tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27611560
Tiểu thuyết
28.10.2013
Nikolai Vasilyevich Gogol
Những linh hồn chết

Tsitsikôp ra về, lòng rất bực tức về chuyến đi; trời đã tối mịt, trong nhà nến đã thắp từ lâu.
- Sao ông về muộn thế? - Kôxtanjôglô hỏi khi y bước qua ngưỡng cửa.
- Ông làm gì với lão ấy mà lâu thế? Platônôp hỏi thêm.
- Từ bé đến giờ tôi chưa hề gặp người nào ngốc như vậy! Tsitsikôp đáp.
- Chưa thấm vào đâu, Kôxtanjôglô nhận xét. Kôskariôp là một hiện tượng lý thú. Hắn cần thiết để phản ánh, dưới một hình thức biếm họa, những thói dở hơi của các trí tuệ khôn khéo ở nước ta; việc mình thì không biết, chỉ lo đua đòi những thói rởm nhập từ đâu đâu về. Thời buổi bây giờ các trang chủ họ thế đấy; họ lập phòng này, sở nọ, lập nhà máy, trường học và những gì gì nữa có quỷ biết được. Sau năm 1812 -Năm 1812 là năm quân của Napôlêông, hoàng đế Pháp xâm lược và tàn phá nước Nga-, nước ta đã phục hồi ít nhiều; còn bây giờ thì cứ thi nhau mạnh ai người ấy đảo lộn cả lên và đảo lộn còn tệ hơn bọn Pháp nữa, vì bây giờ một lão Piôtr Pêtrôvits Pêtukh cũng được tiếng là trang chủ giỏi.
- Nhưng ông ta cũng cầm hết tài sản rồi. Tsitsikôp nói.
- Phải, bao nhiêu của cải vào tay ngân hàng Lomba hết. - Nói đến đấy, Kôxtanjôglô bắt đầu cáu tiết lên. - Họ mở xưởng làm mũ, làm nến; họ thuê thợ tận Luân Đôn về; họ thành ra những nhà doanh nghiệp. Một người quý tộc mà lại đi làm nến và còn khối thứ nữa,… mua máy dệt về dệt sa, dệt lụa bán cho bọn gái tơ ở thành phố!...
- Nhưng anh cũng có xưởng máy đấy thôi, Platônôp bẻ.
- Lỗi tại ai? Nó tự mọc lên đấy chứ; lông cừu cứ ứ lại, không sao tiêu thụ được. Tôi mới bắt đầu dệt nỉ, loại nỉ thô, dày cho nông dân của tôi dùng; họ mua tại chỗ, giá hạ. Từ sáu năm nay, dân chài vứt vảy cá lên bờ nhà tôi, tôi biết làm gì? Tôi mới bắt tay sản xuất keo dán, thu được bốn vạn rúp. Việc gì cũng đều như thế cả.
“Thằng cha cừ thật! Tsitsikôp vừa nghĩ thầm vừa nhìn chằm chằm vào tận mắt Kôxtanjôglô. Quả hắn biết cách làm giàu!”
- Và sở dĩ tôi quyết định làm những việc đó, là vì không làm thì sẽ có nhiều dân lao động chết đói, do mất mùa, nhờ ơn các ngài trang chủ sính công nghệ đã quên mất thời vụ gieo hạt. Những xưởng chế tạo như thế thì ở ấp tôi chẳng thiếu đâu chú ạ. Mỗi năm lại mọc thêm một cái, tùy theo cái khối những rác, bã ùn lại. Ai mà chăm chú theo dõi việc làm ăn của mình thì có thể thu lợi từ mỗi cái rác, bã mà thường người ta vứt đi, cho là vô ích! Vì tôi có xây dựng những lâu đài có hàng cột với mặt hiên tam giác để dùng những cặn bã ấy đâu.
- Thật là phi thường!... Lạ nhất là mỗi thứ cặn bã đều có thể sinh lợi, Tsitsikôp nói.
- Phải, nhưng với điều kiện là phải nhìn nhận sự việc một cách đơn giản, có thế nào cứ biết như thế. Khốn thay, ai nấy đều muốn làm người thợ cơ khí kia; ai nấy đều muốn mở tráp với một thứ khí cụ gì đó trong khi cứ thế tráp cũng đã mở ra rồi. Pêtukh lại đi cả sang Anh về việc ấy nữa! Rõ đồ ngốc… Làm như là đi ngoại quốc về một chuyến không ngu hơn trước gấp trăm lần đi à?
Nói đoạn, Kôxtanjôglô tức giận khạc nhổ.
- Kìa, anh Kôstantin, anh lại nổi giận rồi; bà vợ lo lắng trách chồng. Anh cũng biết là như thế rất có hại cho anh kia mà!
- Thấy những chuyện như thế thì dễ có tấm lòng người Nga nào mà không sôi lên vì căm phẫn? Ngày nay cái phẩm chất Nga đang hỏng đi, thật đáng phàn nàn; bây giờ nó đã nhuốm chủ nghĩa Đông Kysôt, điều trước kia chưa bao giờ thấy! Say mê học vấn chăng? Người ta liền trở thành một Đông Kysôt của học vấn; người ta mở những trường học mà đến một thằng ngu cũng không tưởng tượng nổi. Trường sẽ đào tạo ra những kẻ vô tích sự, dù ở thành thị hay ở thôn quê cũng chẳng được việc gì; những đứa say rượu mồm diễn thuyết về ý thức tự trọng. Làm việc từ thiện chăng? Người ta liền thành ra một Đông Kysôt của lòng vị tha; người ta tiêu bạc triệu để dựng lên những bệnh viện kỳ quái, những tòa nhà đầy những cột, tự mình làm mình khánh kiệt và không đầy một tuần lễ, tất cả những người giúp việc đều ra đứng đường, túi không có được một kôpek. Thật là một thứ từ thiện đẹp đẽ.
Tsitsikôp không hề quan tâm đến học vấn; y chỉ muốn biết tường tận cách làm cho mỗi chút cặn, bã đều sinh lợi. Nhưng Kôxtanjôglô không để cho y thêm một câu nào; ông ta không sao giữ lại nổi những lời lẽ bực dọc đang tuôn ra.
- Người ta cứ tự hỏi không biết làm thế nào cho nông dân được hưởng ánh sáng học vấn… hẵng làm cho họ giàu lên đã; làm cho họ thành người thợ cày giỏi, rồi sau đó họ sẽ tự học lấy. Ông không thể tưởng tượng được thiên hạ đã ngu muội đến thế nào! Bọn văn sĩ nhảm của chúng ta ngày nay đang viết những gì? Vì hễ có quyển sách nào ra là mọi người đều vồ lấy… Người ta vẫn thường nói thế này: “Nông dân sống một cuộc đời quá ư đơn giản; phải làm cho họ biết những vật xa xỉ, gợi cho họ những nhu cầu cao hơn thân phận họ”. Chính những kẻ đó, đã vì lối sống xa xỉ kia mà thành ra những đồ giẻ rách, làm mồi cho đủ các thứ bệnh; và không còn lấy một thằng nhãi ranh mười tám tuổi nào, mà lại chưa nếm đủ mùi đời! Gớm chửa! Mồm các anh đã rụng hết cả răng; đầu các anh đã hói trụi như cái bong bóng; vì thế bây giờ các anh muốn đổ bệnh cho nông dân ta phỏng! Ơn Chúa, ít nhất ta cũng còn được một giai cấp lành mạnh, không biết đến những thứ tế nhị, văn minh ấy! Người dân cày là kẻ đáng kính nhất ở nước ta. Tại sao lại động đến họ? Cầu Chúa cho mọi người đều giống họ!
- Thế ông cho rằng làm canh nông lợi hơn sao? Tsitsikôp hỏi.
- Không lợi hơn thì cũng chính đáng hơn. Đã có câu “- Người sẽ đổ mồ hôi trán ra mà cày cuốc đất đai” -Lời trích trong Kinh thánh Sáng thế-. Không việc gì phải lý sự cùn. Kinh nghiệm của hàng bao thế kỷ đã chứng minh rằng làm nghề nông con người mới đạo đức hơn, trong sạch hơn, cao quý hơn. Tôi không muốn nói rằng không nên làm gì khác nữa, tôi chỉ cho rằng nông nghiệp phải là cái gốc của tất cả mọi sự. Công nghiệp sẽ tự nó phát triển, ít nhất là loại công nghiệp có lý do tồn tại vì đáp ứng những nhu cầu trước mắt của con người, chứ không phải loại công nghiệp phụng sự những lối sống văn minh đang làm cho con người thời này thành mềm yếu. Không cần đến những thứ nhà máy, mà muốn đứng vững và bán chạy sản phẩm phải dùng đến những thủ đoạn ghê tởm, làm cho dân lành hư hỏng và trụy lạc. Không đời nào tôi đưa vào địa phận tôi những ngành sản xuất phát triển các nhu cầu tinh vi; dù người ta có ca tụng thế nào, và dù tôi có mất lãi đi một triệu cũng vậy. Không, không; không cần đường, không cần thuốc lá! Nếu sự trụy lạc tràn ngập thế gian này, thì quyết không có bàn tay tôi góp phần vào! Tôi chỉ cầu Thượng đế chứng giám cho lẽ phải của tôi… Tôi sống với người mujik đã hai mươi năm nay; tôi biết rõ hậu quả của những mối họa ấy lắm…
- Điều làm cho tôi ngạc nhiên nhất; Tsitsikôp gợi ý; là nếu biết cách, người ta có thể sử dụng những thứ cặn bã, và mỗi vật thải ra đều có thể sinh lợi.
- À phải! Các nhà kinh tế học! Kôxtanjôglô nói, giọng châm chọc chua cay, không nghe lời Tsitsikôp hỏi… chỉ là những thằng ngốc hạng nặng làm đầu têu cho những thằng ngu khác và tầm mắt không xa hơn cái mũi của chúng! Những con lừa đeo kính vào leo lên bục diễn giảng… Một lũ ngu dại!
Giận quá, ông ta lại khạc nhổ một lần nữa.
- Anh nói đúng cả, nhưng anh đừng nổi giận, em van anh; bà vợ nói. Như là cứ nói đến những chuyện ấy, là không thể không nổi khùng lên được!
- Nghe ông, có thể nói là người ta thấu hiểu được ý nghĩa của cuộc đời, Kônxtantin Fiôđôrôvits đáng kính ạ; người ta đi sâu vào thực chất của sự vật. Nhưng hãy xin gác sang một bên các vấn đề khái quát, và xin phép lưu ý ông đến một trường hợp cá biệt. Giả sử sau khi trở thành trang chủ, tôi muốn làm giàu trong một thời gian ngắn, để vì thế mà làm trọn bổn phận công dân của mình, thì tôi phải làm thế nào?
- Làm thế nào để giàu lên ấy à? Kôxtanjôglô hỏi. Thế này nhé…
- Ta đi ăn đi, nữ chủ nhân nói; đoạn đứng dậy, vừa bước ra giữa phòng vừa quấn lên vai một chiếc khăn san, có vẻ sợ lạnh.
Tsitsikôp đứng dậy nhanh nhẹn gần như một quân nhân, đến cạnh nữ chủ nhân với vẻ lịch thiệp của một người thượng lưu, giơ tay cho bà ta khoác và trịnh trọng đưa bà ta sang phòng ăn; nơi liễn xúp mở nắp và đợi sẵn, tỏa ra hương vị ngon lành của các thứ rau tươi đầu mùa. Mọi người ngồi vào bàn. Bọn gia nhân nhanh nhẹn dọn tất cả các món ra cùng một lúc, trong những đồ đựng có đậy nắp, cùng với các thứ phụ tùng; rồi lui ra: Kôxtanjôglô vốn không thích để họ nghe chủ nói chuyện và càng không thích có người nhìn mình ăn.

Sau món xúp, Tsitsikôp nốc một cốc nhỏ rượu gì rất ngon, như rượu tôkay, đựng trong chiếc cốc nhỏ, và nói với chủ nhân:
- Xin phép ông cho tôi được nối lại câu chuyện bỏ dở. Lúc nãy tôi có hỏi ông là phải làm thế nào, cách nào là tốt nhất để… -Chỗ này trong bản thảo thiếu mất một tờ. Trong tập thứ hai của Những linh hồn chết in lần thứ nhất năm 1855, có chú: “Ở đây thiếu mất một đoạn đối thoại giữa Kôxtanjôglô và Tsitsikôp. Có thể đoán rằng Kôxtanjôglô bàn với Tsitsikôp nên mua ấp của một trang chủ ở gần đấy tên là Khlôbuiep”-
- Một điền trang mà tôi trả ngay bốn vạn rúp, không do dự, nếu họ đòi ngần ấy!
- Hừm! Tsitsikôp đâm ra ngẫm nghĩ rồi nói - Thế tại sao ông không mua lấy? Hắn hỏi, vẻ hơi rụt rè.
- Phải biết tự hạn chế mình chứ. Cứ thế này tôi cũng đã bận lắm rồi. Thế mà các trang chủ nhà ta cũng đã nói xấu tôi, bảo là tôi lợi dụng lúc họ túng quẫn và sạt nghiệp để mua đất với giá rẻ mạt. Tôi ngấy lắm rồi.
- Sao con người ta hay nói xấu thế nhỉ! Tsitsikôp nói.
- Mà trong tỉnh này, thói ấy lại hơn những nơi khác… Người ta độc gọi tôi là đồ hà tiện, đồ keo kiệt, đồ bủn xỉn. Về việc gì các ngài ấy cũng có cách tự biện bạch. Một người nói: “Tôi đã tự làm mình phá sản, đúng thế; nhưng đó là vì tôi muốn thỏa mãn những nhu cầu cao cấp của đời sống, vì tôi đã khuyến khích các nhà công nghệ (nghĩa là bọn bịp bợm ấy mà). Dĩ nhiên người ta có thể sống như con lợn, theo kiểu Kôxtanjôglô”.
- Tôi chỉ mong được làm một con lợn như thế! Tsitsikôp nói.
- Những chuyện ấy thật là vô lý. Những nhu cầu cao cấp nào? Họ định đánh lừa ai đây? Họ có sách, nhưng họ không đọc. Mọi việc đều kết thúc bằng những ván bài và những cốc sâm banh. Ông ạ, sở dĩ họ nói thế là chỉ vì tôi không thết tiệc và không cho họ vay tiền. Tôi không thết tiệc, vì tiệc tùng làm tôi bực mình; tôi không quen dự tiệc. Nhưng ai mà đến ăn thường với tôi thì đều là khách quý cả. Còn như chuyện tôi không chịu cho vay tiền thì chỉ là chuyện bịa. Người nào túng quẫn thực sự đều có thể nhờ tôi, cho tôi biết cặn kẽ định dùng tiền làm gì; nếu qua lời lẽ của họ, tôi thấy là họ sẽ dùng tiền vào việc tốt, sẽ thu được lợi ích thực sự, thì tôi không bao giờ từ chối và thậm chí cũng không lấy lãi nữa.
“Chà , chà! Điều này đáng biết lắm đấy!”. Tsitsikôp nghĩ thầm.
- Không, không bao giờ tôi từ chối, Kôxtanjôglô nói tiếp. Nhưng phung phí tiền bạc thì tôi không thể làm được. Mẹ kiếp! Một lão nọ thết đãi tình nhân, mua đủ các thứ bàn ghế kỳ quặc bày trong nhà, hay lê la khắp các hội khiêu vũ trá hình với một con đĩ, tổ chức ăn mừng để kỷ niệm một cuộc đời vô ích; thế mà tôi lại phải giúp vốn cho hắn sao?
Nói đến đây Kôxtanjôglô lại khạc nhổ và suýt văng tục ra trước mặt vợ. Một nỗi u uất làm cho gương mặt ông ta tối sầm lại. Trán ông ta hằn lên những nếp nhăn biểu lộ rõ sự tức giận và nỗi bực dọc trong lòng ông ta.
- Thưa ông, xin phép ông được nối lại câu chuyện đang nói dở, Tsitsikôp vừa nói vừa uống thêm một cốc rượu phúc bồn tử thật là ngon. Giả sử tôi trở thành chủ nhân của cái điền trang ông vừa nói chuyện, thì liệu trong bao nhiêu lâu tôi có thể giàu đến mức…
- Nếu ông muốn làm giàu thật chóng; Kôxtanjôglô ngắt lời khách, giọng xẵng và ngắc ngứ; thì không bao giờ giàu được đâu; nhưng nếu ông không quan tâm đến thời gian, thì chẳng mấy chốc ông đã giàu.
- À ra thế! Tsitsikôp nói.
- Phải. – Kôxtanjôglô nói, giọng cục cằn như tức tối với chính Tsitsikôp vậy. - Phải thích làm việc, nếu không sẽ chẳng được cái gì hết. Phải yêu đời sống thôn dã, đúng thế đấy! Và xin ông tin cho rằng đời sống đó không buồn đâu. Người ta bảo sống ở nông thôn không thể nào chịu được…; nhưng tôi thì tôi sẽ chết buồn nếu tôi sống ở thành phố, dù chỉ một ngày thôi, như kiểu các ngài kia, trong những tiệm rượu, những nhà hát, những câu lạc bộ ngu xuẩn của họ. Toàn một lũ ngốc, một giống lừa! Người ta làm nghề nông không có thì giờ để buồn chán. Cuộc đời của họ lúc nào cũng bận rộn, không lúc nào ngớt. Chỉ nói đến công việc cũng đã là bao nhiêu thứ khác nhau rồi. Mà có phải là những việc tầm thường đâu! Toàn những việc làm cho tâm hồn cao quý lên! Ở đây, con người sống theo thiên nhiên, theo bốn mùa; nó cộng tác với tất cả những gì đang thực hiện trong tạo hóa. Ông thử điểm qua cả một năm làm lụng mà xem: thời gian đón xuân, trong khi mọi vật đều khẩn trương chờ đợi, công việc chuẩn bị gieo hạt, chọn giống, kiểm tra thóc trong kho, phân phố lực dịch. Tất cả đều được xem xét kỹ từ trước và trù tính ngay từ đầu. Và hễ sông ngòi tan băng, đất lộ ra là cái cuốc hoạt động trong các vườn rau, vườn cây ăn quả; cái cuốc bàn, cái bừa làm việc ngoài đồng; người ta trồng, người ta gieo. Gieo những gì, ông có biết không? Gieo cho mùa gặt sắp tới! Gieo hạnh phúc của toàn thể trái đất! Gieo thức ăn nuôi sống hàng triệu người! Mùa hè đến… tiết cắt cỏ rộn rịp… Rồi thì mùa gặt; tiếp theo lúa mạch là lúa mì; rồi đến đại mạch, kiều mạch. Tất cả đều sôi nổi lên; không thể bỏ lỡ một phút; dù có hai chục con mắt trông cũng không xuể. Hội mùa xong, phải đưa lúa vào kho; lại còn công việc cày vụ thu, việc phân phối các kho, vựa, chuồng bọ, cùng một lúc với những công việc của đàn bà; người ta nhìn lại, người ta thấy công việc đã hoàn thành… Rồi đến mùa đông! Đập lúa trên khắp mọi sân; rồi chuyển thóc, từ bục đập lúa vào kho, rồi đẵn và cưa cây, rồi chở gạch và gỗ súc cho những việc xây dựng vào mùa xuân. Người ta đi thăm nhà xay thóc, thăm các xưởng thợ. Thấy một người thợ mộc khéo tay rìu, tôi có thể đứng nhìn hai giờ liền, vì công việc làm cho tôi vui thích. Và nếu ngoài ra, người ta lại thấy rằng tất cả những công việc kia đều lớn lên và nhiều ra, đưa lại thành quả và lợi ích, thì niềm vui thật không tài nào tả xiết! Như vậy không phải vì của cải mình tăng thêm đâu - tiền bạc là chuyện khác - mà vì tất cả những cái đó đều do mình làm ra; vì mình thấy mình là kẻ sáng tạo nắm quyền chi phối mọi việc, là người pháp sư đang gieo rắc quanh mình cảnh dồi dào no ấm. Liệu có thể tìm đâu được một niềm vui như thế? Kôxtanjôglô kết luận; trên khuôn mặt ngẩng cao lên, bao nhiêu nếp nhăn đều đã biến hết. Tựa hồ một ông vua trong ngày lễ đăng quang, Kôxtanjôglô sáng bừng lên; gương mặt ông ta như tỏa hào quang. - Phải, trong khắp thiên hạ, không tìm đâu ra một niềm khoái lạc như thế! Chính ở đây con người bắt chước Thượng đế: Thượng đế đã dành riêng cho mình sự sáng tạo để làm niềm khoái lạc tối cao và đòi hỏi con người cũng phải sáng tạo ra cảnh phồn vinh quanh mình… Đấy, cái mà người ta gọi là một việc buồn chán, đấy!...
Tsitsikôp lắng nghe những lời êm tai này như nghe tiếng hát của một con chim trên thiên đường. Mồm y ứa nước bọt. Cả đôi mắt y cũng ướt và lộ rõ vẻ hoan lạc; y cứ muốn nghe mãi.
- Anh Kônxtantin ạ, hay ta sang phòng khách? Bà Kôxtanjôglô vừa nói vừa đứng dậy. Mọi người đứng dậy theo. Tsitsikôp đưa tay cho bà ta khoác, nhưng dáng điệu y không còn nhanh nhẹn như trước nữa, vì tư tưởng của y đã theo một hướng nghiêm trang hơn.
- Anh nói thế chứ đời sống ở nông thôn vẫn vô vị, Platônôp đang đi phía sau nói.
Kôxtanjôglô nghĩ thầm: “Ông khách này không phải là người ngốc, nghe chuyện chăm chú, ăn nói đứng đắn và không khoác lác.” Nghĩ đến đấy mặt ông ta tươi rói lên, tựa hồ những lời của chính mình đã sưởi ấm lòng mình và ông lấy làm mừng là đã gặp được một người có thể nghe hiểu những lời khuyên răn khôn ngoan của mình.
Mọi người đến ngồi trong một gian phòng nhỏ ấm cúng, thắp nến sáng, đối diện với bao lơn và với cửa kính rộng dẫn ra vườn. Trong khi các vì sao ngắm họ từ trên những ngọn cây của khu vườn đang ngủ yên, Tsitsikôp có một cảm giác kỳ thú đã lâu không biết đến. Y ngỡ như đang trở về nhà sau bao nhiêu năm giang hồ phiêu bạt và sau khi đã đạt được đầy đủ mọi nguyện ước, đặt chiếc gậy lữ hành xuống mà rằng: “Thôi, thế là đủ rồi!”. Sở dĩ y có được cái tâm trạng phấn chấn ấy là nhờ câu chuyện khôn ngoan của chủ nhà.
Phàm ai cũng có những đề tài liên quan đến mình nhiều hơn, mà mình tha thiết hơn những đề tài khác. Và nhiều khi, đột nhiên ở một nơi hẻo lánh, một chốn ẩn dật thực sự; ta bỗng gặp một người mà câu chuyện khiến ta ấm lòng, quên những đoạn đường khó đi, những quán trọ tồi tàn, quên tình trạng hỗn loạn vô ích của thời đại, những ảo mộng dối trá của người đời. Một tối chuyện trò như thế sẽ vĩnh viễn khắc sâu vào ký ức. Trí nhớ sẽ trung thành giữ lại tất cả mọi sự tình: những người nghe chuyện, chỗ ngồi của mỗi người, những vật họ cầm trong tay, những bức tường, những góc nhà, những chi tiết vụn vặt nhất.
Tsitsikôp tối hôm ấy cũng thế; y chú ý đến mọi vật: gian phòng xinh xắn bày biện giản dị, vẻ hồn hậu phản ảnh trên gương mặt chủ nhân, cho đến cả màu sắc của những bức thảm treo tường nữa…; cái tẩu; đầu ngậm bằng hổ phách trao cho Platônôp, những đám khói mà chàng ta thở vào mũi con Yarb, những cái rùng mình của con chó; tiếng cười của nữ chủ nhân khả ái với câu nói: “- Thôi, đừng làm khổ nó nữa”; ánh sáng tươi vui của mấy ngọn nến; tiếng con dế rả rích trong một góc phòng; cánh cửa kính; đêm xuân đang ngắm họ từ trên các ngọn cây lốm đốm những vì sao, trong khi tiếng hót du dương của mấy con họa mi thánh thót trong các lùm cây xanh tốt.
- Tôi thích nghe ông nói quá, ông Kônxtantin Fiôđôrôvits đáng kính ạ! Tsitsikôp nói. Tôi dám nói là trên đất nước Nga, chưa có nơi nào tôi gặp được một người có trí thông minh như ông.
Kôxtanjôglô mỉm cười, tự cảm thấy những lời ấy cũng chẳng có gì quá đáng.
- Không đâu, ông Paven Ivannôvits ạ, nếu ông muốn biết một con người thông minh thì ở ta có một con người quả là xứng đáng với danh hiệu đó, tôi chưa thể bén gót chân ông ta được.
- Ai thế à? Tsitsikôp ngạc nhiên hỏi.
- Murazôp, ông chủ thầu thuế rượu mạnh ở tỉnh này.
- Đây là lần thứ hai tôi được nghe nói đến ông ta! Tsitsikôp kêu lên.
- Người ấy cai quản không phải chỉ một điền trang, mà cả một quốc gia đấy. Tôi mà làm vua thì tôi lập tức phong ông ta làm bộ trưởng bộ tài chính.
- Nghe nói đó là một người vượt ra khỏi khuôn khổ bình thường; đâu như ông ta đã có trong tay tới mười triệu.
- Ông ước như thế thì còn xa sự thật. Ông ta có những hơn bốn mươi triệu. Chẳng bao lâu, một nửa nước Nga sẽ thuộc về ông ta.
- Ông nói gì vậy! Tsitsikôp trợn tròn xoe mắt, kêu lên.
- Sự thật mười mươi đấy. Cũng dễ hiểu thôi. Người nào chỉ có vài chục vạn rúp thì lâu giàu lên lắm; nhưng đối với người có bạc triệu thì địa bàn hoạt động thật là vô biên, dù hắn có vơ cái gì thì bao giờ cũng thu được bằng hai, bằng ba số tiền hắn có. Hắn không còn địch thủ nữa, chẳng ai có thể đọ sức với hắn được. Giá cả do hắn định ra thì không gì có thể thay đổi được nữa; không ai có thể đấu giá với hắn nổi.
- Lạy Chúa tôi! Tsitsikôp vừa nói vừa làm dấu thánh giá. Y nhìn chằm chằm vào mặt Kôxtanjôglô, thở không ra hơi nữa. - Thật không thể tưởng tượng được! Nghĩ mà khiếp đi được! Ngắm một con bọ dừa, người ta thán phục cái tài tình của tạo hóa; còn tôi thì tôi lại càng lấy làm lạ rằng một người phàm trần lại có thể nắm trong tay những số tiền khổng lồ như thế. Ông cho phép tôi hỏi một điều: dĩ nhiên là lúc đầu, cái tài sản này mà có được không phải phạm tội lỗi gì chứ?
- Có được bằng cách không thể chê trách vào đâu được, bằng những phương tiện quang minh, chính đại nhất!
- Tôi không tin! Không thể được! Hàng nghìn rúp thì còn được chứ hàng triệu!...
- Trái lại; kiếm được hàng nghìn rúp bằng cách lương thiện thì khó, chứ hàng triệu thì lại rất dễ. Một nhà triệu phú không cần đến những đường lối quanh co; hắn chỉ cứ việc đi thẳng trước mặt và gặp gì nhặt nấy: người khác không đủ sức làm như vậy; cho nên hắn không có kẻ cạnh tranh! Địa bàn hoạt động thật là vô biên, tôi xin nói như vậy; hắn vớ cái gì cũng là bằng hai, bằng ba tài sản hắn có… Còn với cái vốn nghìn rúp thì lãi được bao nhiêu? Mười phân, hai mươi phân.
- Khó hiểu nhất là ông ta bắt đầu với hai bàn tay trắng!
- Sự thể bao giờ cũng diễn ra như thế, Kôxtanjôglô nói. Kẻ nào sinh ra đã giàu thì sẽ chẳng giàu thêm được, hắn có quá nhiều thói phù phiếm bẩm sinh. Phải bắt đầu từ đầu, chứ không phải từ giữa; bằng những đồng kôpêk, chứ không phải những đồng rúp; từ phía dưới, chứ không phải từ phía trên; chỉ có thế người ta mới học được cách hiểu rõ người đời và cái môi trường mà người ta sẽ phải tiếp xúc. Sau khi chính bản thân đã nếm đủ vị đắng cay, khi đã biết rằng mỗi đồng kôpêk đều phải làm cật lực mới kiếm được, sau khi đã trải qua đủ các cảnh gian nan; người ta sẽ được huấn luyện và đào tạo thành một người không thể thất bại trong bất cứ việc gì và không thể toi mạng được. Ông hãy tin tôi, sự thật là thế đấy. Phải bắt đầu từ đầu, chứ không phải từ giữa. Kẻ nào nói với tôi: “Cho tôi mười vạn rúp, tôi sẽ làm giàu”, kẻ ấy không làm cho tôi tin cậy được; hắn làm cái lối hú họa, không chắc chắn gì cả. Phải bắt đầu bằng những đồng kôpêk.
- Thế thì tôi cũng sẽ giàu, Tsitsikôp nói, bất giác nghĩ đến các linh hồn chết; vì quả tình tôi cũng bắt đầu với hai bàn tay trắng.
- Anh Kônxtantin, đã đến lúc phải để Paven Ivannôvits đi nghỉ; nữ chủ nhân nói; thế mà anh cứ nói chuyện phiếm mãi.
Không nghe lời vợ, Kôxtanjôglô nói: - Chắc chắn là ông sẽ giàu, vàng sẽ ùn đến tay ông. Ông sẽ không biết làm gì cho hết tiền lời.
Như bị thôi miên, Paven Ivannôvits phiêu diêu trong vương quốc thần kỳ của những giấc mộng đẹp. Ý nghĩ cứ quay cuồng trong óc y. Trên tấm vóc vàng rực của những thu hoạch tương lai, trí tưởng tượng của y thêu dệt nên những hồi văn và mấy tiếng: vàng sẽ ùn đến… cứ vang mãi trong tai y.
- Thế đấy, anh Kônxtantin ạ, Paven Ivannôvits cần đi nghỉ.
- Thế thì mình đi ngủ đi!
Kôxtanjôglô ngừng nói vì tiếng gáy rất to của Platônôp vang dội cả gian phòng, và con Yarb cũng ra sức họa theo. Thấy rằng quả nhiên đã đến giờ đi ngủ, chủ nhân lay Platônôp dậy, mồm nói: “Thôi ngáy vừa chứ!” và chúc Tsitsikôp ngon giấc. Mọi người chia tay nhau và chỉ lát sau đã đều ngủ yên cả.
Chỉ mình Tsitsikôp là không ngủ. Óc y tỉnh như sáo. Y nghĩ đến cách trở thành chủ nhân của một điền trang thực sự, chứ không phải tưởng tượng. Sau buổi nói chuyện này, khả năng làm giàu đối với y đã thành quá hiển nhiên. Vấn đề kinh doanh khó khăn đã thành dễ dàng và có thể hiểu được, và thật là thích hợp với tính tình của y. Chỉ có việc gán quách lũ nông dân chết cho ngân hàng Lomba rồi tậu lấy một cái ấp. Chưa chi y đã thấy mình đang áp dụng những bài học của Kôxtanjôglô hành động nhanh chóng và thận trọng, không chủ trương gì mới mà không am hiểu tường tận tình hình cũ; cái gì cũng xem xét tận mắt, biết rõ từng nông dân một, gạt bỏ mọi việc thừa để chỉ chuyên tâm vào canh tác. Y thưởng thức trước cái thú thấy mọi việc có quy củ, và tất cả những lò xo của bộ máy kinh tế hoạt động tích cực, cái này đẩy cái kia. Công việc sẽ tiến hành trôi chảy, và cũng như trong một cái cối xay quay đều, không biết mệt, hạt thóc biến thành bột, những cặn bã và những mảnh vụn đủ các loại sẽ biến thành tiền lời… Kôxtanjôglô, nhà kinh doanh thần tình, chốc chốc lại hiện lên trước mắt y. Đó là người đầu tiên ở nước Nga mà y kính trọng thực sự; vì xưa nay, y chỉ trọng người vì cấp bậc hay của cải, chứ chưa bao giờ trọng ai vì trí thông minh. Y hiểu rằng với một người như thế thì những mánh khóe thường dùng của y sẽ không ăn thua gì. Một dự định khác khiến y bận tâm: mua lấy trang ấp của Khlôbuiep. Y có một vạn rúp, y định thử vay thêm Kôxtanjôglô một vạn rưỡi nữa, vì Kôxtanjôglô đã tuyên bố là sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai muốn làm giàu; còn thiếu thì y sẽ liệu cách thu xếp, hoặc vay của ngân hàng Lomba, hoặc cứ bắt kẻ bán ấp phải chờ vậy. Có thể như thế được lắm: người bán cứ việc mà đi kiện, nếu hắn muốn!
Tsitsikôp suy nghĩ hồi lâu. Cuối cùng, giấc ngủ, từ bốn giờ rồi, đã ôm ấp cả nhà trong đôi cánh tay - như người Nga thường nói - cũng đến với y, và Paven Ivannôvits ngủ thiếp đi.


Chương thứ tư
Hôm sau mọi việc đều được dàn xếp hết sức ổn thỏa. Kôxtanjôglô vui lòng cho vay một vạn rúp không lấy lãi, không bắt bảo đảm gì cả, chỉ lấy một tờ biên lai mà thôi; đủ biết ông ta sốt sắng giúp cho mọi người thành trang chủ như thế nào.

Ông ra dẫn Tsitsikôp đi xem khắp cả cơ nghiệp của mình. Không một phút nào bị bỏ phí; không có một chỗ nào sơ suất; nông dân làm gì cẩu thả một chút là có lời nhận xét ngay. Có ai làm ăn nhếch nhác là Kôxtanjôglô, con người trăm mắt, nghìn tai, lập tức chấn chỉnh lại. Không nơi nào thấy có kẻ lười biếng. Vẻ đồng tình và mãn nguyện lộ rõ trên mọi khuôn mặt. Nhờ một lối tổ chức đơn giản mà hoàn thiện, mọi việc đều tự động tiến hành. Lối xen kẽ đồng lúa với rừng cây gây cho Tsitsikôp một ấn tượng rất mạnh. Bao nhiêu việc đã được con người ấy thực hiện, không ồn ào, không cần vạch những kế hoạch phức tạp, cũng không cần biện luận về những phương sách bảo đảm sự phồn vinh cho nhân loại! Ngược lại, người dân thủ đô sống một cuộc đời thật là vô ích, suốt ngày ở trong các phòng khách, tuôn ra những câu chuyện nhạt nhẽo và trượt chân trên những sàn gỗ đánh xi! Tất cả những điều đó đều củng cố cho Paven Ivannôvits cái ý muốn tậu một điền trang.

Kôxtanjôglô tự mình đưa khách đến gặp Khlôbuiep, để cùng xem xét điền trang. Sau một bữa ăn sáng thịnh soạn, cả ba người ngồi vào chiếc xe của Paven Ivannôvits, bấy giờ y đang hết sức cao hứng; chiếc xe hai bánh của chủ nhân đánh không đi theo sau. Con Yarb chạy ở phía trước đuổi chim chóc bay tán loạn. Suốt mười lăm verxta đồng lúa và rừng cây của Kôxtanjôglô kế tiếp nhau. Qua hết rồi là quang cảnh đổi khác ngay: lúa mọc thưa thớt, những gốc cây đã bị đẵn chứ không phải là rừng nữa. Tuy ở một địa thế rất đẹp, cái ấp nhỏ nhắn này không hề được chăm sóc; từ xa đã thấy rõ như vậy. Trước tiên thấy hiện ra một ngôi nhà mới làm bằng đá, không người ở; có thể thấy rõ rằng nó được xây từ mấy năm nay mà vẫn không xong. Phía sau nhà ấy là một nhà khác có người ở. Họ gặp chủ nhân, đầu rối bù, mắt húp, vừa mới ngủ dậy. Ông ta trạc tứ tuần, cà vạt thắt lệch, áo đuôi én vá một miếng, giày thủng một lỗ.

Thấy khách đến, ông ta mừng quýnh như được gặp lại anh em ruột thịt sau một thời gian dài xa cách.
- Kônxtantin Fiôđôrôvits, Platôn Mikhailôvits, quý hóa quá. Thật không ngờ! Không ngờ lại có khách đến chơi! Ai nấy đều tránh tôi như tránh tà, họ chỉ sợ tôi hỏi vay tiền. Chao ôi! Đời sống gay go thật, Kônxtantin Fiôđôrôvits ạ. Vả chăng cũng tại tôi; tôi đã sống như một con lợn. Tôi ăn mặc như thế này mà tiếp các vị, giày thủng cả ra; xin các vị thứ lỗi. Tôi biết lấy gì thết các vị bây giờ?
- Thôi đừng khách sáo nữa. Chúng tôi đến có việc. Tôi đưa đến cho ông một người mua ấp đây: ông Paven Ivannôvits Tsitsikôp, Kôxtanjôglô nói.
- Rất hân hạnh được làm quen với ngài. Xin ngài cho tôi được bắt tay.
Tsitsikôp chìa cả hai tay ra.
- Ông Paven Ivannôvits ạ, tôi cũng muốn cho ông xem một điền trang khả quan. Nhưng… xin lỗi, các vị đã điểm tâm chưa?
- Rồi, rồi; Kôxtanjôglô cắt ngang. Chúng tôi không ở lâu đâu, ta đi xem ngay đi.
- Thế thì xin mời các vị đi xem cảnh lộn xộn và bê trễ nhà tôi.
Khlôbuiep và khách cầm mũ lưỡi trai và cùng đi xem xét điền trang. Họ xem làng mạc trước: một con đường dài hai bên là những túp nhà cũ kỹ, cửa sổ nhỏ xíu, bịt bằng những miếng giẻ rách.
- Xin mời các vị đi xem cảnh lộn xộn và bê trễ nhà tôi, Khlôbuiep nhắc lại. Các vị ăn sáng trước khi đến đây là rất phải. Ông Kônxtantin Fiôđôrôvits ạ, ông thử tưởng tượng là tôi không còn lấy một con gà giò nữa: tình cảnh tôi đến thế đấy.
Ông ta thở dài, và thấy rằng Kônxtantin Fiôđôrôvits chẳng có vẻ gì là ái ngại cho mình, liền đi lên trước với Platônôp, cầm tay chàng siết vào ngực mình. Kôxtanjôglô và Tsitsikôp khoác tay nhau đi sau họ một quãng.
- Gay lắm, Platôn Mikhailôvits ạ, Khlôbuiep nói với Platônôp. Ông không thể tưởng tượng là gay go đến thế nào! Không có tiền, không có lúa, không có giày; ông chưa biết cái cảnh ấy. Giá còn trẻ trung thì tôi cũng cóc cần; nhưng khi cảnh trắc trở đến với người ta, lúc sắp bước vào tuổi già, lại phải đèo bòng một vợ với năm con, thì dù muốn dù không, cũng nảy ra những ý nghĩ bi quan…
- Nhưng nếu ông bán ấp đi thì sẽ ổn chứ? Platônôp hỏi.
- Chẳng ổn chút nào! Khlôbuiep vừa nói vừa hoa tay, hoa chân. Chỉ vừa đủ trả nợ, còn lại không được nghìn rúp.
- Thế thì ông sẽ làm ăn ra sao?
- Có trời biết được.
- Tại sao ông không trù tính cách gì để cứu vãn tình thế?
- Tôi biết làm cách gì bây giờ!
- Thì ông chỉ cần kiếm lấy một chỗ làm là xong.
- Tôi chỉ là thư ký tỉnh thôi -Chức quan văn bậc mười hai, ngang với chức trung úy bên quan võ-. Liệu họ sẽ cho tôi làm gì? Một chức vụ vô nghĩa nào đấy thôi. Liệu họ trả cho tôi được bao nhiêu lương? Năm trăm rúp!
- Ông làm quản lý vậy.
- Ai người ta giao ấo cho tôi? Ấp của tôi, tôi còn phá sạch nữa là.
- Nhưng khi người ta bị nguy cơ chết đói đe dọa, cũng phải mưu tính cái gì chứ. Tôi sẽ hỏi anh tôi xem có kiếm cho ông được công việc gì không, nhờ người nào đấy ở trên tỉnh người ta nói giúp.
- Không xong đâu, Platôn Mikhailôvits ạ, Khlôbuiep vừa nói vừa thở dài và siết chặt cánh tay Platônôp. Tôi không được tích sự gì đâu: tôi đã tàn tạ trước tuổi; đau lưng không dứt được vì hồi trẻ tôi chơi bời quá độ, vai lại tê thấp nữa. Tôi thì làm được cái gì? Tại sao phải phí tiền công quỹ để trả lương cho tôi? Bây giờ không thiếu gì những viên chức chạy theo những chức vụ béo bở. Lạy Chúa, đừng để người ta tăng thêm gánh nặng của kẻ nghèo để lấy tiền trả lương cho tôi!
“Ăn chơi phóng đãng rốt cục là thế đấy! Platônôp nghĩ thầm. Còn tệ hơn cả tình trạng dửng dưng của mình nữa!”
Trong khi họ chuyện trò như vậy, Kôxtanjôglô, đi phía sau với Tsitsikôp, mỗi lúc lại tức giận thêm.
- Ông nhìn mà xem, ông ta vừa nói vừa giơ tay chỉ mấy túp nhà lụp sụp, hắn đã làm cho nông dân cùng khổ đến thế nào! Không có xe tải, cũng không có ngựa. Ông ạ, gặp cơn dịch tễ thì đừng tiếc của cải nhà mình làm gì; thà bán hết đi mà mua bò, mua ngựa cấp cho nông dân, đừng để họ thiếu công cụ làm ăn một ngày nào cả. Ông biết không, cứ như thế này thì hàng năm cũng chưa bù đắp lại được cái hại đã gây ra. Nông dân đã quen thói biếng nhác và rượu chè. Chỉ riêng một việc là ngồi không suốt một năm cũng đủ làm cho họ vĩnh viễn hư hỏng rồi; thế là bây giờ họ đã quen thói rách rưới và lêu lỏng. Còn đất nữa! Tình trạng đất đai ra sao? Ông thử nhìn mà xem! Ông ta vừa nói vừa chỉ mấy bãi cỏ hiện ra khi họ đã đi quá dãy nhà gỗ. Thế mà mùa xuân chỗ này cũng ngập nước lũ, chứ có phải không đâu. Giá phải tay tôi thì tôi sẽ trồng gai, và chỉ mỗi chỗ gai này thôi cũng thu được năm nghìn rúp; tôi sẽ gieo cải củ, cũng thu được bốn nghìn rúp. Ông thử nhìn chỗ lúa mạch ở trên gò kia kìa; đó là lúa năm ngoái còn sót lại, vì năm nay hắn ta có gieo gì đâu, tôi biết… lại mấy cái khe kia nữa!... Phải tôi thì tôi sẽ trồng ở đây những rừng cây cao đến nỗi quạ cũng không bay lên đến ngọn được. Đất đai thế này, cả một kho vàng mà bỏ đi! Cho không có gia súc mà cày đi nữa, thì cũng phải trồng rau chứ! Tôi thì tôi làm như thế đấy. Tự tay cầm lấy cuốc, cho vợ, cho con, cho đầy tớ ra làm đi; có chết cũng chết trong khi làm, đồ súc sinh! Ít nhất cũng chết trong khi làm bổn phận, chứ không phải chết bên bàn ăn trong khi đang ngốn như con lợn!

Nói đoạn Kôxtanjôglô khạc nhổ, mặt sa sầm, nước da tái bủng ra, như thường thấy ở những người mắc chứng sung mật.

Một lát sau họ đứng ở bên trên một sườn dốc mọc chênh vênh những cây hạt đỗ -Caragana arborescens, một loại cây nhỏ có quả như hạt đỗ, rất phổ biến ở miền Đông nước Nga-; một khúc sông lấp lánh ở phía xa; một góc nhà của tướng Bêtrisep nép mình trong các lùm cây, hiện ra ở chân trời. Phía sau có thể trông thấy một ngọn đồi um tùm, vì xa nên trông như phủ một làn sương lam; nhờ chi tiết đó, Tsitsikôp nhận ngay ra điền trang của Tentietnikôp.
- Nếu trồng rừng ở đây, y nói, phong cảnh có thể còn đẹp hơn nữa…
- À! Ông thích phong cảnh lắm à! Kôxtanjôglô bỗng nghiêm sắc mặt nhìn Tsitsikôp nói. Hãy coi chừng; hễ cứ tìm cách làm cho phong cảnh đẹp, ông sẽ không có bánh ăn, mà phong cảnh cũng chẳng còn nữa. Hãy chú trọng đến lợi ích đã, cái đẹp tự khắc sẽ có. Cứ xem các thành phố thì biết! Xưa nay những thành phố đẹp nhất vẫn là những thành phố tự nó mọc lên; trong đó mỗi người đều xây dựng cho nhu cầu và sở thích của mình; còn những thành phố dựng theo đồ án thì cứ như những trại lính… Gác cái đẹp sang một bên! Cái cần trước đã…
- Thật đáng tiếc là phải đợi lâu quá: tôi chỉ muốn được trông thấy ngay mọi vật được như mình mong ước!
- Dễ ông là một thanh niên hai mươi lăm tuổi chắc?... Một anh công chức ở Pêterbua?... Hãy kiên nhẫn! Làm việc sáu năm liền đi: trồng, gieo, cuốc đất không ngừng tay. Vất vả đấy. Nhưng một khi đã có đà và đất đai đã bắt đầu tự nó giúp đỡ ông, thì ông sẽ thấy nó không phải như một cái máy vớ vẩn nào đâu. Không đâu, ông bạn ạ; ngoài bảy mươi cánh tay vô hình làm việc cho ông. Mọi thứ đều sẽ tăng lên gấp mười! Trong ấp tôi, có còn phải can thiệp vào cái gì nữa đâu; bây giờ mọi sự đều tự tiến hành theo cái đà sẵn có. Phải thiên nhiên vốn ưa tính kiên nhẫn; đó là một quy luật mà chính Thượng đế đã bắt nó theo. Thượng đế vốn ưu đãi những người kiên nhẫn.
- Nghe ông nói, người ta thấy mình cường tráng hẳn lên. Trí tuệ được nâng cao lên.
- Đất đai cày bừa thế này có chết không! Kôxtanjôglô chỉ sườn đồi và kêu lên như thế, giọng chua chát. Tôi không đứng đây nữa đâu; trông thấy cảnh hỗn độn và bỏ hoang thế này tôi đến chết mất. Bây giờ ông kết thúc cuộc điều đình với hắn, không cần tôi nữa. Ông nên mau mau thu lấy cái kho tàng của lão ngốc ấy đi, đừng để hắn làm ô uế các của trời cho nữa!
Kôxtanjôglô sa sầm mặt lại, vẻ bứt rứt như những người có chứng sung mật; ông ta từ giã Tsitsikôp và đến chào chủ nhân để về.
- Sao thế, ông Kônxtantin Fiôđôrôvits? Khlôbuiep ngạc nhiên kêu lên. Vừa mới đến ông đã về ngay rồi ư?
- Tôi không có thì giờ. Ở nhà tôi có việc cần, phải về ngay, Kôxtanjôglô nói.
Ông ta chào mọi người, lên chiếc xe nhà ra về. Khlôbuiep, hình như hiểu tại sao khách vội về như vậy.
- Ông Kônxtantin Fiôđôrôvits không đành tâm đứng nhìn cái cảnh này; ông ta nói; đối với một nhà doanh nghiệp như ông ta, mà phải chứng kiến một cảnh bê trễ như thế này, thật chẳng vui tí nào. Ông Paven Ivannôvits ạ, ông thử tưởng tượng là năm nay tôi không gieo hạt nữa, có chết không. Thật tình như thế đấy! Không có hạt mà gieo, lại không có ngựa mà cày nữa. Platôn Mikhailôvits, nghe nói ông anh nhà làm điền sản sinh lợi rất tài tình; còn như Kônxtantin Fiôđôrôvits thì thật là một Napôlêông trong lĩnh vực mình. Tôi thường tự nhủ: “Làm sao một người mà lại có tới ngần ấy trí tuệ? Giá một thằng ngốc như tôi được một mảnh nhỏ cái trí tuệ ấy!...” Thưa các vị, đi qua cái cầu này, xin cẩn thận kẻo nhào xuống ao đấy ạ; mùa xuân vừa rồi tôi đã cho chữa ván cầu rồi, chứ có phải không đâu… Nông dân của tôi thật tội nghiệp; cần phải có người làm gương cho họ noi theo; nhưng tôi thì làm gương gì? Tôi không thể đòi hỏi họ nhiều được. Ông Paven Ivannôvits ạ, ông hãy nắm lấy họ. Tôi làm thế nào mà dạy họ làm ăn ngăn nắp được, trong khi chính tôi chẳng có ngăn nắp gì cả? Tôi đã muốn giải phóng họ từ lâu, nhưng như vậy cũng chẳng ăn thua gì. Trước hết họ cần phải học cách sống đã. Phải có một người nghiêm nghị và công minh ở với họ lâu lâu và tỏ ra có sức hoạt động không biết mệt mỏi… Tôi cứ suy từ bản thân tôi thì biết, người Nga cần phải được kích thích, nếu không họ sẽ han gỉ và ngủ đi mất.
- Lạ thật, Platônôp nói, không hiểu tại sao người Nga lại có thể suy đốn đến nỗi hễ một kẻ tiện dân mà không có ai giám sát là thành một thằng say rượu, một đứa vô lại?
- Tại thiếu học thức. Tsitsikôp nhận xét.
- Có trời biết được, Khlôbuiep nói. Chúng ta đều là người có học; chúng ta đã theo các lớp ở trường đại học; thế nhưng phỏng chúng ta làm được gì nào? Tôi đã học được những gì? Chắc chắn không phải là nghệ thuật sống ở đời, mà là nghệ thuật tiêu tiền để mua đủ những thứ vui tinh vi; tôi đã quen nhiều món rất tốn tiền. Có phải vì tôi đã học hành chẳng ra gì không? Không, vì có nhiều bạn khác cùng một cảnh như tôi. Có vài ba người thu được lợi ích thực sự, có lẽ vì họ vốn sẵn thông minh; những người khác chỉ cố học lấy những cái làm cho sức khỏe hư hỏng và tiền của hao mòn.
- Vâng, Tsitsikôp vừa mỉm cười vừa nói: quả có thế thật.
- Đôi khi tôi có cảm tưởng rằng con người Nga đã hư hỏng không có cách gì cứu vãn được nữa. Cái gì nó cũng làm, mà không đạt kết quả nào cả. Lúc nào nó cũng nghĩ rằng từ ngày mai trở đi bắt đầu một cuộc sống mới, chịu ăn uống kham khổ; nhưng ngay tối hôm đó, nó chén một bữa bất thùng chi thình, không cựa được nữa, đến nỗi chỉ còn chớp chớp được đôi mắt, lưỡi dính bết lại; và ngồi ỳ ra đấy nhìn thiên hạ, như con cú.
- Đúng đấy, Tsitsikôp mỉm cười nói; cũng có khi như thế.
- Ta về lối này đi, Khlôbuiep nói. Ta sẽ xem qua đất đai của nông dân nhà tôi. Ông thấy không, trí khôn chẳng đến phần chúng ta. Tôi e rằng trong chúng ta chẳng có ai có trí khôn cả. Dù tôi có thấy người nào sống có nền nếp, biết dành dụm tiền của, tôi vẫn không tin hắn; đến khi già, ma quỷ cũng sẽ làm cho hắn đổ đốn và hắn sẽ buông xuôi hết một lượt. Dù văn minh hay không, chúng ta đều giống nhau cả; tôi dám cam đoan như thế! Chúng ta thiếu một cái gì đấy; nhưng thiếu cái gì thì tôi không biết thế nào mà nói.

Trên đường về, quang cảnh vẫn như thế. Đâu đâu cũng một cảnh lộn xộn, bẩn thỉu, gai mắt. Lại thêm một vũng nước to tướng đọng ngay giữa đường làng. Người ta nhận thấy nông dân cũng có cái vẻ sa đọa, cẩu thả như chủ họ. Một mụ đàn bà mặc chiếc áo vải thô rách rưới và cáu bẩn, đang ra sức nện một con bé khốn khổ, vừa nện vừa chửi bới om sòm. Cách đấy một quãng, hai người nông dân thản nhiên đứng ngắm mụ say rượu đang lồng lộn. Một trong hai người gãi gãi ở chỗ phía dưới lưng; người kia ngáp dài. Nhà cửa đều hở hoác ra như ngáp, mái nhà cũng thế. Trông thấy cảnh ấy, Platônôp cũng ngáp dài. Tsitsikôp thì tự nhủ: “Điền trang tương lai của mình đây, be bét những lỗ thủng, chằng chịt những mảnh vá”. Thật vậy, một chiếc izba lấy một cánh cổng che thay mái; những cây gỗ lấy trộm trong kho nhà chủ dùng để chống đỡ mấy khung cửa sổ sắp sụp. Có thể thấy rõ là những người mujik áp dụng cái mẹo chiếc áo caftan của Triska -Một bài thơ ngụ ngôn của Krưlôp chế giễu bọn địa chủ giật gấu vá vai, mong cầm cố gia sản để giải quyết công việc làm ăn-; họ cắt vạt áo với cổ áo để vá khuỷu tay.
- Điền trang của ông tàn tạ lắm, Tsitsikôp nói, khi họ đã đi xem xong, sắp về đến nhà.

Họ bước vào. Trong các phòng, vẻ sang trọng lẫn với vẻ xơ xác nom rất chướng mắt. Một cuốn Sêxpia gác trên một cái giá bút; trên bàn vứt một cái nắm tay bằng ngà dùng để tự gãi lưng. Bà chủ nhà ăn mặc rất nhã và hợp thời trang, nói chuyện thành phố và nhà hát mới xây dựng. Mấy đứa con, trai có, gái có, đều tinh nhanh và vui vẻ; chúng ăn mặc khá tươm tất, lại có cả một bà gia sư nữa. Nhưng như thế trông lại càng não lòng hơn. Thà chúng nó mặc váy bằng vải tréo go, mặc sơ mi rộng chạy chơi quanh nhà, chẳng có gì khác con cái nông dân mà còn hơn. Một lát sau có một bà khách lắm mồm đến thăm, bà chủ liền đưa về phòng riêng; lũ trẻ theo vào; ba người đàn ông ngồi lại với nhau.
- Thế ông định giá bao nhiêu? Tsitsikôp hỏi. Thú thật là tôi mong một giá rất rẻ, giá hạ nhất, vì tình trạng của ấp này còn tệ hơn tôi tưởng.
- Một tình trạng thảm hại, ông Paven Ivannôvits ạ, Khlôbuiep nói. Và không phải chỉ có thế đâu. Tôi chẳng giấu gì ông: trong số một trăm nông phu có tên trong sổ đinh, chỉ năm chục là sống; còn thì đã chết dịch tả và không chết thì cũng đã chuồn mất không giấy thông hành, thành thử cũng phải xem như đã chết; nếu đưa ra tòa thì đến phải cúng hết cả gia tài vào đấy. Cho nên tôi chỉ xin ba mươi lăm nghìn rúp.
Dĩ nhiên là Tsitsikôp muốn mặc cả.
- Lạy Chúa! Cái ấp thế này mà ông đòi những ba mươi lăm nghìn rúp! Hai mươi lăm nghìn thôi.
Platônôp thấy ngượng. Chàng nói:
- Mua đi, Paven Ivannôvits ạ; ấp này cũng đáng ngần ấy đấy. Nếu ông không trả được ba mươi lăm nghìn rúp, thì hai anh em tôi sẽ chung tiền nhau mua vậy.
Tsitsikôp đâm lo, vội nói: - Thôi được, tôi bằng lòng mua giá ấy. Thế là thỏa thuận; nhưng với điều kiện là trả một nửa tiền và một nửa thì sang năm.
- Không được, Paven Ivannôvits ạ, hoàn toàn không thể được. Ông trả cho tôi một nửa ngay bây giờ, rồi mười lăm ngày nữa ông trả nốt số còn lại. Vì giá có đem cầm, Ngân hàng Lomba cũng trả tôi ngần ấy; chỉ hiềm là tôi không có gì cho bọn đỉa đói nhân viên của nó ních đấy thôi.
- Làm thế nào bây giờ? Thật đấy. Tôi cũng chẳng biết nữa. Tsitsikôp nói. Tôi chỉ có cả thảy mười nghìn rúp thôi.
Hắn nói dối. Kể cả số tiền vay của Kôxtanjôglô, hắn có đến hai mươi nghìn; nhưng phải trả trong một lúc một số tiền to như vậy, hắn xót quá.
- Không được, tôi xin ông đấy, Paven Ivannôvits ạ! Xin cam đoan với ông là tôi đang cần mười lăm nghìn rúp.
- Tôi sẽ cho ông vay năm nghìn, Platônôp nói xen vào.
- Thế thì được! Tsitsikôp vừa nói vừa nghĩ bụng: “Ái chà, hắn cho vay bây giờ thật đúng lúc quá!”
Tráp bạc được bưng từ xe vào. Paven Ivannôvits lấy ra mười nghìn rúp cho Khlôbuiep, hứa đến mai sẽ đưa thêm năm nghìn nữa. Nhưng mà hứa là hứa vậy, ý định của Tsitsikôp là sẽ đưa thêm ba nghìn rúp, còn lại sẽ đưa trong hai, hay ba ngày sau, và nếu có thể thì khất nữa. Paven Ivannôvits thấy khó chịu đặc biệt khi phải buông tiền ra. Khi một việc tối cần thiết buộc y phải làm như vậy, thì y vẫn thích khất lại ngày hôm sau hơn là trả ngay hôm nay. Chúng ta cũng đều hành động như thế cả thôi. Chúng ta vốn thích chơi khăm người đến xin xỏ: cứ cho hắn ngồi rục xác ngoài phòng đợi! Ta cần gì biết mỗi một giờ đồng hồ đối với hắn quý như thế nào và công việc của hắn bị thiệt vì phải đợi như vậy! Ngày mai ông bạn hẵng ghé lại nhé; hôm nay tôi không có thì giờ!
- Ông sẽ dọn đi ở đâu? Platônôp hỏi Khlôbuiep. Ông còn có ấp nào khác không?
- Sẽ phải dọn lên tỉnh: tôi có một ngôi nhà nhỏ trên ấy. Dù sao việc đó cũng rất cần cho lũ trẻ, chúng nó phải có thầy dạy nhạc, dạy khiêu vũ, dạy thánh sử mà ở thôn quê thì thuê đắt mấy cũng không có.
“Ăn cũng không có mà ăn, thế mà còn cho con học khiêu vũ”, Tsitsikôp nghĩ thầm.
“Lạ thật!”, Platônôp tự nhủ.
- Trong khi chờ đợi, ta phải uống cốc rượu, mừng việc mua bán này chứ; Khlôbuiep nói. Này, Kiriuska, đem ra đây một chai sâm banh, cậu ơi!
- “Hắn không có bánh ăn, mà lại có sâm banh!”, Tsitsikôp nghĩ thầm.
Platônôp không còn biết nghĩ ra sao nữa.
Khlôbuiep có sâm banh trong nhà, chẳng qua là sự bất đắc dĩ. Ông ta cho người ra tỉnh mua kvax, nhưng chủ hiệu không bán chịu. Thế nhưng đằng nào cũng phải có gì mà uống, thì lại có một người Pháp làm đại lý rượu vang, mới ở Pêterbua đến, bán chịu cho mọi người; nên đành phải mua sâm banh vậy.
Sâm banh đã mang ra, họ uống ba cốc; không khí vui hẳn lên. Khlôbuiep quên hết lo âu: ông ta trở thành một người nhã nhặn và hóm hỉnh, luôn mồm nói những câu dí dỏm và kể những chuyện khôi hài. Lời lẽ của ông ta tỏ rõ một sự hiểu biết rất rộng về con người và cuộc đời. Ông ta quan sát được khá nhiều sự vật một cách chính xác; biết vẽ lại trong vài câu những đặc điểm của các trang chủ quanh vùng một cách sắc nét; vạch ra những nhược điểm và sai lầm của từng người một cách rõ ràng, biết tường tận lịch sử của những người quý tộc phá sản, những nguyên nhân và hoàn cảnh phá sản của họ; biết miêu tả những thói quen nhỏ nhặt nhất của họ một cách hài hước, độc đáo đến nỗi người khác thích mê, sẵn sàng thừa nhận ông ta là một người thông minh lỗi lạc.
- Tôi lấy làm lạ, Tsitsikôp nói, rằng một người thông minh như ông mà không tìm được cách cứu vãn tình thế.
- Tôi có cách đấy chứ, Khlôbuiep nói. Đoạn ông ta trình bày cho họ nghe một mớ dự định, toàn là những dự định vô lý, quái gở, ít căn cứ vào việc biết người và hiểu đời đến nỗi người ta chỉ có thể so vai mà rằng: “Trời! Từ chỗ hiểu đời đến chỗ biết sử dụng vốn hiểu biết đó, thật còn xa lắc, xa lơ!” - Mọi sự đều dựa vào một điều kiện cần thiết là phải kiếm ra ngay lập tức mười vạn hay hai mươi vạn rúp. Ông ta cho rằng hễ kiếm được là công việc sẽ ổn ngay; những lỗ hổng sẽ được lấp kín; ông ta có thể tăng thu hoạch lên gấp bốn và trả hết nợ nần. Và ông ta kết luận: - Nhưng các ông bảo tôi làm thế nào? Làm gì có một ân nhân sẵn lòng cho vay hai mươi vạn rúp, hay mười vạn thôi cũng thế. Có thể thấy rõ ràng đó không phải là ý Chúa.
“Chúa mà cho một thằng ngu như thế hai mươi vạn rúp thì thật là chuyện lạ!”, Tsitsikôp nghĩ thầm.
- Quả tình, tôi có một bà dì, giàu ba triệu; Khlôbuiep nói. Bà lão ngoan đạo vẫn thường cúng cho nhà thờ và các tu viện; nhưng lại rất keo kiệt khi cần giúp đỡ đồng loại. Một bà dì kiểu cổ; được trông thấy bà ta kể cũng hay. Bà ta nuôi bốn trăm con chim bạch yến, những chó cộc, những người ăn báo cô và một lũ đầy tớ quả là chẳng đâu có trong thời buổi này nữa. Tên gia nhân ít tuổi nhất cũng xấp xỉ sáu mươi, thế mà dì tôi vẫn gọi: “- Này, thằng nhỏ!”. Có người khách nào mà thiếu lịch sự, là bà ta ra lệnh đừng dọn cho ăn món này, món nọ; và lệnh đó được thi hành ngay.
Platônôp mỉm cười.
- Bà ta tên là gì và ở đâu, Tsitsikôp hỏi.
- Bà ta ở trên tỉnh, tên bà Alexanđra Ivanôpna Khanaxarôva.
- Sao ông không đến nhờ bà ta giúp đỡ? Platônôp hỏi. Tôi chắc là nếu bà ta biết tình cảnh gia đình ông thì bà ta sẽ không thể từ chối được.
- Từ chối chứ! Bà dì yêu quý của tôi nhẫn tâm lắm; thật là một quả tim sắt đá, Platôn Mikhailôvits ạ. Hơn nữa, bà ta đã nhiều kẻ theo nịnh hót lắm rồi. Trong đó có một tay muốn làm tỉnh trưởng, hắn đã tìm cách xông vào nhận họ với bà ta… Cầu Chúa phù hộ cho hắn! May ra hắn thành công cũng không biết chừng.
“Thằng cha ngu thật! Tsitsikôp nghĩ thầm. Mình mà có một bà dì như thế thì mình sẽ chăm như vú em chăm con mọn ấy chứ!”.
- Câu chuyện khô khan quá! Khlôbuiep nói. Này, Kiriuska! Đưa chai sâm banh nữa ra đây nào.
- Không, không, tôi không uống nữa đâu; Platônôp nói.
- Tôi cũng thế, Tsitsikôp nói; và cả hai đều cương quyết từ chối.
- Ít nhất các ông cũng phải hứa là sẽ lên chơi nhà tôi trên tỉnh. Mồng tám tháng bảy, tôi sẽ thết tiệc các quan chức.
- Lạy Chúa! Platônôp kêu lên. Cảnh ngộ như ông mà lại còn thết tiệc!
- Biết làm thế nào được? Đó là một bổn phận không thể tránh được, Khlôbuiep nói. Tôi phải đáp lễ họ chứ.
Platônôp trợn tròn xoe mắt. Chàng không biết rằng ở nước Nga này, ở tỉnh nhỏ cũng như ở hai kinh đô, có những bậc hiền triết mà cuộc đời là một bài tính không ai tài nào giải nổi. Có kẻ tưởng chừng như đã ăn hết của cải, nợ nần lút đầu lút cổ và trước mắt chẳng còn phương sách gì nữa; ấy thế mà vẫn mở tiệc. Tất cả các khách đến dự đều nói rằng đây là bữa tiệc cuối cùng của hắn, và ngày mai người ta sẽ lôi cổ chủ tiệc vào tù. Mười năm sau, bậc hiền triết vẫn đấy, nợ nần nhiều hơn bao giờ hết, và lại mở tiệc: và khách lại bảo đấy là bữa tiệc cuối cùng, ngày mai chủ nhân sẽ vào tù.


 (còn tiếp)


Nguồn: Những linh hồn chết. Tiểu thuyết của Nicolas Vassilievitch Gogol. Hoàng Thiếu Sơn dịch. NXB Văn học in lần đầu 1965, lần 2 năm 1993. Bản điện tử do Soccon nhập liệu/ Chân trời tím.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ông cố vấn - Hữu Mai 16.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 10.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »