả kích dịch. Có yêu thương thì có căm giận. Lúc này bọn phản động Quốc dân đảng ra sức phá hoại. Chúng bày nhiều âm mưu chính trị, tung lên nhiều thứ cờ, nào sao trắng nhợt nhạt của bọn Nguyễn Hải Thần, nào quẻ ly, ba gạch… Xuân Diệu đã đánh trúng đích:


Cũng xanh, cũng đỏ, cũng thi cờ!


Nấp bóng cờ ai, ngó mập mờ?


Thẹn với gió sương, bay lấp ló,


Hổ cùng non nước, phất bơ vơ.


Chúng tổ chức các cuộc biểu tình để chống tuyển cử, tổ chức tổng đình công nhưng lại hóa “tổng bất đình công”:


Tưởng chắc được dân nên mới tổng


Mà dân không được thế là tong…


Anh có thấy không? Thế là nhà thơ đã nhập cuộc rồi. Bọn Quốc dân đảng tức tốc tìm cách tiến công Xuân Diệu. Một lần chúng bắt gặp Xuân Diệu ở gần bến xe điện bờ Hồ. Chúng hò nhau đuổi bắt. Mình phải quăng xe đạp lại chạy vào khu nhà gần đấy, bà con giúp mình đi qua sang phía Cầu Gỗ và thoát được. Và sau này thơ châm biếm đả kích của Xuân Diệu đã phát huy vai trò suốt trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ của dân tộc.


 


(Tạp chí Tác phẩm mới, tháng 11-1995)


 


INDIVIDU TRONG THƠ XUÂN DIỆU


 


Ngày 18-10-1969


Mở đầu buổi nói chuyện, Xuân Diệu bảo: “Trước khi trực tiếp nói về thơ Xuân Diệu, mình muốn nói chuyện với Hà Minh Đức về bản chất của thơ mới, về cái gọi là quyền của cá nhân, về individu. Trong nền văn học Việt Nam, individu (cá nhâ) phát triển chậm. Đó không phải là chuyện riêng của mỗi người, năng lực của các thể mà là do hoàn cảnh xã hội. Mỗi thời có một quan niệm nhưng không thể đơn giản và cực đoan được. Phải gạt utopie (ảo tưởng), đừng tưởng ai cũng làm được cách mạng, cũng không thể quan niệm là nếu không có đấu tranh giai cấp thì không thể ngắm trăng được. Thơ ca đời Tống là chim hoa lá đá. Trung tâm romantisme là individu. Individu nhập và giải tỏa ra từ phong kiến và thành Renaissance (Phục hưng). Thực chất của Phục hưng là chống lại những gò bó của Trung cổ. Sang thế kỷ XIX, individu rơi vào bế tắc. Individu tiếp tục chống phong kiến, tự biết, tự đứng riêng ra và thành cô đơn. Cái quá trình ấy diễn ra rộng lớn ở châu Âu và ngay trong mỗi con người cũng làm lại quá trình của nhân loại. Problème du moi (vấn đề của cái tôi) trở thành vấn đề trung tâm của văn học và thơ ca. Lamáctin với Isolement, rồi Sácđơ Herôn, Nỗi buồn của chàng Werther của Gớt cũng đều là individu. Trong văn học Nga, mẫu người thừa kiểu Pétsôrin của Lécmôntốp chính là vấn đề của individu chống lại xã hội. Mâu thuẫn giữa cá nhân và xã hội không dễ giải quyết trong xã hội cũ. I > < S đó là antinomie (tương phản) qua nhiều thời kỳ.


Trong văn học Việt Nam có hai floraison lớn về sự nổi dậy của cá nhân Hồ Xuân Hương, Phạm Thái với Sơ kính tân trang, rồi Đoàn Thị Điểm, Nguyễn Du,… và floraison thứ hai là thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám. Thời hiện đại của Việt Nam rút ngắn chu kỳ lại trong mười mấy năm. Ở Trung Quốc, từ Nữ thần của Quách Mạt Nhược mở đầu cho khuynh hướng lãng mạn thời hiện đại. Trong thơ mới có những mảng tươi sáng, cái tươi sáng của những con bướm trắng nhưng không kéo dài như trong bài Nụ cười xuân của tôi:


Giữa vườn ánh ỏi tiếng chim vui,


Thiếu nữ nhìn sương chói mặt trời,


Sao buổi đầu xuân êm ái thế,


Cánh hồng kết những nụ cười tươi.


(Nụ cười xuân)


Và tâm hồn cũng rộng mở và rất lạc quan:


Vườn cười bằng bướm, hót bằng chim;


Dưới nhánh, không còn một chút đêm:


Những tiếng tung hô bằng ánh sáng,


Ca đời hưng phục trẻ trung thêm.


(Lạc quan)


Với Chế Lan Viên thì:


Hàng dừa cao say sưa ôm bóng ngủ,


Vài quả xanh khảm bạc hớ hênh phô,


Xoan vươn cành khều mặt trời rực rỡ,


Bên bóng râm lơi lả nhẹ nhàng đu!


(Xuân về)


Lần đầu tiên khám phá ra vẻ đẹp của vũ trụ. Trong thơ mới lúc đầu tươi sáng, sau đó bế tắc dần. Mỗi người phải có tâm hồn riêng, individu của riêng mình. Phải có bản lĩnh và ngang nhiên không cần đến tâm hồn con người luôn ở dạng tâm hồn xưng em. Thơ mới phát triển trong thời gian ngắn nên cũng vội vàng. Thời gian trong thơ Lưu Trọng Lư ngay từ những bài đầu đã trôi rất nhanh. Trong bài Thơ sầu rụng cũng cảm nhận sự trôi chảy vô tình mà xót xa của thời gian:


Nghiêng nghiêng mái tóc hương nồng,


Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh.


Thế Lữ đi tìm vẻ đẹp, nhưng chỉ là Vẻ đẹp thoáng qua. Buổi đầu thì như thế nhưng về sau thời gian thôi thúc, thời gian tác động đến nhà thơ mạnh mẽ hơn”.


Tôi ngắt lời nhà thơ Xuân Diệu: “Trong các công trình nghiên cứu về thơ mới, mọi người đều khẳng định những câu thơ, bài thơ viết sâu về thời gian là của Xuân Diệu. Xuân Diệu là nhà thơ của thời gian và Huy Cận là nhà thơ của không gian. Xuân Diệu gật đầu nhưng vẫn nói lại: “Các anh nói đúng nhưng không thể tách rời thời gian và không gian, thời gian là thời gian của không gian nào và ngược lại không gian cũng phải mang đậm dấu ấn của thời gian. Ý thức về thời gian chính là ý thức về sự tồn tại của cá thể, của individu”. Xuân Diệu ngay từ đầu muốn khẳng định mình với đồng loại:


Tay ấp ngực dò xem triều máu lệ,


Nghìn trái tim trong một trái tim.


Xuân Diệu dám khẳng định mình, ngang nhiên, dám nói. Xuân Diệu tiếc thời gian, sợ thời gian trôi chảy nhưng sẵn sàng:


Trút thời gian trong một phút chơi vơi,


Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ.


Xuân Diệu hỏi tôi: “Hà Minh Đức có thấy antinomie về thời gian không gian không? Tuổi trẻ phải thế: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối - Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”. Còn về không gian thì thích chiếm lĩnh không gian rộng”.


Huy hoàng trăng rộng nguy nga gió


Xanh biếc trời cao bạc đất bằng.


nhưng không gian hẹp cũng có chiều sâu và đặc điểm riêng của nó:


Ngắm phong cảnh giữa hai bề lá cỏ.


(Cảm xúc)


Xuân Diệu dám khẳng định tình yêu thương loài người: “Vào bóng tối tôi sẽ làm ánh sáng”. Xuân Diệu yêu tha thiết một tình yêu cho mình và cho người, một tình yêu trần thế và cả ở thế gian tâm linh xa lạ:


Kẻ đa tình không cần đủ thịt da,


Khi chết rồi tôi sẽ yêu ma.


Và rồi điều mong muốn không dễ trở thành hiện thực. Xuân Diệu dần đi vào bế tắc. Một số nhà thơ cùng thời gặp bế tắc thì giải quyết bằng sự buông thả, chán chường như ca ngợi và đắm đuối với thuốc phiện, hoặc trong những cơn say như Vũ Hoàng Chương. Xuân Diệu, Huy Cận sống giản dị, không hút thuốc lá, không rượu chè. Nói bế tắc là bế tắc về tư tưởng, hướng đi chứ không buông thả. Bế tắc phản ánh trong thơ nhưng không sa đọa. Chính Xuân Diệu viết những bài Một thời trơ trẽn, Thiên đường giả để chống lại thuốc phiện. Còn chuyện nỗi buồn thì không dễ giải quyết được. Xuân Diệu buồn vì yêu đời nhưng không tìm được lối ra trong hướng đi hay nói như Huy Cận: “Yêu đời nhưng đau đớn”. Xuân Diệu có lúc nói đến nỗi buồn theo cách nói nhẹ nhàng - như trong bài Chàng sầu - không tìm thấy niềm vui vì nghèo, không có người yêu và “Thơ không làm bớt khổ”. Có lúc nỗi buồn như kết tụ trong một vài câu thơ: “Tiếng gà gáy buồn như máu ứa - Chết không gian khô héo cả hồn cao”… Nỗi buồn không đẩy Xuân Diệu vào siêu hình, tôn giáo mà về cơ bản so với nhiều nhà thơ, thơ Xuân Diệu vẫn ở giữa trần thế. Individu trong thơ Xuân Diệu tạo nên bản sắc cho thơ Xuân Diệu nhưng ở chặng đường cuối như bị cầm tù, đòi hỏi sự tái tạo, tái sinh.


 


 


XUÂN DIỆU NÓI VỀ ĐÂY MÙA THU TỚI


 


26-10-1969


Đây mùa thu tới của Xuân Diệu là một trong những bài thơ hay nhất của phong trào Thơ mới. Tiếp nối mùa thu của thơ ca dân tộc, các nhà thơ mới đã có những đóng góp quan trọng trên đề tài này. Cũng giống với mùa thu xưa, với bầu trời xanh thắm, nắng vàng, trăng thanh, sương khói phủ,… nhưng các nhà thơ mới đã miêu tả thiên nhiên với cảm hứng hiện đại. Không chỉ là hình ảnh và cảm xúc, các nhà thơ mới đặc biệt chú ý đến sự cảm nhận trực tiếp của các giác quan. Quan sát lắng nghe rất cụ thể và tinh vi cùng với những liên tưởng, mộng tưởng đã góp phần tạo cho những bài thơ viết về thiên nhiên vừa chân thực, vừa thơ mộng. Xuân Diệu có những khám phá tinh vi về thị giác trong Đây mùa thu tới. Lưu Trọng Lư lắng nghe tinh tế từ cái xào xạc của lá thu đến tiếng lòng thổn thức của tình thu ở người thiếu phụ qua bài Tiếng thu. Huy Cận với chất thu man mác trong nhiều bài và lặng buồn với Thu rừng. Chế Lan Viên buồn đến nao lòng mỗi độ thu về. Chùm thơ về mùa thu trong phong trào Thơ mới như Tiếng thu của Lưu Trọng Lư, Đây mùa thu tới của Xuân Diệu và Thu của Chế Lan Viên gồm những bài hay vào loại bậc nhất của thơ mới.


Trong tâm trạng riêng của mỗi người đều mang nỗi niềm của một thế hệ. Đẹp và buồn là nét chung của những bài thơ thu của Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Chế Lan Viên, Huy Cận. Khi nói về những cảm xúc thiên nhiên trong thơ mình, Xuân Diệu hay nhắc đến bài Đây mùa thu tới và xem như một sáng tác khá hoàn thiện. Trong những lần hỏi chuyện Xuân Diệu, Xuân Diệu đã nói say sưa về sáng tác này.


Khi hỏi ông về những bài hay nhất trong thơ Xuân Diệu trước Cách mạng, Xuân Diệu đã lần lượt giới thiệu và phân tích các bài Lời kỹ nữ, Đây mùa thu tới, Nguyệt cầm, Thơ duyên…


- Đọa Đây mùa thu tới của anh, tôi thấy tác giả có những sáng tạo mới khác với tình thu và cảnh thu trước đây, anh đã kế thừa những gì của thơ phương Đông, phương Tây qua sáng tác này?


- Đâu mùa thu tới là bài tiêu biểu trong chùm bài cảm xúc về thiên nhiên của Xuân Diệu. Viết về mùa thu là một thử thách, rất khó khăn, vì thơ ca cổ kim Đông Tây đã có những đỉnh cao về thơ thu. Cảm hứng về thu rất cổ truyền lại cũng rất modeme. Về thơ phương Đông, phải nhắc tới năm bài Thu hứng của Đỗ Phủ, rồi Thu giang tống khách của Bạch Cư Dị, Phong kiền dạ bạc của Trương Kế. Về thơ cổ Việt Nam, phải kể ba bài thơ của Nguyễn Khuyến: Thu vịnh, Thu ẩm, Thu điếu. Mỗi bài có một phong vị riêng. Nguyễn Khuyến đã tài tình thâu tóm được cái hồn thu của làng quê Việt Nam trong các bài thơ thu. Ta yêu biết bao cái thanh cao, trong trẻo, dịu êm và không khí tĩnh lặng, thanh bình của mùa thu Việt Nam trong thơ Nguyễn Khuyến. Bài Đây mùa thu tới của mình tiếp thu truyền thống phương Đông và cả phương Tây qua thơ của Bôđơle, Véclen, Huygô,… Trong câu thơ đầu, tôi có chịu ảnh hưởng và phảng phất ít nhiều hình ảnh những bờ liễu, bến liễu trong thơ Tống, nhưng chủ yếu là hình ảnh hàng liễu đẹp của Hà Nội, của miền Bắc Việt Nam. Dạo làm viên chức trong Nam, đọc thơ Thế Lữ tôi không hiểu hết những câu thơ hay:


- Theo cô đội nón kia vào trong sương


- Gió đào mơn trớn liễu buông tơ


Huy Cận, Chế Lan Viên khi ra Bắc cũng mê cây liễu và tôi cũng nói đến cái đẹp của liễu:


Tóc liễu buông xanh quá mỹ miều


còn trong bài thơ Đây mùa thu tới là tả liễu trong một tâm trạng buồn, cái buồn của cá nhân và của cả một thế hệ. Trong cuộc đời cũ dễ có cảm xúc buồn, và trước cái đẹp cũng dễ buồn.


- Anh cho biết một số hình ảnh chữ nghĩa đặc biệt mà anh quan tâm và có dụng ý nghệ thuật khi viết bài thơ.


- Toàn bài là một cấu trúc hài hòa, như một cơ thể sống. Tôi nói đến một số câu thơ, một số chữ thôi.


Câu thơ “Hơn một loại hoa đã rụng cành” được Thế Lữ chữa lại là:


Đã mấy loài hoa rụng dưới cành


và đăng trên Ngày nay số báo Trung Nam Bắc. Sau khi in sách, tôi lại phục hồi lại.


Hơn một… có nghĩa là không phải một và không biết bao nhiêu. Nếu viết mấy loài thì limité (hạn chế) quá. Đáng lẽ phải viết rụng dưới cành nhưng tác giả muốn nói cái gì trực tiếp hơn, của sự rơi rụng lìa bỏ, dùng động từ theo thể intransitif (nội động từ). Cần chú ý chữ rũa.


Trong vườn sắc đỏ rũa màu xanh.


Rũa có nghĩa là làm cho nát, cho hỏng.


Ở một bài báo trong Tao đàn, Hoài Thanh cho rằng rũa đây là rủa có nghĩa là màu sắc không hòa hợp, và cụ thể là màu đỏ rủa màu xanh (le rouge qui jure avec le vert). Ý của mình không phải thế.


Câu thơ: “Những luồng run rẩy rung rinh lá” không kể đến nghệ thuật láy âm, láy từ mà chủ yếu phải chú ý đến frisson của thế kỷ XX, frisson của thơ hiện đại.


Điều mình muốn nói là những rung động của nhạc điệu và giao cảm bên trong. Phải có sự quan sát lắng nghe tinh tế mới bắt được những rung động trong thiên nhiên. Không phải là sự mô phỏng hiện tượng thiên nhiên mà là giao cảm tinh vi. Câu chữ mang hơi thở hiện đại:


Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh


cũng là những nét phác họa kiểu tranh thủy mặc Trung Quốc, ở đây tất cả biểu hiện sự tàn úa và cỏ cây như cảm thấy run sợ vì sắp phải rụng tàn. Vầng trăng thu cũng được miêu tả đặc biệt: “Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ”, cần chú ý chữ tự. Mùa thu đến tạo nên những đổi thay trong đêm thu, rồi sương, khói thu,… nên vầng trăng cũng mờ ảo và tự ngần ngơ, tự ngẩn ngơ chứ không phải bị ngẩn ngơ.


Non xa khởi sự nhạt sương mờ


Chữ khởi sự là cách dùng của khu Năm. Anh Trần Hiếu Minh cũng thường dùng. Chữ hơi cứng nhưng cũng hòa hợp được với thơ.


- Non xa khởi sự nhạt sương mờ


- Vì giấc mơ hoa, đà khởi sự


Hai câu thơ mà mình tâm đắc nhất là:


Đã nghe rét mướt luồn trong gió


Đã vắng người sang những chuyến đò.


Câu thơ phác họa những nét vẽ đơn sơ và cách cảm rất chân thực về không khí thu của làng quê Việt Nam. Dân tộc mà cũng mới mẻ, kết hợp được cổ và kim.


Lúc này trời đã vào thu. Gió rét đầu mùa thỉnh thoảng đã thổi về từng cơn bất chợt. Chưa phải mùa đông. Mình không có ý định tả mùa đông ở đây. Mùa đông có không khí riêng.


Tôi cắt ngang lời anh và hỏi: “Thơ Xuân Diệu có nói về Xuân, Hạ, Thu mà ít nói về mùa Đông. Đó là chuyện ngẫu nhiên hay thuộc về cảm hứng. Trong hai tập thơ Thơ thơ và Gửi hương cho gió hình như không có bài nào dành riêng cho mùa đông”. Xuân Diệu: “Có lẽ…, có lẽ… Cảnh vật mùa đông cũng rất độc đáo và gợi cảm. Tôi tiếc rằng miền Bắc nước ta với một mùa đông dài, rét mướt và nhiều khi lạnh cóng mà chưa có thơ hay. Sau Cách mạng tháng Tám có viết một bài hát tả cảnh mùa đông nhưng thực ra chỉ có một khổ là đọc được:


Rét phóng trời đông ra rất xa


Mây như pha sữa cả trời nhòa


Lọc đều ánh sáng êm phơi phới


Cả một ngày như mới sớm ra.


Những câu thơ cuối bài Đây mùa thu tới khép lại những cảm xúc với thiên nhiên bằng hình ảnh con người. Cô gái tựa cửa chờ đợi, nhớ mong. Cái tình thu nặng lắm, không cho một người mà với cả nhiều người. Mình dùng ít nhiều… thiếu nữ theo cách nói của Víchto Huygô, tất cả đều có chung tâm trạng đó”.


(Nhà văn nói về tác phẩm, NXB Văn học, H., 1997)


 


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »