tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29841289
Tiểu thuyết
17.12.2008
Dư Hoa
Gào thét trong mưa bụi

Lúc bấy giờ những chàng trai nghèo của tốp thợ đá đang nằm ngủ trên bãi sông, khi loạt đạn đầu tiên bắn đến, Tôn Hữu Nguyên vẫn an toàn, ông còn chống người dạy hỏi to, ai đang đốt pháo. Sau đó ông nhìn thấy một người anh em bên cạnh bị bắn nát mặt, dưới sáng trăng trông lầy nhày một đống như trứng gà bị đập vỡ. Đang mắt nhắm mắt mở, ông nội tôi liền co cẳng chạy. Khi chạy theo ven sông, ông cứ kêu oai oái. Nhưng một viên đạn đã xuyên qua đũng quần ông, ông lập tức im bặt. Tôn Hữu Nguyên thầm nghĩ toi rồi, dái đã bị bắn mất. Mặc dù vậy, ông nội tôi vẫn chạy thục mạng. Tôn Hữu Nguyên chạy một mạch mấy chục dặm. Lúc ấy ông cảm thấy đũng quần mình đã ướt sũng. Ông không nghĩ liệu đó có phải là mồ hôi, chỉ cảm thấy máu chảy sắp hết. Ông vội vàng đứng lại, thò tay ấn chặt vết thương trong đũng quần. Vừa ấn vào, ông đã sờ thấy hòn dái. Đầu tiên ông giật mình nghĩ bụng, mẹ kiếp cái gì thế này, sờ kỹ mới biết dái vẫn còn. Sau đó, ngồi dưới một gốc cây, ông nội tôi sờ thật lâu hai hòn dái bị mồ hôi ướt sũng, cứ hì hì cười hoài. Sau khi tin chắc mình không chết, ông mới nghĩ đến số anh em thợ đá trên bãi sông. Nghĩ  đến người anh em bị bắn nát mặt, ông gào khóc hu hu.


 


Rõ ràng, Tôn Hữu Nguyên đã không thể nối nghiệp ông cha. Mới hai mươi lăm tuổi, ông đã buộc phải nếm mùi thê lương của bố đẻ khi cáo lão về làng thuở nào. Khi sắp sửa sang xuân, ông nội trẻ tuổi của tôi, với vẻ mặt buồn rươì rượi của người già, lê từng bước trên con đường đầy cát bụi trở về quê.


 


Trước đó hơn một năm, sau khi trở về nhà, cụ nội tôi lăn ra ốm. Cụ bà tiêu hết số tiền giành giụm cũng không cứu nổi sức sống ngày xưa của cụ ông.Thế là lại cầm cố thêm một số đồ dùng có giá của gia đình. Cuối cùng ngay đến bản thân cụ bà, cũng ốm nằm liệt giường. Đêm ba mươi tết, khi về đến nhà, quần áo ông nội tôi rách bươm, không một đồng xu dính túi. Bố ông ốm nặng đã tắt thở. Mẹ ông nằm cạnh xác bố cũng đang thoi thóp. Bày tỏ niềm vui con trai trở về, bà mẹ bệnh tật đầy người chỉ còn biết thở mạnh và gấp gáp. Ông nội tôi đã mang cái nghèo túng trở về với gia đình nghèo túng như thế đó.


 


Lúc ông nội tôi còn trẻ, đây là những giờ phút thê thảm nhất. Trong nhà không còn thứ gì đáng để ông đưa ra hiệu cầm đồ, mà trước và sau tết xuân, cũng không có chỗ nào để ông bán sức lao động, đổi lấy một chút gạo củi. Tôn Hữu Nguyên bó tay hết sách. Sáng mồng một tết, đội gió lạnh thấu xương, ông vác xác bố  chạy vào thành phố. Ông có ý nghĩ hết sức kỳ cục định đưa xác bố vào hiệu cầm đồ. Dọc đường, ông luôn mồm xin lỗi xác chết trên vai. Dốc hết tâm tư, ông tìm lý do tránh tội cho mình. Xác cụ tôi  đã bị rét cóng hai ngày hai đêm trong gian nhà tranh trống huơ trống hoác, sau đó lại bị ông nội tôi vác đi ba mươi dặm trong gió bắc gào thét. Khi đặt trên quầy hiệu cầm đồ trong thành phố, xác cụ đã cứng đơ, rắn như que kem.


 


Nước mắt lưng tròng, ông nội tôi van xin ông chủ hiệu cầm đồ. Ông nói, ông không phải  đứa con bất hiếu, thật tình không có cách nào khác. Ông nói với chủ hiệu:


- Bố tôi chết không có tiền chôn cất. Mẹ tôi còn sống đang nằm trong nhà không có tiền chạy chữa. Xin ông rủ lòng thương, mấy hôm nữa tôi chuộc lại.


 


Chủ hiệu cầm đồ là một ông già hơn sáu mươi tuổi. Cả đời ông chưa bao giờ nghe nói người chết vẫn có thể cầm cố. Ông bịt mũi xua tay rối rít:


Không nhận, không nhận, ở đây không nhận “bồ tát vàng”.


 


Mồng một tết, ông nội tôi cứ tưởng bở, có thể kiếm được món hời, khiến cụ tôi vinh hạnh trở thành một pho tượng bồ tát vàng có giá cao.


 


Nhưng ông nội tôi không thức thời, vẫn rối rít van nài. Thế là ba nhân viên cửa hàng bước đến, thò tay đẩy xác cụ tôi ra. Xác cụ tôi cứng đơ, lăn phịch xuống đất như một tấm đá. Tôn Hữu Nguyên vội vàng ôm xác bố, nhìn xem cụ tôi có bị hư hỏng không, hình như mình đã đã mắc tội nặng. Ngay sau đó,  một luồng nước lạnh hắt lên đầu ông nội tôi. Khi ông vẫn còn đứng tại chỗ, người giúp việc hiệu cầm đồ đã bắt đầu quét dọn quầy hàng bị xác cụ tôi bám bẩn. Việc này đã làm cho ông đùng đùng nổi giận. Ông nhằm đúng mũi một  người giúp việc đấm một quả búa bổ. Thân anh chàng kia như  cục đất bắn khỏi nỏ, ngã quay lơ ra đất. Ông nội tôi cường tráng vô cùng, lại dốc hết sức hất đổ quầy hàng. Mấy người giúp việc khác cầm gậy xông vào đánh.Tôn Hữu Nguyên đành phải dơ xác bố lên chống đỡ và tấn công lại. Buổi sáng sớm giá lạnh ấy, ông nội tôi vung xác chết cứng đờ làm rung chuyển hiệu cầm đồ. Được xác bố chi viện mạnh mẽ, Tôn Hữu Nguyên dũng cảm đánh cho mấy người giúp việc khiếp vía kinh hoàng. Không ai trong số họ dám động đến xác chết, để khỏi gặp rủi ro trong cả năm. Mê tín của thời đó đã làm cho lòng dũng cảm của Tôn Hữu Nguyên hầu như không bị cản trở gì. Khi Tôn Hữu Nguyên vung xác bố đánh ông chủ cửa hiệu sắc mặt tái mét, thì đến lượt Tôn Hữu Nguyên kinh hoàng. Ông đập đầu bố vào một chiếc ghế. Một tiếng kêu đáng sợ khiến ông nội tôi bỗng nhận ra mình đang gây nghiệp chướng. Lúc này ông mới biết mình đã ngang ngược bố láo, lấy xác bố làm vũ khí. Đầu cụ tôi bị đánh ngoẹo sang một bên. Sau giây lát trố mắt ra nhìn, ông nội tôi lập tức vác xác bố ra khỏi cửa, chạy trong gió lạnh thấu xương. Sau đó Tôn Hữu Nguyên khóc lóc đau đớn như một đứa con có hiếu. Lúc bấy giờ ông ngồi dưới gốc một cây du mùa đông, ôm xác bố bị vẹo đầu trong lòng. Hí hoáy mãi, ông nội tôi mới nắn thẳng được đầu bố.


 


Mai táng bố xong, Tôn Hữu Nguyên vẫn không mai táng được cảnh nghèo khó. Trong mấy ngày sau đó, ông đành phải đào bới một số cây cỏ dại luộc cho mẹ ăn. Đó là những cây cỏ non màu xanh hồng nhạt mọc ở góc tường. Tôn Hữu Nguyên không biết đó là cây ích mẫu. Thế là ông vô cùng sung sướng nhìn thấy mẹ ốm lịêt giường, sau khi ăn cây này có thể lần  xuống giường đi lại được. Việc này khiến ông nội tôi ruột để ngoài da chợt hiểu một điều. Ông hết sức ngây thơ  cho rằng mình đã tìm ra một chân lý. Ông cảm thấy những thầy lang có bàn tay kỳ diệu, thật ra chẳng có bản lĩnh gì, chẳng qua là cắt một đống cỏ xanh nuôi người bệnh như nuôi dê nuôi cừu. Vì vậy ông đã bỏ ý định ra thành phố làm thuê. Sau khi bỏ nghề thợ đá, ông nội tôi quyết định sẽ đi chữa bách bệnh như thầy lang.


 


Tôn Hữu Nguyên hăng hái sôi nổi, ông biết mới đầu phải đến tận nhà hỏi khám, sau đó nổi tiếng, có thể ngồi nhà chữa bệnh cho người. Ông khoác một bồ cỏ tạp bắt đầu cuộc sống đi đến từng nhà. Giọng ông sang sảng, rao bán khắp nơi như người buôn đồng nát:


Thuốc đông y chữa bệnh đây!


 


Khi bố mẹ đứa trẻ từ trong nhà chạy ra hỏi ông nội tôi bằng lời vừa thành thật vừa nghi ngại, thật ngạc nhiên đã nghe Tôn Hữu Nguyên trả lời họ một cách ráo hoảnh:


Nó uống thuốc của tôi, tôi sẽ mang bệnh của nó đi.


 


Đứa trẻ đáng thương, sau khi uống một nắm cỏ xanh, lập tức miệng nôn trôn tháo ra nước xanh lè, chưa được hai hôm thì bỏ mạng. Rồi một buổi chiều, bà cụ tôi hốt hoảng nhìn thấy cảnh tượng, hơn mười người đàn ông hằm hằm giận dữ, xồng xộc vào nhà.


 


Lúc này ông nội tôi không hề sợ hãi. Ông giục mẹ sắc mặt nhợt nhạt đi vào trong nhà, rồi khép cửa. Còn mình tươi cười đón tiếp họ một cách cực kỳ hữu nghị. Người nhà và họ hàng người chết đến đòi mạng Tôn Hữu Nguyên. Trước đám người sắc mặt xanh xám, khăng khăng làm theo ý mình, ông nội tôi lại định dùng những lời đường mật lừa họ ra về. Không ai thèm nghe những lời xằng bậy dông dài của Tôn Hữu Nguyên. Họ xúm lại vây chặt ông nội tôi. Mấy lưỡi cuốc sáng loáng nhằm thẳng vào trán nhẵn thín của ông. Tôn Hữu Nguyên từng trải mưa bom bão đạn của quân đội Quốc dân đảng, lúc này tỏ ra rất bình tĩnh. Ông dương dương tự đắc nói với họ, đừng nói mới có hơn mười người, dù có đông gấp đôi, ông cũng đánh cho người nào người ấy đầy mình thương tích. Đứng trước cái chết, Tôn Hữu Nguyên nói ngông như thế, trái lại đã làm cho số người kia ngơ ngác không hiểu ra sao. Lúc này ông nội tôi phanh cúc áo, nói với họ:


Để ta cởi áo đã, sẽ đánh nhau với các người.


 


Tôn Hữu Nguyên gạt phắt một cái cuốc, đi đến trước nhà, đẩy cửa bước vào, còn dơ chân đạp đóng cửa lại một cách hết sức lịch sự. Ông nội tôi vừa vào đến nhà là như đá chìm đáy biển không bao giờ xuất đầu lộ diện. Đám người đến hỏi tội đứng ngoài xoa nắm đấm chờ đợi. Họ không biết ông nội tôi đã nhảy qua cửa sổ chạy trốn, người nào cũng sẵn sàng đợi lệnh như đứng trước kẻ thù lớn. Chờ chán chờ chê, chờ mãi không thấy Tôn Hữu Nguyên ra, cảm thấy không ổn, mới đạp cửa xông vào, căn nhà trống không. Sau đó họ đã trông thấy Tôn Hữu Nguyên đang cõng mẹ chạy trốn trên con đường mòn xa tít. Ông nội tôi không phải là gã nhà quê ngốc nghếch. Vượt cửa sổ chạy trốn chứng tỏ ông có dũng có mưu.


 


Sau khi Tôn Hữu Nguyên cõng cụ bà tôi  co cẳng chạy trốn, ông rất khó dừng lại. Giống như bà nội tôi, ông chen thân vào dòng người chạy loạn. Có mấy lần ông nghe thấy tiếng súng tiếng pháo của người Nhật Bản ở phía sau. Ông nội tôi là người con hiếu thảo điển hình thời đại đó. Ông không nhẫn tâm nhìn bà cụ tôi với đôi chân nhỏ vẹo vọ đi đường một cách khó nhọc. Thế là ông luôn luôn cõng mẹ, người đẫm mồ hôi, thở hổn hển, đi trên những con đường cát bụi mù mịt, chạy tán loạn theo dòng người tản cư. Mãi đến một buổi tối sau đó, Tôn Hữu Nguyên kiệt sức, đã tách khỏi dòng người, đặt mẹ dưới một thân cây khô héo, tự đi xa tìm nước, ông mới không cõng mẹ nữa. Bôn ba suốt ngày nọ sang ngày kia, bà cụ tôi vốn yếu ớt, vừa nẵm xuống đã ngủ thiếp đi. Trong đêm vắng lạnh dưới sáng trăng, sau khi đi vào giấc ngủ, bà cụ tôi đã bị  một con chó hoang ăn thịt. Lúc còn bé, suy nghĩ của tôi khó thoát ra khỏi cảnh tượng như ác mộng này. Một người ngủ say bị chó hoang cắn xé, ăn từng miếng, thật khủng khiếp biết chừng nào. Khi ông nội tôi trở lại gốc cây, bà cụ tôi đã bị cắn nát. Con chó hoang thè cái lưỡi dài ngoẵng cứ liếm vào mũi nó, hằm hằm nhìn ông nội tôi, khiến Tôn Hữu Nguyên khóc thét lên như một người điên. Lúc bấy giờ ông nội tôi hoàn toàn quên mình là một con người. Giống như một con chó hoang, ông gào lên lao đến. Con chó hoang bị tiếng thét của ông nội tôi làm cho hoảng sợ nhiều hơn. Nó quay ngoắt tháo chạy. Tôn Hữu Nguyên điên tiết lại đuổi theo con chó hoang. Buột mồm chửi lớn lúc đuổi theo, không ảnh hưởng đến tốc độ của ông. Rút cuộc chó đã chạy mất tăm mất tích. Còn ông nội tôi vừa thở hổn hển, vừa nước mắt dàn dụa, đành phải quay về bên xác mẹ. Quỳ bên thân mẹ, Tôn Hữu Nguyên cứ đấm vào đầu mình bôm bốp. Tiếng khóc thảm thiết của ông khiến bầu trời đêm trở nên âm u đáng sợ.


 


Sau khi chôn cất mẹ, vẻ mặt vốn tự tin từ lâu của Tôn Hữu Nguyên đã mất hết. Vô cùng đau khổ, ông như cánh bèo trôi theo dòng nước trên đường chạy loạn. Cái chết của mẹ khiến ông bỗng chốc cảm thấy mình chạy loạn chẳng còn ý nghĩa gì. Do đó, khi chợt nhìn thấy bà nội tôi ngồi trước bức tường đổ, lòng ông bỗng xao xuyến dạt dào. Bà nội tôi lúc ấy không hề còn bóng dáng giầu sang trên người. Quần áo rách bươm, bà ngồi trên bãi cỏ tạp. Từ trong mái tóc loà xoà, ánh mắt bà  nhìn thấy khuôn mặt rầu rĩ của ông nội tôi. Sau đó không lâu, bà nội tôi đang thoi thóp trong cơn đói lả, đã nằm ngủ mê mệt trên lưng ông. Thế là chàng trai Tôn Hữu Nguyên nhặt được một người đàn bà có thể làm vợ. Ông không còn phiêu bạt một cách không hề có mục tiêu nữa. Trải qua thời gian dài bị đói kém và nghèo khó cướp đoạt, khi Tôn Hữu Nguyên cõng bà nội tôi đi về phía trước, khuôn mặt hồng hào trẻ trung của ông ánh lên lấp lánh.


 


Tuổi già như  ngọn đèn trước gió


Sau khi ông nội ngã gẫy lưng, trong ấn tượng của tôi, đột nhiên xuất hiện một người chú. Con người tôi hoàn toàn xa lạ này, hình như làm nghề nhổ răng trên một thị trấn nhỏ. Nghe đâu ông và một thợ giết mổ cùng với một thợ giầy chiếm một ngã ba phố. Chú tôi  kế thừa nghề chữa bệnh hoang đường ông nội tôi từng làm, nhưng ông có thể giữ được lâu dài, chứng tỏ tay nghề của ông khác với lối làm bố láo của ông nội tôi. Ông căng một chiếc ô vải dầu to rộng, quay mặt ra hè phố ồn ào, giống như ngồi dưới ô câu cá. Hễ ông mặc lên người chiếc áo bơ lu trắng nhọ nhem, là có thể tự xưng bác sĩ. Trên chiếc bàn vuông nho nhỏ trước mặt, ông bày mấy cái kìm han rỉ và mấy chục cái răng sứt còn dính vết máu. Những cái răng đã nhổ là quảng cáo tốt nhất của ông. Ông lấy nó để khoe với thiên hạ tay nghề của mình đã đến độ thành thạo, mời chào  khách hàng long răng.


 


Một buổi sáng, khi ông nội tôi khoác chiếc túi vải xanh, ôm một cái ô cũ, lẳng lặng đi qua trước mặt chúng tôi, cả tôi lẫn anh trai hết sức ngạc nhiên. Khi đi ông không nói với bố mẹ tôi một câu, còn bố mẹ tôi cũng không có bất cứ biểu hiện gì khác thường. Bám trên bệ cửa sổ sau nhà,  chúng tôi nhìn ông nội đi từng bước chậm chạp. Mẹ tôi nói với chúng tôi:


Ông đến chỗ chú các con.


 


Hình tượng những năm cuối đời của ông nội giống như một chiếc ghế cũ xẹo xọ bị xếp xó, im ắng chờ một mồi lửa. Hôm vận hạn đến với ông, vì lớn tuổi hơn tôi, anh trai được một chiếc cặp sách. Trong ký ức tuổi thơ của tôi giờ phút ấy thật lung linh. Anh trai tôi sắp có cơ hội đi học, với niềm kiêu hãnh lạ lùng và tràn đầy hào hứng, chiều hôm ấy ngồi trên ngưỡng cửa, bố tôi Tôn Quảng Tài răn dậy anh tôi bằng những lời sang sảng:


- Nếu đánh nhau với trẻ con thành phố, một đứa thì mày đánh, hai đứa thì mau mau chạy về nhà.


 


Tôn Quang Bình nhìn Tôn Quảng Tài một cách ngây dại, đây là lúc anh tôi tôn thờ bố nhất. Vẻ thành kính của anh tôi, khiến bố tôi cứ nhắc đi nhắc lại những điều như thế không biết chán, cũng không cảm thấy mình nói thế là thừa.


 


Bố tôi là một lão nhà quê cực kỳ thông minh, bất cứ mốt thời thượng nào ông cũng biết. Khi anh trai tôi đeo cặp sách lần đầu tiên đến trường trong thành phố, Tôn Quảng Tài đứng ở đầu thôn nhắc nhở con lần cuối cùng. Một người lớn nhại giọng kẻ xấu trong phim như bố tôi thật là buồn cười. Ông nói to:


Khẩu lệnh.


 


Anh trai tôi có năng lực khái quát phi phàm trời sinh. Khi cậu bé mới tám tuổi quay người lại trả lời, không nói toàn bộ lời dậy rườm rà phức tạp tối qua của bố, mà nói ngắn gọn rõ ràng:


Một đứa thì đánh, hai đứa chạy về.


 


 Những năm về già, ông tôi cầm một sợi dây thừng lặng lẽ đi qua bên tôi, lên dốc núi  kiếm củi. Trong con mắt tôi lúc ấy, bóng sau lưng của ông Tôn Hữu Nguyên cao to tráng kiện. Khi đi hai chân ông hất mạnh, cát bụi bắn đầy vào mặt tôi, sự ghen tỵ của tôi đối với anh trai và niềm vui mù quáng lúc đó  trở nên mờ mịt.


 


Vận hạn của ông nội tôi gắn chặt với niềm phấn khởi của anh trai tôi. Một ngày của hơn hai mươi năm trước, khi tôi và em trai vẫn còn thoả mãn với mò ốc ở bờ ao, Tôn Quang Bình lần đầu tiên từ trường học Thành phố về nhà đã biết dùng tri thức khoe khoang bản thân.Tôi không quên dáng vẻ ra oai của Tôn Quang Bình lần đầu tiên cắp sách về nhà. Anh trai tôi lên tám đeo cặp sách trước ngực, hai tay chắp sau lưng, hiển nhiên động tác tiếp theo là bắt chiếc thầy giáo, sau đó ngồi xuống cạnh bờ ao, lấy ra một quyển sách, giơ lên soi mặt trời, rồi đọc một cách hết sức mất tự nhiên. Tôi và em trai lúc đó  cứ trơ mắt ra nhìn, giống như hai con chó đói cồn cào nhìn thấy một cục xương bay trước mặt.


 


Giữa lúc đó, bốTôn Quảng Tài cõng ôngTôn Hữu Nguyên mặt xám ngoét về nhà. Bố tôi lúc ấy tỏ ra vô cùng tức giận. Sau khi đặt Tôn Hữu Nguyên lên giường, ông lẩm bà lẩm bẩm ở ngoài sân:


- Tôi cứ sợ trong nhà có người ốm, toi rồi, chuyến này tổn thất lớn, thêm một người ăn, bớt một người làm, một vào một ra, nhưng là hai người .


 


Ông nội tôi đã nằm xuống là nằm một tháng, sau đó tuy xuống đất đi lại được, nhưng sau khi từ dốc núi lăn xuống, lưng ông đã  vĩnh viễn cứng đờ. Tôn Hữu Nguyên mất khả năng lao động, khi nhìn thấy người làng, nụ cười của ông còn sợ hãi hơn khi bà nội tôi đột nhiên qua đời. Tôi còn nhớ vẻ sợ hãi trên mặt ông. Ông thường nói với người khác:


Không cúi lưng được.


 


 Giọng ông đầy vẻ bộc bạch tha thiết và tự trách bản thân. Bệnh tật đến bất ngờ đã thay đổi số phận của Tôn Hữu Nguyên, ông bắt đầu sống ăn bám. Trong thời gian không đầy một năm trước khi tôi đi khỏi Cửa Nam, ông già vốn khoẻ mạnh, xanh gầy đi nhanh chóng như hoá trang. Rất rõ ràng ông đang tồn tại  như là một người thừa, sống nhờ vào hai người con trai thay nhau nuôi dưỡng. Đến lúc này tôi mới biết mình còn có một ông chú. Ông nội ở nhà tôi đủ một tháng, tự ra khỏi nhà, đi theo lối mòn vào thành phố. Sau khi vào thành phố, hình như còn đi một chặng tầu thuỷ mới đến nhà chú tôi. Một tháng sau, thường vào lúc chiều tối cái bóng tập tà tập tễnh của ông lại  xuất hiện trên lối mòn.


 


Khi ông nội về, tôi và anh trai xúc động chạy ra đón. Cậu em trai đành phải đứng trơ ở đầu làng cười ngây dại nhìn chúng tôi. Tôn Hữu Nguyên tôi nhìn thấy lúc đó, là ông nội nước mắt rưng rưng. Khi xoa đầu chúng tôi, tay ông run bần bật. Thật ra, chúng tôi chạy hăng máu như thế không phải xuất phát từ vui mừng đón ông, mà là một  cuộc đọ sức giữa tôi và anh trai. Cái túi trên vai và cái ô trong tay ông nội khi trở về, là lý do kích thích chúng tôi. Đứa nào giằng được cái ô trước, đứa ấy hiển nhiên là kẻ thắng. Còn nhớ, có một lần anh trai chiếm một mình cả hai thứ ô và túi, đi bên phải ông nội, anh tôi nghênh ngang tự kiêu tự mãn, còn tôi không giành được gì, buồn bực muốn chết. Trên đoạn đường ngắn ngủi, tôi luôn luôn tố cáo với ông tính ngang ngược của anh trai. Tôi vừa khóc vừa nói:


Anh ấy lấy cả túi, đã lấy ô rồi, lại còn đòi lấy túi.


 


Ông tôi không đứng ra phân xử công bằng như tôi mong đợi, sự hiểu lầm đối với chúng tôi, khiến ông khóc xướt mướt. Đến nay tôi vẫn còn nhớ như in cảnh tượng ông giơ mu bàn tay lau nước mắt. Em trai tôi lên bốn là một cậu bé láu táu hay hớt, nhìn thấy ông khóc, liền hớt hơ hớt hải chạy về nhà, giọng the thé, mách bố mẹ:


Ông đang khóc ngoài kia.


 


Nó lấy đó bù lại sự đáng tiếc không tranh được cái gì như tôi.


 


Trước khi rời khỏi nhà, vì lúc ấy mình còn bé, tôi không cảm nhận được nỗi tủi nhục ông tôi phải chịu đựng trong gia đình. Bây giờ hồi tưởng lại, trong tháng ông nội tôi trở về nhà, bố tôi Tôn Quảng Tài thường hay nóng nẩy quát mắng. Giống như gió giật mùa đông, chốc chốc ông lại đột nhiên gào thét trong căn nhà chật hẹp. Chỉ khi Tôn Quảng Tài chỉ tay mắng Tôn Hữu Nguyên, tôi mới xác định được cơn bực tức của bố đang trút vào đâu, không thì tôi chỉ nhìn bố sợ hãi vô cùng, bởi vì tôi không thể đoán,tiếp theo liệu Tôn Quảng Tài có đột nhiên đá vào mình. Lúc tôi còn bé, bố là một người rất khó hiểu.


 


Trong những ngày ở nhà tôi, ông nội vâng vâng dạ dạ, thường hay trốn tránh. Ông cứ ngồi chết dí ở một góc chẳng ai để ý, cho hao mòn dần mạng sống chẳng còn mấy nả. Nhưng khi ăn cơm, ông lại xuất hiện nhanh như chớp, thường khiến ba anh em tôi ngạc nhiên. Em trai tôi lúc đó có cơ hội thể hiện bản thân. Nó có vẻ khoái chí, che tay lên ngực, thổi phồng sự ngạc nhiên.


 


Trong ký ức tôi, vẻ nhút nhát sợ sệt của ông nội còn rất rõ nét. Một hôm để tìm ông nội, cậu bé Tôn Quang Minh bước đi còn lảo đảo  bị ngã oà khóc, lại còn láo lếu buột mồm chửi to, làm như có người ngáng nó ngã. Cậu em nói chưa sõi, tuy rất muốn chửi thật rõ tiếng, nhưng từ đầu chí cuối tôi chỉ nghe thấy tiếng ăng ẳng như chó con. Lần ấy ông nội tôi sợ tái mặt, ông sợ Tôn Quang Minh cứ khóc mãi cho đến lúc bố tôi từ ngoài đồng về. Tôn Quảng Tài không bỏ qua bất cứ cơ hội nào khiến ông đùng đùng nổi giận. Nỗi hoảng sợ tai nạn sắp đến, hiện rõ trong ánh mắt Tôn Hữu Nguyên.


 Sau khi ngã gẫy lưng, ông Tôn Hữu Nguyên rất ít kể về bà nội, khiến chúng tôi cảm thấy không yên. Ông bắt đầu quen dần ngồi một mình nhớ lại những ngày xưa chung sống với bà nội. Đúng vậy, giữa hai ông bà cũng có những chuyện chỉ có ông mới hiểu.


 


Khi Tôn Hữu Nguyên ngồi trong ghế tre nhớ lại người vợ trẻ đẹp đã từng sống giầu sang một thời, do sự biến đổi của những nếp nhăn, khuôn mặt cớm nắng của ông trở nên sinh động vô cùng. Tôi thường nhìn trộm nụ cười trên mặt ông khe khẽ lay động như cỏ xanh. Trong ánh mắt tôi hiện giờ, nụ cười ấy cảm động biết chừng nào, nhưng trong con mắt tôi lúc sáu tuổi lại ngạc nhiên khó hiểu. Tôi hết sức ngạc nhiên phát hiện một người lại ngồi cười một mình. Tôi nói điều này với anh trai. Tôn Quang Bình đang mò tôm bên sông đã chạy về nhà với tốc độ tôi rất khó đuổi kịp. Anh trai vui vẻ thừa nhận tôi nói đúng. Khi hai anh em bẩn như ma chạy đến trước mặt, ông vẫn đang khẽ cười. Anh trai lên tám,với dũng khí tôi rất khó tưởng tượng, đã  bất thình lình gọi to một tiếng, kéo ông ra khỏi ký ức đa sầu đa cảm. Như bị sét đánh, ông nội tôi giật mình, toàn thân run run. Anh tôi đã chôn vùi nụ cười lý thú của ông. Mắt ông nội ánh lên hoảng sợ. Sau khi mặc áo ngoài, đi đến chỗ ông nội, anh trai tôi mắng ông bằng giọng trẻ con:


- Sao lại cười một mình, chỉ có điên mới cười một mình - Anh trai tôi vung tay -  Từ nay trở  đi  đừng cười một mình nữa,  nghe chưa?


 


Ông nội tôi hiểu ra, gật đầu trả lời Tôn Quang Bình một cách rất hiền lành và thành thật.


 


Những năm cuối đời, Tôn Hữu Nguyên ra sức lấy lòng bất cứ người nào trong gia đình. Là bậc ông cha trong nhà, ông tôi tự ty như thế, rất khó được con cháu tôn kính. Có một thời gian tôi ở trong hai trạng thái tâm lý đổi lập. Một mặt tôi ngầm cổ vũ mình bắt chiếc sự hống hách đối với ông nội của Tôn Quang Bình, làm một đứa trẻ có thể ra lệnh cho người lớn. Tôi rất xúc động và phấn  khởi về chuyện này. Mặt khác, tôi luôn luôn bị khuất phục trước ánh mắt hiền từ của ông nội. Khi chúng tôi bốn mặt nhìn nhau, ánh mắt thân thiết của  ông nội Tôn Hữu Nguyên nhìn mình khiến tôi không thể khoe khoang ra oai giả tạo đối với ông. Tôi đành phải cúi đầu buồn bã đi vào nhà, với ánh mắt bái phục tìm anh trai Tôn Quang Bình.


 


Sau khi làm như không xảy ra chuyện gì, ông nội vu cáo em trai tôi, tôi mất hẳn ý nghĩ ra oai với ông. Trong những ngày sau đó, tôi cảm thấy đáng sợ Tôn Hữu Nguyên.


 


Sự việc thật ra rất giản đơn. Từ góc nhà đứng dạy đi vào buồng, ông nội tôi sơ ý đánh rơi một cái bát để cạnh bàn. Lúc đó tôi đứng gần đấy. Ông nội tôi hết sức sợ hãi. Ông đứng thừ người nhìn mảnh vỡ trên nền nhà. Bây giờ nhớ lại, bóng sau lưng của ông lúc đó hư vô như một bóng đen. Nhưng tôi còn nhớ một chuỗi dài những lời lảm nhảm  kinh sợ ông nói ra lúc bấy giờ. Cho đến nay tôi cũng chưa bao giờ nghe thấy một người nào nói nhanh đến như thế.


 


Tôn Hữu Nguyên không nhặt những mảnh bát trên nền nhà như tôi tưởng.Lúc bấy giờ đã lên sáu, tôi loáng thoáng cảm nhận ra việc đáng sợ. Rõ ràng sự đáng sợ này liên quan đến bố tôi sắp về nhà. Đúng là tôi không biết tiếng quát tháo lần này của Tôn Quảng Tài sẽ kinh khủng như thế nào. Khi bố tôi tinh lực hơn người, nhẹ nhàng và thành thạo vung nắm đấm như mẹ tôi vung chiếc khăn đội đầu, tôi đứng tại chỗ nhìn ông nội lại đến ngồi ở góc nhà. Không hề che dấu sai sót của mình, ông cứ yên chí ngồi một chỗ. Rõ ràng sự bình thản của ông nội đã tăng thêm lo ngại của tôi. Giữa những mảnh bát vỡ và nét mặt bình tĩnh của ông nội, ánh mắt ở tuổi ấu thơ của tôi bối rối không biết làm thế nào, sau đó tôi hoảng sợ bỏ chạy như gặp phải rắn.


 


Đúng như tôi sợ hãi, Tôn Quảng Tài tỏ ra hết sức bực tức trước mất mát này. Không biết có phải bố hy vọng ông nội đánh vỡ cái bát này, để từ đó ông có  mắng chửi và răn dậy ông nội   cũng là chuyện đương nhiên. Tôn Quảng Tài mặt đỏ bừng bừng, quát tháo ầm ĩ  không biết mệt. Tiếng quát của ông như giông bão. Ba anh em chúng tôi run cầm cập. Khi ánh mắt khiếp đảm của tôi nhìn vào Tôn Hữu Nguyên, ông nội đã khiến tôi ngạc nhiên. Ông nhún mình đứng lên nói với Tôn Quảng Tài:


Tôn Quang Minh đánh vỡ.


 


Lúc ấy cậu em đứng bên cạnh tôi. Cậu bé bốn tuổi phớt lờ lời nói của ông nội. Nó sợ là sợ vẻ hung hãn của Tôn Quảng Tài. Khi bố tôi không ghìm  nổi cơn giận hỏi nó:


Mày đánh vỡ hả?


 


Cậu em tôi cứ há mồm trợn mắt không trả lời. Vẻ hung hãn của bố đã làm nó hoảng hồn, mãi đến lúc Tôn Quảng Tài quát nó lần nữa và sấn đến, tôi mới nghe thấy nó biện bạch:


Không phải con.


 


Em trai tôi luôn luôn nói ngọng, cho đến ngày trước khi chết, nó vẫn nói ú a ú ớ  nghe không rõ.


 


Câu trả lời của cậu em khiến bố tôi càng điên tiết, có lẽ như thế có thể kéo dài sự phấn chấn tinh thần của ông, Tôn Quảng Tài gần như hét vỡ giọng:


Không phải mày làm sao bát vỡ được?


 


 Mặt em tôi thuỗn ra, trước câu hỏi của bố, nó đành phải lắc đầu một cách hết sức hồ đồ. Xét cho cùng nó còn quá nhỏ, chỉ biết phủ nhận một cách đơn giản, hoàn toàn không biết tiếp theo phải kể rõ lý do.


 


Tai ác thay, lúc đó đột nhiên bên ngoài có con chim cuốn hút nó, nó còn hớn hở chạy đi. Bố tôi không thể chấp nhận việc này.Tôn Quảng Tài hổn hà hổn hển gọi Tôn Quang Minh:


Thằng chó kia, quay về ngay.


 


Em tôi tuy biết sợ, nhưng không biết vấn đề đã vô cùng nặng nề. Khi chạy vào nhà , nó trợn tròn mắt, hết sức nghiêm chỉnh chỉ ra ngoài trời nói với Tôn Quảng Tài:


Chim nhỏ, chim nhỏ bay qua kìa.


 


Tôi nhìn thấy bàn tay to khoẻ của bố tát một cái đánh bốp vào mặt non choẹt của em trai. Em tôi  ngã lăn ra đất như bị ném. Tôn Quang Minh nằm lịm đi tại chỗ hình như lâu lắm. Mẹ tôi, trước cơn giận của bố, mẹ cũng sợ như tôi, lúc này bà kêu rú lên chạy đến chỗ con. Cuối cùng Tôn Quang Minh đã khóc thét, như không biết tại sao mình bị đánh, khi em tôi oà khóc cũng không biết tại sao mình khóc.


 


Bố tôi đã bắt đầu bớt giận, ông đấm xuống bàn một cái, quát:


Khóc cái con mẹ mày.


 


Tiếp theo, Tôn Quảng Tài đi ra ngoài. Giữa cơn tức giận và tiếng khóc của Tôn Quang Minh, ông đã chọn nhượng bộ. Khi đi ra ngoài, bố tôi vẫn lủng bủng:


- Đồ phá gia chi tử, nuôi một lũ phá gia chi tử.  Mẹ kiếp, già đi đường thì kêu đau lưng, trẻ lên bốn rồi, nói cứ ú a ú ớ  như ngậm bi trong mồm. Nhà đến lúc lụn bại, hết tai này đến ách khác.


 


Cuối cùng là thương thân trách phận:


Số tôi  nó khổ thế.


 


Đối với tôi thời đó, tất cả xảy ra quá nhanh chóng. Trong khi tôi vẫn còn trong cơn sợ hãi, bố tôi bỏ ra ngoài. Khi tôi nhìn ông nội bằng ánh mắt căm thù, Tôn Hữu Nguyên vẫn đứng tại chỗ, hình như đã nếm đủ sợ hãi. Lúc đó tôi không bênh em mình ngay, có lẽ tôi cũng đã  hồ đồ, một đứa trẻ lên sáu dường như thiếu phản ứng nhanh nhạy, tối thiểu lúc ấy tôi như vậy. Từ đó trở đi, chuyện này luôn luôn ám ảnh tôi như một bóng ma dưới sáng trăng. Tôi luôn luôn muốn đứng ra tố giác ông nội, nhưng cuối cùng tôi vẫn không làm. Một lần tôi đã từng một mình đi đến bên ông, lúc đó ông ngồi ở góc tường tróc lở lốm đốm đang nhìn tôi bằng ánh mắt lúc nào cũng hiền từ. ánh mắt thân thiết của ông lúc ấy khiến tôi tự nhiên rùng mình. Tôi đánh bạo nói với ông:


Ông đánh vỡ bát.


 


Ông nội bình tĩnh lắc lắc đầu, lại còn cười với tôi một cách hiền lành. Nụ cười của ông giống như quả đấm mạnh lao tới, tôi cố hết sức không chạy đi ngay. Tôi đã nói rõ to để che dấu sự hoang mang trong lòng:


-    Là ông.


 


Tiếng nói chính nghĩa của tôi  không khuất phục được ông nội. Ông bình tĩnh nói với tôi:


Không phải ông.


 


Thái độ cứng rắn của ông, trái lại khiến tôi nghi ngờ bản thân, liệu tôi có nhìn sai thật không. Giữa lúc tôi không biết làm thế nào, ông lại cười với tôi bằng nụ cười tai quái. Tôi mất hết dũng khí, vội vàng chạy đi.


 


Thời gian cứ trôi qua từng ngày, tôi cảm thấy đứng ra tố giác ông nội cũng trở nên càng ngày càng gian nan. Đồng thời tôi càng ngày càng cảm thấy rõ nét mình có sự sợ hãi rất khó  diễn tả đối với ông nội. Có lúc tôi chạy vào trong nhà lấy đồ, đột nhiên trông thấy ông nội ngồi ở một góc đang nhìn mình, toàn thân tôi run bắn.


 


Tôn Hữu Nguyên hừng hực sức sống thời trai trẻ, trải qua hơn ba mươi năm bị bà nội cướp đoạt, vào những năm cuối đời đã trở thành một ông già nhút nhát vâng vâng dạ dạ. Nhưng song song với thể lực ông mỗi ngày một sa sút, sức lực nội tâm lại tăng lên. Tôn Hữu Nguyên tuổi già như ngọn đèn trước gió, lại một lần nữa thể hiện thông mình tài trí thời trai trẻ của mình.


 


Bố tôi thích răn dậy ông nội trong bữa ăn. Những lúc thế này Tôn Quảng Tài thường rất không muốn nhìn thấy mình đang bị mất mát. Trong tiếng mắng chửi hư trương thanh thế của bố tôi, ông nội cúi đầu ra vẻ sợ sệt, nhưng không hề ảnh hưởng đến tốc độ ăn cơm của ông. Khi gắp thức ăn, đôi đũa trên tay ông dơ ra thụt vào nhanh kinh khủng. Ông bỏ ngoài tai lời răn dậy của Tôn Quảng Tài, hình như ông coi đó là những thức ăn ngon, mãi đến lúc bát đũa trong tay ông bị giằng mất, ông mới buộc phải dừng lại. Tôn Hữu Nguyên lúc này vẫn cúi đầu, mắt cứ nhìn chằm chằm vào cơm và thức ăn trên mâm.


 


Về sau bố tôi bắt ông nội ngồi trên một ghế nhỏ, ông nội tôi khi ăn cơm chỉ nhìn thấy bát trên mâm, không nhìn thấy thức ăn trong bát. Lúc bấy giờ tôi đã rời Cửa Nam. Ông nội đáng thương của tôi đành phải tì cằm lên mâm, giương mắt nhìn mọi người gắp thức ăn trong bát. Em trai tôi vì lùn nhỏ cũng chịu  chung một số phận. Nhưng lúc nào nó cũng được bà nội gắp cho. Tôn Quang Minh là một cậu bé ưa  mạnh mẽ, chốc chốc cậu lại đứng lên ghế, tự gắp lấy, không cần bà gắp dùm. Cậu bé ngô nghê này đã bị  trừng phạt nặng. Bố tôi lúc đó không hề mềm tay, vì việc nhỏ xíu này, ông đã thượng cẳng chân hạ cẳng tay với em trai tôi, đồng thời cứ tuyên bố đi tuyên bố lại giống như một bạo chúa:


Đứa nào đứng lên ăn, tao sẽ đánh gẫy chân.


 


Ông nội tôi thông minh, biết dụng ý thực sự của Tôn Quảng Tài. Sự trừng phạt nghiêm khắc của bố đối với em trai tôi, thật ra là nhằm đe doạ ông nội. Với tư thế nhẫn nhục chịu đựng, ông nội tôi ngồi ngay ngắn trên chiếc ghế nhỏ. Khi gắp thức ăn, ông giơ cao tay một cách khó khăn, khiến Tôn Quảng Tài cảm thấy hả lòng hả dạ.


 


Nhưng ông nội tôi  đối phó với con trai mình bằng phương thức kín đáo giống như con chuột đào hang trong đê lớn. Như lần trước đánh vỡ bát đổ tội cho em tôi, Tôn Hữu Nguyên lại một lần nữa nhằm trúng Tôn Quang Minh. Sự thực cũng chỉ có ông nội và Tôn Quang Minh canh cánh bên lòng đối với chiều cao bàn ăn. Nhưng em trai tôi chỉ chú ý đến điều này khi ăn cơm, còn những lúc khác chỉ biết chui lủi khắp nơi như con thỏ hoang. Còn ông nội tôi, Tôn Hữu Nguyên ngồi lâu dài trong xó nhà, có đủ thì giờ suy nghĩ tính toán để đối phó.


 


Trong mấy ngày đó, mỗi khi em trai tôi gần gũi ông nội, ông nội tôi lại chép miệng ca cẩm:


Bàn cao quá.


 


Tôn Hữu Nguyên cứ nhắc đi nhắc lại khiến cậu em chín tuổi của tôi cuối cùng đã có lần đứng giữa ông nội và cái bàn, Tôn Quang Minh cứ nhìn đi nhìn lại mãi ông nội và cái bàn. Cặp mắt sáng lấp lánh của Tôn Quang Minh, khiến ông nội tôi hiểu thằng bé này đã bắt đầu động não.


 


Tôn Hữu Nguyên đi guốc trong bụng em tôi, ông bỗng ho rũ rượi. Tôi không biết có phải ông ho là để che dấu mình hay không, ông có đủ lòng kiên nhẫn chờ đợi Tôn Quang Minh tự quyết định.


 Ngoài nói ngọng ra, về các mặt khác em trai tôi đều đáng khen, với tài trí bé nhỏ và ham muốn phá hoại ở lứa tuổi đó, cậu đã lập tức tìm thấy biện pháp đối phó với chiều cao của chiếc bàn. Cậu dương dương tự đắc nói với ông nội:


Cưa nó đi.


 


Ông nội tôi tỏ ra vô cùng ngạc nhiên. Trong sự ngạc nhiên của ông lộ rõ vẻ tán thành, đã khích lệ Tôn Quang Minh. Cậu bé hớn hở, hoàn toàn say sưa trong sự thông minh của bản thân, Cậu nói với Tôn Hữu Nguyên:


Cưa một nửa chân bàn.


 


Tôn Hữu Nguyên gật đầu, ông nói với cậu bé:


Cháu không cưa nổi đâu.


 


Cậu em ngô nghê của tôi không biết mình đang đi vào cạm bẫy. Cậu bực tức trước thái độ khinh thường của ông nội đối với mình, cậu nói với ông nội:


Cháu cưa được.


 


Tôn Quang Minh cảm thấy cãi bằng lời chẳng đi đến đâu, chui luôn vào gầm bàn, đội bàn  ì ạch  đi được hai bước, sau đó lại chui ra nói với ông nội:


Cháu khoẻ lắm.


 


Tôn Hữu Nguyên vẫn lắc đầu, ông muốn làm cho Tôn Quang Minh hiểu, sức ở tay kém xa sức ở thân, em trai tôi vẫn không cửa nổi chân bàn.


 


Nên nói, đầu tiên Tôn Quang Minh phát hiện có thể cưa bớt một nửa chân bàn, chỉ là  sự phát hiện để thoả mãn tư tưởng. Tôn Hữu Nguyên tỏ ra nghi ngờ đối với sức của cậu, khiến cậu phải hành động thật sự. Chiều hôm ấy em trai tôi tức tốc ra khỏi nhà, sang hàng xóm mượn bác thợ mộc một cái cưa để chứng minh với ông nội mình có thể cưa được chân bàn. Khi Tôn Quang Minh sang nhà bác thợ mộc, bác đang ngồi trên ghế uống trà. Em trai tôi sốt sắng chào hỏi:


-  Chào bác, bác vất vả quá - Sau đó nói tiếp -  Cưa bác để rỗi chắc chắn cho cháu mượn được chứ ạ?


 


Bác thợ mộc chẳng coi em tôi ra gì, bác xua đuổi Tôn Quang Minh.


Tránh ra, tránh ra, mẹ kiếp ai thèm cho mày mượn.


-   Cháu biết bác không chịu cho mượn - Tôn Quang Minh nói -  Bố cháu lại bảo bác sẽ cho mượn. Bố cháu bảo khi bác làm nhà, bố cháu còn sang giúp bác.


 


Tôn Quang Minh dẫm phải bẫy của ông nội, nhưng lại sang cài bẫy bác thợ mộc. Bác thợ mộc hỏi:


 


Tôn Quảng Tài mượn cưa làm gì?


Cháu cũng không biết - Tôn Quang Minh lắc đầu nói.


Cầm về - Lúc này bác thợ mộc đã đồng ý.


 


Em trai tôi vác cưa về nhà, đặt cạch một tiếng xuống đất, giọng the thé nói với Tôn Hữu Nguyên:


Ông bảo cháu không cửa nổi phải không?


 


Tôn Hữu Nguyên vẫn lắc đầu đáp:


Nhiều nhất cháu cưa được một chân.


 


Buổi chiều hôm ấy, cậu em trai vừa thông mình vừa ngây ngô, mồ hôi mồ kê nhễ nhại cưa đứt một nửa cả bốn chân ghế. Trong khi cưa, cậu còn thỉnh thoảng quay đầu hỏi Tôn Hữu Nguyên:


Sức cháu có khoẻ không?


 


Ông nội tôi không kịp thời động viên cậu, nhưng ông luôn luôn giữ nét mặt ngạc nhiên. Riêng điều này cũng đủ khiến cậu em hăng hái cưa hết bốn chân ghế. Tiếp theo Tôn Quang Minh không còn cảm thấy kiêu kãnh nữa, ông nội tôi đã tỏ ra lạnh lùng và  sợ hãi thật sự. Ông nói với cháu nhỏ:


Cháu đã gây nghiệp chướng, bố cháu sẽ đánh chết cháu.


 


Cậu em đáng thương của tôi sợ hãi cứ há mồm trợn mắt. Đến lúc này cậu mới biết hậu quả đáng sợ. Tôn Quang Minh nước mắt lưng tròng nhìn ông nội. Tôn Hữu Nguyên lại đứng lên  đi về buồng. Sau đó em trai tôi một mình đi ra ngoài.  Nó mất hút cho đến sáng hôm sau. Nó không dám về nhà, nhịn đói nhịn khát ngủ đêm ngoài ruộng lúa. Đứng trên bờ ruộng, bố tôi nhìn thấy một đám lúa xẹp hẳn xuống và thế là ông tóm được em tôi. Qua một đêm quát tháo Tôn Quảng Tài vẫn ngùn ngụt lửa giận, ông đánh mông em tôi sưng vù, thâm tím như quả táo trên cây, một tháng sau em tôi vẫn không ngồi ghế được, còn ông nội tôi không phải dơ cao cánh tay khi ăn cơm. Mãi đến năm mười hai tuổi tôi trở về Cửa Nam, chiếc bàn cưa mất một nửa chân đã thành than trong đống lửa rừng rực. Khi ăn cơm không ai còn phải cúi đầu khom lưng nữa.


 


Sau khi tôi về đến Cửa Nam, nỗi sợ hãi đối với ông nội còn giữ lúc sáu tuổi lại nhanh chóng chuyển đổi thành sự đồng tình đối với bản thân. Cùng với nỗi khốn khổ mỗi ngày một tăng lên của tôi trong gia đình, sự tồn tại của ông nội đã trở thành niềm an ủi không thể thiếu của tôi. Khi tôi nơm nớp lo âu chỉ sợ có chuyện gì xẩy ra trong gia đình, rất rõ ràng  dù chuyện ấy có liên quan với tôi hay không, tôi đều chịu rủi ro. Thế là tôi dần dần hiểu ra, tại sao ngày xưa ông nội tôi phải vu cáo em tôi. Trong thời gian đó, bố tôi thường xuyên phanh lồng ngực lép kẹp, phơi hai hàng xương sườn trước dân làng, để chứng minh tại sao mình gầy yếu. Đó là vì:


Tôi phải nuôi hai con giun.


 


Tôi và ông nội giống như hai người khách không mời mà đến, ăn bám lâu dài trong khẩu phần lương thực  của Tôn Quảng Tài.


 


Sau khi em trai tôi cưa chân bàn, giữa ông nội và bố tôi có một cuộc đọ sức quyết liệt. Tuy bố tôi giữ khí thế hung hăng đến giờ phút cuối cùng, nhưng trong nội tâm ông vẫn bị ông nội đánh bại. Cho nên sau khi về Cửa Nam tôi không còn bao giờ thấy bố công khai chửi mắng và răn dậy ông nội. Trước khi tôi ra đi chuyện ấy xẩy ra như cơm bữa. Sự bất mãn đối với ông nội của bố tôi, xét đến cùng cũng chẳng đi đến đâu. Chẳng qua Tôn Hữu Tài cũng chỉ  thường xuyên ngồi trên ngưỡng cửa, lẩm bà lẩm bẩm, thở ngắn than dài, như một người đàn bà  đã có tuổi.


-  Nuôi người thật chẳng giống nuôi cừu, lông cừu có thể bán lấy tiền, phân cừu có thể bón ruộng, thịt cừu có thể ăn. Nuôi người thì quá ư xúi quẩy, cần lông không có lông, ăn thịt  người, mình lại không dám, vào nhà tù ai đến cứu.


 


Sự điềm tĩnh của Tôn Hữu Nguyên khi bị  xỉ nhục đã để lại cho tôi ấn tượng không thể phai mờ. Ông thường mỉm cười và hiền từ nhìn người khác công kích mình. Sau khi lớn khôn, mỗi lần nghĩ đến ông nội, tôi lại nhìn thấy nụ cười hấp dẫn của ông. Khi còn sống bố tôi đã từng vô cùng sợ hãi nụ cười của ông nội. Tôn Quảng Tài lúc bấy giờ thường phải quay ngoắt người đi, đứng ngồi không yên, như bị đánh đòn, mãi đến lúc đi ra xa, chỉ có một mình, ông mới mắng:


Cười y như một người chết, hễ ăn vào là sống.


 


Do tuổi già mà suốt ngày nghĩ quanh nghĩ quẩn,Tôn Hữu Nguyên cũng dần dần hiểu hoàn cảnh khó khăn của tôi trong gia đình. Ông né tránh tôi cũng càng ngày càng rõ. Mùa thu năm ấy, khi ông ngồi sưởi nắng ở góc tường, tôi đi đến bên ông, đứng im lặng rất lâu, hy vọng ông có thể nói với mình điều gì đó, nhưng vẻ mặt phớt đời của ông, không phá tan được sự im lặng giữa hai ông cháu. Sau đó láng máng nghe thấy tiếng gọi í ới ra về của bà con ngoài đồng, Tôn Hữu Nguyên chân tay cứng đơ, lập tức đứng dạy, run rẩy đi vào trong nhà. Ông nội tôi sợ bố tôi nhìn thấy hai ông cháu bố không ưa ở bên nhau.


 


Còn có một vụ cháy nhà xảy ra giữa lúc tôi và ông nội về gia đình, làm cho Tôn Quảng Tài nghi ngờ chúng tôi một thời gian rất dài, hình như ông cháu tôi gây ra vụ cháy đó. Mới đầu, khi tôi và ông nội thỉnh thoảng ở bên nhau, tôi ngạc nhiên nghe thấy bố đấm ngực dậm chân gào to. Tôn Quảng Tài đứng ở gần đó kêu dãy nẩy:


 


-  Nhà của tôi, nhà của tôi lại sắp đi toi, hai người này ở bên nhau sẽ cháy nhà cho mà xem.


 


Năm gần bảy tuổi, tôi đi theo một người tên là Vương Lập Cường mặc quân phục rời khỏi Cửa  Nam. Trên con đường mòn, tôi gặp ông nội sống đủ một tháng ở nhà chú trở về. Lúc ấy tôi không biết mình đã bị bố đem cho người khác. Tôi cứ tưởng mình được đi chơi một chuyến thoả thích. Vì không còn tranh nhau chạy thi, anh trai Tôn Quang Bình không chạy đến với ông nội nữa, mà đứng ở đầu làng buồn thỉu buồn thiu. Vẻ ỉu xìu của anh trai khiến tôi cảm thấy vô cùng kiêu hãnh khi đi theo ông Vương Lập Cường mặc quân phục. Cho nên khi nhìn thấy ông nội, tôi tỏ ra hớn hở. Tôi nói với ông:


- Bây giờ cháu không có thời gian nói chuyện với ông nữa.


 


Với thân hình bé nhỏ gầy yếu, tôi ngẩng đầu sải bước đi qua bên ông nội, cố ý hất tung cát bụi. Bây giờ tôi đã  nhớ lại ánh mắt của ông nội. Khi tôi quay đầu nhìn anh trai, tôi đã nhìn thấy ông nội trước. Thân hình lụ khụ của ông đã che tầm nhìn của tôi. Đứng tại chỗ, Tôn Hữu Nguyên nhìn tôi đầy vẻ nghi ngại, ánh mắt ông lo lắng không yên. Giống tôi lúc bấy giờ, ông không hay biết số phận tới đây của tôi ra sao. Nhưng với vốn sống của một người già, ông tỏ vẻ  hoài nghi trước sự hớn hở của tôi khi ra đi.


 


Năm năm sau, khi tôi một mình trở về Cửa Nam, sự trùng hợp của định mệnh đã khiến tôi và ông gặp nhau trong giờ phút nhập nhằng lẫn lộn giữa mây đen và ráng chiều. Lúc bấy giờ chúng tôi đã không nhận ra nhau. Thời gian năm năm tôi chứa đựng hàng loạt ký ức, do đó đã chen ký ức trước kia của tôi vào một góc lờ mờ. Tuy tôi có thể nhớ mọi thành viên trong gia đình, nhưng bộ mặt của mỗi người  đều mờ nhoà, giống như cánh rừng đi vào bóng tối. Đi đôi với sự tăng vọt  ký ức của tôi, ông nội lại khác hẳn, bệnh tật và già yếu bắt đầu cướp đi một cách lạnh lùng dĩ vãng của ông. Ông đã bị lạc trên một con đường quen thuộc nhất. Ông gặp tôi, giống như một kẻ chết đuối vớ được tấm gỗ nổi, bám chặt tôi ông mới về đến Cửa Nam. Hai ông cháu tôi về đến nhà và vụ cháy xẩy ra cùng một lúc.


 


Chúng tôi về Cửa Nam hôm trước, hôm sau ông nội lại phải lọm khọm rời Cửa Nam đến nhà chú. Lần này ông ở hơn hai tháng. Khi ông lại trở về, ngôi nhà đã lợp tranh. Tôi không thể tưởng tượng ký ức về ông nội chẳng giữ lại được mấy, mà ông già giọng nói đã phều phào nghe không rõ, đi lại làm sao được. Mùa hè năm sau ông qua đời.


 


Sau một thời gian dài hạ mình khúm núm, trước khi tắt thở, Tôn Hữu Nguyên trở lại sức sống sôi nổi thời còn trẻ một cách ngạc nhiên.Do đó phần cuối cùng của cuộc đời ông trở nên sáng chói. Với sức lực như ánh nến cuối cùng của mình, ông già sắp sửa xuống lỗ, lại đi đọ sức với bầu trời tối sầm và đổ mưa liên miên.


 


Khi nhìn lúa chín sắp được gặt trời tối sầm và đổ mưa liên miên, dân làng ai cũng lo lắng. Nước mưa đã ngập hẳn mặt ruộng, giống như phủ một tấm ni lông, bông lúa nặng trĩu càng cong càng thấp, dần dần sát mặt nước đang lặng lẽ dâng lên. Tôi không quên giờ phút tai hoạ ập đến. Những người nông dân  đành chịu bó tay, nét mặt đau buồn như đưa đám. Ông già La coi kho suốt ngày ngồi  trên ngưỡng cửa lau nước mắt, dự đoán với bà con dân làng một cách bi quan:


Năm nay phải đi ăn mày rồi.


 


Ông già La có trí nhớ kinh khủng. ông có thể đi vào dòng sông dài lịch sử  một cách thuận lợi, kể vanh vách với chúng tôi nạn lụt như thế này của năm 1938 và 1960 để chúng tôi tin dự đoán của ông sắp phải đi ăn mày.


 


Tôn Quảng Tài thường ngày xục xạo lăng xăng, lúc này cũng ủ rũ như gà cúm. Nhưng có lúc ông đột nhiên nói những câu nghe còn sởn tóc gáy hơn ông già La. Ông nói với chúng tôi:


Đến lúc đó đành phải đi ăn thịt người chết.


 


Một số người có tuổi trong làng lén lút đem tượng Bồ Tát bày lên bàn cúi lạy, cầu xin Bồ Tát hiển linh, cứu lúa trên đồng. Giữa lúc này, ông nội tôi xuất hiện trước mặt mọi người như một vị  cứu tinh.  Chiều hôm ấy, ông già quen ngồi xó nhà vuột đứng lên, cầm chiếc ô rách đi ra ngoài. Lúc đó tôi cứ tưởng ông đi đến nhà chú trước thời hạn. Ông nội đi đường run rẩy, sau nhiều năm sắc mặt nhợt nhạt nay hồng hào trở lại. Ông căng chiếc ô vải dầu, nghiêng ngả trong gió, đi  đến từng nhà trong thôn, ồm ồm nói với họ:


Vứt BồTát đi, để mưa tắm cho nó, xem nó còn mưa không?


 


 Ông nội tôi gan to tầy Trời, dám bắt BồTát ra chịu nước mưa, khiến mấy gia đình lạy Phật vô cùng hoảng sợ. Nhìn bóng dáng đáng cười của ông nội, lúc đầu bố tôi còn tỏ ra thú vị. Tôn Quảng Tài cúi đầu nản chí mấy ngày liền, nay mới có nụ cười. Chỉ tay vào ông nội lảo đảo đi trong mưa, ông nói với chúng tôi:


Lão già vẫn còn có thể  gắng gượng được.


 


Khi mấy người già trong thôn hoang mang đến van nài Tôn Quảng Tài ngăn chặn hành vi khinh nhờn Thần Thánh của Tôn Hữu Nguyên, bố tôi mới cảm thấy ông nội đã gây rắc rối. Tôi không thể không lo lắng cho ông.


 


Tôn Quảng Tài đi đến cạnh Tôn Hữu Nguyên quát bằng giọng đe nẹt:


Ông về đi cho tôi.


 


Tôi ngạc nhiên vì ông nội không sợ hãi bố tôi như thường ngày. Thân hình cứng đơ của ông từ từ quay lại trong mưa, định thần nhìn Tôn Quảng Tài một lát, sau đó dơ tay chỉ vào con trai nói:


Anh về đi.


 


Ông nội tôi lại dám bảo Tôn Quảng Tài về. Bố tôi thở hổn hển chửi toáng lên:


Lão già không chết quách đi, mẹ kiếp sống ngán lắm rồi.


 


Ông nội tôi vẫn nhấn từng chữ:


Anh về đi.


 


Bố tôi trái lại bị ông nội làm cho ngớ người, ông ngạc nhiên ngó ngó nghiêng nghiêng trong mưa  hồi lâu mới nói:


Mẹ khiếp, ông không sợ tôi nữa.


 


Đội trưởng trong thôn là một đảng viên Đảng cộng sản, ông cảm thấy mình có trách nhiệm đứng ra ngăn  chặn hành vi mê tín lạy BồTát. Ông dẫn ba dân quân hô to  chân lý “nhân định thắng Thiên,” lần lượt đến từng nhà lục soát tượng Bồ Tát. Bằng quyền lực không hề lay chuyển của mình, ông doạ nạt những người dân nhút nhát sợ sệt, cảnh cáo họ nếu ai cất dấu tượng Bồ Tát, ông sẽ xử tội phản cách mạng.


 


Cách làm bài trừ mê tín của người cộng sản và sự cầu xin Bồ Tát bằng phương thức trừng phạt Bồ Tát của ông nội tôi chiều hôm ấy, tuy không mưu tính trước mà lại trùng hợp nhau. Tôi đã nhìn thấy ít nhất cũng có hơn mười bức tượng Bồ Tát bị vất trong mưa. Buổi sáng hôm sau ông nội tôi đã tái hiện trạng thái tinh thần của buổi chiều hôm trước, laị căng chiếc ô rách nghiêng ngả  đi trong mưa đến từng nhà  gieo rắc tín ngưỡng của ông. Giọng nói phều phào sau khi rụng hết răng của ông vang vọng trong mưa. Với nụ cười an ủi, ông bảo chúng tôi:


-  Ngâm nước mưa một ngày, nếm mùi khổ ải, không chịu nổi, Bồ Tát sẽ cầu cứu Long Vương đừng mưa nữa, ngày mai sẽ tạnh.


 


Lời dự đoán tràn đầy tin tưởng của ông nội tôi đã không trở thành hiện thực. Sáng sớm hôm sau, khi Tôn Hữu Nguyên đứng dưới hiên nhà nhìn nước mưa rơi, khuôn mặt đầy nếp nhăn của ông bởi đau buồn mà dúm dó lại. Tôi nhìn ông nội cứ đứng lì taị chỗ, sau đó ông run rẩy ngẩng mặt lên Trời, lần đầu tiên tôi nghe thấy ông thét to. Tôi chưa bao giờ thấy tiếng ông nội lại giận dữ đến thế. Cơn giận đùng đùng trước kia của Tôn Quảng Tài so với Tôn Hữu Nguyên lúc này, đúng là không thấm vào đâu. Ông nội tôi thét lên bầu trời:


- Lão Trời kia, mưa cái đéo gì, hãy đéo chết ta đi.


 


Ngay sau đó ông nội tôi bỗng hồn xiêu phách lạc. Ông há hốc mồm cứng đơ như chết. Thân ông ưỡn thẳng tại chỗ một lúc khá lâu mới rụt lại, ông khóc hu hu.


 


Thật thú vị, ngay trưa hôm đó Trời tạnh mưa. Một số cụ già trong làng vô cùng ngạc nhiên. Nhìn bầu trời rách dần, rồi cuối cùng hửng nắng, các cụ không thể không nghĩ lại hành vi hoang đường của Tôn Hữu Nguyên mà trước đó các cụ còn coi là khinh nhờn Thần Thánh. Những cụ già mê tín bắt đầu hoảng sợ, cảm thấy Tôn Hữu Nguyên có phong thái nhà Tiên. Quần rách áo vá của ông khiến người ta liên tưởng đến vị sư ăn mày. Thực ra không có chuyện ông đội trưởng là đảng viên Đảng cộng sản dẫn dân quân đi lục soát, họ cũng không ném tượng Bồ Tát ra trời mưa . Nhưng lúc bấy giờ cũng không ai nghĩ đến công lao của ông đội trưởng. Lời đồn Tôn Hữu Nguyên có thể là Tiên ầm ĩ suốt ba ngày trong thôn, mẹ tôi cũng nửa tin nửa ngờ. Khi bà thận trọng hỏi bố tôi, Tôn Quảng Tài bảo:


Là rắm thối.


 


Bố tôi là một người duy vật hoàn toàn, ông nói với mẹ tôi:


Ông ấy đẻ ra tôi. Ông ấy là Tiên, sao tôi không là Tiên?


(còn tiếp)


Nguồn: Gào thét trong mưa bụi. Tiểu thuyết của Dư Hoa. Vũ Công Hoan dịch, gửi cho www.trieuxuan.info.


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »