tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23990477
Tiểu thuyết
13.11.2013
ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn
Một ngày của Ivan Denisovich

- Ph-ù! - Sukhov đã lọt được vào nhà ăn. Và không đợi Pavlo bảo, anh vội đi kiếm những chiếc khay không. Bên trong nhà ăn, như mọi khi, khói bốc từng đám ở phía cửa ra vào, xung quanh bàn ăn phạm ngồi chật cứng, như thể hạt hướng dương xếp trên đài, còn ở lối đi giữa các bàn người đi lại, tay bê những khay đầy chặt bát, chen lấn, xô đẩy lẫn nhau.. Nhưng Sukhov, với ngần ấy năm tù đầy, đã quen với cảnh đó. Mắt tinh như mắt cú, ngay lập tức anh nhìn thấy S-208 bưng cái khay trên đó chỉ có năm bát, có nghĩa đó là khay cuối cùng của đội hắn, nếu không thì tại sao khay lại không đầy?


Sukhov chạy lại phía hắn và ghé vào tai hắn nói:


- Anh bạn! Xong cho tớ cái khay nhé, tớ xếp hàng sau cậu đấy!


- Nhưng có người đứng ở cạnh cửa tò vò xí phần rồi, tôi đã hứa...


- Tọng giầy vào mồm nó thì có. Cho nó chờ, đứng đấy mà ngáp!


Sukhov đã dàn xếp xong.


Tay này bê khay tới bàn của đội mình, bày bát lên, Sukhov giật vội lấy chiếc khay không. Nhưng ngay lúc ấy tên xí trước chiếc khay chạy tới, chộp lấy đầu kia của chiếc khay, giằng lại. Song hắn nhỏ con và ốm yếu hơn Sukhov. Sukhov dùng chiếc khay đẩy mạnh về phía hắn khiến hắn bắn văng vào cột nhà,  tay rời khỏi chiếc khay. Sukhov cắp khay vào nách chạy vù ra phía cửa sổ phát đồ ăn.


Pavlo đã đứng xếp hàng và đang bực mình vì chưa kiếm được khay. Hắn mừng rơn khi nhìn thấy Sukhov mang khay tới:


- Ivan Denisovich! - Hắn gọi và đẩy đội phó đội 27- Cho lên cái nào! Không có khay thì đứng ở đây làm gì? Tôi có khay đây này!


Thằng lỏi con Gopchik cũng vác về thêm một khay nữa, miệng cười toét:


- Các chú ấy không để ý, thế là cháu chớp luôn!


Thằng Gopchik này sẽ trở thành một phạm chân chính đây. Chỉ cần ba năm nữa thôi, đợi lớn thêm một chút, học đủ được các mánh khoé, xảo thuật trong tù, thì bét nhất hắn cũng giành được cái chân chia bánh mì, có khi còn hơn thế.


Chiếc khay thứ hai Pavlo bảo đưa cho Ermolaiev - một phạm người Sibêri to lớn (cũng bị tù vì tội bị quân Đức bắt làm tù binh). Còn Gopchik được phái đi kiếm lấy cái bàn mà “tiệc chiều” sắp tàn. Sukhov đẩy chéo chiếc khay qua lỗ cửa tò vò và đứng đơi.


- Một lẻ bốn! - Pavlo nói chõ vào phía trong cửa.


Có tất cả năm lỗ cửa tò vò: ba cửa phát đồ ăn chung, một cửa giành phát thức ăn cho những người ốm (có mười tên đau dạ dầy thực sự được phát đồ ăn đặc biệt, bọn trên bộ phận tài vụ thì do chạy chọt mà lọt được vào danh sách này), còn một cửa để trả lại bát đĩa đã dùng (ở cửa này chen chúc những kẻ mót thức ăn thừa, bọn liếm đĩa). Những lỗ cửa tò vò không cao lắm, chỉ nhỉnh hơn thắt lưng một chút, nên mặt bọn đầu bếp không nhìn rõ, chỉ thấy những cái tay cầm môi.


Một tên đầu bếp có bàn tay trắng muốt, mềm mại, nhưng đầy lông và to tướng. Một võ sĩ quyền anh đúng hơn là một đầu bếp. Hắn cầm lấy bút chì đánh dấu danh sách treo trên tường:


- Một lẻ bốn - hai mươi tư bát!


Thằng Panteliev cũng có mặt ở trong nhà ăn. Hắn có đau ốm gì đâu, đồ chó đẻ.


Tên bếp cầm một cái môi to tướng áng chừng múc được ba lít, khuấy đi khuấy lại vạc súp (chiếc vạc trước mặt hắn còn mới, súp vừa đổ vào đầy gần tới miệng, hơi bốc nghi ngút). Sau khi đổi sang chiếc môi múc được 750 gram, hắn bắt đầu múc súp, nhưng không ấn môi sâu xuống dưới.


- Một, hai, ba, bốn...


Sukhov để ý ngó xem tô nào múc trước khi cái kịp lắng xuống đáy vạc, tô nào lèo tèo tí cái, còn lại toàn nước. Anh đặt mười bát lên khay và bê đi. Gopchik vẫy anh từ chiếc bàn cạnh dãy cột thứ hai:


- Lại đây, chú Ivan Denisovich! lại đằng này!


Bê mấy bát súp tay không được run. Sukhov tay bưng khay, bước như lướt, cố không va vào ai và cố không để súp sánh ra ngoài:


- Ê, K- 902! cẩn thận tí ông bác!... nhường đường nào, chàng trai!


Trong đám đông bưng một bát không làm sánh, làm đổ đã là khó, đằng này những mười bát. Cuối cùng khay súp cũng hạ cánh an toàn xuống cuối chiếc bàn đã được Gopchik dọn sẵn, không rớt ra ngoài lấy một giọt. Thêm nữa, Sukhov cũng đã chọn được cái góc để đặt khay, sao cho hai bát súp có nhiều cái nhất ở ngay chỗ anh sẽ ngồi.


Và Ermolaev cũng mang tới mười bát nữa. Gopchik chạy tới lỗ cửa tò vò, cùng Pavlo mỗi người bưng nốt hai bát. Còn Kilgasov bê một khay bánh mì tới. Hôm nay bánh được phát theo năng xuất - người được hai trăm gram, người ba trăm, còn Sukhov được bốn trăm. Anh nhận lấy phần của mình, chỗ bánh có nhiều cùi ngon, còn hai trăm gram của Seza  anh chọn phần giữa bánh.


Bây giờ anh em trong đội từ khắp các bàn chạy tới lĩnh xuất tối của mình, rồi ai kiếm được chỗ ở đâu thì ngồi đấy mà ăn. Sukhov chia súp cho anh em, để ý xem ai đã nhận phần rồi và canh chừng cái bát đã chọn sẵn cho mình. Anh cắm chiếc thìa vào một bát có nhiều cái, coi như đã xí phần. Fechiukov là một trong những người đầu tiên tới nhận phần rồi đi luôn: hắn biết chẳng hòng mong được thêm miếng thừa nào ở cái đội này cả, tốt nhất lượn khắp nhà ăn, may ra còn kiếm được của bỏ mứa của ai đó - của này lắm lúc bị vài người chạy tới giành giật chẳng khác gì lũ diều hâu.


Sukhov tính toán các xuất chia với Pavlo. Nghe chừng ổn thoả cả. Anh chọn một bát có nhiều cái cho đội trưởng Turin. Pavlo đổ bát súp vào một cái cà mèn dẹt của quân đội Đức - thứ này nhét vào phía trong áo khoác, sát chỗ ngực, dễ mang đi hơn.


Khay đựng đồ ăn được chuyển cho đội khác. Pavlo ngồi xuống ăn khẩu phần đúp của mình. Sukhov cũng có hai xuất. Họ không nói thêm một lời nào với nhau nữa. Giây phút thiêng liêng đã tới.


Sukhov cởi mũ, kẹp vào giữa hai đầu gối. Anh lấy thìa ngoáy thử một bát, rồi bát kia. Không đến nỗi nào, còn nhìn thấy thấp thoáng vài mẩu cá. Nhìn chung súp bữa tối bao giờ cũng loãng hơn bữa sáng: bữa sáng phải cho phạm ăn no để mà làm việc, chứ bữa tối thì làm cái quái gì, chỉ có việc lăn ra mà ngủ như chết, ăn thế nào chẳng được.


Sukhov bắt đầu ăn. Thoạt đầu anh húp thứ nước lõng bõng ở trên, húp cho cạn. Hơi ấm tràn xuống cơ thể anh - toàn thể lục phủ ngũ tạng của anh run rẩy đón chờ cái thứ nước súp này. Ôi chà, mới ngon làm sao! Nó đấy, cái khoảnh khắc ngắn ngủi ấy đấy, tù nhân chỉ vì nó mà sống thôi đấy! Lúc này Sukhov không còn thấy oán hận gì: cả cái thời hạn lê thê, cả cái ngày dài đằng đẵng, cả cái chủ nhật không được nghỉ. Lúc này trong đầu anh chỉ một ý nghĩ: sẽ qua được! rồi ta sẽ qua được hết, Chúa trời mà thương rồi cũng sẽ tới ngày mãn hạn!


Sau khi húp hết nước ở bát thứ nhất, anh húp luôn bát thứ hai, sau đó trút hết chỗ cái của bát này sang bát kia, dùng thìa vét cho sạch nhẵn. Như thế yên tâm hơn, khỏi phải canh chừng cái bát thứ hai, khỏi phải giữ nó bằng tay, bằng mắt.


Rảnh mắt Sukhov ngó sang bát súp của những người bên cạnh. Người ngồi bên trái anh nhận được một bát tinh những nước là nước. Bọn khốn kiếp, chúng đối đãi với anh em cùng cảnh tù với mình như thế đấy!


Sukhov bắt đầu ăn những miếng bắp cải cùng những thứ còn lại trong bát. Anh còn được cả một củ khoai tây trong cái bát mà Seza cho anh. Một củ khoai tây không to lắm, loại khoai chết rét, sường sượng, đã mất mất vị ngọt. Và chả có miếng cá nào, chỉ loáng thoáng vài cái xương không dính thịt. Nhưng dù là một cái xương nhỏ, cái vây nhỏ, cũng cố mà nhai, mà hít lấy chút nước ngọt - bổ lắm đấy. Tất nhiên, làm tất cả những thứ đó mất thời gian thật, nhưng bây giờ Sukhov đâu có vội. Hôm nay là một ngày lễ đối với anh: bữa trưa anh xoay được thêm một xuất, bữa tối anh cũng lại kiếm được thêm một xuất nữa. Làm được việc này thì các việc còn lại đều có thể dẹp đi được. Có điều phải tới chỗ thằng cha Latvi để mua lấy ít thuốc lá. Đến sáng chắc sẽ chẳng còn sợi nào.


 


Sukhov ăn bữa tối không đụng đến khẩu phần bánh mì: đã được hai xuất súp, lại còn ăn thêm bánh mì thì bổ quá. Bánh mì để dành cho sáng mai. Cái bụng là một kẻ vô ơn, rất mau quên việc thiện ta làm cho nó, sáng mai lại nheo nhéo đòi ăn ngay cho mà xem.


Sukhov ăn sắp hết hai xuất súp của mình và chẳng buồn nhìn những người xung quanh, bởi chẳng còn cần thiết nữa: anh không kiếm cách để săn lùng xuất mới, chỉ ăn cái phần mình được hưởng.


Nhưng anh vẫn nhìn thấy ngay trước mặt mình, cách một bàn, có một chỗ trống và ông già đeo biển số U-81 ngồi xuống đó. Sukhov biết ông già này ở đội 64, và khi đứng xếp hàng cho Seza ở chỗ nhận đồ tiếp tế, anh được biết đội 64 hôm nay phải làm ở Làng XHCNKM thay cho đội 104 và suốt cả ngày họ phải làm ngoài trời không có chỗ sưởi, để chăng giây thép gai giam giữ chính mình.


Người ta nói với Sukhov rằng ông già này đã ngồi ở các trại giam, nhà tù không biết bao lâu rồi, chính quyền Xô Viết đã có bao nhiêu năm nay, song chưa bao giờ ông được xét ân xá, cứ hết mười năm, người ta lại bồi cho ông thêm mười năm nữa.


Bây giờ thì anh ngắm ông già kĩ hơn. Khác với tất cả những ông già lưng gù trong trại, lưng của ông già này rất thẳng, và khi ngồi ở bàn ăn trông ông như thể ngồi trên một cái ghế được lót thêm cái gì đó cho cao thêm. Đã lâu rồi, trên cái đầu trọc của ông chả còn gì để mà cạo - tóc tai rụng sạch vì cuộc sống quá sung sướng. Cặp mắt ông già không đảo quanh nhà ăn để xem những việc đang xảy ra, mà nhìn đăm đăm vào một cái gì đó ở phía trên đầu Sukhov, cái mà không một ai nhìn thấy. Ông từ tốn ăn tô súp loãng bằng chiếc thìa gỗ đã mòn vẹt, song không gục mặt xuống bát như những người khác, mà đưa thìa súp lên miệng mình. Răng của ông không còn lấy một chiếc, cả hàm trên, lẫn hàm dưới, ông dùng hai hàm lợi cứng như xương để nhai bánh mì thay cho răng. Khuôn mặt ông mòn mỏi, song không đến nỗi yếu ớt, thiểu não như bọn người tàng tật mất hết sức sống, mà đen xạm, trông như tạc bằng đá. Và nhìn đôi tay to tướng, méo mó sần sùi, cũng có thể thấy được rằng ngần ấy năm rất hiếm khi ông được làm công việc nhẹ. Song trong ông hằn rõ ý chí không chịu khuất phục: ba trăm gram bánh mì ông không để xuống mặt bàn nhơ nhớp như mọi người, mà đặt lên một miếng giẻ nhỏ được giặt sạch sẽ.


Nhưng Sukhov không có thời gian để ngắm nghía ông già. Ăn xong anh liếm sạch thìa rồi nhét lại nó vào ống giầy ủng, chụp mũ lên đầu, đứng dậy, cầm lấy khẩu phần bánh mì của mình và của Seza. Anh đi khỏi nhà ăn bằng một cửa khác. Ở đây cũng có hai tên cần vụ, chúng đứng đó chỉ để làm mỗi một việc, mở chốt cửa cho anh em ra, rồi lại đóng chốt cửa lại.


Sukhov ra khỏi nhà ăn với cái bụng no và tự hài lòng về bản thân. Anh quyết định, dù sắp sửa tới giờ tắt đèn, vẫn cứ phải tới chỗ thằng cha Latvi. Anh chạy thẳng tới trại xá số bẩy, không rẽ qua trại xá mình để cất bánh mì.


Trăng đã lên cao, trắng ngần, trong trẻo như thể được cắt ra từ bầu trời. Và bầu trời cũng trong veo. Những ngôi sao đó đây lấp lánh, sáng rỡ. Nhưng Sukhov lại càng ít thời gian để nhìn lên trời mà ngắm trăng sao. Anh chỉ cảm thấy rõ một điều: băng giá không hề giảm bớt. Có ai đó nghe được từ những người ở bên ngoài nói rằng ban đêm sẽ xuống tới âm ba mươi độ, còn đến sáng - âm bốn mươi.


Từ rất xa trong thôn vẳng lại tiếng máy cày, còn mé bên đường chiếc máy xúc rít lên. Từng bước chân người đi trên sân trại đều để lại tiếng ủng nghiến tuyết răng rắc.


Trời lặng gió.


Thuốc lá sợi mà Sukhov mua, cũng như mọi lần trước đây, - một rúp một cốc, mặc dù một cốc như vậy ở bên ngoài phải tới ba rúp, có khi đắt hơn, nếu là thuốc ngon. Ở trong trại khổ sai mọi thứ đều có giá riêng, không giống bất cứ ở đâu, là vì tiền không được phép giữ ở trong trại, ít người có, nên chúng rất có giá. Anh em làm việc trong trại nhưng không được trả lấy một xu (hồi ở trại Ust-Izma Sukhov cũng còn được lĩnh ba mươi rúp một tháng). Còn anh nào được gia đình gửi tiền qua bưu điện, thì người ta cũng không cho nhận mà giữ lại cho vào trương mục cá nhân. Tiền đó có thể rút tháng một lần để mua xà phòng giặt, bánh mốc, thuốc lá “Prima” trong kho của trại. Nhưng mỗi lần mua đều phải làm đơn lên trại trưởng và chỉ được mua đúng số hàng đã ghi trong đơn. Hàng mua rồi, thích hay không thích vẫn cứ phải dùng, vì nếu không mua thì đằng nào tiền cũng mất, họ sẽ lấy ra khỏi trương mục.


 


Sukhov kiếm được tiền bằng những công việc vặt vãnh: khâu một đôi dép từ giẻ rách giá hai rúp, vá áo trấn thủ giá cả thoả thuận.


Trại xá 7 không giống trại xá 9 của anh, không ngăn thành hai phòng lớn. Ở trại xá này có một hành lang dài, dọc theo đó trổ ra mười cái cửa của mười phòng riêng. Mỗi đội ở trong một phòng và mỗi phòng kê bẩy cái giường tầng, có cầu tiêu riêng. Đội trưởng được một phòng nhỏ. Đám mấy ông hoạ sĩ ở đây, sống trong một cái phòng như thế.


Sukhov bước vào phòng nơi có anh chàng người Latvi. Anh chàng này nằm ở giường tầng dưới, hai chân ghếch lên thành giường, đang thao thao nói chuyện bằng tiếng Latvi với tay đồng hương bên cạnh.


Sukhov tiến tới cạnh hắn. Xin chào. Chào -  tên Latvi đáp lại, nhưng không bỏ chân xuống. Gian phòng nhỏ, vì thế, hễ có ai vào là lập tức thiên hạ vểnh tai lên nghe ngóng: ai tới, tới để làm gì. Cả hai người đều biết như vậy, nên Sukhov thong thả ngồi xuống giường, bắt đầu con cà, con kê: sống ra sao, khoẻ chứ? Vẫn thường. Hôm nay lạnh gớm nhỉ. Ừ.


Sukhov chờ cho mọi người tiếp tục câu chuyện bỏ dở của mình (họ đang nói về chiến tranh ở Triều Tiên và cãi nhau: không biết Trung Quốc nhẩy vào rồi, liệu chiến tranh thế giới có nổ ra hay không).


Sukhov cúi xuống ghé vào tai tên Latvi, hỏi:


- Có thuốc không?


- Có.


- Cho xem nào.


Tên Latvi nhấc chân khỏi thành giường, hạ xuống sàn nhà và ngồi dậy. Tên này chúa keo kiệt. Hắn lúc nào cũng sợ đổ thuốc vào cốc quá tay, dù số thuốc ấy chỉ cuộn được một điếu. 


Hắn cho Sukhov xem cái túi thuốc, rồi mở ra.


Sukhov bốc ra một ít sợi thuốc, bỏ vào lòng bàn tay và thấy vẫn là thứ thuốc như lần trước, cũng mầu nâu vàng và sợi cũng tơi như vậy. Anh đưa lên mũi ngửi - đúng là thứ thuốc ấy, nhưng anh vẫn nói với tên Latvi:


- Có vẻ như không phải thuốc lần trước.


- Vẫn thuốc ấy! vẫn thuốc ấy! - tên Latvi cáu - tôi chẳng có loại nào khác, lúc nào cũng chỉ một loại ấy thôi.


- Thôi, được rồi, được rồi - Sukhov chấp nhận, - cậu nhồi cho tớ một cốc, tớ hút thử, có thể sẽ lấy thêm cốc nữa.


Anh nói “nhồi”, là vì tên này chuyên có cái lối đổ sợi thuốc vào cốc, không chịu ấn xuống, cứ để lồng phồng như vậy. Tên Latvi lôi từ dưới gối một túi thuốc khác to hơn gói ban đầu và mở cái tủ nhỏ đầu giường, rút ra cái cốc nhựa. Cốc là cốc nhựa, nhưng Sukhov đã đọ rồi, đựng đúng bằng cốc thuỷ tinh. Tên Latvi rũ thuốc bỏ vào cốc.


- Ấn xuống, cậu phải ấn nó xuống chứ! - Sukhov nói với hắn và tự lấy tay ấn thuốc trong cốc xuống.


- Biết rồi! - Tên Latvi đổ quặu, giằng lấy chiếc cốc, tự ấn thuốc xuống, nhưng nhẹ tay hơn, và lại đổ thuốc vào.


Trong khi đó Sukhov mở khuy áo trấn thủ, lần tay vào bên trong lần lót chỗ để tờ giấy bạc. Anh lấy ngón tay khẽ đẩy tờ giấy bạc qua lần bông, tới cái lỗ nhỏ mà anh đã khoét và khâu lược lại vài mũi. Khi tờ giấy bạc chạm vào cái lỗ nhỏ, anh lấy móng tay khẽ kéo chỉ, nới rộng ra, gấp tờ giấy bạc nhỏ lại theo chiều dài, rồi rút nó ra khỏi lỗ. Hai rúp. Tờ giấy bạc đã cũ, không còn kêu sột soạt.


Trong phòng lúc đó có tiếng người kêu lên:


- Anh tưởng thằng già râu khốn nạn thương anh lắm hả! Đến em ruột nó mà nó còn không tin, nữa là cái đồ quê mùa dốt nát như anh!


Ở trong trại khổ sai được cái sướng là tha hồ tự do phát ngôn. Chứ ở trại Uct-Izma, chỉ cần thầm thì với nhau rằng ở bên ngoài đến diêm cũng không có bán, lập tức sẽ được nghỉ trong nhà đá và lĩnh thêm một hạn mười năm nữa. Còn đây, có gào toáng lên về bất cứ điều gì cũng chẳng có ma “ăng ten” nào đi bẩm báo, bọn an ninh cũng phẩy tay.


Có điều, làm quái gì có thời gian mà nói về điều nọ, điều kia.


- Ê, sao đong lỏng thế hả, - Sukhov càu nhàu.


- Được rồi, được rồi, thêm cho đây này! - Tên Latvi bỏ thêm mấy sợi lên phía trên.


Sukhov rút lôi cái túi đựng thuốc để bên trong cái túi nhỏ anh khâu thêm vào bên trong áo khoác, đổ thuốc vào.


- Thôi được, cho một cốc nữa - Sukhov quyết định, anh không hút thử nữa, vì không muốn hút điếu thuốc đậm đà đầu tiên trong khi chạy hộc tốc về đội mình.


Anh tiếp tục cò kè với tên Latvi, rồi đổ nốt cốc thứ hai vào túi, trả hai rúp, gật đầu chào hắn rồi đi ra. Vừa bước ra tới sân anh co cẳng chạy về trại xá của mình để bắt kịp lúc Seza mang gói đồ tiếp tế về.


Nhưng lúc đó Seza đã ngồi trên giường tầng một của mình và ngó chăm chăm vào đống đồ. Hắn bầy tất cả các thứ vừa nhận được ra giường và trên nóc cái tủ con đầu giường. Chỉ có điều chỗ đó hơi bị tối vì ánh sáng đèn trần đã bị giường của Sukhov cản lại. Sukhov khom mình lách vào giữa giường của Seza và giường của ông trung tá. Anh chìa xuất bánh mì bữa tối cho Seza:


- Bánh của anh đây, Seza Markovich.


Anh không nói: “Sao, nhận được rồi à?”, là bởi vì câu đó ngụ ý rằng anh đã xếp hàng hộ và bây giờ anh có quyền nhận phần của mình. Anh hiểu mình có quyền, song anh không phải hạng bòn mót, dù đã ở tù tới tám năm - và càng ở trong tù lâu anh càng cố giữ bằng được nguyên tắc của mình.


Tuy nhiên, anh chẳng thể nào ra lệnh cho đôi mắt của mình. Mắt anh, mắt người tù khổ sai, nhanh như mắt diều, loáng một cái đã nhìn thấy hết những thứ mà Seza bầy la liệt trên giường, trên nóc tủ. Và mặc dù có những gói giấy mới mở nửa chừng, những cái bao chưa rạch, nhưng thoáng nhìn và đánh hơi, Sukhov biết liền Seza đã nhận được giò, sữa hộp, cá xông khói, mỡ lợn muối, bánh mì sấy để dành được, bích quy có mùi vị khác, hai kilô đường viên, có gói gì đó trông giống như gói bơ tươi, rồi thuốc là và ống tẩu, còn nữa, còn nữa.


Anh đã trông thấy tất cả ngần ấy thứ chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi khi anh nói câu: “Bánh mì của anh đây, Seza Markovich”.


Seza thì cứ mê mẩn, mụ mẫm cả người, hệt như kẻ say (ai nhận được thực phẩm tiếp tế cũng đều rơi vào tâm trạng tương tự). Hắn phẩy tay về phía mấy miếng bánh mà Sukhov chìa ra:


- Cứ giữ lấy, Ivan Denhisych!


Một bát súp với hai trăm gram bánh - cả một bữa tối đầy đủ. Đối với Sukhov đó là phần thưởng lớn cho cái công xếp hàng của anh rồi. Ngay lập tức Sukhov gạt phăng cái ý nghĩ rằng anh có thể được một chút gì đó trong cái đống đồ của Seza. Không gì tệ hơn là hành hạ cái dạ dầy vì những chuyện chả ra đâu vào đâu.


Mình còn có bốn trăm gram bánh, cộng với hai trăm gram của Seza, lại còn gần hai trăm gram nữa giấu trong đệm - thế đủ rồi. Hai trăm gram mình sẽ gặm bây giờ, sáng mai được nhận năm trăm năm mươi gram nữa, bốn trăm gram này mình mang đi làm - sống thế mới là sống chứ! Còn chỗ giấu ở trong đêm hãng cứ để đấy. Cũng may mà mình kịp khâu nó vào, chứ như thằng cha ở đội 75 đấy, để ở trong tủ, khoá hẳn hoi, bây giờ có mà kiện lên Xô Viết Tối Cao!


Có nhiều người tưởng rằng người nhận được đồ tiếp tế như một cái túi thắt miệng, cứ việc mở ra là xin được. Nhưng xét cho cùng, thì đồ đến rồi đồ lại đi. Đôi khi, trước khi nhận được đồ tiếp tế, một số người đã chẳng mừng húm khi mót được chút cháo thừa, hoặc có bị bắn bỏ cũng cố mà hút cho bằng hết mẩu thuốc nhặt được. Vậy mà khi nhận được đồ chẳng lẽ lại không biếu ông giám thị, anh đội trưởng, cả tay làm trực tiếp ở chỗ cấp phát? Mà tên này, nếu không được gì, thì lần sau cứ đợi đấy, đồ gửi đến nhưng cả tuần sau cũng không có tên trong danh sách. Khi mang đồ đến nhà kho để gửi (phần khỏi mất cắp, phần khỏi bị trấn và phần vì thủ trưởng đã ra lệnh) - sáng mai, trước giờ điểm danh Seza cũng phải mang tới đó để gửi - cũng lại phải cúng cho thằng cha phụ trách ở đấy một phần khá, bằng không hắn gậm dần gậm mòn của mình cũng chết. Cả ngày hắn ngồi ở đó, giống như con chuột gặm nhấm thực phẩm của người khác, có mà tin hắn được khối! Rồi còn phải thưởng công cho những người, như Sukhov chẳng hạn, và nếu muốn nhận được mấy thứ quần áo mà ta giặt ở nhà tắm công cộng được sạch sẽ, tinh tươm, xếp gọn gàng, thì cũng phải dúi cho bọn người ở đó chút đỉnh. Cũng còn phải biếu mấy cha hớt tóc nữa chứ, bằng không hắn sẽ không chùi con dao cạo lên miếng vải giấy của hắn, mà chùi thẳng vào đầu gối để trần của ta, nhiều thì không có, nhưng cũng phải vài ba điếu thuốc. Rồi còn BVHGD, cũng phải tính đến để thư của ta chúng để riêng ra, không làm mất. Còn nếu muốn được một ngày nằm khểnh trên giường mà nghỉ ngơi thì phải mang biếu ông đốc tờ thứ gì đó. Rồi còn cả tay hàng xóm dùng chung với ta cái tủ nhỏ đầu giường, như ông trung tá với Seza chẳng hạn, làm sao lại không cho được, là vì hắn sẽ đếm từng miếng ta bỏ vào miệng, cho nên, đến một kẻ bần tiện nhất cũng không thoát được, vẫn phải bấm bụng mà cho hắn.


Vì thế cứ kệ cho mọi người ghen ghét, tị nạnh, những kẻ đứng núi này trông núi nọ, chứ Sukhov thì trải đời quá rồi, anh hiểu rằng tuyệt không được ăn không của ai cái gì.


Anh tháo ủng và leo lên giường của mình, rút từ trong bao tay miếng sắt, ngắm nghía nó. Anh tính ngày mai sẽ cố kiếm một hòn đá mài thật tốt và sẽ mài miếng sắt này thành một con dao nhỏ dùng cho việc sửa chữa giầy dép. Mất khoảng ba bốn ngày gì đó, chịu khó mài vào sáng sớm và buổi tối, anh sẽ có một con dao nhỏ có lưỡi sắc và cong. Nhưng từ giờ cho đến mai anh phải giấu miếng sắt mẻ này đi đã. Anh sẽ nhét nó vào giữa thanh đòn ngang và tấm gỗ giường. Và trong lúc ông đại tá chưa đi nằm (anh không muốn bụi rơi xuống mặt ông), anh kéo tấm nệm nhồi không phải phoi bào, mà là mùn cưa nặng chình chịch lên và giấu miếng sắt.


Những người hàng xóm của anh nằm phía trên: anh chàng Báp tít Aliosa và cặp Etoni nằm trên giường kế bên. Song Sukhov không ngại họ.


Fechiukov đi ngang qua phòng, khóc rưng rức. Vai hắn so lại, môi chảy máu. Chắc hắn lại bị tẩn ở trong nhà ăn vì tội  giành nhau bát để liếm. Không nhìn ai và cũng chẳng cần giấu những giọt nước mắt, hắn đi ngang qua đội, leo lên giường của mình, vùi mặt xuống đệm. Xét cho cùng, hắn cũng thật đáng thương. Chắc hắn không sống nổi cho tới khi mãn hạn. Hắn không biết cách sống.


Vừa lúc ông trung tá xuất hiện, phấn khởi, tay xách một cà mèn trà hãm đặc biệt. Trong trại xá có đặt hai thùng gỗ đựng nước trà, song đó là thứ trà gì vậy? Nó âm ấm và cũng có màu của nước trà, song nhạt thếch, lại bốc mùi gỗ mục do cái thùng đã tã thôi ra. Chứ thứ trà mà Buinovski vừa pha, là trà xin được của Seza, trà thứ thiệt, ông bỏ vào cà mèn và chạy đi đổ nước sôi. Ông trung tá phởn ra mặt, thu xếp mặt tủ và đặt cà mèn trà quý giá lên đó.


- Tí nữa thì bỏng tay vì cái vòi nước sôi! - ông khoái trá khoe khoang.


Ở phía dưới Seza bày các thức ăn của hắn lên những tờ giấy trải ra trên giường. Sukhov đặt tấm nệm xuống để khỏi phải nhìn thấy những thứ đó mà thêm não ruột.


Song một lần nữa không có Sukhov là không xong việc. Seza đứng dậy giữa hai bên giường, nhìn chằm chằm Sukhov, mắt nháy nháy:


- Denhicych! cho tôi mượn Cái mười ngày của anh với!


Cái mười ngày đây là con dao díp nhỏ của Sukhov. Anh cũng lại giấu nó ở khe ván giường dưới tấm nệm. Trông chả nhỉnh hơn ngón tay út mấy tí, nhưng cắt được cả miếng ba dọi dầy cỡ năm đốt ngón tay. Chính Sukhov làm con dao này và luôn mài nó sắc bén.


Anh lại mò tay xuống phía dưới đệm, rút con dao ra rồi đưa cho Seza. Seza gật đầu và ngồi khuất xuống phía dưới.


Có một con dao như thế cũng kiếm chác được chút đỉnh. Nhưng nó cũng có giá của mình. Chỉ cần lộ ra là mười ngày nằm nhà đá như bỡn. Chính vì vậy phải là kẻ không còn tính người mới có thể: cho bọn này mượn con dao để bọn này cắt giò, còn đẳng ấy hả, đút cặc vào mồm đẳng ấy.


Thế là bây giờ Seza lại nợ anh nữa rồi.


Xong xuôi các khoản bánh biếc, dao diếc, lúc này Sukhov mới lôi cái túi đựng thuốc lá ra. Việc đầu tiên anh nhón lấy ít sợi thuốc vừa đủ một điếu mà anh đã vay buổi sáng, đưa trả cho tên Etoni phía giường bên, nói: “Cám ơn”.


Tên Etoni nhành môi ra, trông như cười. Hắn lẩm bẩm cái gì đó với tay đồng hương thân tín và hai người quấn một điếu hút thử xem thuốc của Sukhov ra làm sao.


Cứ thử thoải mái, thuốc của mỗ đây chất lượng đâu kém thuốc các người. Sukhov cũng tính hút thử một điếu, song cái đồng hồ bên trong anh nó báo với anh rằng chỉ tí nữa thôi là tới giờ điểm danh ban đêm. Đây chính là thời điểm bọn giám thị đi rình mò khắp các trại xá. Nếu muốn hút thuốc, thì ra ngoài hành lang mà hút, nhưng Sukhov lại không muốn ra, ở trên giường tầng trên của mình anh cảm thấy ấm hơn. Trong trại xá vẫn chẳng hề ấm hơn chút nào, vẫn những đám băng trông như màng nhện bám trên trần. Nhưng lúc này xem ra vẫn còn chịu được, chứ đến đêm cứ gọi là run bần bật vì lạnh.


Sukhov lấy khoanh bánh mì hai trăm gram bắt đầu bẻ từng miếng nhỏ bỏ vào miệng và lắng nghe cuộc trà đàm ở phía dưới giữa ông trung tá và Seza.


- Ăn đi, trung tá, ăn đi, cứ tự nhiên! Cầm lấy miếng cá hun khói này, cả giò nữa này.


- Cám ơn, tôi đang ăn đây.


- Lấy bơ mà phết bánh mì. Bánh mì gối Moskva chính hiệu đấy!


- Ái chà chà, không thể tin được ở một nơi nào đó người ta vẫn làm bánh mì gối. Anh biết không, bữa tiệc ê hề bất ngờ này làm tôi nhớ tới một chuyện. Lần ấy tôi tới Arkhaghensk...


Tiếng ồn ở nửa bên kia trại xá có tới cả trăm giọng, nhưng Sukhov Sukhov vẫn nghe được tiếng kẻng ở bên ngoài. Chưa một ai nghe thấy cả. Và Sukhov còn nhìn thấy Kurnosenski, một tay giám thị trẻ măng, người nhỏ thó, có bộ mặt hồng hào. Hắn nắm trong tay một tờ giấy, và cứ nhìn cái cách hắn đi vào rõ ràng hắn tới trại xá không phải để bắt những người hút thuốc trộm trong phòng hay đuổi phạm ra ngoài để kiểm tra, mà là tìm ai đó.


Kurnosenski dò soát lại trên tờ giấy và hỏi:


- Một lẻ bốn ở đâu?


- Ở đây - mọi người đáp lại.


Cặp Etoni vội dụi điếu thuốc, giấu đi và lấy tay xua khói.


- Còn đội trưởng đâu?


- Anh cần gì? - Turin nằm trên giường, chỉ đặt một chân xuống sàn.


- Mấy người trong đội anh đã viết tường trình chưa?


- Họ đang viết! - Turin khẳng định một cách chắc chắn.


- Đáng ra phải nộp rồi chứ.


- Khốn nhưng họ ít học, nên viết cũng khó khăn lắm. (Đó là đội trưởng nói về Seza và ông trung tá. Đội trưởng cừ ra phết, bất cứ lúc nào cũng đối đáp đâu ra đấy). Với lại làm gì có bút, mực cũng chả có.


- Phải có chứ.


- Nhưng bị tước mất rồi!


- Liệu cái mồm, đội trưởng, ông mà nói lắm, tôi cho ông ngồi nhà đá đấy! - Kurnosenki doạ nạt, song không tỏ ra tức giận. - Làm thế nào thì làm, sao cho sáng mai, trước giờ điểm danh, mấy tờ trình phải nằm trên phòng giám thị rồi! Và phải viết rằng mấy cái đồ không được phép dùng ấy đã đem nộp vào kho đồ cá nhân rồi, rõ chưa?


- Rõ.


(“Lão trung tá thoát rồi” - Sukhov nghĩ bụng. Còn bản thân trung tá thì chẳng nghe thấy gì, còn mải ăn giò và đấu hót).


- Còn một việc nữa, - tên giám thị nói tiếp,  - Đội anh có ai là S-311 không?


- Còn phải xem danh sách đã, - đội trưởng đáp, cố ý lần chần. - Ai mà nhớ hết nổi mấy cái con số chó đẻ ấy (đội trưởng vờ vịt cốt cứu Buinovski không phải vào nhà đá đêm nay, kéo dài thời gian cho tới sáng mai, trước giờ điểm danh).


- Buinovski có đây không?


- Gì vậy? Tôi đây! - trung tá lên tiếng từ phía dưới giường của Sukhov. Có những loại người nhanh nhẩu đoảng như thế đấy!


- Anh phải không? Ờ, đúng rồi, S-311. Đi!


- Đi đâu?


- Tự anh biết.


Ông trung ta thở dài đánh thượt, miệng làu bàu. Lúc này, đối với ông giong một chiến hạm chạy trên biển vào đêm giông bão chắc còn dễ hơn là dứt ra khỏi cuộc chuyện trò với bè bạn để vào nằm một mình trong cái xà lim lạnh buốt đó.


- Bao nhiêu ngày vậy? - Ông trung tá hỏi, giọng đã hạ.


- Mười. Nhanh lên nào!


Cùng lúc đó bọn cần vụ réo lên:


- Kiểm tra! kiểm tra! tất cả ra ngoài!


Như thế có nghiã viên giám thị được cử xuống để kiểm tra phạm đã có mặt ở trại xá rồi.


Ông trung tá ngoái lại - mang áo bông đi chăng? Nhưng chắc chúng sẽ lột ngay, chỉ để lại áo trấn thủ thôi. Đành mặc như thế này mà đi vậy. Ông trung tá những tưởng Volkovski đã quên (Volkovski chẳng quên ai và cái gì bao giờ) và tha cho mình, nên ông cũng chẳng chuẩn bị giấu thuốc lá cho mình nữa. Bây giờ mà cầm ở tay sẽ bị tịch thu tức khắc lúc họ khám xét trước khi quẳng ông vào nhà đá.


Tuy nhiên, trong lúc ông đội mũ Seza đã kịp dúi cho ông vài điếu.


- Thôi, tạm biệt anh em, - trung tá buồn rầu gật đầu chào anh em trong đội và đi theo viên giám thị.


Mấy người gọi với theo ông, người thì bảo hãy giữ vững tinh thần, kẻ bảo đừng thối chí, - thì còn biết nói gì hơn nữa? Chính anh em đội 104 đã xây khu xà lim đó, nên họ thông thuộc lắm: bốn bức tường đá, sàn xi măng, không có lấy một lỗ cửa sổ, có lò sưởi đấy, song cũng chỉ đủ làm tan lớp băng đóng trên trần nhà khiến cho nước chảy thành vũng đọng ở sàn. Ngủ trên tấm phản trần, không chăn mềm, đệm gối, răng đánh cầm cập suốt đêm. Bánh mì một trăm bẩy mươi lăm gram mỗi ngày và súp nóng chỉ tới ngày thứ ba, ngày thứ sáu và ngày thứ chín mới được húp.


Mười ngày đêm! Mười ngày đêm ngồi từ đầu đến cuối trong xà lim đá cũng có nghĩa cả cuộc đời còn lại sẽ phải lê lết với bệnh tật. Mà nếu sống sót, thì bệnh ho lao cũng vĩnh viễn cột chặt ta vào giường bệnh viện. 


Còn người nào bị cầm cố trong xà lim mười lăm ngày thì coi như rồi đời - chỉ còn biết ngậm cười dưới ba thước đất.


Khi còn sống trong trại xá hãy mau mắn cầu nguyện sao cho không rơi vào cái địa ngục trần gian ấy.


- Có định ra không thì bảo, tôi đếm đến ba! - Tên trưởng trại xá gầm lên. - Sau ba tiếng ai không ra, tôi sẽ ghi tên báo cáo lên công dân giám thị!


Trưởng trại xá là kẻ khốn nạn nhất hạng. Cùng bị giam giữ với anh em tù mà lúc nào hắn cũng lên mặt thủ trưởng, chẳng kiêng nể một ai. Ngược lại, ai cũng sợ hắn. Nếu không mách với giám thị, thì hắn cũng thụi ta vào mặt. Hắn được coi là tàn phế vì mất một ngón tay trong cuộc ẩu đả, còn nhìn bản mặt hắn - rõ là giống côn đồ. Mà hắn đúng là côn đồ thứ thiệt, mang án hình sự, nhưng không hiểu sao người ta lại xử hắn theo luật 58/14, chính vì thế mà hắn rơi vào trại khổ sai này.


Hắn không nói rỡn, bây giờ hắn sẽ ghi tên ta vào giấy, báo cáo lên giám thị, ta sẽ lĩnh đủ hai ngày theo chế độ: ban ngày làm việc khổ sai, đêm vào nằm nhà đá.


Chỉ tới lúc này anh em mới lục tục chậm chạp lê bước ra cửa, chỗ đứng túm tụm lại, chỗ nhảy từ các giường tầng xuống trông như bầy gấu và ai cũng nhao ra phía cửa hẹp.


Sukhov tay cầm điếu thuốc đã cuộn từ lâu, điếu thuốc anh thèm muốn chết, khéo léo nhảy xuống đất, xỏ hai chân vào ủng và định đi ra, song lại thấy tội nghiệp cho Seza. Anh đâu muốn kiếm chác gì ở hắn, mà lúc này chỉ thấy thương hắn thực sự: thằng cha này quá chăm lo cho bản thân. Hắn chả hiểu đời gì cả - nhận được đồ tiếp tế thì chớ nên bầy hết cả ra đấy mà ngắm. Tốt nhất nên gửi vào kho trước giờ kiểm soát ban đêm. Ăn thì lúc nào chả được. Bây giờ hắn làm thế nào với đống đồ bầy la liệt ra như thế? Cho tất cả vào một chiếc bao rồi mang ra chỗ xếp hàng - chỉ tổ làm trò cười cho năm trăm con người trong trại xá. Nhưng nếu để lại, thì chưa đầy một giờ đồng hồ kiểm tra con số, kẻ nào chạy về chỗ trước, kẻ ấy sẽ nẫng cái bao ngay. (Ở trại Ust-Izma còn tệ hại hơn. Bọn lưu manh bao giờ cũng đi làm về trước và khi anh em mò được tới phòng thì đồ đạc đã bị chúng dọn sạch sẽ rồi).


Sukhov nhìn thấy Seza lúng ta lúng túng với các gói thức ăn, song đã muộn mất rồi. Hắn đang nhét giò và mỡ muối vào trong áo, cố cứu vãn được cái gì hay cái ấy.


Sukhov thấy thương hại, bèn bày cách cho hắn:


- Cứ ngồi tại chỗ, Seza Markovich, chờ cho tới người cuối cùng, ngồi vào chỗ tối ấy và chờ cho người sau cùng đi ra. Khi bọn giám thị sục sạo các giường thì hãy đi ra. Nếu chúng nhìn thấy, nhớ bảo là bị ốm. Còn tôi sẽ chạy ra trước tiên và quay trở vào trước tiên. Cứ thế...


Nói rồi anh co cẳng chạy ra ngoài.


Thoạt đầu Sukhov phải khó nhọc lắm mới chen qua được đám đông (tay lại còn phải giữ cho điếu thuốc không bị bẹp). Trong hành lang chung cho cả hai khối của trại xá và trước cửa ra vào, không ai muốn là người đầu tiên bước ra cả, một lũ ma lanh, mà cứ bám riết lấy hai bên tường, chỉ chừa lại một lối nhỏ vừa một người đi: muốn thì cứ việc ra ngoài trời lạnh, các bố đây đéo dại, cứ đứng ở đây cho ấm cái đã. Cả ngày phơi mặt ra băng giá, bây giờ lại đứng thêm mười phút nữa cho chết rét chắc? Chả dại. Thằng nào muốn chết, cho chết. Cánh tớ chờ thêm ít lâu nữa!


Gía phải lần khác thì Sukhov cũng cố bám lấy tường đấy, nhưng lần này anh vọt ngay ra ngoài cửa, lại còn réo lên ầm ĩ:


- Sợ gì chứ lũ ngốc? Chả lẽ chưa thấy cái lạnh Siberi bao giờ chắc. Ra ngoài này mà sưởi mặt trời của sói! Ông anh, cho xin tí lửa!


Anh châm thuốc ở trước cửa ra vào rồi bước xuống bậc thềm trại xá. “Mặt trời của sói” - ở quê Sukhov người ta gọi đùa, ám chỉ mặt trăng.


Trăng đã lên thật cao! chỉ chút nữa thôi là tới đỉnh điểm, bầu trời bàng bạc phớt màu lá cây, những ngôi sao thật tỏ, nhưng thưa thớt. Tuyết lấp lánh, những bức tường của trại xá cũng trắng xoá, vì thế nên ánh sáng của những ngọn đèn chiếu trong trại không còn chói gắt nữa.


Ở trại xá đằng kia, phía trước cửa, đem sậm một dòng người đang xếp hàng. Cả trại xá khác nữa, cũng thế. Từ trại xá này tới trại xá kia tiếng chuyện trò thưa thớt, chỉ thấy tiếng những bước chân dẫm tuyết lạo xạo.


Trước cửa bậc thềm, mặt hướng vào cửa trại xá, đã có năm người xếp thành hàng. Phía sau có ba người, Sukhov nhập vào đội năm người thứ hai này. Đã có mấy lát bánh mì vào bụng, miệng lại phì phèo điếu thuốc, đứng ở ngoài này cũng không đến nỗi nào. Thuốc hút được. Tên Letoni không bịp mình, vừa đậm lại vừa thơm.


Mọi người bước dần ra ngoài, bây giờ đã có hai, ba hàng năm người rồi. Những ai ra xếp hàng trước, lúc này nổi cáu: bọn khốn còn đứng bám tường làm đéo gì chứ, định cho bố chúng nó chết rét ngoài này chắc.


Không một ai trong đám phạm nhìn thấy đồng hồ trong thời gian ở tù. Mà họ cần quái gì đồng hồ. Phạm chỉ cần biết đã sắp tới hiệu lệnh báo thức chưa? Còn bao lâu nữa thì tới giờ điểm danh? Sắp ăn trưa, ăn tối chưa? Sắp tới giờ tắt đèn chưa?


Họ bảo giờ điểm danh ban đêm vào lúc chín giờ. Ấy là nói thế, chứ không bao giờ nó kết thúc vào lúc chín giờ, thường chúng kiểm tra tới lần thứ hai, thứ ba và sớm trước mười giờ đừng hòng mà được ngủ. Còn kẻng báo thức họ bảo vào năm giờ sáng, thì cũng chỉ biết thế. Chả trách cái tên người Mônđavi đã lăn ra ngủ quên trước giờ nghỉ. Nơi nào có chỗ sưởi ấm là phạm ta lăn ra mà ngủ ngay được. Trong tuần được ngủ quá ít, thế cho nên vào ngày chủ nhật không phải đi làm toàn trại xá lăn ra ngủ như chết cả lượt.


Mọi người đang đổ xuống bậc thềm. Bọn giám thị cùng thằng trưởng trại xá, rặt một lũ súc vật, đang đá đít họ.


- Sao nào? - Những người xếp hàng đầu la ó chửi bới họ, - Chúng bay tưởng chúng bay khôn lắm hả, lũ khốn nạn? Tưởng lấy cứt mà đánh thành bơ được đấy hả? Ra ngoài này ngay từ đầu, thì có phải xong rồi không.


Toàn trại xá đã ra hết bên ngoài. Bốn trăm con người - một trăm tám mươi lăm hàng năm đứng nối đuôi nhau. Nhưng cũng chỉ ở phía trên hàng ngũ còn tề chỉnh, phía dưới đuôi mọi người đứng túm tụm, chả ra hàng ra lối.


- Ở dưới kia, xếp hàng vào! - tên trưởng trại xá gào lên từ trên bậc thềm.


Nhưng còn lâu chúng mới nghe, lũ quỷ sứ, đồ con cặc!


Seza bước ra khỏi cửa, so vai rụt cổ, cố làm ra vẻ đau yếu. Đằng sau hắn là hai tên cần vụ ở khối bên kia trại xá, và hai tên ở khối bên này cùng với một tên thọt nữa. Chúng làm thành hàng năm người đầu tiên, chính vì thế Sukhov thành ra đứng ở hàng năm người thứ ba. Chúng đuổi Seza xuống phía cuối.


Tên giám thị bước ra ngoài hiên.


- X ế p  h à n g  n ă m! - Hắn gào những người ở dưới đuôi, giọng hắn khoẻ thật.


- X ế p  h à n g  n ă m! - Trưởng trại xá gào theo, giọng còn khoẻ hơn.


Nhưng bọn dưới đó vẫn không chịu hiểu, đồ con cặc!


Tên trưởng trại xá tức điên người, vọt xuống phía dưới, chửi bới om xòm, đánh đấm túi bụi.


Nhưng xem hắn đánh những ai, rặt bọn thỏ đế.


Cuối cùng đâu cũng vào đấy. Hắn quay trở lại bắt đầu đếm cùng bọn giám thị:


- Một! hai! ba!.


Hàng nào điểm xong, lập tức mọi người ba chân bốn cẳng chạy vội vào trong trại xá. Thế là xong một ngày với các sếp!


Xong có nghĩa là không phải đếm lại lần thứ hai. Bọn óc bã đậu này, trán thì trông rõ rộng mà còn ngu hơn bất cứ thằng chăn cừu nào. Thằng chăn cứu tuy thất học, chỉ biết chăn cừu thôi, song trên đường về cũng còn biết thiếu đủ ra sao. Mấy tên khốn này có mà nhồi vào đầu cũng chỉ đến thế.


Mùa đông năm ngoái trong trại lại còn không có lấy nổi một cái lò sấy giầy nào, cho nên phạm phải để lại ủng của mình trong phòng cả đêm. Đã thế còn bị đuổi ra ngoài kiểm tra tới ba bốn bận. Chính vì vậy họ chả thèm mặc quần áo cho tử tế, cứ thế quấn chăn vào người rồi ra xếp hàng. Tới năm nay người ta cho xây vài cái lò. Không phải cho tất cả các đội một lúc, song cứ  đôi ba ngày các đội lần lượt thay nhau sấy. Bởi thế, nên hồi này, khi nào phải đếm lại, chúng để anh em ở bên trong trại xá, chỉ xua từ nửa trại xá này sang nửa trại xá kia thôi.


Sukhov chạy vào bên trong, tuy không phải người đầu tiên, nhưng mắt anh không rời tên phạm chạy vào trước. Chạy tới giường của Seza anh ngồi xuống, cởi ủng ra, leo lên một chiếc giường gần lò sưởi, đặt đôi ủng của mình lên đó. Ở đây ai đến trước thì hưởng trước. Sau đó anh quay lại giường Seza, ngồi xếp chân bằng tròn trên đó, một mắt để ý không cho tên nào ở phía dưới thò tay lên thó đồ của hắn, một mắt canh chừng không cho tên nào đẩy đôi ủng của anh ra để chiếm chỗ.


- Này! - Anh buộc phải hét toáng lên, - mày, thằng tóc đỏ kia! Muốn được nện ủng vào mặt hả? Cứ việc đặt ủng của mình vào, nhưng đừng có động đến của người khác!


Phạm lũ lượt đổ trở lại trại xá. Ở đội 20 mọi người hò nhau:


- Đem ủng đi sấy!


Bây giờ người ta thả họ ra để đi sấy ủng, rồi khoá cửa lại. Một lát sau những người này chạy về, đấm cửa thình thình:


- Công dân giám thị ơi, mở cửa cho chúng tôi với!


Nhưng bọn giám thị đã đi lên trung tâm để đọ sổ sách với phòng tài vụ xem có thằng tù nào chạy trốn hay không.


Hôm nay Sukhov cóc thèm để ý đến mấy việc này. Kìa Seza đang đi về giữa hai hàng giường, miệng suýt xoa:


- Cám ơn anh, Ivan Denhisovich!


Sukhov gật đầu và nhanh như sóc, anh leo lên giường của mình ở phía trên. Bây giờ có thể ăn nốt hai trăm gram bánh, hoặc hút điếu thứ hai, hoặc lăn ra mà ngủ.


Nhưng Sukhov đâu muốn ngủ ngay, bởi vì anh đã có được một ngày thật đẹp, nó khiến anh thấy vui vẻ quá.


 Sắp giường chiếu - chuyện nhỏ: chỉ việc kéo cái chăn đen đã bạc màu, rồi nằm lên đệm (lâu lắm rồi, có lẽ từ năm bốn mốt, sau khi đi khỏi nhà tới giờ, anh chưa nằm ngủ trên vài trải giường bao giờ. Và anh lấy làm lạ tại sao đàn bà lại cứ phải phiền phức vì khăn trải giường thế nhỉ. Chỉ tổ mất công giặt), đặt đầu lên cái cái gói nhồi phoi bào, hai chân đút vào áo trấn thủ, đắp chăn lên, phía trên đắp thêm chiếc áo bông nữa, và thế là cám ơn Chúa, một ngày nữa lại qua rồi!


Cám ơn Chúa, vì không phải ngủ ở xà lim, nằm ở đây cũng không đến nỗi nào.


Sukhov nằm, đầu hướng ra cửa sổ, còn Aliosa nằm ở giường bên kia, cạnh anh, trở ngược đầu đuôi để hứng lấy ánh sáng đèn. Anh ta lại đang đọc sách Phúc Âm.


Ngọn đèn điện cách chỗ họ không xa, có thể đọc sách, thậm chí khâu vá quần áo cũng được.


Aliosa nghe thấy Sukhov thầm thì cảm ơn chúa, bèn quay lại.


- Ivan Denhisovich, tâm hồn anh muốn cầu nguyện Chúa, tại sao anh không để cho nó làm việc đó nhỉ?


Sukhov liếc nhìn Aliosa, hai mắt anh ta giống như hai ngọn nến, ấm áp. Anh thở dài:


- À, bởi vì những lời cầu nguyện cũng giống như mấy cái đơn khiếu nại, cũng có thể đến được tay cấp trên, cũng có thể chả bao giờ tới được, hoặc quay trở về với một chữ bên cạnh: “Bác đơn”.


Trước cửa văn phòng trụ sở trại có đặt bốn chiếc hộp nhỏ màu đen niêm phong cẩn thận và hàng tháng có một người được họ uỷ quyền tới mở các hòm lấy thư ra. Nhiều đơn từ ở trong mấy cái hòm đó bị quẳng đi. Còn phạm ta thì cứ đợi, tính từng ngày, ngóng tin phản hồi. Nhưng nào có thấy. Hoặc chỉ nhận được mỗi chữ: “Bác đơn!”.


- Ivan Denisovich ạ, chính vì anh cầu nguyện ít quá, lại không thành tâm, nhẫn nại, hoá cho nên những lời cầu nguyện của anh chả bao giờ thành hiện thực được cả. Cầu nguyện phải thường xuyên cơ. Ví như có đức tin, thì anh bảo núi chuyển, nó cũng phải chuyển.


Sukhov cười khẩy và cuốn thêm một điếu thuốc nữa. Anh châm lửa nhờ ở cặp Etoni.


- Thôi đi Aliosa, đừng huyên thuyên. Tớ chưa từng thấy núi chuyển, vả cả cả đời tớ đã nhìn thấy núi bao giờ đâu. Còn các cậu ở Kavkaz, cả hội  Bap-tit nhà các cậu cùng cầu nguyện, thế các cậu đã nhìn thấy quả núi nào chuyển động chưa?


Mấy người Bap-tit này kể cũng khổ: cầu nguyện Chúa thì có hại đến ai, ấy thế mà cả bọn đều bị lãnh hai mươi lăm năm tù. Thì bây giờ nó là vậy, ai cũng hai mươi lăm năm tuốt tuột.


- Nhưng chúng tôi đâu có cầu nguyện về điều đó, Denhicych, - Aliosa khơi gợi. Hắn cầm cuốn sổ chép Phúc Âm xán tới gần Sukhov, ngó sát mặt anh, - Trong tất cả mọi thứ trần tục, phù du, chúng tôi chỉ cầu xin Thượng đế có được miếng ăn hàng ngày mà thôi: “Xin cho chúng đồ ăn ngày nào đủ ngày nấy!”


- Tức là khẩu phần hàng ngày, đúng không? - Sukhov hỏi.


Nhưng Aliosa vẫn nói tiếp, ánh mắt hắn thuyết phục nhiều hơn lời hắn nói, hắn đặt tay lên tay Sukhov, khẽ vuốt:


- Ivan Denicych! không nên cầu nguyện vì một gói đồ tiếp tế hay một xuất cháo thừa. Những gì ta coi là quý giá lại thấp hèn trước Chúa! Cần cầu nguyện những gì thuộc tâm linh: sao cho Đức Chúa Lời lấy hết những cái ác trong tâm chúng ta...


- Nghe tớ nói chuyện này còn hay hơn. Ở nhà thờ Polomensk chỗ chúng tớ có một cha cố...


- Đừng nói về ông cha đạo của anh nữa! - Aliosa nài nỉ, thậm chí trán hắn nhăn lại vì đau đớn.


- Không, cậu hẵng cứ nghe đã. - Sukhov chống khuỷu tay nhỏm dậy. Cả vùng Polomn chúng tớ không có ai giàu bằng lão cha cố. Tiền công sửa  cái mái nhà bình thường ra là ba mươi rúp một ngày, riêng cha cố người ta phải lấy tới trăm rúp. Mặc dù người ngợm ục à ục ịch, lão đi lại với ba mụ đàn bà ở ba thành phố khác nhau, hàng tháng trợ cấp tiền cho họ, còn với người thứ tư thì lão sống như vợ chồng hẳn hoi. Lão nắm thóp ông tổng giám mục, biếu xén ghê lắm, chẳng thế mà tất cả các ông cha cố mà người ta cử đến địa phận đều bị lão đẩy đi hết, lão chẳng muốn chia chác với ai...


- Anh nói về cha cố làm gì? Nhà thờ Chính thống đã xa lìa Phúc Âm. Người ta đâu có bắt giam họ, tống họ vào tù, ấy là vì người ta biết rằng họ đâu có đức tin thực sự.


Sukhov hút thuốc, bình thản nhìn Aliosa đang bị kích động.


- Aliosa, - anh đẩy nhẹ tay hắn ra, khói thuốc lá của anh bay vào mặt hắn. - Tớ đâu có chống lại Chúa, cậu hiểu chứ. Tớ sẵn lòng tin vào Chúa. Có điều tớ không tin có thiên đàng và địa ngục. Các người coi bọn này là lũ ngốc hay sao mà cứ hứa hiêu hứa vượn mãi về thiên đường với chả địa ngục? Đó là cái tớ ghét nhất.


Sukhov nằm trở lại, cẩn thận vẩy tàn thuốc sau đầu, chỗ giữa đầu giường anh và cửa sổ, tránh không làm cháy đồ của ông trung tá. Mải nghĩ, anh không nghe thấy Aliosa thì thầm gì nữa.


- Với lại, dù mình có cầu nguyện bao nhiêu chăng nữa, cái hạn tù của mình đâu có ngắn bớt đi. Cứ phải lê cho hết, từng ngày, từng ngày một, từ kẻng báo thức tới kẻng ngủ.


- Ấy, anh đừng nên cầu nguyện về điều đó! - Aliosa hoảng sợ. - Anh cần tự do để làm gì?  Có tự do thì đức tin cuối cùng còn sót lại trong anh, giống như chút hạt giống, sẽ mắc kẹt trong bụi mận gai! Anh phải lấy làm mừng vì ở trong trại tù! ở đây anh còn có thời gian mà nghĩ đến linh hồn! Sứ đồ Palo từng nói: “Các người khóc lóc gì vậy, muốn làm nát lòng ta chăng? Ta chẳng những chịu trói, mà còn sẵn sàng chịu chết vì danh Chúa Jesu”.


Sukhov im lặng nhìn trần nhà. Chính anh cũng không còn biết mình có cần tự do hay không. Lúc mới vào tù anh thèm được tự do lắm, mỗi tối nằm tính xem mình đã ở tù được bao nhiêu lâu, thời hạn còn lại bao lâu. Sau đó phát chán. Sau đó hiểu ra rằng những người như anh họ không thả cho về nhà, mà bắt đi đày. Vậy thì ở đây hay ở nơi đày ải, chỗ nào khá hơn, cũng chẳng rõ nữa.


Anh chỉ cầu xin Chúa trời có mỗi một điều - được về nhà.


Nhưng mà họ không thả...


Aliosa không nói dối anh. Qua ánh mắt, lời nói của hắn, cũng đủ biết hắn mừng vì được ở tù.


- Nghe này, Aliosa, - Sukhov giải thích cho hắn, - với anh thì được, Đấng Kitô bảo anh vào tù và anh ở tù là vì Ngài. Chứ còn tôi, tôi ngồi tù vì lẽ gì? Vì việc năm một chín bốn mốt người ta không chuẩn bị cho cuộc chiến tranh? vì lẽ đó? Nhưng đấy có phải lỗi của tôi đâu.


- Xem ra họ không kiểm tra lần thứ hai... Kilgasov nằm trên giường nói xen vào.


- Ờ, ờ! - Sukhov hưởng ứng. - Phải ghi lên cái ống ở đằng góc nhà: ngày này, tháng này trại xá không bị kiểm tra lần thứ hai. - Anh ngáp và nói: ngủ thôi.


Nhưng ngay lúc đó, trong trại xá tĩnh mịch, an phận, bỗng vang lên tiếng động đằng sau cửa ra vào. Có hai tên vừa nãy mang ủng đi sấy chạy vào hành lang hô hoán ầm ĩ:


- Kiểm tra lần hai!


Theo sát họ là viên giám thị:


- Tất cả sang phía bên kia!


Nhiều người đã ngủ. Họ càu nhàu, lồm cồm ngồi dậy, xỏ chân vào ủng (họ vẫn đánh cả quần bông đi ngủ. Mặc quần thường nằm trong chăn không chịu được, người cứ run cầm cập).


- Phù! quân khốn nạn! - Sukhov chửi, song anh cũng không bực mình cho lắm, vì chưa ngủ.


Seza từ giường dưới đưa lên anh hai chiếc bánh bích quy, hai cục đường và một lát giò tròn.


- Cám ơn, Seza Markovich! - Sukhov cúi xuống dưới, lối đi giữa hai dãy giường. - Anh đưa tôi cái bao tôi cất dưới gối tôi cho. Cất trên trên này cho chắc. (Giường tầng trên không thể với tay lên mà thuổng nhanh các thứ được, với lại giường của Sukhov ai mà thèm nhòm ngó).


Sukhov đưa lên phía trên cho Sukhov cái bao màu trắng đan lưới  của hắn. Sukhov nhét nó xuống dưới đệm và chờ cho gần hết mọi người ra hành lang, vì như vậy anh đỡ phải dẫm chân trần lâu dưới đất.


Nhưng tên giám thị đã gầm lên:


- Ê, người góc đằng kia!


Sukhov nhẹ nhàng nhảy chân trần xuống sàn (là vì đôi ủng của anh cùng với vải quấn chân đang sấy trên lò sưởi, lấy xuống tiếc lắm). Anh đã khâu biết bao đôi dép đi trong nhà, song toàn là cho người khác, bản thân chẳng có lấy một đôi.  Với lại anh cũng đã quen, việc này cũng chóng thôi mà.


Vả chúng cũng sẽ bắt tuốt cả dép, nếu ban ngày chúng mò thấy được.


Những người trong đội đến phiên được sấy giầy người đi dép, người để nguyên cả vải quấn chân, người dẫm chân không.


- Nhanh chân lên! nhanh lên! - tên giám thị quát tháo.


- Bọn bay muốn ăn gậy lắm hả, đồ mắc dịch! - tên trưởng trại xá có mặt tức thì.


Tất cả bị dồn sang nửa kia của trại xá và những người ra cuối cùng phải đứng ở ngài hành lang. Sukhov đứng ở ngoài đó, áp người sát vào tường gần nhà vệ sinh. Sàn nhà ướt át dưới chân anh, một ngon gió buốt lạnh luồn vào từ chỗ cửa ra vào.


Mọi người đã bị đuổi hết sang nửa bên kia nhà và tên giám thị cùng với tên trưởng trại xá lại đi lục soát xem còn ai ở lại nấp trong bóng tối. Bởi vì đếm không đủ tù - khốn nạn, đếm thừa tù - cũng khốn nạn. Thế là lại phải kiểm lại từ đầu.


Hai tên sục sạo, sục sạo chán rồi quay trở lại chỗ cửa.


- Một, hai, ba, bốn... - Bây giờ thì chúng nhanh chóng cho từng hàng năm người vào một. Sukhov là người thứ mười tám qua vòng kiểm soát, anh phóng vội về giường. Đặt một chân lên mép giường tầng dưới, anh tung người và đánh soạt một cái đã ở trên chỗ của mình.


Tốt rồi. Hai chân lại đút vào hai tay áo bông, đắp chăn lên người và trên cùng là áo trấn thủ. Ngủ thôi! Bây giờ anh em phạm ở nửa nhà bên sẽ bị lùa sang bên này. Họ cứ việc kiểm, chả động dạng gì đến mình.


Seza trở về giường. Sukhov đưa xuống trả hắn cái bao đựng đồ ăn.


Aliosa cũng đã quay về. Hắn chẳng khôn gì cả. Có cái gì cũng cho mọi người, mà bản thân nào có kiếm được gì.


- Cầm lấy, Aliosa! Anh đưa hắn một chiếc bánh bích quy.


Aliosa nhoẻn miệng cười:


- Cám ơn anh. Anh đã chẳng có...


- Ăn đi!


Tớ chẳng có, nhưng tớ còn kiếm được.


Và anh bỏ miếng giò vào miệng. Răng anh nhai miếng giò! răng đang nhai. Ôi chao cái vị của thịt. Nước của thịt. Thịt chính hiệu. Nó đang trôi xuống bụng.


Nhoằng một cái, miếng giò đã biến mất.


Những thứ còn lại, Sukhov nghĩ bụng, mình sẽ ăn trước giờ điểm danh buổi sáng.


Và anh kéo tấm chăn mỏng, đã lâu không giặt, trùm đầu. Lúc này anh đã không còn nghe thấy ở các lối đi giữa các dẫy giường mỗi lúc một chật cứng tù nhân của nửa trại xá bên: họ chờ người ta đang lục soát chỗ của họ.


Sukhov nhắm mắt ngủ và anh thấy thật hài lòng. Ngày hôm nay thật may mắn: không phải vào nhà đá, đội của anh không bị lùa đi làm ở Làng XHCN, bữa trưa anh gặt hái được thêm một bát cháo, đội trưởng nâng được năng xuất cho anh em, xây tường xây thật vui vẻ, qua mặt được bọn kiểm soát miếng sắt mẻ, kiếm được tí chút của Seza, lại còn mua được cả thuốc lá. Và không bị bệnh. Cơn đau buổi sáng đã qua khỏi.


Một ngày đã qua gần như không một điều phiền muộn. Có thể coi là một ngày hạnh phúc.


Trong hạn tù của anh, từ tiếng kẻng này tới tiếng kẻng khác, có ba nghìn, sáu trăm, năm mươi ba ngày như thế.


Vì vướng mấy năm nhuận, nên bị dôi thêm ba ngày...


 


Hết.



Nguồn: Một ngày của Ivan Denisovich. Tiểu thuyết của Aleksandr Solzenisyn. Đào Tuấn Ảnh dịch từ tiếng Nga. Nhà xuất bản Văn học, 2012. Biên tập: Nhà văn Triệu Xuân.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 18.09.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 06.09.2018
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.09.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 26.08.2018
Tử tù tự xử lý nội bộ - Trần Thư 24.08.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 23.08.2018
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
xem thêm »