tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29967150
Tiểu thuyết
11.11.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Những linh hồn chết

Ngôi nhà của Khlôbuiep trên tỉnh có một quang cảnh chẳng tầm thường chút nào. Hôm nay một ông pôp mặc áo lễ đọc kinh trong nhà; ngày mai một tốp diễn viên người Pháp tập hài kịch ở đấy. Có khi trong nhà không tìm đâu ra một mẩu bánh mì; có khi lại tiếp đủ các thứ nghệ sĩ, và khi ra về mỗi người lại mang theo một tặng phẩm. Tình cảnh Khlôbuiep đôi khi điêu đứng đến nỗi, giá phải người khác thì đã thắt cổ hay bắn vào đầu mà chết từ lâu; nhưng do một sự tương phản lạ lùng với nếp sống phóng đãng của ông ta, lòng mộ đạo của Khlôbuiep đã làm cho ông ta tránh được tuyệt vọng. Trong những lúc khó khăn ấy, ông ta đọc thân thế các vị thánh đã luyện được cho tinh thần mình vượt lên trên cảnh khốn cùng. Những khi ấy tâm hồn ông ta cảm kích khôn xiết, lòng ông ta dào dạt tình thương, mắt ông ta nhòa lệ. Ông ta cầu nguyện; và lạ thay, hầu như lần nào cũng có một sự cứu giúp bất ngờ đến với ông ta: một người bạn cũ nào đó sực nhớ tới ông và gửi tiền cho; hoặc giả một người đàn bà không quen biết gì đi qua, tình cờ biết được chuyện ông ta, liền động lòng trắc ẩn, biếu một món quà sang trọng; hoặc giả một vụ kiện mà ông ta chưa từng nghe nói đến, bỗng xoay ra có lợi cho ông ta. Bấy giờ ông ta thành kính nhận ra tấm lòng từ bi vô cùng, vô tận của đấng Sáng thế, bèn đặt một lễ Ca ngợi, rồi lại tiếp tục cuộc sống phóng đãng.
- Tôi thật ái ngại cho ông ta, Platônôp nói với Tsitsikôp khi họ đã từ giã ra về.
- Thật là một đứa con hoang dã lạc loài! Tsitsikôp nói. Những người như thế không đáng cho người ta thương hại.
Chẳng mấy chốc cả hai người đều không còn nghĩ đến Khlôbuiep nữa: Platônôp thì bởi vì vẫn thường nhìn tình cảnh của người khác một cách dửng dưng như nhìn mọi sự ở đời; những nỗi khổ của đồng loại khiến lòng chàng se lại; nhưng những ấn tượng không khắc sâu vào tâm hồn; chỉ mấy phút sau là chàng không còn nghĩ đến Khlôbuiep nữa; vì lý do dễ hiểu là đến bản thân chàng nữa, chàng cũng có nghĩ đến đâu. Tsitsikôp, thì bởi vì bao nhiêu ý nghĩ đều tập trung vào việc mua ấp vừa rồi: bỗng dưng trở thành chủ nhân thực sự của một trang ấp mà trước đây chỉ có trong trí tưởng tượng, y đâm ra tư lự; những dự định và ý nghĩ của y trở nên nghiêm trang hơn, khiến mặt y bất giác có vẻ sinh động hơn. “Kiên nhẫn, cần cù! Chẳng phải là khó: mình đã quen với hai đức tính đó, có thể nói là ngay từ thưở mới lọt lòng. Đối với mình, đó chẳng phải là cái gì mới mẻ. Nhưng giờ đây, ở cái tuổi này, liệu mình có còn kiên nhẫn được như thời trẻ trung nữa không?” Dù có xem đi xét lại việc tậu ấp vừa rồi về mặt nào, y cũng thấy là một việc có lợi. Có thể đem cầm cả điền trang sau khi đã bán từng khoảnh một những đất tốt nhất. Cũng có thể tự mình khai thác lấy, theo gương Kôxtanjôglô, tận dụng những lời khuyên của ông ta, người láng giềng và lại là ân nhân. Cũng có thể đem bán lại (nếu không thấy thích nghề nông, chỉ giữ lại các nông phu trốn và chết). Cách này còn có một cái lợi khác nữa: chẳng có gì ngăn trở y chuồn khỏi vùng này, không trả cho Kôxtanjôglô số tiền đã vay. Không phải Tsitsikôp nghĩ ra cái chước này; mà tự nó hiện ra, đầy vẻ khiêu khích và sức quyến rũ. Ai làm sinh ra những cái ý nghĩ mất dạy nó đến với người ta một cách đột ngột thế nhỉ?
Paven Ivannôvits có một cảm giác khoái lạc mới mẻ, cái khoái cảm được làm trang chủ thực sự, được làm chủ những đất đai, nhà cửa, những nông nô bằng xương bằng thịt. Dần dần y đâm ra nhảy nhót, xoa tay, nháy mắt, đưa nắm tay lên miệng làm kèn, khẽ thổi ứ ư một thứ hành khúc; thậm chí còn nói to lên mấy câu tự mình khích lệ mình và tặng mình những tính từ như cái mõm xinh xinh của ta và con gà giò beo béo của ta. Nhưng rồi sực nhớ ra rằng trong xe không phải chỉ có mình mình; y bỗng lại ngồi yên, cố ghìm nỗi hân hoan bồng bột; và khi Platônôp, nghe những âm thanh ấy tưởng là y nói gì với mình, liền hỏi: “- Cái gì ạ?” - thì y đáp: “- Không, có gì đâu!”.
Mãi đến lúc ấy, Tsitsikôp mới nhìn ra chung quanh và nhận ra rằng nãy giờ, xe họ đang đi qua một khu rừng tuyệt đẹp, trên một con đường hai bên trồng bạch dương, thân trắng bóng như một dãy rào phủ tuyết, vươn lên, thanh tú và nhẹ nhàng giữa màu xanh dịu của lá non. Mấy con họa mi thi nhau hót véo von; những đóa uất kim hương điểm vàng cho thảm cỏ xanh. Tsitsikôp không tài nào cắt nghĩa được tại sao lúc nãy đang ở giữa cánh đồng không, mà giờ đã chuyển vào một khung cảnh nên thơ như vậy. Sau rặng cây, hiện ra một ngôi nhà thờ trắng, và ở phía bên kia có thể trông thấy một cái cổng sắt. Từ cuối đường đi, một người đàn ông đang tiến về phía họ, đầu đội mũ lưỡi trai, tay cầm một cái gậy sần sùi những mấu. Một con chó Anh, chân thon, chạy trước mặt người đó.
- Anh tôi đây, Platônôp nói, xà ích dừng lại!
Chàng xuống xe, Tsitsikôp xuống theo. Hai con chó đã quấn lấy nhau. Con Azô chân thon, thè cái lưỡi mềm mại liếm lên mõm con Yarb, lên tay Platônôp, rồi chồm lên người Tsitsikôp và liếm tai y.
Hai anh em ôm chầm lấy nhau.
- Chú tệ quá, Platôn ạ, chú làm sao thế? Vaxili hỏi.
- Anh muốn nói gì kia? Platôn nói, vẻ hờ hững.
- Sao thế? Ba ngày liền chẳng thấy tăm hơi chú đâu! Một tên mã phu của Pêtukh dắt con ngựa giống của chú về, hắn bảo: “Cậu ấy đi với một người nào ấy”. Ít nhất chú cũng nhắn về cho anh biết chú đi đâu, có việc gì, bao giờ thì về chứ! Chú ạ, ai lại thế bao giờ? Suốt mấy hôm nay có Chúa biết anh đã tưởng tượng ra những gì có thể xảy đến cho chú.
- Vâng, em quên báo cho anh biết; Platôn nói. Em đi với ông đây đến anh Kônxtantin Fiôđôrôvits, hai anh chị gửi lời thăm anh. Ông Paven Ivannôvits, xin giới thiệu đây là anh Vaxili tôi. Anh Vaxili, đây là ông Paven Ivannôvits Tsitsikôp.
Hai người được giới thiệu bắt tay nhau, rồi bỏ mũ ra để ôm quàng lấy vai nhau.
- Cái lão Tsitsikôp này là ai thế nhỉ? Vaxili nghĩ thầm. Chú Platônôp vốn chẳng kén chọn chút nào trong việc giao thiệp.
Ông ta liền quan sát Tsitsikôp trong chừng mực mà lễ độ cho phép, và dáng dấp của ông bạn chúng ta làm cho ông yên tâm.
Về phía mình, Tsitsikôp cũng quan sát người mới quen trong chừng mực mà lễ độ cho phép. Ông này thấp hơn em trai, tóc sẫm hơn và mặt kém đẹp hơn nhiều; nhưng có sinh khí hơn, linh hoạt hơn, chân thành hơn. Có thể thấy rõ rằng ông ta ít ngủ gà, ngủ gật hơn; nhưng Paven Ivannôvits cũng không chú ý gì mấy đến điều ấy.
- Anh Vaxili ạ, em đã quyết định đi khắp nước Nga thần thánh với ông Paven Ivannôvits. Như vậy may ra có thể tiêu tan chứng ưu uất chăng?
- Sao chú lại quyết định chóng thế? Vaxili sửng sốt hỏi. Ông ta suýt nói thêm: “Mà lại đi với một gã lạ mặt chú mới gặp lần đầu, có thể còn tệ hơn quỷ sứ nữa!”. Đầy ý ngờ vực, ông ta nhìn trộm Tsitsikôp; nhưng không thể nhận thấy gì ngoài vẻ đúng đắn hoàn hảo của y cả.
Họ quay sang phải, đi về phía cổng. Dãy tường đã cũ, tòa nhà cũng vậy; nó thuộc loại nhà mà ngày nay không còn ai xây nữa, có nhiều hàng hiên, và mái rất cao. Hai cây bồ đề rất lớn tỏa bóng rợp cả một nửa sân; quanh gốc cây có đặt nhiều ghế gỗ dài. Những cây tử đinh hương và anh đào đang ra hoa, như họp thành một chuỗi ngọc trai bao quanh sân, cành lá che lấp hẳn dãy tường rào. Tòa gia trạch bị cây che khuất hết; chỉ ở phía dưới, mới trông thấy những cửa lớn và cửa sổ thấp thoáng qua các cành cây. Phía sau những thân cây thẳng tắp như những mũi tên có thể trông rõ những tường trắng của nhà bếp, nhà xe và kho rượu. Đâu đâu cũng màu lá xanh rờn với những tiếng họa mi lanh lảnh. Một cảm giác yên tĩnh dễ chịu bất giác tràn vào tâm hồn khách. Mọi vật đều nhắc nhở những thời phẳng lặng đã qua; khi mà mọi người đều sống hiền lành, và mọi việc đều đơn giản, chẳng có gì rắc rối.
Ông anh của Platônôp mời Tsitsikôp ngồi. Họ cùng ngồi trên những ghế dài dưới gốc bồ đề. Một chú con trai mười bảy tuổi mặc một chiếc sơ mi dài xinh xắn bằng tơ Nam-Kinh, màu hồng, bưng ra đặt trước mặt họ những bình thủy tinh đựng những thứ kvax màu sặc sỡ; thứ thì quánh như dầu, thứ thì sủi bọt như nước chanh hơi. Bày xong, chú cầm lấy một cái thuổng để tựa vào gốc cây và đi ra vườn. Cũng như ông anh rể là Kôxtanjôglô, hai anh em Platônôp đều không có người hầu chuyên môn, mà mấy người làm vườn thay nhau làm việc đó. Vaxili chủ trương là đầy tớ không nên làm thành một tập đoàn; mỗi nông dân đều có thể làm giúp việc nhà, không cần có những người được huấn luyện riêng. Người Nga rất tốt, nhanh nhẹn và cần cù khi còn mặc sơ mi ngắn và áo caftan: nhưng hễ mặc áo surtuk kiểu Đức vào là hóa ra vụng về, chậm chạp, không chịu bỏ cái áo ấy ra, không chịu đi tắm nữa; và cái surtuk kiểu Đức ấy sẽ nhung nhúc những rệp và bọ chó. Có lẽ Vaxili nghĩ cũng có lý. Nông dân thích diện lắm; đàn bà ai cũng đội những chiếc mũ trùm thêu kim tuyến; ống tay áo sơ mi của họ trông như những đường viền của một chiếc khăn san Thổ Nhĩ Kỳ.
- Ông giải khát nhé? Vaxili bảo Tsitsikôp. Những thứ kvax này xưa nay vốn là niềm kiêu hãnh của nhà chúng tôi đấy.
Tsitsikôp lấy một bình rót ra cốc uống, thấy vị hao hao như lipec, rượu mật ong, mà ngày trước y đã từng uống ở Ba Lan. Cũng sủi bọt như sâm banh, hơi xông lên the the trên mũi dễ chịu. “- Thật là một thứ rượu thần!” Y nói; đoạn lại lấy một bình khác rót cốc nữa. Lại càng ngon hơn.
- Thật là hoàng hậu của các thứ rượu! Y nói tiếp. Tôi có thể nói rằng ở nhà ông anh rể đáng kính của ông là Kônxtantin Fiôđôrôvits, tôi đã được uống một thứ rượu mùi thượng hạng; và ở đây tôi được uống một thứ kvax ngon chẳng kém.
- Rượu mùi ấy cũng ở nhà chúng tôi mà ra cả: chị tôi lấy công thức về làm đấy. Hành trình ông định vạch như thế nào? Vaxili hỏi.
- Hiện nay tôi đi du lịch, Tsitsikôp nói; người khẽ lắc lư trên chiếc ghế dài, và vừa xoa xoa đầu gối vừa nghiêng mình xuống; hiện tôi đi vì việc người khác nhiều hơn việc mình. Tướng quân Bêtrisep, bạn thân và có thể nói là ân nhân của tôi, có nhờ tôi đi thăm họ hàng. Họ hàng, dĩ nhiên, cũng có phần quan trọng, nhưng đi như thế cũng được việc cho tôi, vì chưa kể đến lợi ích về phương diện vệ sinh, chỉ được xem cảnh trần gian, thấy thế sự thăng trầm cũng có thể nói là đã được một pho sách sống, một vốn tri thức thứ hai.
Vaxili ngẫm nghĩ: “Con người này ăn nói hơi có vẻ tự phụ, nhưng trong lời lẽ cũng có phần đúng”. Sau một lát im lặng, ông ta nói với Platôn:
- Platôn ạ, anh cũng bắt đầu tin rằng một chuyến đi du lịch quả có thể thức tỉnh chú đấy. Chẳng qua chú chỉ có cái tật dửng dưng với mọi việc mà thôi. Chẳng qua chú ngủ gà, ngủ gật, không phải vì no hay vì mệt, mà vì thiếu những ấn tượng và những cảm giác mạnh. Anh thì trái hẳn. Giá có thể được, anh cũng muốn đừng cảm xúc mạnh như vậy trước mọi việc và bớt để tâm đến tất cả những việc xảy ra.
- Hơi đâu mà cái gì cũng để tâm? Platôn nói. Anh cứ tìm những duyên cớ để ưu tư và tự mình tạo cho mình những mối lo sợ.
- Việc gì phải tạo ra, một khi những điều trái ý mình cứ chốc chốc lại xảy đến, Vaxili nói. Chú có biết trong khi chú đi vắng, Lênitxưn đã chơi chúng ta một vố như thế nào không? Không chứ gì? Ấy, hắn chiếm lấy một khoảng đất hoang mà hàng năm nông dân ta vẫn dùng để mở hội mừng xuân theo cổ tục. Trước hết, khoảng đất hoang ấy có trả bao nhiêu anh cũng không bán… Đó là một nơi gắn liền với rất nhiều kỷ niệm của làng ta; đối với anh phong tục là việc thiêng liêng, anh sẵn sàng hy sinh tất cả vì cổ tục -Vaxili Platônôp tiêu biểu cho những người thuộc phái Sùng Xlav, lệ cổ-.
- Y không biết, nên mới chiếm lấy; Platônôp nói. Y là người mới đến, ở Pêterbua về còn chân ướt chân ráo. Phải cắt nghĩa cho y rõ.
- Hắn biết rất rõ. Anh đã cho người đến nói với hắn, nhưng hắn trả lời bằng những lời rất thô bỉ.
- Đáng lẽ anh phải thân hành đến gặp y mà bàn bạc, mà giãi bày.
- Chịu thôi. Hắn vênh váo quá đỗi. Anh không đến gặp hắn đâu. Chú có muốn đến thì đến.
- Em sẵn lòng đến; nhưng vì em không biết gì về công việc nên y có thể bịp em rất dễ.
- Nếu các ông bằng lòng, tôi sẽ xin đảm đương việc này; Tsitsikôp nói. Ông cho tôi rõ đầu đuôi ra sao đi.
Vaxili đưa mắt nhìn y và nghĩ bụng: “Cái lão này ham du lịch thật!”.
- Chỉ xin ông nói qua cho tôi biết đại khái hắn ta là người thế nào, Tsitsikôp nói tiếp, và đầu đuôi câu chuyện ra sao.
- Tôi thật khó nghĩ nếu nhờ ông một việc rầy rà như việc này. Theo tôi thì hắn ta chẳng ra gì; xuất thân từ một gia đình quý tộc nông thôn ở tỉnh này, hắn đã làm công chức ở Pêterbua. Ở đấy hắn lấy con rơi của một yếu nhân nào đấy; nên mới vênh váo như vậy. Nhưng ở đấy, chẳng ai ngu ngốc gì đâu. Chúng tôi không xem thời thượng như một đạo luật, cũng không xem Pêterbua như một giáo đường.
- Dĩ nhiên, Tsitsikôp nói; nhưng đầu đuôi câu chuyện ra sao?
- Ông nghe nhá, hắn đang cần đất. Ví thử hắn đừng làm thế thì tôi sẵn lòng cho không hắn một chỗ khác. Thế nhưng bây giờ cái thằng cha ưa gây sự ấy lại tưởng là tôi sợ.
- Tôi nghĩ rằng thương lượng là hơn; may ra có thể đi đến thỏa thuận được. Chưa hề có ai giao phó việc gì cho tôi mà phải ân hận bao giờ… ngay tướng quân Bêtrisep cũng vậy…
- Nhưng để ông phải bàn cãi với một con người như thế, tôi thật khó nghĩ… -Phần tiếp theo trong bản thảo đã thất lạc, trong phần thứ hai của Những linh hồn chết, in lần thứ nhất năm 1855, có chú: “Ở đây thất lạc một đoạn. Có lẽ trong đoạn này kể lại chuyện Tsitsikôp lên đường đến nhà trang chủ Lênitxưn”-
-Phần đầu câu này đã thất lạc-… đồng thời đặc biệt chú ý làm sao cho việc này được giữ kín, Tsitsikôp nói; vì tội lỗi chưa có gì đáng sợ mấy, tai tiếng mới thật là nguy hiểm.
- Quả có thế, quả có thế, Lênitxưn nói, đầu nghiêng hẳn sang một bên.
- Cùng có những ý nghĩ như nhau thật là thú vị! Tsitsikôp nói. Tôi cũng có một việc vừa hợp pháp, vừa bất hợp pháp; bề ngoài thì bất hợp pháp, nhưng thực ra lại là hợp pháp. Tuy cần có vật để đi cầm, tôi vẫn không muốn gây phiền cho ai bằng cách trả hai rúp một linh hồn sống. Nếu một mai tôi có mệnh hệ nào - Chúa phù hộ cho tôi đừng lâm vào nông nỗi ấy, - thì sẽ rất phiền cho người chủ. Cho nên tôi đã quyết định lợi dụng những nông phu đã bỏ trốn hay đã chết, nhưng vẫn còn tên trong sổ đinh, để làm một việc tốt và đồng thời cất bỏ gánh nặng cho vị trang chủ đáng thương phải nộp thuế cho chúng. Chúng tôi chỉ ký với nhau một văn khế cho có lệ thế thôi, làm như thể những nông phu đó còn sống.
“Nhưng kể ra cũng kỳ quặc thật”, Lênitxưn vừa nghĩ thầm, vừa lùi ghế lại một chút. - Việc này có một tính chất… hắn mở đầu.
- Nhưng sẽ không có tai tiếng gì đâu, mọi việc sẽ được tiến hành bí mật; Tsitsikôp nói. Như tôi đã trình bày, đây là một việc giữa những người trung thực với nhau; những người đã đứng tuổi cả, và hình như lại là những người có cấp bậc đáng trọng, cam đoan giữ bí mật cho nhau.
Hắn vừa nói vừa nhìn thẳng vào mắt Lênitxưn. Mặc dầu là người rất cơ mưu và thông thạo công việc; Lênitxưn vẫn thấy rất phân vân, nhất là giờ đây hình như đang mắc vào cái bẫy do chính tay mình đặt. Bản tính y không thể làm điều bất công và không ưa làm việc ám muội, dù là kín đáo cũng vậy. “Thật là một việc kỳ khôi, y nghĩ thầm. Cứ hãy kết thân ngay cả với những người tốt mà xem!”.
Nhưng số phận hình như muốn chiều Tsitsikôp. Như để giúp phần giải quyết công việc khó khăn này, người vợ trẻ của Lênitxưn bước vào: một thiếu phụ xanh xao, nhỏ bé và gầy gò; nhưng ăn mặc theo thời trang Pêterbua, và rất chuộng những người “comme il faut” -Tiếng Pháp trong nguyên văn có nghĩa là đủ phẩm chất thượng lưu-. Theo sau là một người vú em, tay bế một hài nhi, kết quả của mối tình đắm thắm giữa đôi vợ chồng trẻ. Nhờ dáng điệu ung dung, và cách nghiêng đầu, Tsitsikôp làm cho người thiếu phụ Pêterbua ưa thích; rồi đứa bé cũng vậy. Thoạt tiên nó khóc òa lên; nhưng Tsitsikôp nựng: “À gư, à gư, bé ngoan nào”, y búng ngón tay kêu tanh tách và quay cho chiếc lập lắc bằng mã não đỏ dính trên dây đeo đồng hồ ánh lên loang loáng, và cuối cùng nó chịu để cho Tsitsikôp bế. Y liền nhấc bổng nó lên trần nhà, làm cho nó nở một nụ cười xinh xinh, rất đẹp lòng ông bố và bà mẹ. Nhưng bỗng nhiên, không biết vì vui mừng hay vì một nguyên nhân nào khác, đứa bé phạm một lỗi bất lịch sự.
- Ôi! Trời ôi! Bà Lênitxưn kêu lên, nó làm hỏng mất áo của ông rồi!
Quả nhiên Tsitsikôp thấy một ống tay áo của chiếc frac mới của mình đã dây bẩn ra cả. “Ôn dịch bắt mày đi đồ quỷ con!” y tức giận nghĩ thầm.
Cha mẹ đứa bé, người vú em cuống quít chạy đi lấy ô đờ Côlôn và xúm vào lau chùi cho Tsitsikôp.
- Không sao - Tsitsikôp nói, cố hết sức làm ra bộ vui vẻ, - ở cái tuổi đời đáng yêu này, trẻ nó có làm hỏng cái gì được đâu? Hắn vừa nhắc đi nhắc lại vừa nghĩ thầm: “- Sao chó sói không ăn thịt nó đi cho rảnh! Nó chơi khăm mình thật, đồ ranh con!”.
Cái biến cố bề ngoài có vẻ vô nghĩa này đã làm cho thiện cảm của chủ nhân nghiêng hẳn về Tsitsikôp. Làm sao có thể từ chối điều gì với một ông khách đã âu yếm con mình một cách hồn nhiên như vậy và đã hy sinh chiếc frac của mình một cách đại lộ như vậy? Để khỏi làm thành một tấm gương xấu, họ thỏa thuận với nhau, giải quyết công việc một cách kín đáo; vì bản thân sự việc chưa có gì đáng sợ mấy, tai tiếng mới thật là nguy hiểm.
- Đến lượt tôi, xin phép được giúp ông một việc. Tôi muốn làm trung gian giữa ông với hai anh em Platônôp. Ông đang cần đất có phải không? -Đến đây bản thảo lại gián đoạn-
Một trong những chương cuối -Đoạn này không biết đích xác là thuộc phần nào trong tác phẩm, cũng có lẽ là tác giả định viết cho phần thứ ba-
… Trên đời này mỗi người đều lo thu xếp công việc của mình. Tục ngữ có câu: “- Ai ưa cái gì thì cứ chẳng để yên cho cái ấy”. Việc khảo sát các rương hòm đã đem lại kết quả mỹ mãn, một phần các vật đựng trong các rương hòm đó liền được chuyển sang cái tráp bất hủ nọ. Đó là một thủ thuật hết sức khôn ngoan. Tsitsikôp lợi dụng thì đúng hơn là ăn cắp. Vì trong chúng ta, ai nấy đều lợi dụng một cái gì: người thì lợi dụng những khu rừng công, người thì lợi dụng những số tiền mình được giữ, người thì tước đoạt của con cái để bao một nữ diễn viên đi qua, người thì lại ăn cướp của nông nô để sắm bàn ghế của hiệu Hambs -Một nhà sản xuất bàn ghế ở Viên, thủ đô nước Áo, rất được ưa chuộng vào thời ấy- hay sắm một cỗ xe. Biết làm thế nào được, thế gian này nhan nhản những sự cám dỗ: nào là những tiệm ăn sang trọng bán giá cắt cổ, nào là những tối khiêu vũ hóa trang, nào là những hội hè, những cuộc vui thanh nhã với gái txigan. Khó lòng mà nhịn được; nếu mọi người đều làm như thế cả, và nếp sống thời thượng đòi hỏi như thế, thì cứ thử mà cưỡng lại xem! Tsitsikôp cũng vậy; noi theo số người ưa chuộng tiện nghi mỗi ngày một đông, y đã xoay sở làm sao cho việc này có lợi cho y.
Đáng lẽ Tsitsikôp phải ra đi từ lâu; nhưng đường sá không sao đi lại được. Trong khi đó thì một phiên chợ khác sắp khai mạc trong thành phố, lần này dành cho những người thượng lưu. Phiên trước chủ yếu là để bán ngựa, bò và các loài gia súc khác, bán những nông sản mà bọn buôn nước bọt đã chiếm đoạt của nông dân. Lần này thì các nhà buôn xa xỉ phẩm đem ra bán những hàng mua ở chợ phiên Nijni Nôpgôrôt -Chợ phiên lớn nhất toàn quốc-. Thật là một tai họa cho các túi tiền Nga: đàn ông Pháp bán nước hoa, đàn bà Pháp bán mũ, - quả là một giống châu chấu Ai Cập, theo như lối nói của Kôxtanjôglô, không những ăn hết hoa màu, mà còn để trứng lại dưới đất nữa, - họ đến vơ vét những tiền bạc đã tốn biết bao công sức mới làm ra được.
Rất nhiều địa chủ, chỉ vì mất mùa nên mới phải ở nhà. Ngược lại, bọn công chức thì tiêu tiền như nước; và khốn thay, cả vợ con họ cũng thế. Sau khi đọc các thứ sách xuất bản trong thời gian gần đây nhằm gợi cho nhân loại những nhu cầu mới, họ nóng lòng muốn nếm thử tất cả những thú vui mới mẻ. Có một người Pháp mở một vôkxan, loại tiệm ăn và vui chơi ngoài trời trước đây chưa hề có ở tỉnh, với những bữa ăn rất rẻ, lại bán chịu một nửa tiền. Chỉ thế thôi, cũng đủ cho các ông trưởng phòng đã đành, mà ngay đến các thuộc viên thường cũng vậy, tha hồ chè chén, trông cậy vào những món hối lộ sau này sẽ bòn được của những người đến xin xỏ. Ai nấy thi nhau phô trương những cỗ xe ngựa thật đẹp. Các đẳng cấp ganh đua nhau trong các cuộc vui chơi… Mặc dầu trời mưa tầm tã và đường sá lầy lội, xe kôliaxka vẫn đi lại tấp nập. Không biết những cỗ xe ấy từ đâu ra; nhưng dù có ở Pêterbua, chúng cũng không đến nỗi phải xấu mặt… Bọn lái buôn, bọn chạy hàng cất mũ một cách duyên dáng, chào mời các bà, các cô. Rất ít thấy những người râu dài, đội mũ lông theo kiểu cũ. Mọi người đều có vẻ Âu Tây, chỉ thấy toàn là những cằm cạo nhẵn thín và những bộ răng thối hỏng…
Ngả người trên chiếc ghế dài, mình mặc chiếc áo ngủ Ba Tư bằng tacmalam kim tuyến, Tsitsikôp đang mặc cả với một tay buôn lậu ghé qua tỉnh, vốn dòng dõi Do Thái, nói lơ lớ giọng Đức. Tsitsikôp đã mua được một súc vải Hà Lan mịn để may sơ mi và hai hộp xà phòng thượng hảo hạng, thứ xà phòng mà sở thuế quan Rađizivilôp -Thị trấn nhỏ ở miền Vôlưni, hồi ấy là một thị trấn quan ải ở giữa nước Nga và nước Áo- ngày trước vẫn cung cấp, có cái đặc tính huyền diệu làm cho da dẻ mịn màng và trắng trẻo lạ lùng. Trong khi Tsitsikôp đang ra tay sành sỏi mua những thứ hàng cần thiết cho mọi người thượng lưu đó, thì có tiếng bánh xe lăn khẽ rung các cửa kính, và Alexêi Ivannôvits Lênitxưn Đại nhân bước vào.
- Quan lớn thấy tấm vải, mấy bánh xà phòng và những hàng vặt này thế nào? Tôi vừa mua hôm qua đấy.
Nói xong, Tsitsikôp đội lên đầu một chiếc mũ chụp thêu kim tuyến và đính ngọc trai giả, trông uy nghi như một vị quốc vương Ba Tư.
Nhưng Quan lớn không trả lời câu hỏi của Tsitsikôp mà lại nói, vẻ ưu tư: - Tôi có chuyện cần nói với ông.
Người lái buôn nói giọng Đức lập tức được mời ra ngoài; hai người ngồi lại với nhau.
- Gặp rắc rối rồi đấy! Người ta vừa phát hiện ra một chúc thư khác của mụ già, lập cách đây năm năm, để lại một nửa điền trang cho một tu viện; nửa còn lại thì chia cho hai đứa con nuôi, và trước sau chỉ có thế!
Tsitsikôp luống cuống…
- Nhưng tờ chúc thư không đáng kể. Nó không có giá trị gì hết: nó bị tờ thứ hai hủy bỏ; y nói thế.
- Việc hủy bỏ này không thấy nói đến trong chúc thư thứ hai.
- Nhưng hiển nhiên là như thế rồi, còn phải nói gì nữa. Tôi biết rất rõ ý nguyện của người quá cố: lúc ấy tôi ở cạnh bà ta; tờ chúc thư thứ nhất không có hiệu lực. Ai ký? Ai làm chứng?
- Tờ chúc thư này được nhận thực rất hợp thức và có chữ ký của hai nhân chứng: Khavanôp và Burmilôp, nguyên thẩm phán Tòa án Lương tâm -Theo sổ tay của Gôgôn thì đó là một tòa án độc lập không thuộc quyền tỉnh trưởng, mà các thẩm phán lấy lương tâm xét xử chung thẩm, không có thủ tục khống tố, những vụ mà luật pháp được khinh giảm, như những vụ mà can phạm là vị thành niên, người điên-.
“Rầy thật! Tsitsikôp nghĩ thầm. Khavanôp xưa nay vẫn có tiếng là người trung thực; Burmilôp là một lão già mê tín mà những ngày lễ người ta vẫn giao cho đọc Thư Sứ đồ -Theo phong tục Nga, vào ngày chủ nhật và ngày lễ, nhà thờ thường mời những người tai mắt trong xứ đọc to thiên Thư Sứ đồ Kinh Thánh-” - Thật là vô lý! Hắn nói to lên, tự vũ trang bằng một quyết tâm không gì lay chuyển nổi. Tôi là người biết rõ việc này hơn ai hết: tôi đã chứng kiến phút lâm chung của người quá cố. Tôi sẵn sàng lấy tư cách nhân chứng mà tuyên thệ trước tòa.
Những lời lẽ quả quyết này làm cho Lênitxưn yên tâm trong chốc lát. Ông ta tự trách mình là trong khi bối rối, đã ngờ cho Tsitsikôp viết ra tờ chúc thư nọ. Y đã vội vàng thề thốt như vậy thì hiển nhiên là không phải. Chúng ta không biết liệu Paven Ivannôvits có cả gan tuyên thệ trước Kinh Phúc âm không; dù sao y cũng đã đủ can đảm nói như vậy.
- Ông cứ yên tâm: tôi sẽ đem việc này nói với mấy vị cố vấn pháp luật, còn ông thì xin đừng làm gì cả, phải tuyệt đối đứng hẳn ra ngoài. Tôi muốn ở lại trong thành phố này bao nhiêu lâu là tùy tôi.
Tsitsikôp lập tức sai thắng ngựa và lên xe đến nhà một cố vấn pháp luật nổi tiếng là có kinh nghiệm trong việc tố tụng. Tuy đã bị cáo từ mười lăm năm nay, hắn đã xoay sở tài tình đến nỗi người ta không thể nào tước quyền làm luật sư của hắn được. Mọi người đều biết rõ rằng cứ những công trạng của hắn, lẽ ra hắn phải bị đày biệt xứ sáu lần rồi. Đâu đâu người ta cũng nghi hắn. Nhưng không ai đưa ra được những bằng chứng buộc tội hắn cả. Hẳn là bên trong phải có một uẩn khúc gì đây; và giả sử cái chuyện của chúng ta diễn ra ở thời gian ngu muội, chắc chắn người ta sẽ cho hắn là một tay phù thủy. Vẻ lạnh lùng của viên luật sư, chiếc áo ngủ cáu bẩn của hắn tương phản gay gắt với những bộ bàn ghế rất đẹp bằng gỗ đào hoa tâm, với chiếc đồng hồ quả lắc mạ vàng đậy trong cái lồng kính, với bộ đèn treo bằng pha lê mà người ta có thể trông thấy qua cái chụp bằng sa; nói chung là với mọi vật ở xung quanh đều mang dấu vết rõ rệt của nền văn hóa Âu châu.
Sự tương phản đó khiến Tsitsikôp kinh ngạc; nhưng y không để ý lâu và liền giãi bày những điểm gay go của vụ này; lại dùng những lời lẽ rất bùi tai để tả lòng biết ơn, nhất định sẽ hậu tạ những lời khuyên khôn ngoan và công lao của luật sư.
Đáp lại, vị luật gia tả cái tính phù du bất ổn của mọi sự ở thế gian này, và khéo léo ngụ ý cho khách hiểu rằng tiền có trao thì cháo mới múc.
Dù muốn, dù không cũng đành phải nhờ đến sức thuyết phục của kim tiền. Vẻ lãnh đạm hoài nghi của nhà hiền triết biến ngay tức thì. Hắn tỏ ra một người rất tốt, nói chuyện rất có duyên và trong lĩnh vực xã giao cũng chẳng thua kém gì ngay cả Tsitsikôp nữa.
- Ta không nên làm cho sự việc phức tạp thêm làm gì, tôi chỉ xin phép nói với ông rằng chắn hẳn ông chưa xem kỹ tờ chúc thư; tất nhiên nó phải có một điều khoản bổ chính về sau. Ông hãy lấy chúc thư ấy đem về nhà ít lâu. Tuy đó là một việc cấm, nhưng nếu thỉnh cầu cho đúng cách một vài quan chức nào đấy… Về phía tôi, tôi sẽ can thiệp.
“Mình hiểu rồi”, Tsitsikôp nghĩ thầm rồi nói: - Thật ra, tôi cũng không nhớ rõ là có điều bổ chính hay không. Y làm như thể tờ chúc thư không phải do chính tay y viết ra ấy!
- Ông cứ xem xét cho kỹ thì hơn. Vả lại - viên luật sư nói tiếp với một giọng đầy thiện ý bao dung, - ông đừng mất bình tĩnh, dù có xảy ra việc gì rầy rà cũng vậy. Ông đừng bao giờ tuyệt vọng. Không có gì là không thể cứu vãn được cả. Ông nhìn tôi đây mà xem. Tôi bao giờ cũng điềm tĩnh. Dù người ta có sinh sự kiện cáo tôi thế nào, sự điềm tĩnh của tôi vẫn không thể nào lay chuyển nổi.
Quả nhiên, gương mặt của nhà cố vấn pháp luật hiền triết phản ánh một sự điềm tĩnh lạ lùng, khiến cho Tsitsikôp thấy yên tâm.
- Dĩ nhiên, điều đó tối quan trọng, y nói; tuy vậy ông cũng nhận cho rằng có thể có những trường hợp những lời vu cáo của kẻ thù, những cảnh ngộ khó khăn có thể làm cho người ta mất hết bình tĩnh.
- Xin ông tin cho rằng như thế là hèn nhát, nhà pháp luật trả lời rất ôn tồn. Ông phải làm sao cho vụ này được thẩm vấn toàn bằng văn bản, giấy trắng mực đen, không có một lời khai miệng nào hết. Và hễ ông thấy sắp đến lúc kết thúc, và có giải pháp, thì đáng lẽ tự thanh minh và biện hộ cho mình, ông cứ việc ra sức làm cho mọi việc rối tung lên, bằng cách chen vào đấy những yếu tố ngoại lai.
- Nghĩa là để…
- Để làm cho rối tung lên, chỉ có thế thôi; phải đưa vào vụ này những sự việc phụ làm cho một số người khác dính líu vào: thế thôi! Sau đấy có viên công chức nào ở Pêterbua về thì hắn cứ thử gỡ đầu mối đi mà xem! Phải, cứ thử gỡ mà xem, nếu liệu sức có thể gỡ được! - Hắn vừa nhắc lại vừa nhìn chằm chằm vào mặt Tsitsikôp với một vẻ thích chí đặc biệt, như ông thầy nhìn cậu học trò khi giảng một mục lý thú của ngữ pháp Nga.
- Hay lắm, nhưng với điều kiện là phải tìm ra những sự việc có thể làm rối mắt thiên hạ; Tsitsikôp nói; mắt cũng nhìn nhà hiền triết một cách thích chí, như người học trò đã hiểu được cái mục lý thú ông thầy vừa giảng cho.
- Bao giờ cũng tìm được. Ông hãy tin tôi; được vận dụng thường xuyên thì trí tuệ sẽ tinh xảo. Trước hết ông nhớ cho rằng người ta sẽ giúp ông. Nguyên cái tính chất rắc rối của vụ này cũng đã có lợi cho nhiều người: cần nhiều viên chức hơn và họ được lĩnh nhiều hơn… Tóm lại, phải làm cho nhiều người dính líu vào. Nếu có những người liên lụy vào mà không việc gì thì cũng chẳng sao; họ sẽ phải thanh minh, làm đơn trả lời. Cái đó có lợi lắm! Có thể làm cho mọi việc rối tung lên đến nỗi không còn ai hiểu đầu đuôi ra làm sao nữa. Tại sao tôi lại điềm tĩnh được? Tại vì tôi có một đường lối xử sự đã vạch sẵn. Hễ tình hình công việc của tôi mà trở nên nghiêm trọng, thì tôi sẽ lôi ông tỉnh trưởng, ông phó tỉnh trưởng, ông cảnh sát trưởng, ông tổng giám đốc ngân khố: ai nấy đều dính líu vào đấy cả. Tôi biết hết những hành vi cử chỉ của họ, những mối thù hiềm, những chuyện hờn dỗi, những thủ đoạn bon chen của họ. Dù họ có tìm được cách thoát đi nữa, thì cũng sẽ tìm ra những người khác. Đục nước béo cò.
Rồi viên trạng sư hiền triết nhìn vào tận mắt Tsitsikôp, lần này cũng với cái vẻ khoái trá như ông thầy đang giảng cho học trò nghe mục còn lý thú hơn nữa của bộ ngữ pháp Nga.
“Người này quả là một bậc hiền triết!” Tsitsikôp nghĩ thầm, đoạn từ giã vị cố vấn pháp luật và ra về với một tâm trạng hết sức phấn chấn.
Hoàn toàn vững dạ, y gieo mình một cách ung dung uể oải xuống những cái đệm êm ái của chiếc kôliaxka và ra lệnh cho Xêlifan bỏ mui xuống. (Khi đi đến nhà viên cố vấn pháp luật thì xe trương mui và buông rèm kín mít). Y ngồi lại cho thật thoải mái như một viên đại ta khinh kỵ hưu trí hay như đích thân Visnêpôkrômôp, chân bắt tréo lên, ngoảnh về phía khách qua đường một khuôn mặt hòa nhã, tươi rói dưới một chiếc mũ lụa mới tinh, đội hơi lệch sang một bên. Xêlifan được lệnh đánh xe đến chợ bán tạp hóa. Những lái buôn ngoại quốc và bản xứ đứng trên bậc các cửa hiệu, kính cẩn cất mũ chào; và Tsitsikôp cũng ngả mũ đáp lại, không khỏi có phần trịnh trọng. Y đã quen được nhiều người trong bọn; những người khác, tuy chưa quen, nhưng rất hài lòng về cái vẻ ung dung, đĩnh đạc của cái ông lớn ấy; cũng chào y. Chợ phiên Tfuxlavl vẫn tiếp tục họp; sau phiên chợ bán những xa xỉ phẩm dành cho những khách thượng lưu. Những lái buôn đi xe ngựa đến đây, đều định bụng là sẽ ra về bằng xe trượt tuyết -Tức là định ở cho hết thu sang đông, đến tháng chạp là lúc tuyết xuống đóng kín mặt đất-.
Đứng cạnh cửa hàng mình, một gã bán dạ, mặc chiếc áo dài may theo kiểu Mạc-tư-khoa, ngả mũ chào Tsitsikôp một cái hết sức lễ độ, tay kia mân mê cái cằm mới cạo.
- Xin ngài ban cho chúng tôi hân hạnh được đón tiếp ngài; hắn nói, giọng cầu kỳ.
Tsitsikôp bước vào hiệu.
- Nào, anh bạn, đưa dạ xem nào.
Gã lái buôn nhã nhặn lập tức giở một tấm ván ngăn ở gần quầy thu tiền; sau khi đã dọn cho mình một lối đi như vậy, hắn quay lưng về phía hàng hóa và mặt về phía khách hàng. Đầu để trần, mũ vẫn cầm tay, hắn chào Tsitsikôp một lần nữa. Sau cùng, hắn đội mũ và chống hai tay lên quầy, nói:
- Ngài muốn chọn thứ dạ nào? Dạ của các xưởng Anh hay dạ nội hóa?
- Dạ nội hóa, Tsitsikôp nói; nhưng hạng nhất ấy, loại mà người ta vẫn gọi là dạ Anh ấy!
- Ngài dùng màu nào? Gã lái buôn vừa hỏi vừa đu đưa người một cách duyên dáng trên đôi tay chống thành vòng cung.
- Màu ô liu lấm chấm, hoặc màu da chai có ánh ngả sang màu tía: Tsitsikôp nói.
- Chúng tôi xin chọn hầu ngài loại tối thượng hảo hạng. Phải sang các thủ đô của thế giới văn minh mới tìm được thứ tốt hơn. Thằng nhỏ, lấy xem cái số 34 kia, trên cao ấy. Không phải thứ này, cậu ạ: mày thì lúc nào cũng ngơ ngơ ngẩn ngẩn như đồ vô sản -Ở đây, gã lái buôn dùng chữ nhầm. Đáng lẽ nói prôlêtiet nghĩa là người bị phá sản, sạt nghiệp; hắn lại nói prôlêtar nghĩa là người vô sản-. À đấy, đúng rồi! Ném xuống đây! Một loại dạ trứ danh!
Và vừa giăng tấm dạ ra, gã lái buôn vừa đưa đến sát tận mũi Tsitsikôp; thành thử không những y có thể vuốt ve tấm hàng mà lại còn có thể ngửi nó nữa.
- Cái này tốt, nhưng còn có thứ hơn nữa cơ; Tsitsikôp nói. Tôi đã từng làm thuế quan. Thử đưa xem loại thật tốt hơn tất cả ấy, màu thẫm hơn, ngả sang màu tía nhiều hơn là màu da chai.
- Chúng tôi hiểu rồi: đúng là ngài thích cái màu hợp thời trang nhất hiện nay. Chúng tôi có một loại dạ tối hảo hạng. Xin thưa trước là giá có cao. Nhưng phẩm chất cũng cao ngang thế.
Gã người Âu leo lên. Súc hàng được ném xuống. Hắn giăng tấm dạ ra với cái nghệ thuật ngày xưa, trong chốc lát quên khuấy đi rằng mình thuộc thế hệ mới. Hắn đưa hàng ra chỗ sáng, thậm chí còn bước ra ngoài cửa hiệu cho khách xem, mắt hấp háy vì chói nắng, và cuối cùng tuyên bố:
- Màu tuyệt đẹp: huyết dụ lửa khói -Màu đỏ như lửa, nhưng lấp loáng có ánh xanh như khói-.
Hàng đã vừa lòng khách; hai bên thỏa thuận về giá cả, mặc dù gã lái buôn cam đoan là chỉ bán giá nhất định. Tấm dạ lập tức được xé ra khỏi súc - một động tác rất gọn của hai cánh tay thay cho nhát kéo - và được gói lại theo kiểu Nga với một tốc độ phi thường. Một lát kéo vào đầu mũi dây buộc, và nhoáng một cái, mọi thứ đều đã nằm gọn trong xe. Gã lái buôn cất mũ chào. Hắn có đủ lý do để làm như vậy: món hàng vừa bán rất được giá.
- Cho tôi xem thứ dạ đen; có tiếng ai nói.
“Ái chà, Khlôbuiep đây rồi”, Tsitsikôp vừa nghĩ thầm vừa quay lưng lại để khỏi phải trông thấy ông ta, vì cho rằng phải nói với ông ta về việc cái gia tài cho rõ ràng là dại dột. Nhưng Khlôbuiep đã trông thấy y.
- Ông Paven Ivannôvits, ông cố tình tránh mặt tôi hay sao? Tôi tìm ông khắp nơi mà chẳng gặp; chúng ta cần nói chuyện nhiều với nhau kia mà!
- Thưa bác, thưa bác, Tsitsikôp vừa nói vừa bắt tay Khlôbuiep; xin cam đoan là tôi rất muốn hầu chuyện bác; nhưng thật có chút thì giờ rỗi rãi nào đâu!
Trong khi nói như vậy, y nghĩ thầm: “Quỷ bắt mày đi cho rảnh!”. Bỗng y thấy Murazôp bước vào. - À! Trời ơi, Afanaxi Vaxiliêvits! May quá!
Vừa lúc ấy Visnêpôkrômôp cũng bước vào cửa hiệu và nhắc lại: - Afanaxi Vaxiliêvits!
Và gã lái buôn lịch sự, cất mũ với một động tác của cánh tay vẽ thành một đường vòng cung rất rộng, cả người cúi rạp xuống, mồm thốt lên:
- Xin kính chào ngài Afanaxi Vaxiliêvits.
Bấy nhiêu gương mặt đều phản chiếu cái vẻ khúm núm, tôi đòi của những kẻ phàm trần đứng trước các nhà triệu phú.
Ông già chào mọi người và quay thẳng về phía Khlôbuiep nói: - Xin ông thứ lỗi cho! Từ ngoài xa trông thấy ông vào đây, tôi quyết đến làm phiền ông. Nếu ông có thì giờ và tiện đường đi, xin ông vui lòng ghé qua nhà tôi một chút. Tôi có câu chuyện cần thưa với ông.
- Thưa, xin vâng ạ! Khlôbuiep nói.
- Trời đẹp quá, ông Afanaxi Vaxiliêvits nhỉ, Visnêpôkrômôp nói tiếp; thật là một tiết trời khác thường!
- Phải, đội ơn Chúa, trời đẹp lắm. Nhưng cũng phải có mấy hạt mưa mới gieo được.
- Vâng, đúng thế đấy ạ, Visnêpôkrômôp nói; đi săn cũng cần có mấy hạt mưa.
- Phải, mưa xuống mấy hạt cũng hay, Tsitsikôp tán thành, tuy y chẳng cần đến mưa chút nào cả; nhưng bao giờ người ta cũng thích tán thành những lời nói của một nhà triệu phú.
- Đến chóng mặt lên được, Tsitsikôp nói, khi Murazôp đã đi khuất. Con người ấy mà có bạc triệu trong tay! Thật khó lòng mà tin được!
- Đó là một việc trái tự nhiên, Visnêpôkrômôp nói; vốn liếng không được tập trung vào tay những cá nhân. Bây giờ khắp châu Âu đều có những cuốn sách bàn vấn đề đó. Khi người ta có tiền, cần phải cho người khác được nhờ với: phải mở tiệc, tổ chức vũ hội, phô trương một sự xa xỉ hữu ích, đưa lại bánh mì cho công nhân và thợ thủ công.
- Có điều này tôi không thể hiểu được, Tsitsikôp nói; là ông ta có bạc triệu mà lại sống như gã nhà quê! Có mười triệu bạc thì làm gì mà chả được! Nếu muốn, thì người ta có thể chỉ lui tới toàn các tướng quân và các vương công mà thôi.
- Vâng, gã chủ hiệu nói thêm; tuy có nhiều đức tính đáng quý, Afanaxi Vaxiliêvits vẫn thiếu văn hóa về nhiều mặt. Khi một anh lái buôn đã có vai vế, anh ta thành một thương gia -Tư sản trong xã hội Nga hoàng- và phải xử sự cho ra một thương gia, thuê lô ở nhà hát, gả con cho một vị tướng. Một ông đại tá quèn đã không thích hợp với anh ta nữa rồi. Anh ta cho chị nấu bếp thôi việc và đặt bữa ăn ở một khách sạn.
- Dĩ nhiên, Visnêpôkrômôp nói, có mười triệu thì làm gì mà chả được! Cứ thử cho tôi mười triệu xem.
“Không, Tsitsikôp nghĩ thầm; mày chẳng dùng được vào việc gì ra trò đâu. Nhưng phải tay tao thì lại là chuyện khác”.
“Ước gì ta có được mười triệu sau những thử thách gian khổ này nhỉ, Khlôbuiep nghĩ. Kinh nghiệm đã dạy cho ta biết giá trị của mỗi đồng kôpek. Ta sẽ biết dùng khác hẳn”. Sau một phút suy nghĩ, ông ta tự hỏi: “Liệu bây giờ ta có dùng tiền khôn ngoan hơn không?”. Rồi ông ta so vai nghĩ tiếp: “Mẹ kiếp! Chắc rồi ta cũng lại phung phí, như ngày trước mà thôi!”.
Chỉ lát sau, ông ta ra khỏi hiệu, rất nóng lòng muốn biết Murazôp sẽ nói gì với mình.
- Tôi đang đợi ông đây, Xêmiôn Xemiônôvits ạ, Murazôp nói khi thấy ông ta vào; mời ông sang phòng tôi.
Murazôp dẫn Khlôbuiep vào một căn buồng nhỏ, giản dị chẳng khác gì gian buồng của một anh thuộc loại lương mỗi năm bảy trăm rúp.
- Ông ạ, tôi chắc bây giờ tình cảnh của ông đã khá hơn. Chắc bà dì ông mất đi, ông cũng có được ít nhiều gì chứ?
- Thực tình mà nói thì tôi cũng không biết tình cảnh của tôi có khá hơn không nữa, ông Afanaxi Vaxiliêvits ạ. Tôi chỉ được cả thảy có năm mươi nông dân và ba vạn rúp; số tiền ấy tôi phải trả nợ hết, mà cũng chỉ trả được có một phần; và thế là bây giờ tôi lại cạn túi. Ông Afanaxi Vaxiliêvits ạ, ông có biết không? Vụ tờ chúc thư này khả nghi lắm lắm! Để tôi kể cho ông nghe, ông sẽ lấy làm lạ về những việc đang xảy ra. Cái lão Tsitsikôp ấy…
- Khoan đã, ông Xêmiôn Xemiônôvits ạ; trước khi nói đến cái lão Tsitsikôp ấy, ta hãy bàn chuyện ông đã. Ông thử nói cho tôi nghe, theo ước lượng của ông, thì ông cần có bao nhiêu tiền để hoàn toàn thoát khỏi cơn túng quẫn?
- Tình cảnh tôi khó khăn lắm, Khlôbuiep nói. Muốn thoát khỏi cơn túng quẫn, trả hết nợ và có đủ phương tiện để sống một cuộc đời hết sức thanh đạm tôi cần ít nhất là mười vạn rúp, nếu không được nhiều hơn.
- Thế giả sử ông có được số tiền ấy, ông sẽ tổ chức đời sống ra sao?
- Được thế thì tôi sẽ thuê một căn nhà nhỏ và sẽ lo việc giáo dục con cái. Không cần nghĩ đến bản thân tôi làm gì: đời tôi thế là hết, tôi không còn được tích sự gì nữa.
- Nếu thế thì ông sẽ ngồi không. Nhưng ông cũng biết thừa là trong cảnh nhàn cư, người ta có thể bị những sự cám dỗ mà một người bận rộn không đời nào biết đến.
- Ông bảo tôi biết làm thế nào được, tôi là người bỏ đi; khắp người tôi tê liệt, lưng đau như dần.
- Nhưng làm sao có thể sống mà không làm việc được? Làm sao có thể vẫn ở trên đời này mà không có chức vụ, không có một chỗ đứng? Ông cứ thử nhìn tất cả các tạo vật của Chúa mà xem: mỗi vật đều có một công dụng, mỗi vật đều được dành cho một mục đích nào đấy. Đến như hòn đá cũng có công dụng của nó; thế mà con người, tạo vật khôn ngoan nhất, lại không chịu làm một cái gì có ích ư? Như thế có công bằng không?
- Nhưng tôi có hoàn toàn ngồi không đâu. Tôi sẽ chăm lo việc giáo dục con cái kia mà!
- Không được, ông Xêmiôn Xemiônôvits ạ; không được đâu, không có gì khó khăn hơn việc đó nữa. Làm sao một người không giáo dục nổi bản thân lại có thể giáo dục được con cái? Cách giáo dục duy nhất là làm gương. Nhưng cuộc đời của ông liệu có đáng đem ra làm gương cho chúng noi không? Cùng lắm cũng chỉ dạy được cho chúng ăn không ngồi rồi và đánh bài mà thôi. Không được đâu, ông Xêmiôn Xemiônôvits ạ, ông hãy giao các cháu cho tôi; ở với ông, chúng sẽ hư hỏng. Ông hãy suy nghĩ cho chín: sự nhàn rỗi đã làm hỏng đời ông; ông cần phải trốn nó đi mới được. Làm sao có thể sống mà không phụ thuộc vào cái gì cả được? Người ta phải có một nhiệm vụ gì chứ. Ngay như kẻ làm công nhật cũng có ích cho cái gì đó. Bánh hắn ăn là hạng bánh một kôpek, quả có như vậy; nhưng đó là cái ăn kiếm được bằng mồ hôi, nước mắt, và hắn thấy có hứng thú trong khi làm việc.
- Ông Afanaxi Vaxiliêvits ạ; quả tình tôi đã cố thử thắng bản thân. Nhưng chẳng ăn thua gì! Tôi già rồi, tôi đã thành bất lực rồi. Đi làm công chức ư? Tôi đã bốn mươi lăm tuổi đầu, chả nhẽ lại đi ngồi cùng bàn với bọn sai nha? Hơn nữa, tôi không ăn của đút được. Tôi sẽ làm hại thân tôi và làm hại người khác. Vả lại họ đã có cách với nhau cả. Không xong, ông Afanaxi Vaxiliêvits, tôi đã nghĩ chín rồi; tôi đã điểm qua tất cả các chức vụ; dù ở chức vụ nào tôi cũng sẽ bất lực. May ra chỉ có nhà dưỡng lão là thích hợp với tôi.
- Nhà dưỡng lão là để cho những người đã từng làm việc; còn những kẻ suốt thời thanh niên chỉ chơi bời, thì người ta trả lời họ như con kiến trả lời con ve: Thế thì bây giờ anh múa đi! -Trong bài thơ ngụ ngôn của thi hào Pháp La Fôngten. Con ve và con kiến, con ve vô tư lự hát suốt mùa hè, đến mùa đông không có gì ăn phải đến vay con kiến cần kiệm và biết lo xa, bị con này hỏi mỉa: mùa hè làm gì. Ve trả lời là mùa hè mải hát, thì kiến bảo: “- Thế thì bây giờ múa đi!”- Vả lại ngay ở nhà dưỡng lão người cũng làm việc, chứ có phải đánh bài uyxt đâu. Xêmiôn Xemiônôvits ạ, Murazôp vừa nói vừa nhìn ông ta chằm chằm; ông tự dối mình và lừa cả tôi nữa.
Murazôp nhìn vào tận mắt ông ta; nhưng ông Khlôbuiep đáng thương kia chẳng biết trả lời ra sao cả và Murazôp thấy thương hại.
- Này, ông Xêmiôn Xemiônôvits ạ… Ông đọc kinh; ông đi nhà thờ, tôi biết; ông không bỏ sót một lễ chiều, lễ sáng nào. Dù không thích dậy sớm, ông vẫn đi lễ, ông đi từ bốn giờ sáng trong khi mọi người còn ngủ.
- Đó là việc khác, Afanaxi Vaxiliêvits ạ. Tôi làm như thế không phải vì thế gian, mà vì Đấng đã phán truyền cho tất cả chúng ta sống trên thế gian. Tôi tin rằng Người sẵn lượng từ bi đối với tôi; rằng mặc dù tôi hư hỏng. Người vẫn có thể tha thứ và đón tôi về với Người; trong khi thiên hạ hắt hủi tôi, trong khi người bạn thân nhất của tôi cũng sẽ phản tôi, rồi sau đó lại bảo rằng làm như vậy là vì thiện ý.
Một nỗi buồn vô hạn hiện lên trên mặt Khlôbuiep. Murazôp im lặng một lát, như để cho Khlôbuiep trấn tĩnh lại, rồi nói:
- Tại sao ông không ra làm việc? không phải làm vì thế gian, cũng không phải để vừa lòng người đời? Ông hãy phụng sự Đấng có lòng từ bi như vậy. Làm lụng cũng làm cho Người vui lòng như cầu nguyện. Ông hãy làm lấy một việc gì; nhưng làm như thế vì Người, chứ không phải vì thiên hạ. Ông làm cái việc giã nước trong cối -Thành ngữ Nga, có nghĩa là làm một việc vô ích, đại ý như ta nói dã tràng xe cát- cũng được; nhưng vừa làm vừa nghĩ rằng mình vì Người mà làm. Như thế đã có ngay một cái lợi là ông sẽ không còn thì giờ để làm điều xấu, để thua bạc, để chè chén với bọn ăn ghẹ, để chơi bời phóng đãng. Xêmiôn Xemiônôvits ạ, ông có biết Ivan Pôtapưts không?
- Có, và tôi rất trọng ông ta.
- Ấy đấy, ông ta là một nhà buôn rất giỏi. Ông ta có nửa triệu bạc. Thấy làm gì cũng lãi, ông ta đã muốn sống một cuộc đời sang trọng. Con trai học tiếng Pháp, con gái lấy một vị tướng. Chẳng còn ai trông thấy mặt ông ở cửa hiệu hay ở sở chứng khoán nữa; suốt ngày ông ta la cà trong các quán rượu, tiệc tùng với bạn bè và cuối cùng ông ta vỡ nợ. Lại thêm một nỗi khổ nữa, là Chúa đã cho con trai ông về thiên đường. Bây giờ thì, ông thấy không, ông ta làm người chạy việc cho tôi.
Ông ta đã đổi lốt hẳn. Công việc của ông ta đã trở lại bình thường. Ông ta lại có cái vốn năm mươi vạn rúp để buôn bán. Nhưng ông ta bảo: “- Không, tôi nay là người chạy việc, tôi chỉ muốn làm người chạy việc đến trọn đời. Bây giờ trong người tôi thanh thản, khỏe khoắn; chứ trước kia tôi đã bắt đầu phệ ra và bị chứng thủy thũng đe dọa… Xin chừa!”.
Bây giờ ông ta không uống trà nữa, chỉ ăn toàn bánh mì tiểu mạch với xúp bắp cải mà thôi. Ông ta ngoan đạo và sẵn lòng cứu giúp kẻ nghèo hơn hết thảy chúng ta đây; vì có lắm người, sau khi đã hoang phí hết tiền của thì lấy làm sung sướng được cứu giúp người nghèo.
Ông già cầm lấy tay Khlôbuiep. Con người đáng thương ấy đang suy nghĩ rất lung.
- Xêmiôn Xemiônôvits! Giá ông biết ông làm cho tôi khổ tâm đến nhường nào! Lúc nào tôi cũng nghĩ đến ông! Ông ạ, ông cũng biết là ở trong tu viện có một vị ẩn sĩ, không hề tiếp ai. Ông ta là một người thông minh lỗi lạc. Ông ta rất ít nói, nhưng khi ông ta khuyên ai điều gì… Tôi có nói với ông ta rằng tôi có một người bạn, mà tôi không nói rõ tên, đang lâm vào tình trạng thế này thế nọ. Lúc đầu ông ta lắng nghe, rồi bỗng ngắt lời tôi và nói: “- Phải nghĩ đến Chúa trước khi nghĩ đến mình. Người ta đang xây một ngôi nhà thờ mà tiền thì thiếu: cần phải quyên tiền cho nhà thờ”. Nói đoạn, ông ta đóng cửa lại trước mặt tôi. “Như thế nghĩa là thế nào, tôi nghĩ bụng. Ông ta không muốn khuyên bảo mình hay sao?”. Tôi đến tìm Cha Bề trên. Tôi vừa bước vào, Cha đã nói: “- Ông có biết ai có thể đảm đương việc đi quyên tiền xây nhà thờ không? Cần phải là người quý tộc hay là nhà buôn, có giáo dục kha khá và thấy rõ rằng việc thiện này là một cách cứu vớt linh hồn mình”. Tôi sửng sốt: “- À lạy Chúa! Ra ý ẩn sĩ muốn nói như vậy đấy. Ông ta dành công việc này cho Xêmiôn Xemiônôvits đấy. Được đi đây đi đó, Xêmiôn Xemiônôvits sẽ chóng khỏi bệnh. Cầm sổ quyên đi gặp hết trang chủ đến nông dân, hết nông dân đến người thành thị, ông ta sẽ biết được hoàn cảnh sinh hoạt và nhu cầu của từng người; thành thử sau khi đã đi qua vài tỉnh, khi về ông ta sẽ biết rõ vùng này hơn hết thảy những kẻ chỉ luẩn quẩn ở nhà như chúng ta”. Lại vừa đúng là người ta đang cần những người như thế. Công tước có nói với tôi là ngài đang thiết tha mong có một viên chức biết rõ mọi việc như trong thực tế; vì ngài bảo là trên giấy tờ người ta chẳng trông thấy gì hết, cái gì cũng rối tung lên.
Khlôbuiep ngạc nhiên nhìn Murazôp và nói:
- Ý giúp đỡ của ông làm tôi khó nghĩ quá, Afanaxi Vaxiliêvits ạ. Tôi thật khó lòng mà tin được rằng ông có thể bàn với tôi một việc như thế; làm việc đó phải là một người tháo vát, không biết mệt. Vả lại làm thế nào mà bỏ vợ con ở nhà, chẳng có miếng bánh ăn được.
- Ông đừng lo. Tôi xin nhận việc chu cấp cho họ; con ông sẽ có thày dạy. Chẳng thà đi quyên cho Chúa, còn hơn là bị gậy đi ăn xin cho mình ông ạ; cao quý hơn nhiều. Tôi sẽ cho ông một chiếc xe mui nhỏ; ông đừng sợ xóc, vì như thế có lợi cho sức khỏe của ông. Tôi sẽ giao tiền cho ông đi đường, để ông có thể cứu giúp những kẻ túng quẫn nhất ở những nơi mà ông đi qua. Như vậy ông có thể làm nhiều việc thiện, ông sẽ không lầm lẫn và những kẻ được ông giúp sẽ là những kẻ đáng được. Đi như vậy, ông sẽ biết thiên hạ sống ra sao. Người ta sẽ không ngờ vực ông như ngờ vực một quan chức mà mọi người đều sợ. Biết là ông đi quyên tiền cho nhà thờ, người ta sẽ sẵn lòng bắt chuyện với ông.
- Thật là một ý hay, và tôi rất muốn thực hiện, ít nhất là một phần; nhưng tôi thấy công việc quá sức tôi.
- Có việc nào là việc vừa sức ta không? Murazôp nói. Không, việc gì cũng quá sức ta cả; không có sự giúp đỡ của Chúa, ta không thể làm gì hết. Nhưng ta có sức mạnh nhờ cầu nguyện. Ta làm dấu thánh, ta cầu xin sự cứu giúp của Chúa, ta cầm lấy chèo và ta vào bờ được. Không phải suy nghĩ gì nhiều nữa; ông hãy nhận lấy một cách đơn giản như nhận một mệnh lệnh của Chúa. Xe sắp thắng xong, ông đến gặp Cha Bề trên mà lấy sổ quyên và xin cha ban phước cho, rồi lên đường!
- Tôi xin theo lời ông, và nhận việc này như nhận lời chỉ bảo của Chúa. “Xin Chúa ban phước cho con!” ông ta khấn thầm và tức thì sức mạnh với tinh lực tràn vào lòng ông ta. Tâm trí ông ta như bừng tỉnh với niềm hy vọng thoát khỏi tình cảnh đáng buồn của mình. Một tia sáng lóe lên ở đằng xa.
- Bây giờ xin phép hỏi ông một câu, Murazôp nói. Cái lão Tsitsikôp ấy là người thế nào?
- Chuyện hắn thật là không tiền khoáng hậu, để tôi kể ông nghe. Hắn làm những việc hết sức bỉ ổi… Afanaxi Vaxiliêvits ạ, ông có biết tờ chúc thư ấy là giả mạo không? Người ta đã tìm ra tờ thật, nói là để điền trang lại cho hai người con nuôi.
- Ông nói sao? Ai làm ra chúc thư giả ấy?
- Người ta bảo chính Tsitsikôp làm ra, và chúc thư ấy được ký sau khi người đương sự chết rồi. Một người đàn bà được mua chuộc đã ký giả vào đấy. Tóm lại, thật là một vụ hết sức nhơ nhuốc. Hiện có vô số đơn khiếu nại từ khắp nơi gửi về. Có nhiều người đến dạm hỏi Maria Iêrêmêiepma; hai viên công chức đã đánh nhau vì cô ta. Tình hình như thế đấy, Afanaxi Vaxiliêvits ạ.
- Thế mà tôi chẳng biết gì cả; vụ này thật là đáng khiển trách. Paven Ivannôvits, nói thật, là một người rất khó hiểu.
- Tôi cũng đã đệ một lá đơn khiếu nại, để nhắc họ nhớ rằng có một người bà con gần có quyền hưởng gia tài.
“Cứ để cho chúng xâu xé nhau! Khlôbuiep nghĩ thầm khi ra về. Afanaxi Vaxiliêvits không phải là người ngốc. Ông ta giao cho mình việc này, chắc là đã nghĩ kỹ; mình cứ việc làm cho tròn phận sự”. Ông ta đã lo đến việc lên đường trong khi Murazôp vẫn còn nghĩ mãi: “Cái lão Paven Ivannôvits này, thật là một người khó hiểu. Giá hắn để ngần ấy ý chí và nghị lực mà làm việc thiện!”
Trong khi đó, đơn khiếu nại gửi tới tấp đến các tòa án. Lần lượt thấy xuất hiện những người có thể thừa hưởng gia tài mà xưa nay chẳng ai từng nghe nói đến. Như một đàn quạ sà xuống một cái xác chết đã thối, ai nấy đều dòm dõi cái gia tài kếch sù của bà già để lại. Có những đơn tố giác Tsitsikôp, những đơn phủ nhận tính xác thực của tờ chúc thư sau, cũng như của tờ chúc thư trước; có những chứng tích về tội biển thủ và thụt két. Tsitsikôp lại còn bị tố cáo là đi mua những linh hồn chết và buôn lậu trong thời gian làm ở ngành thuế quan. Người ta lục lạo cả cuộc đời của Tsitsikôp, vạch rõ những ba đào đã xảy ra ngày xưa cho y. Có trời biết họ làm thế nào mà đánh hơi được những việc đó; chỉ biết là họ bới ra được nhiều việc mà Tsitsikôp vẫn tưởng là ngoài y với bốn bức tường ra, chẳng ai hay biết gì hết. Vả chăng, tất cả những việc đó đều được nhà chức trách giữ kín và chưa đến tai Tsitsikôp; mặc dù một mảnh giấy của nhà pháp luật gửi đến đã cho y biết rằng sắp có chuyện chẳng lành.
Nội dung mảnh giấy ấy chỉ vắn tắt: “- Tôi xin vội vàng báo để ông rõ rằng sẽ có chuyện lôi thôi; nhưng xin ông nhớ là không nên bối rối. Hãy bình tĩnh, hãy bình tĩnh. Rồi mọi việc sẽ được dàn xếp ổn thỏa”. Mảnh giấy làm cho Tsitsikôp hoàn toàn vững dạ. Y tự nhủ: “Đúng là một thiên tài!”.
May mắn hơn nữa là vừa lúc ấy thợ may lại đem áo đến. Y đang nóng lòng được mặc chiếc frac mới, màu huyết dụ lửa khói. Y mặc cái quần vào, thấy vừa vặn, sít sao quá, hai bên hông cũng vừa đẹp, đôi bắp chân cũng thế; chất dạ ăn sát vào từng chi tiết một, làm cho các bắp thịt trông lại càng dẻo dai hơn. Khi đã mắc cái khóa lưng ở phía sau thì bụng y phềnh ra như cái trống, y cầm cái bàn chải đập vào bụng và kêu lên:
- Trông thộn quá! Nhưng nhìn gộp vào thì lại rất cân xứng!
Cái áo lại còn có vẻ khéo cắt hơn cái quần nữa; không một nếp nhăn; vạt áo buông rất thẳng; áo ăn sát vào người, làm nổi bật cái lưng ong. Tsitsikôp phàn nàn là hơn vương vướng ở nách bên phải, thì người thợ may chỉ mỉm cười: như thế, áo lại càng bó sát lấy người và chỉ làm nổi bật tấm thân lên thôi.
- Xin ngài yên tâm, về kỹ thuật may thì xin ngài cứ yên tâm, - hắn cứ nhắc đi nhắc lại với một vẻ đắc thắng không hề giấu giếm; - trừ ở Pêterbua ra thì không nơi nào may được như thế này đâu!
Chính gã thợ may là người Pêterbua, tuy trên biển hiệu, hắn đề: Thợ ngoại quốc ở Luân Đôn và Ba Lê. Hắn vốn là kẻ làm đến nơi đến chốn và khi tuyên bố mình là người của hai thành phố như vậy, hắn muốn khóa mõm tất cả các bạn đồng nghiệp: từ đấy về sau, bọn này đành phải chịu làm người Karlxru hay Kôbenhagen -Karlxru, một thành phố lớn ở Đức, Kôbenhagen, thủ đô nước Đan Mạch, là những thành phố ăn diện kém Luân Đôn và Ba Lê nhiều- mà thôi.
Tsitsikôp trả tiền cho thợ may; và khi chỉ còn lại một mình trong phòng, y tha hồ ngắm nghía mình trong gương, con amore -Tiếng Ý trong nguyên văn có nghĩa là: một cách âu yếm-, với tư cách một nghệ sĩ có khiếu thẩm mỹ. Mỗi bộ phận của bức tranh hình như đều được tăng thêm sắc đẹp; đôi má hồng hào hơn, cái cằm duyên dáng hơn; cổ áo trắng làm nổi nước da đôi má; cái cà vạt xa tanh xanh làm nổi màu cổ áo; những nếp gấp hợp thời trang trên vạt trước áo sơ mi làm nổi chiếc cà vạt; chiếc gi lê nhung sang trọng làm nổi vạt trước áo sơ mi và chiếc frac màu huyết dụ lửa khói làm nổi toàn bộ lên. Y quay sang phải: tuyệt! Quay sang trái: còn tuyệt hơn nữa! Quả là cái lưng ong của một viên thị thần -Chức quan coi việc quản lý trong cung, hầu cận vua, chúa- hay của một nhân vật gãi cũng gãi theo lối Pháp, một con người mà ngay lúc giận dữ cũng không văng ra một câu nói tục nào bằng tiếng Nga, mà chửi bới, nguyền rủa toàn bằng tiếng Pháp cả! Tóm lại, thật là văn minh đến cực điểm! Đầu hơi nghiêng nghiêng, y đứng theo cái tư thế của một gã công tử hợm mình đang tiếp chuyện một phu nhân đứng tuổi có học thức tinh tế: thật là một đề tài rất đẹp để vẽ thành tranh, chỉ còn thiếu có họa sĩ và bút vẽ nữa mà thôi. Đắc chí, Paven Ivannôvits phác một bước vũ antrasat. Chiếc tủ ngăn rung lên, một lọ ô đơ Côlôn lăn xuống đất. Không chút nao núng, y chỉ chửi cái lọ là đồ ngốc, rồi nghĩ thầm: “Nên đến thăm nơi nào trước đây? Tốt hơn cả là…”.
Bỗng phòng ngoài nghe như có tiếng cựa giày lạch cạch. Một viên sen đầm hiện ra với đầy đủ trang bị như thể chỉ một mình hắn đại diện cho cả một quân đoàn.
- Có lệnh đòi lên trình diện ngay quan lớn tổng trấn.
Tsitsikôp đớ người ra. Trước mắt y sừng sững một ngoáo ộp, ria mép vểnh lên, đầu đội cả một cái đuôi ngựa -Mũ sắt của sen đầm thời ấy có ngù rất dài làm bằng lông đuôi ngựa-, mỗi vai đeo một chiếc nịt da, một thanh gươm lớn lủng lẳng bên sườn. Y có cảm giác là bên sườn kia còn đeo một khẩu súng và có trời biết là còn những gì nữa… cả một quân đoàn tập trung vào một cá nhân! Y toan cãi; ngoáo ộp liền tuôn ra, rất cục cằn: - Lệnh đòi lên ngay tức khắc!
Ở phòng ngoài, Tsitsikôp thoáng thấy bóng một ngoáo ộp nữa; nhìn qua cửa sổ, y thấy một cỗ xe. Biết làm thế nào bây giờ? Mình vẫn mặc nguyên chiếc áo lễ đẹp màu huyết dụ lửa khói, y đành phải lên xe; và với viên sen đầm áp giải một bên, y run rẩy đi đến dinh tổng trấn. Vào đến phòng chờ, người ta cũng chẳng để cho y có thì giờ hoàn hồn nữa.
- Vào đi! Công tước đang đợi, người trực nhật nói.
Y trông thấy như qua một làn sương mù gian phòng đợi, nơi mấy anh chạy giấy đang nhận những gói công văn, rồi một gian phòng lớn mà y vừa đi qua, vừa nghĩ thầm: “Họ sẽ tống cổ mình đi Xibia, không xét xử lôi thôi gì nữa”. Trống ngực y đập còn mạnh hơn trống ngực của gã tình nhân hay ghen nhất. Cuối cùng, cánh cửa oan nghiệt mở ra; phòng làm việc hiện lên; y trông thấy những cái tủ, những tập hồ sơ, những chồng sách, và công tước tổng trấn, hiện thân của thịnh nộ.
“Hung thần! Hung thần! Tsitsikôp tự nhủ. Hắn sẽ xé xác mình ra như con sói xé xác con cừu non!”.


 (còn tiếp)


Nguồn: Những linh hồn chết. Tiểu thuyết của Nicolas Vassilievitch Gogol. Hoàng Thiếu Sơn dịch. NXB Văn học in lần đầu 1965, lần 2 năm 1993. Bản điện tử do Soccon nhập liệu/ Chân trời tím.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 23.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
xem thêm »