tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27828047
Tiểu thuyết
18.09.2013
Nhất Linh
Đôi bạn

Nhặt lá bàng (thay mấy lời nói đầu)


Cơn gió thổi... lá vàng rơi lác đác,


Càng rơi theo loạt nước đọng trên cành,


Những cây khô đã chết cả màu xanh,


Trong giây phút lạnh lùng,  tê tái ấy. 


THẾ LỮ


“Ở đời tôi có hai người bạn thân nhất, mà đành phải lần lượt, hết xa người nọ đến người kia: xa anh là một và xa...  Tôi không nói tên nhưng tôi chắc anh đã đoán được người ấy là ai rồi. Lạ thật, tôi đã ngỏ chuyện riêng của tôi với các bạn khác, nhưng còn anh, anh cùng sống với tôi bao nhiêu năm trời thì tôi không dám. Đối với người bạn thân nhất, tôi lại ngượng nhất khi nói đến chuyện một người bạn thân nhất khác. 


“Anh còn nhớ không? Đêm sáng trăng mơ, chúng mình đi chơi trên con đường Ngọc- Hà, tôi đã định nói với anh rồi lại thôi.  Bao giờ cũng thế, nhưng mình không thể nói câu chuyện tâm sự gì hơi cảm động với nhau được ba phút.  Anh thì lúc nào cũng nói đùa được, còn tôi cứ hay cự anh về cái tính đó, thànhh thử chúng mình chỉ đâm ra cãi nhau. 


“Lần nầy tôi viết thư, chắc là anh phải xem, dẫu anh muốn nói đùa cũng không biết nói với ai nữa. 


“Chưa nói, nhưng tôi chắc anh đã rõ chuyện tôi với Loan rồi, biết và hiểu hơn là tôi với Loan.  Anh biết đã lâu và chắc anh vẫn thương chúng tôi lắm. 


“Đến bây giờ tôi mới dám ngỏ cho anh biết vì từ nay không bao giờ tôi và Loan còn gặp anh, đến thư, tôi cũng không thể viết cho ai được nữa.  Còn anh, anh viết văn quen, nếu anh có nhớ đến tôi, không gì hơn là anh thử cố viết để kể đời tôi ra.  Những nỗi đau khổ, băn khoăn của tôi hẳn là nỗi băn khoăn của anh, của các bạn chúng ta. Đời bọn ta, một bọn sống ở trong một xã hội đương thay đổi có những nỗi khổ chung, mà oái ăm thật, những nỡi đau khổ lại là những nỗi vui độc nhất của chúng ta bấy lâu. Anh xem, tôi viết câu nầy bí hiểm không kém gì anh:


“Xa anh, nếu tôi còn sống, được đọc văn anh...”. 


Đêm hôm nay, tôi đem bức thu của Dũng viết hai năm trước ra đọc lại, không biết là mấy lần.  Hai năm trời, sau khi từ biệt Dũng, tôi đã viết được vài cuốn sách, nhưng tôi không dám nghĩ đến việc viết chuyện riêng của Dũng và Loan, hai người bạn thân nhất của tôi. 


 


Tôi biết là cần viết, muốn viết lắm, nhưng không sao có đủ can đãm để bắt đầu, mà bao giờ cũng vậy, chỉ có lúc bắt đầu là khó thôi,


“Để lúc khác, có vội gì đâu. 


Đó là một cớ tôi đem ra để tha thứ cho mình.  Thành ra tôi cứ đợi, hết năm ấy sang năm khác. 


Giá tôi có thể bắt đầu được, viết ngay xong câu chuyện đó, có lẽ tôi sẽ nhẹ nhàng sung sướng lắm.  Không viết nhưng bao lâu nào có quên được:cả một thế giới rạo rực ở trong hồn tôi. 


Trong bức thư, Dũng kể cho tôi nghe hết cả những nỗi khổ của anh và cuộc tình duyên đau đớn của anh với Loan.  Anh không kể tôi đã biết rõ rồi. 


Mấy ngày sau khi nhận được bức thư, tôi đương ngồi nói chuyện với vợ chồng anh M...  và Loan thì đột nhiên anh vào chơi.  Anh làm như nhân dịp đi qua ghé vào hỏi thăm anh M... Nhưng tôi, đã thừa hiểu rằng anh biết có Loan ở trong đó và đến từ biệt Loan lần cuối cùng.  Tôi đưa mắt nhìn Loan thấy Loan vẫn không đổi sắc mặt, điềm nhiên Loan lấy ngón tay và một mẫu giấy con bỏ rơi xuống bàn, rồi lại nhặt lên bỏ xuống?Anh Dũng hỏi thăm vợ chồng anh M... mấy câu rồi đứng dậy xin đi ngay, hình như vội vàng lắm.  Anh tỏ ý khó chịu, nhưng dáng cương quyết.  Loan ngửng lên chào Dũng, vẻ mặt thờ ơ, xa xăm, rồi cuối xuống ngay, rồi lại bắt đầu nhặt viên giấy lên vê.  Một lúc sau, trong khi ở ngoài có tiếng khóa cửa thì tôi thấy Loan bỏ viên giấy xuống bàn và lấy đầu ngón tay ấn thật mạnh cho đầu giấy bẹp hẳn lại.  Rồi Loan ngửng lên vô cớ mỉm  cười...


Đọc bức thư, cái cảnh hôm ấy, hiện ra rõ rệt trước mắt tôi. Đêm ấy trời cũng lạnh như đêm nay, cũng về cuối thu.  Tôi còn nghe thấy cả tiếng một chiếc lá bàng khô rơi, chạm vào tường rồi mới rớt xuống sân. 


Từ bấy đến nay, tôi không gặp anh, không được tin gì về anh cả.  Tôi chắc Loan cũng vậy.  Nhưng tôi có cái cảm tưởng rằng anh hãy còn sống.  Tôi mong thế để viết truyện về anh đuợc dễ dàng hơn. 


Chiều hôm qua, tôi nhận được của một bạn đọc, một bức thư giấy màu xanh, đề:Sàigòn, ngày mồng 7 tháng 3 năm 193..., dưới ký tên:một người xa xăm, ở trọ nhà ông Trương Viễn, 188 đường Albert 1er, Đakao. 


Chữ viết không phải chữ của Dũng, nhưng cái tên ký “người xa xăm” làm tôi nghĩ đến anh và như một lời xa xăm thúc dục tôi viết. 


Chuông đồng hồ điểm một giờ.  Trời lạnh lắm.  Tôi mặc áo vội vàng, quyết tâm lại buồng giấy bắt đầu viết. Đêm nay không bắt đầu được thì không bao giờ viết được nữa. 


Trời lạnh, tôi đi bộ cho ấm, đi thật mau, vện mạnh gót giầy và cúi nhìn đường, nghĩ trước đến cuốn truyện sắp bắt đầu viết.  Một con chuột chạy ngang qua đường rồi lại vụt biến vào trong bóng tối.  Biết bao nhiêu người bạn của Dũng tôi đã được gặp, gặp chỉ trong chốc lát rồi cũng lại vụt biến đi không để lại một vết tích gì.  Cứ một quãng tôi lại thấy hiện ra những con chuột khác, đương kiếm mồi:có người đi tới, chúng chạy tán loạn, rồi tìm các lỗ cống chui xuống lánh thân.  Nhờ có anh đèn, tôi thấy lông chúng ướt át, ướt những nước cống nước rãnh và tôi đoán thấy trên thân hình chúng sự bẩn thỉu, hôi hám của những nơi tối tăm mà chúng phải sống đày đọa.  Anh Dũng đã có lần nói với tôi:


- Tôi sinh ra đã phải chịu một sự bất công là sống trong một cảnh giàu sang không đích đáng, tôi không có quyền hưởng, tôi không muốn hưởng.  Tôi đau khổ.  Vậy nếu sống an nhàn sang trọng mà đau khổ ngấm ngầm mãi thì thà cực khổ tấm thân mà có được sự vui vẻ trong lòng. 


Tôi, tôi cho là anh đã tưởng lầm.  Những cái vui khổ của anh không ở cảnh đời anh:sống sang trọng trong một tòa nhà lộng lẫy, hay sống nay đây mai đó trong cảnh nghèo nàn như hiện giờ, lúc nào anh cũng vẫn là anh, anh cũng vẫn có chừng ấy cái vui, cái khổ. 


Anh phải sống vượt ra ngoài xã hội bình thường, vượt ra ngoài hoàn cảnh gia đình của anh, đó là một sự không thể tránh được mà không thể tùy ý anh muốn. 


Cái vui khổ của đời anh chỉ là cái vui khổ của một người hay nghĩ ngợi, không lúc nào mãn nguyện, nên phải mãi mãi đi tìm một sự bình tĩnh cho tâm hồn, một sự bình tĩnh có mà lại không, gặp được nhưng lại mất ngay vì xã hội của anh sống là một xã hội đương thay đổi. 


Dầu anh sống theo cảnh đời nào mặc dầu lòng tôi yêu anh, thương anh không vì thế mà khác.  Lắm lúc tôi muốn tìm cách khuyên anh về với gia đình, với cảnh đời cũ, nhưng đã chậm quá rồi.  Không thể được mà có lẽ vô ích nữa.  Không thể thay đổi được hồn anh, trí anh, thì cảnh đời anh sống có quan hệ gì.  Thà cứ để anh trong cảnh đời ấy, để anh đi tìm kiếm mãi, sự tìm kiếm không bao giờ ngưng ấy có lẽ là sự an ủi độc nhất của anh.  Vả lại, nếu anh có được điều anh muốn, anh có được sự yên ổn hoàn toàn, anh có được Loan thì câu chuyện anh bảo tôi viết, tôi đã không cần viết nữa. 


Những ý nghĩ ấy làm tôi quên bẵng đường dài, tôi đến của buồng viết lúc nào không biết. 


Buồng làm việc của tôi đêm nay có phần sáng hơn mọi khi.  Gió rét đã làm rụng bớt lá ở những cành bàng vẫn che khuất ánh đèn điện ngoaì phố chiếu vào.  Trong cái khung sáng của cửa sổ chấn song in lên tường, bóng một chiếc lá vừa rụng. 


Tôi bật đèn điện.  Lúc ngồi vào bàn, giở sách và cầm đến bút, tôi thấy một sự yên lặng như tràn vào óc tôi, hai trang giấy đối với tôi lúc đó sao trắng thế, trắng một cách ngao ngán. Để qua khỏi cái phút trống rỗng không tránh được lúc bắt đầu viết, theo thói quen tôi viết liều một câu, bất cứ câu gì vụt hiện ra trong trí:


- Trời muốn trở rét...


Rồi tôi ngồi yên lặng tự bắt buộc phải nhớ lại, gần như sống hẳn lại, cái thời kỳ còn gần gụi hai người, cái thời quá vãng nặng nề mà tôi muốn quên hẳn đi.  Gió lọt vào phòng:tôi lật cổ áo cho khỏi lạnh.  Nhìn đồng hồ lúc đó kim chỉ đúng ba giờ.  Trời đã rét, tôi lại ngồi nhà để đón một cơn gió lạnh ở xa hiu hắt thổi lại, một cơn gió rất nhẹ, như dần dần làm tôi giá buốt cả tâm can...


Bao nhiêu nỗi băn khoăn mà anh Dũng đã phải chịu bấy lâu, tât cả những nổi đau khổ của một đời anh như thấm lọt vào hồn tôi. 


Tôi chán lần tự hỏi:


- Nhắc lại như thế làm gì?


Nghĩ vậy, nhưng tôi vẫn cố lắng đợi những cơn rung động mà gió lạnh thời gian đem tới và nay tôi vẫn không rời bóng ngòi bút chạy trên tờ giấy trắng...


Ở ngoài có lẽ gió thổi mạnh hơn vì tôi nghe tiếng lá bàng rụng trên đưòng mau hơn. 


- Gió lên...  gió nữa lên. 


Tiếng nói của một đứa bé và tiếng cười và tiếng cười giòn tiếp theo luôn làm tôi ngạc nhiên.  Tôi viết nốt một đoạn rồi chạy ra cửa sổ nhìn xuống, nhưng không nom rõ, chỉ thấy bóng chấn song và bóng người tôi in trên đường nhựa. 


Tôi vội tắt đèn trong phòng đi. 


Trên đường khô ráo tôi ngạc nhiên không thấy một chiếc lá rụng nào.  Tôi vẫn biết có những người đi nhặt lá khô đem về bán lấy tiền:họ chờ đợi rồi hôm nào lá đã chín, lại có gió to, họ đem rổ, đem thúng, lũ bảy lũ ba chia nhau các phố tới tấp quét lượm.  Ban ngày tôi đã nhiều lần ngắm cảnh tượng đó.  Nhưng tôi không ngờ đâu, đêm khuya lạnh, họ ngồi ở ngoài gió để chờ nhặt từng cái lá một.  Tôi cũng đứng yên lặng ở cửa sổ đợi cơn gió đến. 


Lại có tiếng lúc nãy nói:


- Ngồi sau gốc cây nầy khuất gió đỡ lạnh. 


Một tiếng khác trả lời:


- Lạnh chả làm gió, làm gì có gió lúc nầy. 


- Khi nào có gió thì lạnh ghê. 


- Chuyện!Không có gió thì lá đã không rụng...


Yên lặng một lúc lâu, rồi có tiếng tức bực.  


- Mãi không có gió. 


Ở phía sau một gốc bàng, một cái bóng chạy.  Tôi nhìn kỹ mới biết đó là một đứa bé, vào trạc mười tuổi, đầu nó chích một cái khăn đỏ phủ kín hai bên má: áo nó rách để hở cả hai vai.  Một ít lá rụng ở cuối phố. Đứa bé chạy vội lại.  Một con bé, ở sau gốc bàng khác cũng chạy, rồi hai chị em -  tôi đoán là hai chị em -  chạy lăng quăng đuổi những lá bàng mà gió thổi lăn trên đường. 


Một cơn gió mạnh nổi lên.  Lá rụng ồn ào, một lát đã đầy đường:


- Mau lên chị ơi... Nhặt cả hai tay chị ạ. 


- Tao bảo mầy đem chổi đi, mầy lại bỏ quên, thằng nỡm.  Tao đã biết trước là đêm nay có gió to. Mầy chẳng nghe tao bao giờ, thằng nỡm. 


Tôi mỉm  cười vì sao chị lại không mang chổi đi.  Tôi mỉm  cười vì thấy con bé mắng một cách thông thạo lắm : lúc mắng nó lại tỏ ra vẻ người lớn đã biết mắng em, dạy em rồi. 


Đứa bé không để ý đến tới chị nó, vừa nhặt vừa reo:


- Gió lên... lại Trời gió lên nữa. 


Chúng vẫn nhặt không ngừng tay, lá vẫn rụng không ngớt;nhiều khi vì màu áo lẫn với màu đường, tôi không nom rõ người, chỉ thấy cái bóng đen lăng quăng.  Chúng chạy vụt ra xa rồi, lại quay vòng trở lại, có khi đương chạy về một phía bỗng nhiên đứng dừng:một đám lá rơi lỏa toả trên người chúng, khiến chúng ngập ngừng bối rối không biết quay nhặt phía nào. 


- Lạnh quá!


- Chạy mau lên cho ấm... thằng nỡm. 


Thấy chị mắng em luôn mồm là thằng nỡm.  Tôi mỉm  cười đoán có lẽ đứa bé tên là thằng Nỡm chăng. Tôi tự nhiên cũng thấy vui với chúng, mặc dầu trời rét, tôi cũng như chúng mong mỏi gió thổi thật mạnh. Mỗi lần cơn gió tới làm rụng lá, là một lần tôi hồi hộp và sung sướng một cách thành thực. 


Nhưng chỉ gió được có một lúc rồi lạnh hẳn. Thỉnh thoảng còn thưa thớt một hai chiếc lá rơi. Lá trên đường chúng nhặt đã hết. 


- Em được tám bó.


- Tao được năm bó. Tại mầy tranh hết của tao, thằng ranh con. 


Tôi lại mỉm  cười vui vẻ vì thằng nỡm lại đặt ra thằng ranh con. 


Rồi chúng lại về ngồi chỗ cũ, mỗi đứa một gốc bàng, cho “khuất gió”, khuất những cơn gió làm chúng rét run mà chúng vẫn mong nổi lên. 


Tôi quay trở vào, bật đèn rồi lại ngồi vào bàn giấy viết tiếp, trong lòng tự nhiên thấy đỡ chán nản. Ở ngoài, thỉnh thoảng lại có tiếng đứa bé:


- Gió lên... lạy Trời gió lên. 


Trời sáng rõ lúc nào tôi không để ý. Ánh nắng lấp lánh trên những lá bàng bóng như sơn son.  Tôi nhìn xuống đường.  Hai đứa bé còn đứng đó, đương buộc mấy gánh lá bàng nhặt được đêm qua.  Chúng vui vẻ, nhưng tôi không thể dựa theo nét mặt chúng mà đoán được chừng ấy lá là nhiều hay ít. 


Một người đi qua nhìn gánh lá bàng nói:


- Lá bàng nầy sưởi ấm lắm đấy. 


Tôi quay lại nhìn lên bàn: suốt đêm tôi viết được lèo tèo vài trang giấy, lại dập dập xoá xoá gần nửa.  Tôi thất vọng. 


Đối với tôi,  những cơn gió tôi chờ đón đã có nổi lên, đã khiến tôi đêm qua lạnh cả tâm hồn, nhưng lá bàng nhặt được không là bao.  Lại không biết có ấm được lòng ai ở xa không?


Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy/ Nghìn năm chưa dễ đã ai quên... THẾ LỮ


Chương 1


- Trời muốn trở rét…


Nói xong và nghe tiếng mình nói, Trúc nhớ lại rằng câu ấy chàng đã thốt ra nhiều lần, năm nào cũng vậy.  Sự rung động êm ái và hiu hắt buồn trước cơn gió lạnh đầu tiên khiến vẻ mặt Trúc trở nên dịu dàng và thoáng trong một giây chàng sống lại hết cả những ngày mới trở rét trong đời. 


Ở ngoài, như ý mong ước của Trúc, trời bổng nắng to;bóng mái nhà sẫm lại thành một mảng đen trên nền sàn trắng hẳn lên và ánh nắng làm lấp lánh sáng những mảnh sứ, mảnh chai nhỏ trong các luống đất mới xới. 


Tuy đã cuối tháng chín nhưng đối với Trúc cứ lúc nào trời đổi gió heo may mới thực là lúc bắt đầu mùa thu. 


Trúc đặt chén nước, châm một điếu thuốc lá hút rồi bước vội ra sân. 


Thấy Loan ở trong nhà đi ra, Trúc nói:


- Trời đẹp quá cô Loan nhỉ !


Loan đặt rổ bát phơi trên nắp chum rồi quay lại vừa vẩy mạnh hai bàn tay cho ráo nước vừa xuýt xoa nói:


- Sáng ngày sang đây, em sợ trời nóng chỉ mặc cái áo trắng phong phanh, nguy hiểm quá. 


Cụ chánh Mạc ngừng tay giả cối trầu, nhìn ra nói:


- Cô đứng vào trong nầy không lạnh.  Khổ quá em Hà đi vắng để cô phải rửa bát, đun nước, học trò không quen tay. 


Loan mỉm  cười vui vẻ và nói cao giọng cho cụ chánh nghe rõ:


- Đứng ngoài nầy nắng ấm hơn.  Cháu không rửa thì bác lại phải rửa. Đằng nào cũng thế. 


Từ sáng, Loan làm những việc lặt vặt ấy giúp cụ chánh một cách vui vẻ.  Nàng tự nhiên thấy sung sướng vẩn vơ. Đời lúc đó đối với nàng đẹp quá, nên chưa chi nàng đã thấy cái lo sợ ngày chóng hết.  Sáng ngày đi với Quỳnh sang bên Ý- Dương thăm cụ chánh Mạc và Cận, nàng không ngờ đâu một lúc sau Dũng cũng đến chơi đi với mấy người bạn nữa. Ở nhà được gặp Dũng luôn, nhưng nàng vui, vì cuộc gặp gỡ nầy đối với nàng dường như có ngầm một ý nghĩa.  Loan ngẫm nghĩ:


- Sáng ngày hình như Dũng có biết mình sang chơi. 


Cụ chánh nhìn Loan, rút khăn lau các chén uống nước, dáng dấp nhanh nhẹn, vui vẻ.  Cụ nói:


- Trông cô Loan, tôi lại nhớ cái Phương. 


Phương là con cụ chánh và là bạn của Loan, mới chết được hơn ba tháng.  Cụ chánh chỉ có mỗi một người con trai là Cận và hai con gái là Phương và Hà.  Nhờ có Phương buôn bán giỏi nên nhà cũng đủ tiêu dùng và Cận có thể học thêm được.  Từ ngày Phương bị bắt vì tình nghi là có dự vào mấy cuộc phản động thì Cận phải về làng dạy học tư để lấy tiền nuôi mẹ và nuôi em.  Phương được tha, về nhà ít lâu, nàng mắc bệnh lao rồi chết.  Loan còn trẻ nên chỉ biết thương một người bạn gái mà nàng xem như một người chị, nàng không biết được rõ hơn về cái chết của Phương. 


Câu nói của cụ chánh gợi trong óc Loan những ý nghĩ buồn nên nàng muốn xua đuổi ngay. 


Nàng quay mặt nhìn về phía Trúc nói đùa, vì nàng biết tính Trúc hay nói pha trò nhất trong bọn:


- Không rửa bát, không đun nước, đợi mấy ông tướng kia thì còn lâu đời lắm.  Các ngài chỉ ăn là giỏi. 


Trúc đáp:


- Cái đó thì hẳn... Vả lại, đối với tôi đàn bà không rửa bát thì cũng không biết làm gì khác. 


Loan mỉm  cười:


- Đấy, anh Trúc lại sắp dở cái chứng khinh phụ nữ của anh ra đấy. Đàn bà chúng tôi cũng có người hơn đàn ông... những người đàn ông như anh Trúc. 


- Cô Loan sao mà chua ngoa thế...


Lúc đó, Loan đứng dựa vào gốc cau, ngừng tay lau chén, tinh ngịch nhìn Trúc.  Nội các bạn, Loan thân nhất với Trúc vì lẽ nàng thấy Dũng và Trúc yêu nhau như anh em ruột.  Mà cũng vì lý do ấy nên Loan đối với Trúc rất tự nhiên. 


Bỗng Trúc yên lặng nhìn Loan:chàng thấy Loan đẹp nên đăm đăm mãi.  Rồi giật mình và lo sợ vẫn vơ.  Trúc như mình nói với mình, lẩm bẩm:


- Đàn bà là xoàng, người nào cũng xoàng. 


Chàng quay vào phía Dũng, hỏi to:


- Có phải không anh Dũng?


Dũng đương mãi nói chuyện với Xoàn và Thái ở trong nhà, nghe Trúc hỏi, giật mình không hiểu chuyện gì, nhưng cứ đáp liều:


- Chính thế. 


Loan nói to:


- Các ngài bàn bạc cái gì đấy.  Chắc hết việc cơm lại đến việc nước hẳn. 


Cụ chánh Mạc ngửng đầu lên nhìn ngơ ngác.  Từ ngày Phương bị bắt, hể thấy các bạn Cận ở tỉnh về chơi với Cận là cụ sinh ra lo sợ.  Cụ đã già lại có mỗi một người con trai nên cụ không muốn con cụ có nhiều bạn.  Nhất là hôm nay lại có Thái, một người mà cụ chánh chưa bao giờ thấy đến chơi lần nào.  Song Thái cũng đến với Dũng nên cụ cũng hơi yên tâm; đối với cụ, Dũng là con một ông tuần nên bạn của Dũng cụ có thể tin được. 


Dũng đã thoáng nhận thấy vẻ nghi ngại trên nét mặt của cụ chánh, nên vội đùa với Loan:


- Có mỗi việc quay máy hát cho anh em nghe mà các anh ấy bàn mãi chưa biết cử ai. 


- Phải ấy, cử tôi cho. 


Cận nói:


- Nhưng chỉ có một cái đĩa. 


Loan nói:


- Chắc lại vẫn cái đĩa Nam- bằng ngày xửa ngày xưa chứ gì?


Nàng vừa quay máy vừa hát khe khẻ:


- Nước non ngàn dặm ra đi...


Một lúc tiếng hát nổi lên, trừ Dũng ra,  còn người nào cũng chú ý lắng tai nghe.  Dũng đã được nghe nhiều đĩa hay nên rất khó chịu về tiếng hát rè rè ở cái dĩa đã mòn, vì dùng đã không biết đến bao nhiêu lần.  Nhưng vì mọi người ra ý thích, nên Dũng không dám tỏ vẻ khó chịu.  Chàng cảm động thấy những bạn nghèo của chàng đương bàn về một việc rất quan trọng mà bỗng chốc đã quên hết, đắm đuối ngồi nghe một cái đĩa hát chỉ đáng vứt đi.  Nhà chàng giàu nên chàng hết sức giữ gìn đối với anh em bạn, vì chàng nơm nớp sợ sự giàu sang là cái hàng rào ngăn không cho các bạn dễ dàng yêu mình.  Chàng ngẫm nghĩ:


- Sự giàu sang đối với mình bấy lâu như là một sự nhục...


Chàng không tìm được câu trả lời.  Chàng chỉ biết rằng sự giàu cần cho chàng và cho các bạn.  Nhờ có cái máy chụp ảnh đắt tiền của chàng, nên Tạo đã có cách sinh nhai trong khi đi đây đó.  Chàng đã bao nhiêu lần giúp tiền nữa.  Nhưng Dũng vẫn không khỏi tự bảo:


- Như thế vẫn chưa là đủ được. 


Loan nói:


- Em thích cái đĩa hát nầy lạ. 


Có lẽ vì nghe hát, nàng nhớ lại mấy năm trước sang chơi cụ chánh được Phương vặn cho nghe luôn. 


Xuân vì muốn nói lại câu chuyện bỏ dở lúc nãy mà tránh được sự nghi ngờ của cụ chánh và Loan, nên bàn:


- Hay là ta ra ao câu cá, nhân tiện xem ngoài vưòn có quả gì ăn tráng miệng. 


Ra ngoài, Xuân bảo Thái:


- Thôi đừng làm anh Cận đau khổ vô ích.  Năm ngoái thì anh ấy đi được, nhưng bây giờ...


Xuân không nói hết câu.  Nhưng Thái đã hiểu:chàng nghĩ ngay đến tình cảnh nghèo của Cận và bà mẹ già đầu tóc bạc phơ.  Thái nghĩ đến mẹ chàng đã hai năm nay chưa gặp, giờ nầy có lẽ đương mong ngóng đợi con về.  Chàn gnói:


- Tôi vẫn biết thế... Nhưng tôi đã hẹn rủ anh ấy đi thì tôi phải cho anh ấy biết.  Vả lại không còn dịp nào tốt hơn, chắc chắn hơn, không nói để lỡ, sợ anh ấy trách.  Ngày mai đã đi rồi. 


- Cái đó tùy anh.  Nhưng đã đủ tiền chưa?


- Cũng không cần bao nhiêu vì có người về đưa đi. 


Thái và Xuân ra bờ ao ngồi câu.  Thấy Cận đương đứng nói chuyện với Loan và Dũng, Thái gọi Cận lại để ngỏ cho biết:


- Anh Cận lại đây, chỗ nầy xem chừng nhiều cá, phao nhấp nháy luôn. 


Chỉ còn Dũng và Loan đứng lại dưới gốc khế.  Hai người thấy ngượng.  Những câu chuyện thông thường nói trước mặt một người một cách rất dễ dàng, tự nhiên, thì lúc nầy hình như bạo dạn quá, không ai dám nói.  Có tiếng máy hát trong nhà.  Dũng được dịp làm tan sự yên lặng khó chịu, vội bảo Loan:


- Chắc là của Trúc vặn... Cái đĩa hát nầy nghe xa mới hay. 


Chàng muốn nói như Loan lúc nãy:


- Tôi thích đĩa hát nầy lạ. 


Nhưng chàng sợ Loan nhận thấy vẻ mặt khó chịu của chàng khi mới nghe đĩa hát và biết là chàng đã nói một câu không thực.  Dũng ngâm theo đĩa hát:


- Thấy chim hồng nhạn... bay đi. 


Loan không nói gì, vịn một cành khế đầy hoa hồng và lấm tấm những quả khế xanh non, ngước mắt nhìn ra vẻ tìm xem đã có quả nào to ăn được chưa.  Mùi hoa khế đưa thoảng qua, thơm nhẹ quá nên Dũng tưởng như không phải là hương thơm của một thứ hoa nữa. Đó là một thứ hương lạ để đánh dấu một quãng thời khắc qua trong đời:Dũng thấy trước rằng độ mười năm sau, thứ hương đó sẽ gợi chàng nhớ đến bây giờ, nhớ đến phút chàng đương đứng với Loan ở đây.  Cái phút không có gì lạ ấy, chàng thấy nó sẽ ghi mãi ở trong lòng chàng cũng như hương hoa khế hết mùa nầy sang mùa khác thơm mãi trong vườn cũ. 


Những lúc tình cờ Dũng được đứng một mình gần Loan, chàng lấy làm quý hơn, nhưng không hiểu sao chính chàng lại muốn tìm cách để những lúc đó khỏi kéo dài ra. 


Thấy Thái giựt được cá, Dũng vội bỏ chạy lại.  Con cá săn sắt nhỏ quá khiến Thái cau mày tiếc cái mồi tép.  Xuân ngấm nghía con cá hồi lâu rồi lắc đầu nói:


- Cơ sự nhường nầy thì đem cá có câu lấy lại cái mồi tép. 


Trúc ở trong nhà thấy câu được cá, sung sướng kêu ầm lên:


- Trời rét thế nầy mà ăn cháo cá ám thì phải biết là ngon. 


Cụ chánh thấy bọn trẻ cuời nói vui vẻ bàn tán mãi về một con cá nên cũng vui lây và hơi lo sợ.  Cụ nói to, nhưng nói để chính mình nghe như thói thường các cụ già tai nghểnh ngãng:


- Cái ao ấy thế mà nhiều khi cũng câu được cá to. 


Trong lúc đó, Cận đứng dựa má vào cành cây vối, đăm đăm nhìn gió thổi cong những sợi dây ở mấy chiếc cần câu.  Cả đời chẳng xoay về ngã nào chỉ là ở những phút ngắm những giây cần câu đó. 


Chàng không trả lời Thái, lúc tiẽn anh em ra về khi bắt tay Thái, chàng nắm mạnh lấy bàn tay bạn nói:


- Thôi, anh đi một mình. 


Thái nhìn thẳng vào mặt Cận, yên lặng ngắm nghĩ.  Chàng đã yên trí sẽ đi với Cận nên nghĩ đến cuộc đi xa không có bạn chàng thấy buồn chán lạ thường.  Thái toan nói với Cận điều gì lại thôi, chàng kéo tay ra mỉm  cười, rồi giơ tay lên cao chào Cận theo lối chào riêng của mấy người với nhau:


- Anh ở lại. 


Hai người bạn cùng phảng phất có cái ý tưởng rằng không còn gặp mặt nhau nữa. 


Cận quay trở lại đi vội vào trong lũy tre làng cho khuất gió.  Lẫn với tiếng lá tre rào rào, thỉnh thoảng lạc vào tai chàng còn từng mẩu tiếng nói và tiếng cười của các bạn mà chàng còn thấy bóng đèn trăng thấp thoáng sau lũy tre. 


Phía xa, con đê cạnh làng in thành một vệt thẳng trên nền trời như bức tường. 


Một người đã đến vào con đường rẽ về tỉnh lỵ.  Bà hàng nước thấy người khách quen đon đả mời:


- Cô Loan, cô vào đây uống nước, ăn trầu đã. 


Loan nói:


- Uống nước thì uống, nhung ăn trầu thì chúng tôi răng trắng không biết ăn trầu. 


Bà hàng quay lại nhìn mấy người nhà quê ngồi uống nước ở phản, đưa mắt bà nhìn Loan:


- Con cụ hai Hằng ở bên Xuân- lử đấy.  Chóng lớn quá.  Mới ngaỳ nào... Cô ấy đến nay dễ mười sáu. 


Trúc vội chữa:


- Cô ấy mười bảy, bà hàng ạ. 


Bà hàng mời Loan ngồi bên cạnh mình:


- Thế bao giờ cô mới nhuộm răng để lấy chồng cho chúng tôi mừng. 


Thâý bà hàng chỉ chú ý đến hàm răng trắng của Loan, Trúc nói:


- Nhưng sao lại cứ nhuộm răng mới lấy chồng được, hở bà hàng?


Loan mỉm  cười:


- Còn lâu lắm, bà hàng ạ.  Có lẽ không bao giờ, vì răng trắng thế nầy thì ai người ta lấy. 


Bà kia thân mật nói đùa:


- Đẹp như cô thiếu gì người.  Cô thì cần gì phải học nữa. 


Loan thốt nhiên nhìn ra chỗ Dũng đứng, rồi sợ ngượng, nàng đưa mắt nhìn cả mọi người.  Không thấy Thái, Loan nói:


- Ông Thái đâu?


Dũng đáp:


- Ông ấy về đưòng khác. 


Thực ra, đi khỏi làng Cận được ít lâu, Thái yên lặng rẽ xuống cánh đồng đi đường tắt về tỉnh không cho Loan và Quỳnh biết.  Trước khi đi, chàng không muốn để có người trông thâý chàng đi với Dũng, Xuân và Trúc. 


Loan hỏi:


- Mai ông ấy đi?


Dũng ngơ ngác nhìn Xuân và Trúc, lo sợ hỏi Loan:


- Sao cô biết?


- Anh Cận bảo thế. 


Mấy người yên tâm vì nhớ câu Cận chào Thái lúc nãy. 


Loan hỏi:


- Ông ấy đi đâu thế, nhỉ?


Dũng đáp:


- Anh ấy đi về thăm nhà. 


Thấy ở quán có mấy người lạ mặt, sợ Loan cứ hỏi lôi thôi mãi, Dũng vội ngắt câu chuyện, hỏi các bạn:


- Có ai còn thuốc lá hút không?


Trúc rút bao thuốc lá đã nát ở trong túi ra, đếm rồi nói:


- Còn có hai điếu.  Anh Dũng một, còn một...


Loan muốn nói: “còn một phần tôi”. 


Nhưng nàng nhút nhát không dám ngỏ lời.  Trúc đưa bao thuốc lá về phía Loan:


- Còn một về phần cô Loan... Còn tôi, tôi xin nhịn... Tôi bao giờ cũng xin giữ phần kém.  Vì tôi đã...


Loan cầm lấy điếu thuốc lá tinh nghịch, nói tiếp lời Trúc, dùng ngay câu mà Trúc vẫn hay nói luôn miệng:


- Vì tôi đã nhất định thế rồi. 


Trong lúc nói đùa với Trúc, Loan vẫn không quên nghĩ đến Thái, Loan cũng hơi sợ hãi, hơi khó chịu.  Nàng không hiểu tại sao Dũng lại thân với Thái và nàng ngầm muốn Dũng không chơi với Thái nữa. 


Ty không biết rõ hết, nhưng nàng cũng đoán là Thái về để rủ người đi.  Nàng thấy mấy người quen Thái đi đâu biệt tăm biệt tích đã lâu và cách đây mấy tháng, một người vẫn hay về chơi Dũng bị bắt giải về quê quán vì đã có ý muốn trốn đi ngoại quốc. 


- Hay là ông ấy rủ Dũng đi. 


Loan lo sợ nhìn Dũng. 


Dũng lúc đó vẫn đứng ở trên đê;chàng cầm thuốc lá để yên trước môi, không hút, hai con mắt nhìn ra xa.  Gió thổi xỏa cả tóc xuống trán, xuống thái dương.  Dũng cố tìm xem có thấy bóng Thái trên những con đường về tỉnh lỵ quanh co trong ruộng mía, ruộng ngô. 


Trời về chiều.  Mặt nước sông sáng hẳn lên sau những ruộng dâu cành đã tước hết lá.  Tiến người gọi nhau ở dưới sông nghe vang động cả buổi chiều.  Dũng ngẫm nghĩ:


- Anh Thái đi như vậy để làm gì:Chẳng qua không biết làm gì nữa thì liều lĩnh. 


Thái đối với chàng là một người đã chán nản quá, gần như không thiết gì đến sống. 


Chàng chỉ muốn thoảng trong một lúc được thấy bóng Thái ở xa.  Dũng có cái cảm tưởng rằng Thái đi như là đi thay cho mình, hình như tất cả những nổi chán chường, đau khổ của một đời mình Thái đã đem theo đi hết. 


Dũng thở dài, nhẹ nhõm và nhìn vào trong hàng nước đưa mắt tìm hai con mắt Loan. 


Chàng sung sướng, cái sung sướng vẩn vơ của một người đón chờ những sự vui mừng rất êm ái chưa đến nhưng biết chắc thế nào cũng đến.  Loan hơi ngạc nhiên và cũng nhìn Dũng lâu không chớp như muốn thầm hỏi Dũng.  Nàng nói:


- Anh Dũng vào trong nầy. Đứng mãi ngoài ấy gió rét. 


Dũng vào ngồi bên cạnh Loan.  Bà hàng mở vung múc nước chè, một làn hơi nóng thoảng qua mặt Dũng.  Dũng không nghĩ gì đến Thái nữa;những người bạn ngồi quanh chàng, người nào lúc đó nét mặt cũng lộ vẻ bình tỉnh.  Dũng có cảm giác êm ả lạ lùng và cái quán hàng trong đó có Loan ngồi, chàng tưởng như một chốn ấm áp để chàng được cách biệt hẳn cuộc đời mà chàng thấy đầy phiền muộn, buồn bã như buổi chiều mờ sương thu ngoaì kia.


Chương 2


Bên ông tuần có mở tiệc thọ mừng cụ Bang,  bà nội Dũng.  Loan sang làm giúp từ sáng sớm;nàng cũng rối rít vui vẻ, vì công việc nhà Dũng nàng coi không khác gì công việc nhà nàng.  Trong một lúc rỗi tay, Loan chạy qua về thăm nhà để lấy cớ đi lại vì ngồi mỏi. 


Cách mấy khu vườn rộng, Loan không nghe rõ tiếng ồn ào bên nhà ông tuần nữa.  Nàng thấy nhà mình có vẻ yên tỉnh khác hẳn mọi ngày, nàng vui vẻ nhìn bà hai đương ngồi khâu trên phản rồi cất tiếng nói:


- Mẹ chưa sang?


Bà hai ngửng lên nói:


- Sang làm gì bây giờ, cô nầy rõ ngớ ngẩn quá. 


Loan mỉm  cười vì cũng thấy câu hỏi của mình là ngớ ngẫn, chẳng qua trong lúc vui, nàng hỏi cho có câu mà hỏi:


- Nhưng thế nào me cũng sang chứ?Me sang sớm xem tế, vui lắm me ạ. 


Bà hai yên lặng ngẫm nghĩ một lát lâu, rồi nói:


- Tao hơi mệt, không biết lát nữa, có sang được không.  Nhưng thầy đi vắng thì mệt cũng phải sang. 


Ông hai vì muốn lánh mặt nên hai hôm trước có người bạn ốm nặng cho về mời, ông đi ngay. Ông và ông tuần là hai người bạn học cũ, nhưng không bao giờ ông muốn nhờ vả ông tuần, và ông tuần cũng không hề tỏ ý muốn giúp đở ông. Vườn đất chung quanh nhà ông hai phải bán dần cho ông tuần, chỉ còn giữ lại hơn một mẫu làm chổ ở. 


Loan nói:


- Tiếc quá thầy con lại vắng.  Chắc thầy con chẳng về kịp. 


Bà hai cau mày khó chịu, nhưng bà không muốn nói cho Loan rõ những điều tức tối ngầm của ông hai, trong việc bán đất cho ông tuần. Bà bảo Loan:


- Ở bên ấy đông khách lạ, cô sang làm giúp thì phải liệu giữ gìn.  Cô chỉ được cái mau mồm mau miệng hão, người ta không ưa gì cô đâu. 


Loan hiểu là bà hai muốn ám chỉ cô Ba, người vợ ba ông tuần. Nhưng đối với Loan thì ở bên nhà Dũng, ngoài Dũng và Hiền người chị ruột của Dũng ra, nàng không để ý đến ai nữa; nàng cũng không ngờ rằng ở đời lại có thể có được lắm sự rắc rối. Loan nhìn cái bàn học của Dũng trên đó có xếp những cuốn sách hầu hết là sách của Dũng. Những cuốn sách ấy, Loan biết rằng Dũng không bao giờ dùng tới chỉ mua về cốt để cho nàng mượn. Một tia nắng chiếu vào làm sáng những chữ thếp vàng trên gáy sách, Loan thấy ấm áp trong lòng. 


Tiếng còi ô tô làm Loan vui mừng reo:


- Khách trên tỉnh đã đến.  Chắc là cụ thượng Đặng. 


Loan ngắm nghía những chiếc ô tô bóng loáng đến đỗ sau giậu duối. Mỗi chiếc đến, nàng lại rẽ là chú ý nhìn những ngưòi trong xe bước xuống. Dũng mấy ngày trước có nói đùa với nàng rằng hôm nay sẽ có cô Khánh con cụ thượng Đặng là bạn học cũ của chàng đến chơi. 


Cứ mỗi lần có người hơi có tuổi và đeo thẻ bài ở xe xuống thì Loan lại chăm chú đến người xuống sau .  Nàng không thấy cô nào có thể gọi là đẹp được:


- Chẳng có ngữ nào ra hồn. Sao mà đánh phấn nhiều thế, họ trát vôi. 


Loan không chút ghen tỵ những thiếu nữ sang trọng lần lượt đi qua trước mặt nàng. Nàng tự cho nàng cũng ngang hàng với họ và cảnh đời ấy tất nhiên là cảnh đời của nàng về sau nầy. 


Có tiếng chân bước sau lưng, Loan không quay lại chỉ nghe tiếng chân bước cũng biết ngay là Dũng đến. 


- Anh Dũng sang có việc gì đấy?


Dũng cười đáp:


- Tài thật...  Sao cô biết là tôi. Tôi sang xem những ai đến và cốt nhất là để nhìn trộm một người. 


Loan quay lại:


- Em biết là ai rồi. 


Dũng nhìn đôi má hồng tự nhiên của Loan và khen Loan:


- Cô vừa về nhà đánh má hồng phải không?


Loan sung sướng vì lời khen kín đáo, nhưng làm như không để ý đến:


- Má em đỏ lắm à? Chắc là vì lúc nãy ở gần lửa. 


Dũng đột nhiên hỏi:


- Cô có thấy xe của cụ thượng Đặng đến không?


Loan nói:


- Em chả biết cụ thượng Đặng là ai thì làm sao biết được ô tô. Nhưng anh hỏi để làm gì?


Dũng hỏi lại:


- Nhưng cô tò mò muốn biết điều đó làm gì?


Loan làm như đã quên câu chuyện Dũng nói về Khánh hôm nọ, tinh nghịch nói:


- Nhưng chắc có điều gì thật, nên khi em hỏi anh mới cho là tò mò. 


- Có thế. Vậy cô có mấy ngưòi con gái nào ngồi trong ô tô cụ thượng Đặng không?


Loan mỉm  cười:


- Có, có một ngưòi con gaí rất xấu. 


Dũng nói:


- Càng hay, nhưng người ấy đẹp thì sao?


Loan muốn tỏ cho Dũng biết mình đã rõ chuyện ông tuần định hỏi con gái ông thượng Đặng cho Dũng, liền đáp:


- Như thế càng hay cho anh.  Vậy ta về xem người con gái ngồi trong ô tô của cụ Đặng xấu hay đẹp. 


Hai người, lúc đi qua trước mặt bà hai cùng đứng lại, Dũng mời:


- Bác sắm sửa sang thì vừa. 


Bà hai nhìn ra chỗ Loan, Dũng đứng, và nhận thấy vẻ thân mật lưu luyến giữa hai người. Nhưng bà không một lúc nào có cái ý tưởng mong cho hai người thành vợ chồng. Một là, vì bà không dám ao ước tốt, hai là vì bà đã yên trí từ lâu gả Loan cho Thân, con bà phán Lợi. Bà chỉ biết là Dũng hay săn sóc đến nhà bà và bà cũng tự nhiên quý Dũng như một người con. 


Loan bảo Dũng:


- Anh sang trước đi em đợi mẹ em sang một thể. 


Bà hai nói:


- Đừng đợi tôi.  Tôi sẽ sang nhưng lát nữa cơ. 


Tới con đường lát sỏi trên có giàn cây, hai người tự nhiên cùng chậm bước lại, người nọ ý muốn nhường người kia tiến lên trước mình để khi ra đến sân nhà Dũng, người ta khỏi trông thấy hai người cùng đi với nhau. Nhưng vì không ai dám nói hẳn ra nên người nọ tưởng người kia muốn cùng đi chậm lại để nói một câu chuyện riêng, nhất là chỗ đó lại khuất, có cây che phủ kín.  Loan cúi nhìn xuống, lấy mũi giầy ấn những hòn sỏi to nổi cao lên, đợi Dũng nói. Dũng cũng đợi Loan, nên hai người đi yên lặng như thế, không ai cất tiếng và cùng ngong ngóng đợi. Đến chỗ rẽ quặt ra sân, Dũng nói:


- Trông những hòn sỏi nầy tôi lại nhớ đến hồi năm ngoái ra Sầm- Sơn. 


Chàng nghĩ đến những nổi buồn đầu tiên của chàng khi xa Loan, buổi chiều trong rừng phi lao hiu hắt và trên bãi biển vắng người. Chàng dịu giọng nói tiếp:


- Buổi chiều, những bải bể vắng người với tiếng sóng không bao giờ ngừng... Hôm nay tôi còn nhớ in...


Loan nói:


- Đã lâu lắm, khi em còn bé đi với thầy em qua Thụy- Anh được trông thấy bể ở xa. Năm ngoái hồi anh ra ngoài ấy...


Tiếng người nói gần đấy làm Loan ngừng lại. Hai người cùng đứng dừng lại.  Dũng nói:


- Hình như tiếng cụ thượng Đặng. 


Chàng hạ thấp giọng có vẻ bí mật:


- Và cả tiếng cô Khánh nữa. 


Loan nói:


- Hai ta đứng tạm ở đây đợi cô ả đi qua đã. 


Hai người đứng lẩn sau giậu găng ta dưới một cây bồ kết dại. Những cành đầy hoa vàng rủ xuống chạm vào tóc hai người. Loan và Dũng cùng yên lặng. Tiếng giầy trên sàn gạch một lúc một xa và nghe như ở một thế giới khác đưa lại. Trên cành bồ kết, một con bọ ngựa non giơ hai càng tìm chổ níu rồi đánh đu chuyền từ lá nầy sang lá khác. Mùi nước hoa và phấn ở đám người vừa đi qua thơm thoảng đến tận chổ Loan, Dũng đứng. 


Dũng hỏi:


- Cô nhìn thấy rõ chứ?


Loan gật đầu luôn mấy cái, khen:


- Đẹp!


Dũng nhắc lại tiếng “đẹp” nhưng nói kéo dài ra có vẻ chế giễu. Nhưng thực ra chàng cũng vừa thốt nhiên cảm động về sắc đẹp lộng lẫy của Khánh mà chàng được thoáng trông thấy. Sau ba năm cách mặt, Khánh đã lớn hơn trước nhiều và đẹp khác hẳn trước. 


Dũng giơ tay nâng cao mấy cành bồ kết dại, bảo Loan:


- Hai ta phải ra thôi. 


Loan sờ lên tóc vì nàng thấy tóc Dũng vướng đầy nhị hoa vàng:


- Tóc em có vướng không?


Dũng nói:


- Có, ta phải phủi kỹ đi, lỡ...


Dũng không dám nói hết câu. Loan vô tình tiếp lời:


- Có ai biết thì nguy hiểm.  Tình ngay lý gian. 


Nói xong nàng mới biết là quá bạo. Nhưng nàng có cái thú ngầm của một người đã phạm tội, nhờ một sự vô tình đã nói được một câu có ngụ ý mà lúc thường không thể nào có can đãm nói ra. Lúc đó nàng mới thấy cái ngượng cùng đi với Dũng, nàng nói:


- Em đứng lại đây. Anh về trước đi. 


Khách đã đứng đầy ở hiên, Dũng tiến lên thềm, cúi chào và bắt tay những người mới tới. Trúc giơ tay làm hiệu bảo Dũng lại gần: nội các bạn, Dũng chỉ mời có Trúc vì Trúc trông coi ấp của chàng bên Quỳnh- Nê, lui tới nhà chàng luôn luôn. Còn những bạn khác, biết là ông tuần không ưa gì họ, nên Dũng không cho ai biết tin. Cũng tại lẽ chàng thấy rằng tiệc thọ nầy mở ra không phải cốt mừng bà nội chàng, mà chỉ cốt để khoe sự giàu sang hãnh diện với mọi người, cho nên tự nhiên chàng thấy ngượng với các bạn và trong lúc mọi người vui vẻ tấp nập, một mình chàng khó chịu vô cùng. 


Ông tuần thường luôn luôn nhắc chàng:


- Hôm ấy cụ thượng Đặng về, anh liệu mà giữ gìn ý tứ. 


Ông lại cho Dũng biết hôm đó sẽ có bà tham Hiệu, người cô của Khánh cũng sang. Dũng hiểu là bà tham đến cốt để xem xét gia phong nhà chàng, và việc hôn nhân của Dũng với Khánh thành hay không là chỉ ở một lời nói của bà tham. Dũng nói chuyện ấy với Trúc vì chỉ có Trúc là hiểu chàng. 


- Điều thứ nhất là tôi phải tỏ ý kính mến hai bà vợ lẽ của thầy tôi, như thế tỏ rằng cha đã biết phép dạy con, mà cha biết phép dạy con là mọi việc đều tốt cả mặc dầu các bà vợ lẽ ấy không tốt một tí nào với ai cả. 


Trúc cười nói:


- Dễ dàng lắm. Hôm đó, anh cứ ngoan ngoãn như một cô con gái? Ai bảo sao làm vậy, ai bảo lễ đâu thì cúi đầu lễ đấy. Thế là thế nào cũng được vợ. 


- Thế ngộ tôi không thích lấy vợ. 


- Không thể được vì ông cụ đã nhất định thế rồi, mà ông cụ nhất định như thế thì phải như thế. 


Hôm nay thấy Dũng ăn mặc quần áo ta, Trúc nhớ đến câu chuyện lấy vợ, mỉm  cười. Chàng khẽ nói vào tai Dũng:


- Trông anh có vẻ chú rễ lắm rồi. 


Lúc đó Loan vừa ở trong vườn đi ra. Trúc cúi chào và tự nhiên nghĩ thầm:


- Đáng lẽ kia là nàng dâu. 


Đột nhiên hỏi Trúc:


- Anh có tin gì về Thái không?


- Không, nhưng hẵn là đi thoát vì đi đã hơn nữa tháng. Chắc qua khỏi biên giới rồi. 


Dũng đưa mắt nhìn đám người chung quanh mình, những bộ mặt béo tốt, hồng hào như lộ vẻ vui sống, sống thỏa thuê mãn nguyện. Chàng thấy rằng chỉ có cảnh xán lạn trước mặt ấy là cảnh hiển nhiên có, là sự thực. Hình ảnh Thái đối với chàng mờ mờ như ở trong một giấc mộng xa xôi, giấc mộng ngao ngán đã qua hẳn từ lâu rồi. 


Trúc hỏi Loan:


- Bây giờ cô mới sang?


Dũng quay qua phía Loan, chàng nhớ lại câu nói chưa hết của Loan lúc nãy khi nói đến chuyện ra Sầm Sơn:


- Năm ngoái hồi anh ra ngoài ấy...


Chàng vừa nhìn Loan vừa cố tưởng tượng ra đoạn sau của câu nói, tưởng tượng theo ý muốn của chàng. Mấy chấm vàng của nhị hoa trên mái tóc Loan khiến Dũng giật mình. Chàng quay đầu nhìn trong cái gương treo ở buồng khách: trong bóng tối, cái khung vuông của tấm gương in hình chàng và hình Loan với nền sân gạch nắng, chàng tưởng như là một cái cửa sổ mở ra một thế giới trong sáng. 


Tiếng trống tế nổi lên, người nào cũng đứng ngay ngắn và nghiêm nét mặt lại như để chờ đón một sự gì rất quan trọng, hai người giả làm hạc chầu đứng hai bên hương án bắt đầu động đậy. Dũng nhìn bà nội mình ngồi trên sập và cơi trầu, khay rượu để ngay trước mặt. Khói trầm trong lư hương toả ra khiến Dũng có cái cảm tưởng rằng cụ như thể không phải là người còn sống nữa. Dũng không sao bỏ được cái ý tưởng so sánh cụ với một cây gỗ cỗi đem bày ra đấy chỉ để khoe khoang. 


Dũng cúi lễ như cái máy; chàng thấy con cháu sụp lễ ở trên chiếu với cụ tổ mẫu ngồi ở trên sập không có liên lạc gì với nhau cả. Đối với hết thảy những người đứng xem tế thì lúc đó là lúc cụ Bang sung sướng nhất đời; cụ đương nhận cái phần thưởng quý hoá để tặng cụ đã có công dạy con nên người, làm rỡ ràng cả một họ. Dân làng đứng chung quanh, ai cũng hình như có vẻ thèm thuồng cái cảnh vinh dự ấy và nhận rằng đó là một cái phúc lớn nhờ ông tuần mới có. 


Họ chăm chú đến ông tuần nhất, và nhìn vào bộ áo thêu rồng phượng của ông một cách kín cẩn. Xong một tuần tế, ông tuần về đứng chổ cũ thì chỗ ấy hình như sáng hẳn lên. Không ai để ý đến ông cả đứng bên cạnh; tự biết cái cảnh vinh dự nầy không phải ở mình nên ông cố hết sức đứng thu hình, mắt nhìn thẳng làm như để cả tâm hồn vào việc tế lễ nghiêm trọng, không nghĩ ngợi đến sự gì khác. Nhưng mỗi lần rời khỏi đám đông lên chuốc rượu, ông cả tự nhiên thấy lạnh ở hai vai và trên bộ áo tầm thường của ông, ông tưởng người ta trông thấy rõ cả cái tầm thường của đời ông. 


Tế xong hai tuần, Dũng bắt đầu thấy chồn chân; chàng khoanh tay lại, nghiêng người và chống mũi giầy xuống nền gạch. Một ý nghĩ ngộ nghĩnh thoáng hiện đến làm chàng mỉm  cười một mình; chàng muốn ấn một gót chân xuống gạch và xoay mạnh người hẳn một vòng xem sao. Chàng ngẫm nghĩ:


- Chắc là họ sẽ nhìn mình dữ lắm. Nhất cụ thượng Đặng và cô ả Khánh. 


Chàng cố nhịn cười, mím môi và đưa mắt nhìn lên. Nền trời lúc đó, Dũng thấy như một tấm lụa trong; một con bướm trắng ở vườn sau bay vụt lên cao rồi lẫn vào màu trời. Dũng tự nhiên nghĩ đến một bãi cỏ rộng trên đó có Loan và chàng; hai người cùng đi ngược lên chiều gió; nàng mặc một tấm áo lụa trắng, và gió mát thơm những mùi cỏ đưa tà áo nàng phơ phất chạm vào tay chàng êm như những cánh bướm. 


Dũng giật mình vì có người chạm vào vai, khẽ nói:


- Cậu ra lễ đi chứ, đứng làm gì đấy?


Chương 3


Dũng tung chăn ngồi dậy nhìn ra cửa sổ xem trời đã sáng chưa:


-  Hôm nay chủ nhật đấy. 


Chàng cố nghĩ đến điều đó nhưng không thấy cái vui khi còn đi học. Đã lâu không làm gì cả, chàng thấy ngày nào cũng là ngày chủ nhật, ngày nào cũng là ngày nghĩ ngơi rồi. 


Từ ngày bãi khoá, rời khỏi nhà trường và được thư của ông tuần bắt về nhà quê đến nay đã hơn một năm. 


Chàng nghĩ lại cũng không hiểu vì sao mình đã bãi khoá. 


Sáng hôm ấy thấy Trúc và mấy người bạn rủ nhau nhảy qua hàng rào, chàng cũng nhảy theo. Suốt ngày đi lang thang, chàng thấy có một cái thú mới lạ. Lúc đó đương mùa hoa gạo nở. Lần đầu chàng thấy những cây gạo nở hoa lá đẹp và ngỏ ý ấy với Trúc:


-  Anh có thấy thế không?


Trúc gật:


-  Đích thị. 


Rồi hai anh em nhặt những bông hoa thi nhau ném xuống hồ xem ai ném xa nhất. Bây giờ chàng còn như ngửi thấy mùi hăng và hơi ngọt của những bông hoa nhầu nát trong tay.  Chiều đến, Trúc hỏi Dũng:


-  Bây giờ chúng mình nghĩ sao?


Trúc bàn:


-  Hay ta lại nhảy vào?


Dũng cho là phải:


-  Ta lại nhảy vào như ta đã nhảy ra. 


Nhưng ý kiến hay ho ấy không thể thi hành được, vì đã có lệnh của ông đốc đuổi hết những học trò nào đã nhảy qua hàng rào trốn ra. 


(còn tiếp)


Nguồn: Đôi bạn. Tiểu thuyết của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam. Xuất bản lần đầu tại Hà Nội năm 1936- 1937. Bản điện tử của tusach.mobi. Bản này còn nhiều lỗi morasse. Mong bạn đọc thông cảm!

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 26.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »